Home » Ông Giáo Làng
“LƯU MANH HÓA” HAY “LƯU MANH GIẢ DANH…”
07:27 |
DƯƠNG ĐÌNH GIAO
Còn nhà nhiên cứu văn hóa Vương
Trí Nhàn thì hiểu: “để chỉ những quan niệm hành động phi đạo đức, liều
lĩnh, bậy bạ, rộng hơn là những triết lý “vô thiên vô pháp”, cho phép
người ta dùng mọi thủ đoạn cốt đạt được mục đích.
Còn nhớ trong một truyện ngắn,
nhà văn Trung Quốc Lỗ Tấn nói người “tiền hậu bất nhất” chính là có phẩm
chất của lưu manh. Mình hiểu lưu manh vì thiếu tự trọng, vì là người
không có chính kiến, “gió chiều nào che chiều ấy”, miễn sao có lợi cho
mình.
Để có một lý giải đầy đủ và toàn
diện đòi hỏi phải có đóng góp của các nhà xã hội học, ngôn ngữ học, …
Nhưng có thể hiểu ngắn gọn, lưu manh chính là những kẻ chỉ vì để đạt
được mục đích của riêng mình mà bất chấp lẽ phải, đạo lý.
Còn trí thức,
theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia là “người có kiến thức sâu xa về
một hay nhiều lĩnh vực hơn sự hiểu biết của mặt bằng chung của xã hội
vào từng thời kỳ”
Từ điển tiếng Việt định nghĩa
trí thức là “Những người chuyên làm việc lao động trí óc và có tri thức
chuyên môn cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp của mình.”
Đặng Vũ Tuấn Sơn cho rằng “người
trí thức không chỉ mang trong mình những tri thức không ngừng được
chuyển hóa và hoàn thiện mà còn phải là người có tinh thần đóng góp cho
xã hội trước hết là của cải vật chất, cao hơn là tầm tư tưởng”.
Bên cạnh học vấn, tri thức phong
phú, theo Nguyễn Minh Thuyết người trí thức còn có một đặc điểm là
“thường khảng khái, tự trọng. Người xưa đã khái quát phẩm hạnh này thành
nguyên tắc sống: “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”
(nghĩa là: giàu sang không làm hư hỏng, nghèo khó không khiến đổi lòng,
quyền uy không khuất phục nổi). Trong lịch sử đã có biết bao tấm gương
liêm khiết, chính trực, khảng khái của người trí thức. Xã hội trọng vọng
trí thức không chỉ vì trí tuệ của họ mà còn vì phẩm chất cao quý này.”
Như vậy, một
cách đơn giản, có thể hiểu trí thức là những người có hiểu biết về một
lĩnh vực nào đấy trên mức bình thường (tài) và trung thực, khảng khái
(đức).
Xã hội nhiều lưu manh là một xã hội nhiễu loạn, bất an, cuộc sống của người dân lành không được đảm bảo.
Còn xã hội mà trí thức được tôn
trọng (chưa hy vọng nhiều, ra ngõ gặp trí thức) là xã hội văn minh,
những giá trị tinh thần, đạo đức được tôn vinh là xã hội lành mạnh, là
mơ ước của con người.
Tri thức và lưu manh có một
khoảng cách xa như vậy, sao gần đây, có nhiều người nói tới hiện tượng
lẫn lộn: trí thức bị lưu manh hóa và một thành ngữ mới “lưu manh giả
danh trí thức”?
Từ sau 1945,
nhiều trí thức Tây học (do các nhà trường Pháp đào tạo trong và ngoài
nước) và các văn nghệ sĩ đã đi theo cách mạng, tham gia kháng chiến. Họ
đã mang tài năng và vốn hiểu biết phong phú trong từng lĩnh vực riêng,
đóng góp vô cùng to lớn cho cách mạng trong những ngày đầu còn trứng
nước. Ban đầu, họ rất được trọng dụng, nắm những cương vị then chốt
trong bộ máy. Nhưng không lâu sau đó, những người lãnh đạo đã thấy tư
tưởng họ không thuần nhất, có nhiều biểu hiện không có lợi cho sự nghiệp
cách mạng, họ không còn được trọng dụng như ban đầu. Cùng với yêu cầu
phải “cách mạng hóa tư tưởng, quần chúng hóa sinh hoạt”, từ nay, bên
cạnh người làm cấp trưởng là các trí thức cũ, có những người dù chỉ làm
cấp phó nhưng được tin cậy hơn, nắm thực quyền lớn hơn mặc dù trình độ
rất hạn chế. Có số ít người để giữ cốt cách đã lặng lẽ bỏ cuộc và rơi
vào quên lãng. Còn những ai dám “cả gan cầm đuốc đốt trời” thì lập tức
bị loại khỏi cuộc sống .
Những trí thức đáng kính trọng
dần bị vô hiệu hóa, cái đáng trách ở họ là sự im lặng, im lặng để người
ta dùng tên tuổi, dùng uy tín của họ che đậy cho những việc làm không
đúng đắn. Chưa dám coi đây là những biểu hiện của đám người bị tha hóa,
nhưng rõ ràng họ đã không giữ được phẩm chất của người trí thức. Sự
xuống cấp toàn diện đời sống tinh thần ở nước ta hiện nay có một phần
trách nhiệm của các vị.
Còn phải kể tới một số người,
không rõ vì nguyên nhân gì đã làm những công việc trái hẳn với lương tri
của người trí thức. Họ làm sử nhưng bịa đặt ra những chuyện như đốt kho
xăng, cắm cờ, …khiến cho bao lớp người ngộ nhận; họ thờ ơ, thậm chí
đồng lõa trước những biểu hiện vô tình bất nghĩa, chà đạp lên những
người đồng chí đã từng một thời cùng nhau “nếm mật nằm gai” chỉ vì quan
điểm trái ngược. Họ sẵn sàng tung hô những giá trị ảo với mục đích làm
lợi cho sự nghiệp cách mạng, … mặc dù những việc làm của họ đã khiến
biết bao người lầm tưởng, dẫn tới lạc lối. Dù có trân trọng những con
người có quá khứ vàng son không thể phủ nhận đây là biểu hiện hạ cấp.
Sau kháng chiến chống Pháp,
nhiều trí thức được đào tạo nhờ Liên Xô, Trung Quốc, và các nước xã hội
chủ nghĩa khác.… Phần lớn họ xuất thân từ những gia đình có truyền
thống, đã từng ngồi trên ghế nhà trường Pháp trước đây, đã được đào tạo
trở thành những người có tài năng ở nhiều lĩnh vực. Về phẩm chất, xuất
thân từ những gia đình tử tế, họ cũng có những đức tính đáng quý trọng.
Nhưng cuộc sống khắc nghiệt đã khiến họ không còn giữ được con người
mình. Sự trì trệ của nền kinh tế, khoa học trong nước khiến tài năng bị
bào mòn. Để tồn tại, họ không chỉ im lặng mà nhiều khi còn phải đồng
lõa. Họ đưa ra những công trình nghiên cứu như: ngô có nhiều chất dinh
dưỡng hơn gạo, phân trâu có thể dùng để nuôi lợn, …để phục vụ cho đường
lối chính sách. Đổi lại, họ được tem phiếu mua hàng cung cấp ở Nhà Thờ,
Tôn Đản. Rồi dần dần, để giữ lấy những vị trí của mình đã có, để tồn
tại cao hơn mức đòi nghèo, họ phải tự đánh mất cái tôi như cách nói của
nhà văn Nguyễn Khải. Có thể coi thế hệ trí thức này không ít người
mang những phẩm chất của lưu manh.
Từ sau cải
cách ruộng đất, một lớp “trí thức” mới được hình thành. Phần lớn những
người được tin cậy đều xuất thân từ công nông. Chỉ cần hai năm, từ trình
độ biết đọc biết viết (chưa dám nói là đọc thông viết thạo), họ học hết
chương trình trung học phổ thông trong các trường Bổ túc công nông rồi
thẳng tiến vào các trường đại học trong và ngoài nước qua những cuộc thi
tuyển hình thức. Rồi chẳng bao lâu, họ trở thành các phó tiến sĩ cũng
mang tiếng được đào tạo ở nước ngoài mặc dù với thời gian đó, không
biết họ đã thành thạo được ngôn ngữ của nước sở tại? Chỉ sau một đêm, họ
trở thành tiến sĩ và đã và đang là những trí thức được trọng dụng, đặc
biệt là trong các ngành khoa học xã hội. Những phát ngôn của họ nhiều
khi được coi là định hướng nhưng biết được quá trình tích lũy tri thức
ấy, chẳng thể ai nói họ có vốn tri thức cần thiết trong lĩnh vực hoạt
động của mình. Bằng cấp đối với họ chỉ để thỏa mãn tiêu chuẩn giành một
ghế lãnh đạo, chứ hoàn toàn không phải vì lòng ham hiểu biết, nỗi khát
khao tiếp thu và đóng góp vào kho tàng tri thức của nhân loại. Rất nhiều
cái bằng có được do thuê người viết, nhờ “đạo” từ đủ loại sách vở, hoặc
bằng cách kẹp vào luận án do do họ đứng tên nhiều phong bì. Cho nên,
đích thực họ là những kẻ giả danh.
Về phẩm chất, những khiếm khuyết
do thành phần xuất thân, nỗi sợ hãi luôn ám ảnh, cùng với thói dối trá
chi phối toàn bộ cuộc sống đã khiến cho những con người này chẳng bao
giờ tiếp cận và nói lên sự thật ngay cả trong những công trình nghiên
cứu. Những phát kiến của họ chỉ nhằm chứng minh cho đường lối chính sách
là đúng đắn, sự lãnh đạo là tuyệt đối sáng suốt. Họ sẵn sàng chấp hành
lệnh của các cơ quan quyền lực trong lĩnh vực hoạt động của mình, bất
chấp sai đúng. Vụ Nhã Thuyên mới đây là một biểu hiện. Luận văn thạc sĩ
đã được một Hội đồng chấm điểm 10, rồi lại bị một Hội đồng khác, họp kín
để phủ nhận chắc chắn là một cách hành xử không đàng hoàng. Rồi tác giả
luận văn bị mất việc quả là một đòn đánh dưới thắt lưng. Tất cả đều
không xứng đáng là cách hành xử của người tử tế. Rất tiếc trong cái Hội
đồng “chuột” này có một người mang học hàm đáng kính có thân phụ vẫn
được coi là một trí thức lớn trước đây.
Quả là ở nước ta hiện nay, có cả hai biểu hiện: trí thức bị lưu manh hóa và lưu manh giả danh trí thức.
Hoàn toàn không khó để nhận ra.
PHẢI CẢI CÁCH CON NGƯỜI
06:48 |
Dương Đình Giao
Mấy hôm nay Ủy ban thường vụ
Quốc hội đang bàn về giáo dục. Nghe ý kiến của các vị đại biểu của dân
mà khiếp. Các vị bảo chương trình giáo dục hiện nay “chưa mang hồn thời
đại”. Bà con nào có biết cái “hồn thời đại” mặt mũi ngang dọc thế nào
làm ơn chỉ cho thẳng dân ngu này biết với! Hay các vị muốn trở lại cái
thời ông Tố Hữu:
Ta đứng đây mắt nhìn bốn hướng,
Trông lại nghìn xưa, trông tới mai sau,
Trông bắc trông nam, trông cả địa cầu?
Và chương trình thế nào là mang hồn thời đại nhỉ?
Hóa ra “chém gió” bây giờ đã không phải là độc quyền của mấy cậu “choai choai”!
Mình thì chỉ thấy, các vị đừng
nghĩ tới chuyện cải cách chương trình, sách giáo khoa, … gì vội. Cái
quan trọng nhất hiện nay cần cải cách trong giáo dục là chuyện con
người. Nếu con người vẫn như hiện nay thì có cải cách kiểu gì cũng lại
“mèo lại hoàn mèo” thôi. Đã có bao nhiêu cuộc cải cách chương trình và
sách giáo khoa từ năm 1981 đến nay rồi, tốn kém biết bao tiền của, công
sức, … mà thất bại vẫn hoàn thất bại.
Sau 1945, chương trình giáo dục
còn khá thô sơ (chủ yếu theo chương trình Hoàng Xuân Hãn ra đời một cách
vội vàng sau khi Nhật đảo chính Pháp), sách giáo khoa hầu như chưa có,
điều kiện cơ sở vật chất cho giáo dục cực kỳ thiếu thốn, nhưng con người
lúc đó, dù học hàm, học vị chưa cao, nhưng do có phẩm chất đạo đức, có
học vấn đầy đủ, cộng với tấm lòng yêu nước thiết tha đã mang lại thành
tựu nhất định cho nền giáo dục. Trong khoảng 15 năm (1945 – 1960), chất
lượng của giáo dục Việt Nam có sút kém so với giáo dục trước 1945 nhưng
còn chấp nhận được. Vì những người tham gia vận hành nền giáo dục lúc
này còn là sản phẩm của nền giáo dục cũ, mặc dù không ai kêu gọi, nhưng
phải công nhận, họ đều là những người vừa có đức, vừa có tài.
Nhưng từ sau 1960, chúng ta luôn
luôn nói tới “vừa hồng vừa chuyên” nhưng sản phẩm của nền giáo dục Việt
Nam lại hoàn toàn không được như thế. Và những con người do chính nền
giáo dục đào tạo ra quay lại gây tai họa cho chính nó. Cái vòng lẩn quẩn
này cứ quay hết chu kỳ này tới chu kỳ khác, và kết quả của nó là nền
giáo dục hiện nay. Nếu không có những cải cách cấp bách về con người,
giáo dục Việt Nam chỉ có thể càng giảm sút hơn hiện nay. Chúng ta sẽ chỉ
luôn luôn cố gắng để “năm sau bằng được năm nay” đã là sự may mắn.
Con người tác động đến giáo dục hiện nay có thể chia làm nhóm. Mỗi nhóm này ảnh hưởng khác nhau đến giáo dục.
- Trước hết là nhóm các vị ở tầng vĩ mô. Tức là những con người quyết định tầm chiến lược, hay cái mà các vị nói là những người xác định triết lý của giáo dục, đường lối giáo dục.
Cứ mỗi khi đến dịp 70, 80 hay
100 năm ngày sinh, ngày mất hay ngày gì đó của các vị, lại thấy không ít
các bài tung hô, coi các vị như thánh sống, cứu tinh cho giáo dục Việt
Nam. Mình chẳng dám phủ nhận, nhưng xin phép được nghi ngờ. Vì các vị
ấy, suốt trong bao nhiêu năm chèo lái con thuyền giáo dục Việt Nam, hết
người này tới người khác, nhưng chưa bao giờ mình thấy giáo dục Việt Nam
có chiều hướng đi lên. Từ sau 1945, tức là khi mình bắt đầu biết hưởng
thụ nền giáo dục cho đến khi mang cả đời góp phần nhỏ bé vào sự nghiệp
trồng người, chỉ toàn thấy nó đi xuống, và đến nay thì nó “đang tan
hoang” như từ dùng của một nhà giáo đáng kính.
Suy nghĩ mãi mà vẫn chưa tìm
được lời giải đáp. Sau nghĩ rằng, có lẽ các vị không phải không có tài
năng, chỉ có điều cái tài năng ấy chưa được sử dụng. Hay nói đúng hơn,
những đường lối giáo dục người ta vẫn cho rằng các vị là tác giả thật ra
các vị không tán thành. Nhưng các vị ở cái thế “chẳng đặng đừng”. Lẽ
ra, khi đã ở trong cái tình thế như vậy, các vị nên có thái độ phản
đối. Những người cầm quyền sẽ phải có thái độ thận trọng. Hay ít ra,
những người được hưởng thụ cũng thấy thận trọng niềm tin khi không thấy
các vị đứng tên tác giả. Đằng này, các vị cứ im lặng, coi “im lặng là
vàng. Thế là dân chúng “ăn quả lỡm”. Cuối cùng chỉ có dân là thiệt. Tốn
kém bao nhiêu tiền của công sức cho con ăn học mà chẳng đâu vào đâu.
Thậm chí có người cả tin vào cái nền giáo dục của các vị chủ trương mà
đứa con dứt ruột đẻ ra, lại nuôi nấng với bao hy vọng trở thành một con
người “bán thân bất toại” về trí tuệ
Tóm lại, nhóm người cần cải cách
đầu tiên là những người có quyền quyết định đến những vấn đề vĩ mô
của cải cách giáo dục. Cải cách giáo dục phải vì tự thân yêu cầu của
giáo dục, vì sự nghiệp nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho
sự nghiệp xây đựng đất nước chứ không phải vì phục vụ cho mục đích
chính trị của một nhóm lợi ích nào đấy.
Không thay đổi nhóm người này,
chỉ rồi lại lãng phí nhiều nghìn tỷ đồng tiền thuế của nhân dân, lãng
phí biết bao thế hệ con người Việt Nam sinh ra, lớn lên mà chẳng giúp
ích gì, thậm chí còn làm hại tới tương lai của đất nước.
- Nhóm người thứ hai cần cải cách là nhóm những người làm công việc chỉ đạo, nghiên cứu, theo dõi, đôn đốc hiện đang làm việc ở Bộ, ở các Sở, Phòng Giáo dục.
Trước hết, vì các lợi ích riêng
mà chính các nhóm người này đã đi ngược lại những gì các nhà cải cách ở
tầm vĩ mô đã đề ra. Còn nhớ trong cải cách giáo dục năm 1981, các nhà
cải cách đã chủ trương thêm một lớp ở cấp trung học cơ sở để học sinh
sau khi tốt nghiệp cấp học này được thêm một tuổi, được trang bị thêm
một số kiến thức để có thể ra trường, theo học các lớp dạy nghề, chỉ
khoảng 30% học sinh tốt nghiệp tiếp tục theo học lên cấp trung học phổ
thông rồi được chọn lọc tiếp để vào đại học. Lẽ ra với chủ trương này,
sự phát triển các trường phổ thông trung học cần được hạn chế về số
lượng. Thay vào đó, ngân sách nhà nước dành cho giáo dục phải được đầu
tư vào việc nâng cao chất lượng các trường phổ thông trung học sẵn có
và mở thêm nhiều trường dạy nghề. Nhưng những người làm công việc quản
lý ngành giáo dục từ cấp trung ương đến các tỉnh, thành phố đã làm điều
ngược lại. Ở các địa phương, các trường phổ thông trung học cả công lập
lẫn dân lập tiếp tục được phát triển hết mức. Số lượng trường phổ thông
trung học nay đã thỏa mãn gần 100% nhu cầu học tập của học sinh tốt
nghiệp phổ thông cơ sở, thậm chí, nhiều trường phổ thông trung học còn
không có học sinh vì chẳng ai có nhu cầu học mà không có trường. Một mặt
họ vẫn kêu gào chương trình quá nặng, học sinh bị quá tải, cần phải
giảm tải…(dĩ nhiên cần phải có tiền), nhưng một mặt, họ vẫn để cho học
sinh tha hồ ngồi nhầm lớp, đó chính là nguyên nhân gây nên chuyện học
thêm dạy thêm tràn lan trong các nhà trường hiện nay. Cấp đại học cũng
đua nhau phát triển mặc dù từ cách nay khoảng gần hai chục năm, người ta
đã cảnh báo nạn “thừa thầy thiếu thợ”. Nhiều nơi, dù không có trường
sở, không có giảng viên, thậm chí không có cả sinh viên, người ta vẫn
đua nhau mở trường đại học để tới nay, trường không có người học (mặc dù
nhiều trường đã phải lấy tới những thí sinh chỉ được 7 điểm thi 3 môn).
Luôn kêu chất lượng đại học xuống cấp, nhưng ngân sách không được sử
dụng để nâng cao chất lượng các trường đã có mà được sử dụng để mở
trường tràn lan dù cho tỷ lệ sinh viên ra trường không tìm được việc làm
ngày càng cao.
Lối “trống đánh xuôi, kèn thổi
ngược” này đã khiến cho tình trạng giáo dục nước ta ngày càng lộn xộn.
Việc mở trường (cả trung học và đại học) chỉ nhằm phục vụ lợi ích của
những người có quyền ra quyết định thành lập trường, các “ông chủ”
trường, và người dạy (mặc dù chất lượng rất thấp, nhiều khi chỉ trong
tình trạng “cơm chấm cơm”, cử nhân đào tạo cử nhân) và một số ít người
cần cái bằng đại học làm đồ trang sức, để hợp thức hóa việc chui vào các
cơ quan nhà nước của những “con ông cháu cha” chứ hoàn toàn không phục
vụ nhu cầu chính đáng của người học và của toàn xã hội. Ngân sách dành
cho giáo dục vốn đã chưa dồi dào, lại được sử dụng không đúng chỗ khiến
sự lãng phí không thể nào chấp nhận được. Làm sao nền giáo dục có thể
phát triển lành mạnh khi những người có trách nhiệm quản lý chỉ chăm
chăm vào nhóm lợi ích của mình?
Một tình trạng cần cải cách ở
nhóm những người này là thói quan liêu. Cán bộ ở các Viện nghiên cứu có
nhiệm vụ giúp các cấp quản lý tiếp cận với các nghiên cứu khoa học tiên
tiến để vận dụng vào thực tế nhưng họ ngoài sự hạn chế về trình độ (do
được đào tạo hời hợt, chỉ chạy theo bằng cấp nhằm thực hiện vượt mức chỉ
tiêu) lại ít hiểu biết về nghiệp vụ quản lý còn rất hạn chế trong việc
hiểu biết một cách đầy đủ hiện trạng của các trường, những biểu hiện
tích cực và tiêu cực của những người đang “đứng mũi chịu sào” trên mặt
trận giáo dục. Những lần về cơ sở của họ phần lớn đều trong tình trạng
“cưỡi ngựa xem hoa”. Vì thế, những chủ trương, biện pháp do các cơ quan
này ban hành thường thiếu sức thuyết phục. Những cái được gọi là công
trình nghiên cứu của các Viện này chỉ làm được việc gần như duy nhất là
tiêu hết tiền của các dự án, còn khi đem vận dụng luôn gặp tình trạng xa
rời thực tế vì chỉ giải quyết những chuyện hết sức hình thức, kiểu như
giáo án điện tử, sử dụng những công cụ hỗ trợ của công nghệ thông tin
cho một số môn học, …Phần lớn những kết quả này đềug khó để tổng kết,
đánh giá vì phần lớn đều tyrong tình trạng “đứt gánh giữa đường”. Những
giải pháp mang tính chất hình thức này chỉ khiến cho cái ao tù giáo dục
gợn lên vài làn sóng ở bề mặt, không những chẳng hề làm cho làn nước
trong sạch thêm mà còn tạo nên sự ngộ nhận và gây không ít tốn kém tiền
bạc cho nhà nước và cha mẹ học sinh.
Loại thứ ba trong nhóm người này
là những người chịu trách nhiệm giúp cấp trên theo dõi và chỉ đạo trực
tiếp các trường. Đây chính là những người thuộc thành phần trung gian
mà người ta đã quen
gọi “vừa chung chung vừa gian gian” do cách làm việc và tính cách của
họ. Thay vì làm cầu nối, họ chỉ làm việc “dối trên lừa dưới”. Họ sẵn
sàng che giấu những sai lầm của các trường miễn là được hiệu trưởng các
trường thỏa mãn một số điều kiện vật chất, thậm chí còn “tham mưu” cho
các trường tìm cách để “lách luật”, sau đó tiếp tục lừa dối cấp trên
rằng “mọi việc vẫn tốt đẹp” thậm chí còn không tiếc lời để tán dương cho
những người mắc sai phạm. Thế là giữa cấp trên và các trường phía dưới
mất mối liên hệ tự nhiên. Sự chỉ đạo của cấp trên vốn ít ỏi, qua những
cán bộ kiểu này hầu như chẳng còn gì. Thế là trường nào cũng trong tình
cảnh “mạnh ai nấy làm”. Nhiều trường, nhất là các trường dân lập, có rất
nhiều vi phạm nhưng vẫn được làm ngơ.
Không thay đổi, không cải cách những con người này, sự chỉ đạo, quản lý của các cấp hoàn toàn không có tác dụng.
- Nhóm người có vai trò rất lớn trong cải cách giáo dục là giáo viên trực tiếp giảng dạy ở các trường mà người đứng đầu là Hiệu trưởng. Những người này chiếm tỷ lệ áp đảo trong ngành giáo dục ở bất cứ đâu.
Không thể phủ nhận vai trò của
người Hiệu trưởng. Ông ta là người nhận mọi đường lối, chủ trương, chính
sách, … từ cấp trên và trực tiếp thực hiện trong ngôi trường mà mình
đứng đầu. Mọi thứ từ cấp trên có hay đến mấy, nhưng ông ta không thực
hiện, hoặc thực hiện một cách tắc trách thì kết quả ra sao ai cũng biết.
Ngược lại, có những chủ trương chưa hoàn chỉnh, những khiếm khuyết ấy
sẽ được người Hiệu trưởng điều chỉnh, khắc phục, hạn chế tác hại nếu
ông ta là người hiểu biết và có tấm lòng với sự nghiệp vun trồng con
người. Hiệu trưởng cũng là người trực tiếp quản lý giáo viên, người có
thể hiểu giáo viên đầy đủ nhất về mọi mặt từ phẩm chất đạo đức đến năng
lực chuyên môn, từ sở trường đến sở đoản,.. Biết “dụng nhân như dụng
mộc”, người Hiệu trưởng sẽ phát huy tốt nhất khả năng và hạn chế thấp
nhất những khiếm khuyết của giáo viên.
Nhưng đáng tiếc là hiện nay, số
những người là Hiệu trưởng có tâm có đức và có tài không nhiều. Do đã
phải bỏ ra một số “vốn” không nhỏ để ngồi vào cái ghế ấy, rồi lại phải
không ngừng bảo trì bảo dưỡng, “gia cố” cho cái ghế ấy thêm chắc chắn,
rồi còn vì tham vọng giàu sang không có điểm dừng, rồi phải lo cho tương
lai khi chỗ đứng không còn, … nên phần lớn các ngài Hiệu trưởng
(thường chỉ ngồi cái ghế đó được chừng vài chục năm) bây giờ chỉ còn coi
nhà trường là cỗ máy in tiền mặc dù cổng trường nào cũng treo một cái
khẩu hiệu to tướng “Tất cả vì học sinh thân yêu!” Những chủ trương từ
trên đưa xuống, cái gì đẻ ra tiền thì được ra sức thực hiện. Còn cái gì
“không sinh lợi” hay đúng hơn là chỉ sinh lợi cho việc giáo dục thì
thường được xếp xó. Thậm chí, nhiều chủ trương đúng đắn cũng bị bóp méo
nhằm thu lợi riêng.
Một việc nhỏ là có quy định Hiệu
trưởng phải trực tiếp giảng dạy 2 tiết một tuần để thường xuyên theo
sát hoạt động giảng dạy và học tập của học sinh nhưng cũng chẳng ai thực
hiện. Cấp trên “biết thừa”, nhưng vì những lý do vô cùng tế nhị nên
cũng làm ngơ. Việc nhỏ như thế còn không làm, hy vọng gì làm việc lớn
hơn?
Ngay cái việc quan trọng vào
loại bậc nhất, nhà nước và nhân dân hàng năm tốn kém nhiều nghìn tỉ đồng
và biết bao công sức để tổ chức kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học,
nhưng không ít Hiệu trưởng, nhờ có “bác” dẫn đường, có khả năng xâm
nhập vào tới nơi thâm nghiêm nhất để lũng đoạn. Cái cơ quan “Khảo thí và
kiểm định chất lượng” nghe rất “oai” nhưng nhiều khi đều chịu sự điều
hành của mấy ông này trong việc sắp xếp bố trí người coi thi, chấm thi
và những công việc vốn cần sự nghiêm cẩn. Đến những việc như thế họ còn
dám làm, và còn làm được thì hy vọng gì ở việc họ lãnh đạo nhà trường
và giáo viên trong trường thực hiện cải cách giáo dục?
Giáo viên là những người trực
tiếp giảng dạy và đánh giá học sinh. Nếu giáo viên có trình độ chuyên
môn vững vàng, chương trình, sách giáo khoa có thể còn những khiếm
khuyết (và chắc chắn không ai có thể viết được một cuốn sách giáo khoa
hoàn toàn không có thiếu sót), họ vẫn khắc phục được. Thậm chí có thời
kỳ, các nhà trường của chúng ta còn chưa có sách giáo khoa mà học sinh
vẫn học tốt (dĩ nhiên có khó khăn hơn là có sách). Có những giáo viên
biết “đính chính” những điều còn thiếu sót và biết cần thêm thời gian
cho những phần mà chương trình, sách giáo khoa còn sơ lược.
Nhưng giáo viên hiện nay hầu như
không có động lực để làm việc, để tự nâng cao trình độ. Lẽ ra, qua thi
cử nghiêm túc, năng lực chuyên môn của giáo viên sẽ được khẳng định,
phẩm chất của người thầy được tôn vinh. Nhưng nay thi cử gian dối, hóa
ra mọi người thầy thành “bình đẳng” cả. Những danh hiệu như giáo viên
dạy giỏi, nhà giáo ưu tú, nhà giáo nhân dân dù chỉ là “hão” hình như
cũng không phải dành cho những người thầy toàn tâm vì sự nghiệp. Còn
đồng lương thì ai cũng rõ. Các ngành, các nghề, … cơ quan nào cũng còn
có khoản nọ khoản kia, chứ thầy cô giáo, ngoài một số người có thể no đủ
nhờ dạy thêm, phần lớn đều phải kiếm sống bằng những nghề nhiều khi
chẳng liên quan gì đến việc dạỵ học. Một số người còn có cuộc sống dưới
mức trung bình. Từ đó sinh ra đủ những chuyện đau lòng. Không quan tâm
đầy đủ đến đời sống của những người vẫn được coi là đang làm một nghề
cao quý, làm sao họ tha thiết với cải cách giáo dục?
Cho nên, một lần nữa, tôi xin đề
nghị, đừng vội nghĩ đến việc thay đổi chương trình, viết lại sách giáo
khoa. Trước hết phải nghĩ tới việc cải cách con người. Chỉ khi con người
thuộc cả ba nhóm ấy có chuyển biến, những con người toàn tâm toàn ý cho
giáo dục, những con người không vì lợi ích của những phe nhóm được
trân trọng, mọi việc mới có thể cải cách. Việc làm lại chương trình và
viết lại sách giáo khoa mới không đi vào vết xe đổ của những lần trước,
làm lãng phí tiền bạc công sức của nhân dân.
Với khoản tiền không nhỏ đã chuẩn bị dành cho việc cải cách này, tôi đề nghị chọn một trong hai cách:
Một là, sử dụng số tiền này cho
tất cả các thí sinh đỗ thủ khoa kỳ thi đại học vừa qua đi học ở nước
ngoài. Đó là một cách đầu tư cho tương lai có hiệu quả, mà không phải
lựa chọn phiền phức, tránh được bao tiêu cực.
Hai là, nhường cho các khoản chi
khác cần thiết hơn, thí dụ như xây dựng mới nhiều bệnh viện góp phần
giảm tải cho các bệnh viện hiện nay.
Còn nếu có ai đó nói rằng “Không
thể chậm trễ việc cải cách vì chúng tôi sắp hết nhiệm kỳ rồi!” thì tôi
xin chịu! Xin cứ cải cách, chắc chắn chỉ hoàn thành (mà còn hoàn thành
vượt mức) việc tiêu tiền, còn mọi thứ lại phải có một cuộc cải cách
tiếp theo!
TẢN MẠN VỀ NGHỀ NHÂN NGÀY ĐƯỢC TÔN VINH
07:48 |
Dương Đình Giao
1. Năm 1962, tốt nghiệp Phổ
thông, tôi nộp đơn thi vào trường Sư phạm một cách hoàn toàn tự nguyện.
Ngay từ khi còn quàng khăn đỏ, tham gia các phong trào Bình dân học vụ
đi xóa nạn mù chữ cho bà con ở các khu lao động Phúc Tân, Phúc Xá ngoài
đê sông Hồng, rồi Bổ túc văn hóa, dạy lớp 5, lớp 6 cho y tá, hộ lý ở
Bệnh viện Mắt phố Bà Triệu, thanh niên trong làng, …đã khiến tôi yêu
thích nghề này.
(Những năm ấy, cũng như tất cả
các ngành nghề khác, học hết lớp 7 đã có thể thi vào trường Trung cấp y,
sau 2 năm học đã có bằng y sĩ, có quyền khám bệnh, cho đơn thuốc; học
hết lớp 4, theo học sơ cấp một năm đã có thể làm y tá, còn hộ lý hình
như chỉ yêu cầu đọc thông viết thạo. Không biết trình độ chuyên môn của
những y sĩ, y tá, hộ lý thời ấy so với những người có bằng cấp tương
đương giờ đây ra sao, nhưng chắc chắn ý thức trách nhiệm, lương tâm nghề
nghiệp của họ hơn hẳn những người làm trong các cơ sở y tế ngày nay cho
dù lúc ấy, chưa hề có khẩu hiệu “lương y như từ mẫu”).
Bước chân vào trường Sư phạm,
mỗi khi lên Hội trường lớn (đủ chỗ ngồi cho khoảng nghìn người mà toàn
bằng tranh tre nứa lá) nghe giảng các môn học chung cho mọi khoa như
Chính trị, Tâm lý, Giáo dục, … luôn thấy một câu khẩu hiệu đập vào mắt:
“Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý”. Đây vốn là
một câu trích ra trong bài nói chuyện của ông Phạm Văn Đồng khi tới thăm
trường. Tuổi còn trẻ, lại có cái hồ hởi, háo hức vì mới trúng tuyển một
cuộc thi lớn, anh nào cũng thấy âm ỉ sung sướng vì được cao quý hơn
thiên hạ. Nhưng chỉ cần ra trường được vài ba năm, thực tế cuộc sống
khắc nghiệt, những gian khổ trong nghề nghiệp ở những nơi xa xôi đã
khiến bọn tôi tỉnh ngộ. Đơn giản chỉ là, có “nghề cao quý nhất” vậy
nghề nào là cao quý thứ hai? Và nghề nào là không cao quý?
Tác giả của câu nói chắc do ngẫu
hứng trong chốc lát, để động viên các chàng trai cô gái sinh viên mới
bước vào đời còn trẻ người non dạ. Chả là thời kỳ này, trong giới thanh
niên học sinh còn lan truyền câu thành ngữ mới trong việc chọn trường,
chọn nghề: “Nhất Y nhì Dược, tạm được Bách khoa, Sư phạm thông qua, Nông
lâm bỏ xó”, hay “Chuột chạy cùng sào mới vào Sư phạm. Câu nói như một
lời khích lệ nhất thời, sau đó lẽ ra nên để “lời nói gió bay”. Không ngờ
tới hơn nửa thế kỷ sau, mỗi khi vào tháng 9, dịp khai giảng và nhất là
tháng 11, có ngày Nhà giáo Việt Nam, các thầy cô giáo được đồng loạt đưa
lên mây xanh. Thường ngày gian nan với cuộc sống thiếu thốn, bị lên án
vì “dạy thêm học thêm”, bị “buộc tội” vì bệnh thành tích tạo nên bao sản
phẩm “ngồi nhầm lớp”, “học giả bằng thật”, thoáng chốc, họ “đổi đời”
thành những người làm “nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý”,
thành “kỹ sư tâm hồn” và được nhận biết bao những lời đẹp đẽ. Chưa có
một cuộc điều tra để xem bao nhiêu phần trăm những người làm nghề dạy
học thấy vinh dự, tự hào khi nghe những “lời nói có cánh” này, nhưng
chắc chắn có một tỷ lệ không nhỏ những người đang đứng trên bục giảng
cảm thấy ngượng ngùng (nếu chưa nói là xấu hổ) khi hàng năm vẫn phải
nghe những lời tôn vinh rỗng tuếch đó.
Ngượng ngùng vì xuất thân từ
những gia đình tử tế, người ta từ nhỏ đã được dạy không được phép coi
mình được xếp ở bậc cao hơn những người khác. Họ hiểu rằng, dạy học cũng
chỉ là một nghề như biết bao nghề nghiệp khác theo sự phân công của xã
hội. Mà:
Mỗi người thì có một nghề,
Con phượng thì múa, con nghê thì chầu.
Vinh quang không phụ thuộc vào
nghề nghiệp, nó chỉ được quyết định bởi thái độ, ý thức của con người
khi thực hiện trách nhiệm của mình.
2. Cái lối “nói lấy được” bất
chấp thực tế cuộc sống đã cố quên đi một thực trạng đau lòng: được coi
là nghề cao quý nhưng các trường Sư phạm hiện nay đang không thu hút
được những học sinh giỏi sau khi tốt nghiệp Phổ thông trung học. Một
hồi, nhờ chính sách miễn học phí, chất lượng đầu vào cho các trường Sư
phạm đã phần nào được giải quyết, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, cái
thực tế khắc nghiệt của đời sống đã khiến cho những học trò khi làm hồ
sơ thi vào đại học chẳng mấy mặn mà với nghề “gõ đầu trẻ” trong tương
lai. Học phí trong 4 năm học là số tiền lớn nhưng cũng chỉ là một phần
nhỏ trong biết bao tốn kém của những năm tháng, và lựa chọn vượt khó
khăn trong 4 năm hay suốt cả cuộc đời đã khiến nhiều người quay lưng với
sự ưu đãi. Nhiều năm bài toán vẫn chưa tìm được lời giải, thì mới đây,
theo một điều tra của PGS. TS. Vũ Trọng Rỹ (Viện Khoa học giáo dục) “Một
nửa giáo viên hối hận vì nghề đã chọn”. Có nghĩa là các trường học ở
nước ta đang được dạy bởi một nửa các thầy “bất đắc dĩ”. Người ta chỉ có
thể làm một việc gì miễn cưỡng, “bất đắc dĩ” ở một thời điểm hay trong
một thời gian ngắn. Khi ấy, ý chí, nghị lực, tinh thần trách nhiệm, …
có thể khiến công việc được hoàn thành chứ mấy ai “gồng” được mình lên
trong suốt cả cuộc đời? Được những người thầy như thế dạy dỗ, sao học
trò được “dạy chữ, rèn người” chu đáo, tận tụy như cha mẹ họ kỳ vọng. Và
hậu quả, chất lượng giáo dục hiện nay luôn trong tình trạng báo động
và luôn luôn đi xuống.
Một vị vốn là Hiệu trưởng trường
Đại học Sư phạm, sau đó đã từng là Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục,
Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội đã than phiền: “Giáo
viên cũ chuyển ngành, thế hệ trẻ thì quay lưng lại với nghề giáo. Một xã
hội mà người thầy không ai muốn làm thì sẽ đi đến đâu?”. Làm sao cứ tự
lừa mình bằng những cái huyễn hoặc mà cố tình quên đi câu hỏi nhức nhối
này. Nó không chỉ liên quan đến hiện tại và tương lai của giáo dục, mà
còn quyết định đến cả vận mệnh của dân tộc.
3. Nhớ lại các thầy tôi các đây
nửa thế kỷ, ngoài sự mực thước về nhân cách, tận tụy với nghề nghiệp,
bằng cấp của các thầy không cao. Thầy dạy cấp 2 cũng chỉ học hết lớp 7
(tương đương THCS bây giờ) sau đó học Trung cấp Sư phạm 2 năm. Thầy dạy
cấp 3, nhiều người chưa có bằng đại học, ai có cũng chỉ học có 2 năm sau
khi tốt nghiệp Phổ thông. Nhưng các thầy đều là những người uyên bác,
“biết mười dạy một” vì với các thầy, sự học không chỉ dừng lại sau khi
dời ghế nhà trường. Giờ đây, khi đã bước vào những năm tháng cuối đời,
tôi không chỉ biết ơn các thầy vì những tri thức được truyền thụ, vì
những thói quen
tốt được rèn cặp mà trên hết là vì ngọn lửa ham học hỏi, ham hiểu biết
các thầy đã nhen lên trong tôi từ những năm tháng niên thiếu đến nay vẫn
chưa tàn lụi. Chính nó đã giúp tôi luôn luôn học ở mọi nơi, mọi lúc để
mở rộng tầm hiểu biết, từ đó đủ bản lĩnh để sống theo cách riêng.
Từ nhiều năm nay, các thầy cô
giáo mang tiếng được đào tạo rất bài bản, dạy tiểu học cũng có thể có
bằng cao đẳng, đại học; dạy cấp THCS hay THPT cũng có thể có bằng Thạc
sĩ, Tiến sĩ, nhưng những bằng cấp ấy đều có vấn đề. Khi đi học thì điểm
được xin, được mua kết cục là cái mảnh bằng thì thật nhưng tri thức của
người sở hữu thì giả.. Rồi khi ra trường, bước lên bục giảng, bằng lòng
với những tri thức “đầu Ngô mình Sở” chẳng bao giờ thấy mua, thấy đọc
một cuốn sách (trong khi cái xe máy, cái điện thoại lại vô cùng “sành
điệu”). Vì đầu óc rỗng tuếch nên dạy học chỉ bằng phương pháp “đọc
chép”. Hiểu biết hạn hẹp tất sẽ dẫn tới nhân cách bị băng hoại, người
làm nghề dạy học, được tôn làm “thầy” nhưng tầm mắt không vượt nổi cái
mối lợi trước mắt của bản thân sao có thể dạy chữ, rèn người cho xứng
với sự kỳ vọng của học sinh và cha mẹ họ?
Tôi cho rằng đây mới chính là
chuyện đáng quan tâm trước hết nếu muốn nói tới cải cách hay đổi mới
giáo dục. Những người thầy có nhân cách và có tri thức phong phú (do học
trong nhà trường và hơn hết do tự học suốt cuộc đời) sẽ tự biết cần
phải dạy những gì, dạy như thế nào để giúp thế hệ trẻ đủ hành trang
trước khi vào đời cho dù chương trình, sách giáo khoa hay mọi sự chỉ đạo
của cấp trên chẳng bao giờ tránh hết được những khiếm khuyết.
LÊN CHÙA
19:02 |
Nguyễn Đình Giao
Nước ta có tục lệ sau khi mất
được 35 ngày (ngũ tuần) thì “vong” (linh hồn người chết) được đưa lên
chùa. Trong nam tục lệ này được gọi là lễ cầu siêu, cũng thực hiện trong
vòng 49 ngày (nhưng hình như thường ngay sau khi mất). Người theo Phật
giáo coi đây là lễ mong cho người vừa mất được siêu thoát.
Năm 1989 (Kỷ Tỵ), Mẹ tôi mất.
Khi ấy, việc thờ cúng, lễ bái đã có phần được khôi phục. Nhiều người
khuyên đến 35 ngày cần làm lễ để Mẹ tôi được lên chùa, được “mát mẻ”.
Nghe nói rất mơ hồ, nhưng vì tự thấy mình là người chưa hiểu biết, chưa
tinh tường được nhiều lẽ huyền bí của kiếp người, chỉ đơn giản nghĩ làm
như thế là tỏ ra có hiếu, tỏ lòng thương tiếc Mẹ nên tôi đã theo.
Về mặt tiền bạc, cũng chẳng tốn
kém gì nhiều , mua sắm những thứ cần thiết theo yêu cầu của nhà chùa đã
có mấy con gái, con dâu lo liệu. Mình chỉ có một việc tới hôm ấy, đến
chùa, ngồi sau nhà sư chủ lễ, nghe đọc kinh các loại. Thấy bảo đứng lên
thì đứng lên, bảo ngồi xuống lại ngồi xuống. Rồi vái lậy, ê a đọc theo, …
tất tần tật đều có sự chỉ đạo chẳng khác gì con rối. Lỡ có lúc lơ đễnh,
không tập trung nghe lời kinh thì sau đó giật mình, ân hận lắm. Chỉ có
thế mà mệt rã rời. Không dám kêu, vì đoán chắc ngần ấy các em, con cháu
chẳng ai không mệt. Chỉ buồn cười: bà Bác tôi năm ấy đã ngoài 80, tu
tại gia, mà lòng thành của Cụ thì không thể ai nghi ngờ. Mỗi tháng, Cụ
ăn chay 6 ngày, còn ngày nào, Cụ cũng lên cái gác nhỏ bằng gỗ đọc kinh
hai lần, sáng và chiều. Con cháu đều được dặn, khi thấy Cụ đọc kinh trên
gác, cấm được hỏi han làm kinh động. Từ xa tới thăm, Cụ bảo: Cứ thấy
tôi đang tụng kinh là biết tôi khỏe, đợi được thì đợi, có việc gì vội
thì cứ về! Hôm ấy Cụ ngồi cùng đọc kinh ngay sau nhà sư chủ lễ, tôi thì
ngồi cách đó không xa (con trưởng mà!). Đang đọc, bỗng nghe thấy Bác tôi
nhắc khẽ nhà sư: “Cụ đọc sai hết rồi!” Nhà sư vẫn đều tay gõ mõ, không
quay lại, bảo: “Có cụ sai thì có!” Chẳng biết ai sai, nhưng tôi tin Bác
tôi hơn!
Chuyện rồi cũng qua đi.
Gần chục năm sau, Cô tôi mất.
Các em con Cô Chú tôi cũng làm lễ lên chùa khi tới tuần 35 ngày. Tôi là
phận cháu, không phải theo cả buổi lễ, chỉ tới thắp hương ở chùa rồi về
đi làm. Hôm sau, tới thăm Chú tôi, thấy Cụ mệt mỏi, chẳng thiết nói năng
gì. Ngồi một lúc, Cụ than cái ngày hôm qua sao mệt quá, khổ quá, mà
không biết khổ như thế để làm gì? Chẳng biết Cụ bà có được cái gì không?
Ít lâu sau, Cụ “di chúc” với các con: Khi Bố chết, các con lo chôn cất
chu đáo, tới ngày giỗ, anh em con cháu sum họp, thắp nén hương, thế là
đủ. Đừng đưa lên chùa làm gì, khổ cho mọi người lắm.
Khi Chú tôi mất, nhớ tới lời dặn
của Cụ, con cháu cũng có người lâu nay rất “khoái” chuyện “tự do tín
ngưỡng”, say mê hương khói cảm thấy áy náy nhưng vẫn phải nghe theo. Con
nhà tử tế, được ăn học đàng hoàng, cũng là có giáo dục, sao dám làm
trái với ý nguyện của người đã khuất! Có họa là đồ vô phúc!
Chú tôi mất tới nay đã được 15 năm, mọi việc của con cháu trong đại gia đình đều không có gì phải lo lắng ân hận.
Từ sau khi nghe lời dặn của Chú,
nghĩ tới khi Bố sẽ tới ngày trăm tuổi, tôi vẫn có ý tìm hiểu về tục lệ
này vì quả thật cảm thấy có gì đó chưa được thuyết phục. Càng nhiều
tuổi, tôi càng không thích làm việc gì chỉ vì “người ta vẫn làm như
thế”. Cách giải thích của nhiều tài liệu không giống nhau và đều ở tình
trạng “u u minh minh” đầy huyền hoặc. Sau thời gian dài suy xét, có tham
khảo ý kiến của nhiều người nhất là những người cao tuổi, có hiểu biết,
trong đó có những người am hiểu đạo Phật hoặc chân tu, tôi tự rút ra
kết luận: Con người ta chết là hết, tất cả những hành vi của con cháu
với người đã khuất chỉ là những ước lệ để tỏ lòng hiếu thảo, nỗi niềm
chân thành thương tiếc. Tình cảm với Cha Mẹ trước hết thể hiện khi các
bậc sinh thành còn sống cùng con cháu nơi dương thế, mà thế nào là hiếu
thuận, làm sao là kính yêu chắc chẳng phải nhiều lời, ai cũng thấu hiểu.
Mọi việc làm sau khi Cha Mẹ an giấc ngàn thu nên trân trọng và đơn
giản. Những sự nhiêu khê tốn kém đang có xu hướng phát triển ngày nay
phần lớn đều do nhiều người chỉ “thấy người ta làm như thế” và cũng do
không ít kẻ có quá nhiều tham vọng muốn cầu xin và lo sợ bản thân mình
chịu nhiều tai ương vì đã làm từng làm điều không lương thiện. Lòng tham
không đáy và nỗi sợ hãi mơ hồ ám ảnh khiến nhiều người nhìn bên ngoài
cũng “đạo cao đức trọng” đã có những nghĩ suy và hành xử như kẻ ngu
muội. Còn các “thầy chùa” thì ra sức khuyến khích vì mối lợi vô cùng hấp
dẫn từ đông đảo các tín đồ.
Tôi quan niệm chỉ nên làm lễ
“đưa vong lên chùa” khi ở một trong ba hoàn cảnh: một là người mất khi
còn sống đã tin theo đạo Phật, thường xuyên tới chùa thể hiện tín ngưỡng
hoặc tu tại gia, khi sống “ăn chạy niệm Phật” nên khi chết cũng muốn
“nương nhờ cửa Phật”; hai là người chết không có con cháu nối dõi, không
có người lo việc hương khói, đưa lên chùa cũng giống như tục “cúng
hậu”, xưa đã có nhiều người thực hiện, muốn nhờ nhà chùa lo việc hương
khói về sau; và ba là, người đã mất khi còn sống đã từng làm những điều
vô nhân bạc nghĩa, nay cần đưa lên chùa để có điều kiện sám hối.
Nhìn cảnh người ta xì xụp cầu khấn, đủ thứ tốn kém để cúng bái, lúc sinh thời, Bố tôi thường bảo:
- Có cho được cái gì, Cha Mẹ cho
hết rồi, không việc gì phải xin xỏ; mà làm sao Cha Mẹ, Ông Bà lại làm
điều gì có hại cho con cháu để phải hãi hùng lo sợ rồi phải hương khói
lễ lạt cho tốn kém?
Nhiều người nghe tôi nói đều
không phản đối, vì thế, khi Bố mất, tôi đã trình bày những suy nghĩ
này với anh em, con cháu trong nhà và rất may mắn, đã tìm được sự đồng
thuận. Chắc ai cũng thấu hiểu cái mệt mỏi và sự vô nghĩa khi làm việc
này mà không dám nói sợ bị hiểu lầm.
Bố tôi mất đã được 6 năm, đời
sống của con cháu từ chuyện làm ăn tới việc học hành đều “thông đồng bén
giọt”. Cùng với nhiều điều khác trong đời sống việc này càng khiến tôi
tin rằng chỉ nên coi phong tục là những nét văn hóa, đừng để phụ thuộc,
thậm chí lệ thuộc khiến mình trở thành người vô tình góp phần vào sự
khủng hoảng và dung tục hóa cái vẫn được gọi là “thế giới tâm linh”.
ĐIỂM DỪNG XE “BUÝT”
19:09 |
Nguyễn Đình Giao/ onggiaolang
Từ Hà Nội lên Sơn Tây đi qua tuyến đại lộ Thăng Long trước có hai “hãng” xe 71 và 74 cùng chạy xen
kẽ. Người người đi lại rất thuận lợi, vì cứ khoảng 15 phút có một
chuyến, trừ ngày cuối tuần vào buổi chiều hơi đông, còn những ngày khác
khách khá vắng.
Giá vé cũng phải chăng, đi suốt
từ bến đầu tới bến cuối cũng chỉ 22.000 đ. Cứ theo cách tính lấy phở
làm bản vị của tôi thì rẻ quá, chưa tới một bát phở. Cứ nghĩ thử xem,
nếu không có ô tô, phải “cuốc” bộ, đi cật lực cũng phải mất một ngày.
Cái số tiền ấy chỉ uống nước cũng không đủ. Khách đi xe đúng là thượng
đế, trên xe có máy lạnh, dù nắng nôi đến mấy, khách cũng mát rượi; lại
thêm suốt chặng đường hơn bốn chục cây số, muốn lên xuống lúc nào, ở
đâu, nhà xe cũng “chiều” hết. Lúc lên thì xe đỗ ngay trước mặt, chỉ vài
bước chân là bước lên, vào chỗ ngồi. Còn xuống xe thì bất kỳ nơi nào
mình muốn. Trên đường đi cũng có các điểm dừng xe buýt, có biển báo đàng
hoàng, nhưng cắm biển cho sang vậy thôi, còn khách lên xuống ở đâu cũng
được.
Nhưng người dân xứ Đoài so bì:
dân Từ Sơn, Bắc Ninh, Phủ Lý, Hưng Yên là người tỉnh ngoài mà có xe trợ
giá về Hà Nội, trong khi dân Sơn Tây chính là dân Hà Nội mà vẫn phải đi
xe giá cao. Để chiều lòng cư dân vùng Hà Nội 2, gần đây, thành phố mở
tuyến xe buýt có trợ giá từ Hà Nội lên Sơn Tây. Xe chạy cả hai ngả:
đường 32 và đường đại lộ Thăng Long, giá vé có trợ giá chỉ có 9.000 đ;
30 phút có một chuyến, xe chạy khá đúng giờ. Thế là dân xứ Đoài toại
nguyện.
Nhưng hình như chẳng có cái được
nào mà không kèm theo cái mất. Đi xe buýt có trợ giá này cũng vậy. Xe
cũng có máy lạnh, khá rộng rãi, nhưng xe chỉ dừng đón và để khách xuống
xe ở những điểm cố định đã đặt biển dọc đường. Như thế, để lên hay xuống
xe, khách có thể phải đi bộ thêm khoảng 500 m. (hai điểm dừng cách nhau
khoảng 1 km).
Hôm vừa rồi, khi xe vừa dời một điểm dừng, bỗng nghe có tiếng kêu:
- Bác ơi, cho cháu xuống!
Bác lái xe, mắt vẫn chăm chú nhìn phía trước, hỏi lại:
- Cháu xuống đâu?
- Cháu xuống đây mà!
- Sao xe vừa đỗ không xuống?
- Dạ cháu quên, bác cho cháu xuống đi!
Quay lại thấy một cô bé chắc đang tuổi đi học, khoác ba lô, tai lại đang có cái tai nghe, a, thì ra cô đang mải nghe nhạc.
- Cháu phải đợi tới điểm dừng tiếp nhé.
Nghe bác tài nói thế, có mấy người góp vào:
- Bác cho cháu nó xuống đi.
- Ông này nguyên tắc quá.
Không thấy bác tài nói gì, xe vẫn chạy. Cô bé chưa thôi nằn nì:
- Bác cho cháu xuống đi, thế này thì cháu phải đi bộ xa quá!
Một bà nhìn cách ăn mặc không thấy vẻ gì là người dân đô thị quay lại, nói với cô bé.
- Đi xe thì phải chú ý, làm sao muốn đỗ lúc nào thì đỗ được?
Sau câu nói ấy, không thấy còn điều tiếng gì nữa. Đến điểm dừng tiếp, xe đỗ, cô bé xuống xe.
Một câu chuyện nhỏ ấy cũng khiến cho người ta phải suy nghĩ.
- Văn minh vật chất thường phải đi kèm với văn minh tinh thần. Xe “buýt” là phương tiện đi lại quen thuộc ở đô thị khi sử dụng cũng cần có những thói quen cần thiết, chứ hoàn toàn không thể tùy tiện như đi lại trên phương tiện cá nhân, nhất là đi lại trên đường ở làng quê. Cũng như, ở nông thôn, mật độ cư dân thưa thớt, không gian thoáng đãng, lời ăn tiếng nói có thể tùy ý về âm lượng, chẳng ảnh hưởng gì đến ai. Nhưng ở thành phố, nhất là những nơi có không gian hẹp như siêu thị, phòng họp, nhà hát hay trên xe “buýt” mật độ người rất cao mà vẫn cứ giữ thói quen “ăn sóng nói gió” thì thật gây khó chịu cho không ít người. Người Việt ta gặp nhiều bi hài kịch khi sử dụng những phương tiện hiện đại về kỹ thuật, công nghệ nhưng lại thiếu sự tiến bộ về ý thức. Nên chăng, những người làm văn hóa, thay vì để thời gian bàn về những chuyện đậm đà bản sắc dân tộc hãy nói về những điều càn thiết này. Các nhà kinh doanh, trước khi “lăng-xê” một mặt hàng mới nên có khuyến cáo người dùng những chú ý cần thiết khi sử dụng để đảm bảo văn minh lịch sự? Còn mọi người trước khi sử dụng tốt nhất là hãy tìm hiểu cho kỹ những đòi hỏi cần thiết để tránh tùy tiện.
- Dưới con mắt của không ít người, bác lái xe trong cậu chuyện trên thật “máy móc”, thậm chí có người còn cho là “độc ác”. Nhưng trong cuộc sống, nhất là trong cộng đồng, mỗi con người đều phải tuân thủ những nguyên tắc, những quy định. Tôi chắc cô bé này và không ít người trên chuyến xe đó cũng đã được một bài học khi đi xe “buýt”. Tiếc là ở nước ta hiện nay, bất chấp nguyên tắc, quy định nhiều khi lại được coi là “VIP”. Coi thường lề luật đã trở thành “món đặc sản” mà các vị chức trọng quyền cao ưa dùng. Chức càng to, ghế càng cao càng có quyền coi thường luật lệ chung. Đó chính là cái “luật rừng” của thời mông muội.
- Một quy định, luật lệ mới ban hành bao giờ cũng gặp phải sự phản ứng của không ít người vì nó phủ nhận cái thói quen lâu đời. Điều đó là bình thường. Ở ta, sân bay thường có các xe chở hành lý sử dụng miễn phí. Người dùng chỉ cần nhấc hành lý của mình khỏi xe, còn sau đó kệ cái xe nằm chỏng chơ trên sân ga chật chội sẽ có người tới xếp vào chỗ quy định. Tôi nghe nói ở các nước văn minh, muốn lấy xe sử dụng, phải bỏ vào máy một đồng 2 ơ-rô. Dùng xong, đưa xe vào chỗ cũ, máy sẽ tự động trả lại tiền. Nhà ga luôn gọn gàng, ngăn nắp, sân bay tiết kiệm được tiền trả lương cho người thu dọn. Ở ta, nếu áp dụng, ban đầu chắc chắn có những người phê phán. Nhưng rõ ràng, đó là biểu hiện văn minh, giúp con người có ý thức ở nơi công cộng và tiết kiệm. (dù tiết kiệm cho ai cũng tốt). Chỉ có điều, nhà chức trách trước khi ban hành quy định, cần cân nhắc nhất là thử xem liệu quy định ấy có thể được thực hiện nghiêm túc không. Vừa rồi, bàn về chuyện bán rượu, bia, có người đã nói rất đúng: không thể lấy đâu ra cảnh sát để giám sát tất cả những nơi bán rượu bia, nhưng nếu phát hiện nơi nào bán rượu bia sai quy định sẽ bị rút giấy phép kinh doanh, chỉ dăm trường hợp như thế là người ta sẽ không dám làm trái quy định nữa. Nếu cái gì cũng cứ đợi “đồng thuận” rồi đợi “dân trí được nâng cao” thì “hãy đợi đấy!”, đất nước còn lộn xộn, còn lạc hậu tới thế kỷ sau.
Từ "dao sắc không gọt được chuôi" đến "ném chuột vỡ bình"
03:08 |
TMSS: quả như ông giáo làng nhận định: người khôn nói mánh người dại đánh đòn! Đàng này đánh trực diện mà vẫn chả biết chi!
---------
Dương Đình Giao
Người làm nghề dạy học, do có
điều kiện về thời gian, lại hiểu biết về chuyên môn nghiệp vụ nên phần
lớn, con cái đều ngoan ngoãn, học hành đến nơi đến chốn, nếu chưa được
khen ngợi thì cũng ít bị chê trách.
Tuy thế, trong suốt cả đời dạy
học, tôi vẫn thường thấy có những thầy, cô (kể cả những người là Hiệu
trưởng Hiệu phó) con cái không được như mong đợi, đứa thì nghịch ngơm,
hư hỗn, đứa thì học hành chểnh mảng, nhưng nể là “con thầy, con cô” nên
chẳng ai nỡ cho ở lại lớp hay xếp loại hạnh kiểm yếu.
Khi chuyện trò, để
giữ thể diện cho “khổ chủ”, người ta thường dùng câu tục ngữ “dao sắc
không gọt được chuôi”. Nói để giữ sĩ diện cho nhau thế thôi chứ ai cũng
biết, những thầy cô có con là học sinh hư này phần lớn đều là những nhà
giáo bất dắc dĩ, chuyên môn nghiệp vụ thì phần lớn đều chuyên tu tại
chức, còn tư cách đạo đức thường đều “có vấn đề” cả. Con cái là người
biết rõ nhất về người sinh ra chúng nên những điều hay lẽ phải cha mẹ
răn dạy con thường ít có sức thuyết phục. Lại thêm chúng biết cha mẹ
được nể vì ở trường nên lại càng trở nên “nước đổ lá khoai”. Nói “dao
sắc không gọt được chuôi” là nói để động viên nhau, làm đẹp lòng nhau
thế thôi, chứ trong bụng, ai cũng nghĩ “đến con cái mình đẻ ra còn chẳng
dạy được, mong gì đến việc dạy con thiên hạ!”. Những ai có con hư hỏng
mà lại dùng câu tục ngữ này để biện hộ thì thường được coi là những kẻ
hợm hĩnh, coi trời bằng vung. Có những người như thế, nhưng ít lắm.
Tục ngữ xưa cũng có câu “ném
chuột vỡ bình” là để răn con người ta làm việc gì nên thận trọng, đừng
để làm việc có mục đích tốt mà gây hậu quả xấu. Thường lời khuyên là của
người đứng bên ngoài, nhằm nhắc nhở thái độ có chừng mực của người
được khuyên, người sắp hành động. Người hành động có thể tâm niệm điều
ấy trong lòng chứ không mấy ai nói ra thành lời. Nói ra khác gì bảo với
mọi người rằng “tôi còn đắn đo, cân nhắc, còn lâu và thậm chí chưa chắc
đã làm”.
Giá như ông Nguyễn Phú Trọng nói
cái câu “ném chuột vỡ bình” từ khi ông mới nhậm chức Trưởng ban phòng
chống tham nhũng thì người ta thấy ông quả là người thận trọng đáng kính
nể. Nhưng nay ông đã đảm nhiệm chức vụ gần hết nhiệm kỳ; sau những
tuyên bố rất mạnh mẽ mà mấy năm rồi cuộc chiến chống tham nhũng vẫn giẫm
chân tại chỗ; người trợ thủ đắc lực được ông tin cậy thì “thân đang
bại, danh đang liệt” ở trời tây, lời tuyên bố này khác gì một hành động
“bó giáp quy hàng” và vô tình khuyến khích cho lũ chuột tham nhũng kia,
cứ tha hồ mà bòn rút, đục khoét thoải mái rồi tìm những cái bình (bất kể
loại bình gì) mà chui vào sẽ được an toàn tuyệt đối.
Giá như những người giúp việc
tham mưu “xui” ông nói những lời thật mạnh mẽ về phòng chống tham nhũng
như trước kia, rồi gợi ý để một đại biểu cử tri nào đó dùng câu tục ngữ
để khuyên ông thì buổi tiếp xúc cử tri sẽ thật hoàn hảo, cái việc đứng
nhìn bất lực trước kẻ thù tham nhũng sẽ chẳng có người nhận ra. (chẳng
khó gì để tìm nhất là ngoài cái phong bì đã nhận như mọi người, nói xong
lại được đưa lên tivi cho thiên hạ ngưỡng mộ).
Thế mới biết, các cụ ta xưa đúc
kết cách ứng xử ở đời thành những câu tục ngữ đã khó, nay ta vận dụng
những bài học kinh nghiệm ấy vào trong lời ăn tiếng nói hàng ngày cũng
đâu có dễ!
MỘT NỀN GIÁO DỤC PHẢN TIẾN BỘ
16:36 |
MỘT NỀN GIÁO DỤC PHẢN TIẾN BỘ
Hơn nửa thế kỷ qua, về đủ mọi
mặt, các nước trên thế giới đã có những bước nhảy vọt ngoạn mục, nhiều
nước trong khu vực đã trở thành những con rồng con hổ, ngay những nước
lân bang như Thái Lan, Malaysia, cũng đã bỏ xa chúng ta về sự tiến bộ,
thậm chí gần đây còn phát hiện ra có lĩnh vực ta đã kém hơn hai nước
Lào và Căm pu chia mà trước đây chúng ta cứ kẻ cả coi là các nước đàn em
cần giang tay bao bọc.
Nhìn chung, chúng ta vẫn là một
nước trong tình trạng chậm phát triển, cả cái điện thoại di động với bao
nhiêu chi tiết mà chỉ có khả năng làm được cái bao bì bằng các tông,
đến cái ốc, cái vít cũng chưa biết khi nào mới chế tạo được. Nhưng dù
chỉ với tốc độ rùa bò hay ốc sên, cuộc sống ở ta cũng có những tiến bộ
dù nhỏ. Vào mùa gặt, người nông dân vẫn cắt lúa bằng liềm, bằng hái
nhưng đã không còn phải dùng cái cối đá thủng để đập lúa, các nơi hầu
hết đều có máy tuốt lúa. Rồi con người cũng không còn phải è cổ gánh lúa
về nhà, đã có xe công nông, hay xe cải tiến được kéo bằng xe máy làm
giảm sức người. Sân phơi thóc thời hiện đại không còn là cái sân gạch
cỏn con một thời là mơ ước của những Lão Am một điển hình trong văn học
những năm 60, thóc lúa giờ đây đã được phơi trên hàng ngàn cây số các
đường quốc lộ trải dài khắp đất nước. Đi các tỉnh miền núi phía bắc, mới
thấy cái điều nhà thơ Tố Hữu mơ ước 60 năm trước nay đã thành sự thực
“núi rừng có điện thay sao”, người dân các dân tộc thiểu số nhiều gia
đình nay đã biết đến tivi, máy tính, … dù các bản làng xa xôi nơi đường
giao thông chưa kịp vươn tới cũng còn nhiều nghèo đói.
Nhưng dù có mang nhiều ưu ái, dù
đã dành gần hết cuộc đời đóng góp (tất nhiên có tích cực và cũng không
ít tiêu cực), gần bảy mươi năm qua tôi cũng phải thừa nhận, giáo dục
nước ta đang “phú quý giật lùi”.
Sau đảo chính Nhật tháng 3 năm
1945, Hoàng Xuân Hãn làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Mỹ thuật trong chính
phủ Trần Trọng Kim. Trong vòng 2 tháng, chỉ với tấm bằng cử nhân (1935)
và thạc sĩ (1936) Toán của trường đại học Sorbonne (Pháp) cấp, và với
một nhóm cộng sự ít ỏi, ông đã “thiết lập và ban hành chương trình giáo
dục bằng chữ Quốc ngữ ở các trường học. Áp dụng việc học và thi Tú Tài bằng tiếng Việt, dùng tiếng Việt trong
những công văn chính thức..” (theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia).
Chính phủ Trần Trọng Kim chỉ tồn tại trong vòng 4 tháng nhưng các Bộ
trưởng Giáo dục của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau đó là Vũ
Đình Hòe, Đặng Thai Mai và Nguyễn Văn Huyên đã kế thừa chương trình do
ông soạn thảo trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp ở các vùng do ta
kiểm soát. Mặc dù đời sống vật chất vô cùng gian khổ, điều kiện học tập
hết sức thiếu thốn, những lớp học mái tranh liếp nứa trong những cánh
rừng heo hút đã đào tạo được một thế hệ thanh niên sau này hầu hết đều
trở thành rường cột trong nhiều ngành khoa học ở nước ta cho tới nay.
Bước vào chống Mỹ, chủ trương
“trong số lượng có chất lượng” đã đưa giáo dục nước ta đặt một chân vào
thảm họa. Chỉ có điều, sự đi xuống của giáo dục lúc này không mấy ai
nhận ra, người ta còn mải chú ý tới chuyện bom đạn, chuyện miếng ăn hàng
ngày. Những người có tâm huyết với giáo dục khi ấy dù có cảm thấy lo
lắng nhưng cũng tự an ủi, chờ sau này khi chiến tranh kết thúc, đất
nước hòa bình, độc lập, giáo dục sẽ được phục sinh làm tròn trách nhiệm
với tiền đồ của dân tộc.
Chỉ tiếc rằng, đất nước thống
nhất, bắc nam liền một giải, rồi đổi mới, bước vào xây dựng nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã bốn chục năm, cho tới nay, sự
xuống cấp của giáo dục đã không thể nào che giấu nổi, nhiều người đã
phải cho rằng giáo dục “đang xuống dốc không phanh”, giáo dục “sắp chạm
đáy”, giáo dục “không thể tồi tệ hơn được nữa”.…Và nhiều người biết lo
xa, đã tìm mọi cách để cho con cái “tỵ nạn giáo dục” càng sớm càng tốt.
Thành công lớn nhất của nền giáo
dục cũ (phong kiến và thực dân) ở nước ta theo tôi là đã bồi dưỡng được
lòng ham hiểu biết cho người học. Họ không chỉ học trong nhà trường
dưới sự chỉ dạy của người thầy. Chỉ cần sau những năm tiểu học, được
tiếp thu những tri thưc cơ sở, mỗi người đã có thể nghe giảng các môn
học bằng tiếng Pháp khi có điều kiện học lên lớp trên hay tự học. Việc
học tập theo họ suốt cuộc đời dù chẳng mấy người biết tới lời của Lênin.
Đã có một lớp trí thức ở ta dù bằng cấp rất khiêm tốn nhưng là những
tài năng thực sự trên nhiều lĩnh vực. Những tấm gương của thầy cô giáo,
những người được nể trọng trong làng xã từ những ông Cử, cụ Nghè cho tới
ông hương sư là mẫu mực về sự hiểu biết, tấm gương về cách cư xử hợp
đạo lý, trụ cột của các gia đình tử tế được mọi người ngưỡng mộ cũng là
động lực thôi thúc lòng ham học của mỗi người khi được cắp sách tới
trường. Người ta tiếp bước truyền thống coi “nhân bất học bất tri lý”,
học để mở mang tầm nhìn, học để sống cho ra con người.
Từ cải cách ruộng đất, thang bậc
giá trị đã thay đổi, những người tử tế, có học hành, có liêm sỉ bị coi
thường trước sự lên ngôi của dốt nát và bất lương. Người ta đi học, dù
có học đến đại học hay làm luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, vẫn không lấy sự
mở mang hiểu biết là mục đích, dù đã mòn đũng quần trên ghế nhà trường
vẫn không có lòng ham học. Mục đích học tập của ta hiện nay chỉ là bằng
cấp, có bằng cấp cùng với cái “thủ tục đầu tiên” sẽ có điều kiện để tiến
thân. Bằng thật hay giả, bằng thật nhưng kiến thức giả đã trở nên phổ
biến. Một đứa trẻ miệng còn hơi sữa, mới đặt chân vào lớp 1 đã được tạo
hứng thú tới trường bằng những bộ quần áo của Trạng nguyên, Tiến sĩ
mong được vỗ tay chào mừng làm sao có thể thờ ơ với những giá trị ảo,
những cái danh hão khi lớn lên sau này. Biết bao viên chức nhà nước, nhờ
cái bằng giả (mua được từ trong nước hay sang trọng hơn, ở nước ngoài)
leo lên những chức vụ cao khi bị phát hiện vẫn nghiễm nhiên tồn tại
càng khiến người ta không cần học mà chỉ cần cái bằng. Có lẽ trong nhiều
việc trên đời, học là công việc hoàn toàn không thể làm hộ, không thể
học hộ. Con người một khi không có lòng ham học chỉ cần nhờ tấm bằng mà
“công thành danh toại” quả thật là thảm họa đầu tiên cho giáo dục.
Người ta cho con tới trường là
để được “nên người”, nghĩa là vừa được thêm nhiều hiểu biết để vận dụng
vào đời sống (để tồn tại, để kiếm ăn) sau này và vừa được rèn luyện
những phẩm chất đạo đức cho hợp với luân thường đạo lý. Nội dung học
hành ở ta vừa thừa thãi vừa lạc hậu. Thừa vì những tri thức mang tính
hàn lâm, chỉ có tác dụng khoe hiểu biết của người soạn sách; lạc hậu vì
nhiều điều loài người tiến bộ đã ném vào sọt rác của lịch sử từ nhiều
chục năm nay, thậm chí cả những điều bịa đặt hiển nhiên vẫn làm người
học tốn thời gian tới cả một năm học. Cho nên, hàng chục năm học ngoại
ngữ nhưng vẫn là những kẻ “vừa câm vừa điếc”; dù có cử nhân hay thạc sĩ,
thất nghiệp vẫn chiếm một tỷ lệ không nhỏ vì muốn làm được nghề đã được
đào tạo, người học cần được đào tạo lại, nghĩa là sau ba bốn năm học,
thời gian và tiền của trở thành “nước lã ra sông”. Đó là nói chuyện dạy
chữ. Còn dạy người thì sao? Trẻ em nước ta tới trường không phải để được
tạo điều kiện phát huy những năng lực cá nhân mà để dần thành thạo
“nghệ thuật diễn”. Sắp tới trường, các em đã được cha mẹ dạy cho cách
“diễn”, “diễn” để làm đẹp lòng thầy cô, “diễn” để cha mẹ được đẹp mặt
với thiên hạ vì con là học sinh giỏi, là học sinh của các trường chuyên
lớp chọn. Bài học đầu tiên của mỗi học sinh ngay từ cấp tiểu học cũng là
học cách “diễn”. Từ “diễn” khai giảng tới “diễn” vẻ “tự nguyện” tham
gia vào các lớp học thêm do thầy cô tổ chức, “tự nguyện” è cổ đóng góp
biết bao những khoản tiền “trời ơi đất hỡi”, “tự nguyện” tham gia những
cuộc thi vô bổ chỉ nhằm lập thành tích cho nhà trường, cho thầy cô, và
các “ban ngành đoàn thể” … Vì thế, không lạ khi theo kết quả điều tra
gần đây, người có trình độ học vấn càng cao, tỷ lệ gian dối càng nhiều,
từ khoảng 20% ở tiểu học lên tới 80% ở đại học và chắc sẽ luôn tiệm cận
100% sau khi dời ghế nhà trường. Chẳng trách những danh hiệu “anh
hùng”, “chiến sĩ”, “nhân dân”, “ưu tú” nhan nhản như nấm mọc sau mưa
nhưng đạo đức xã hội lại đang thê thảm. Người xưa bảo “nhân bất học bất
tri lý”,. Giáo dục nước ta đã lập được một “kỳ tích” là làm điều ngược
lại, càng học, càng có bằng cấp cao càng vô liêm sỉ.
Nền giáo dục của chúng ta hôm
nay chỉ tạo nên những “rôbốt” biết “gọi dạ bảo vâng”, không nhìn thấy gì
khác ngoài miếng ăn của bản thân kể cả nếu cần sẵn sàng tranh cướp bằng
mọi thủ đoạn cùng đồng loại. Nó đi ngược lại đòi hỏi của cả dân tộc,
cần những con người phát huy năng lực cá nhân góp phần làm dân giàu nước
mạnh. Nền giáo dục này nếu có ích, chỉ cho một thiểu số ít ỏi các nhóm
quyền lực từ cao xuống thấp.
Những người có quyền ra các
quyết sách cho giáo dục hôm nay chính là những sản phẩm, thậm chí sản
phẩm hạng sang do nền giáo dục này tạo nên. Cứ nhìn vào những Dự án
trăm tỷ ngàn tỷ để đổi mới chương trình hay sách giáo khoa, những tuyên
bố nặng về chém gió theo kiểu “trận đánh lớn” với niềm “tin vào đội ngũ”
hay cái vòng luẩn quẩn của những phương án này nọ là có thể thấy cái vô
tích sự của nền giáo dục mà con em chúng ta đang thụ hưởng.
Phải gọi đích danh đó là một nền giáo dục phản tiến bộ.
60 ĐIỂM LÀ ĐỦ
16:05 |
TMSS: Bài viết rất hay và đáng để suy gẫm trong bối cảnh giáo dục Việt Nam hiện nay. Ước gì mọi học sinh và sinh viên đều có được tâm thế học tập thoải mái thế này!
--------------------

60 ĐIỂM LÀ ĐỦ
Khi còn học tiểu học, cuộc đua tranh trong học tập của học sinh rất quyết liệt. Cha mẹ nào cũng quan tâm đến thành tích học tập của con cái nhưng cha ông không yêu cầu con có thành tích cao, mỗi môn học chỉ cần 60 điểm (trên 100 điểm) là được.
- Chỉ cần 60 điểm thôi sao? Chú bé chưa hiểu, hỏi lại cha.
- 60 điểm là đạt chuẩn. Chuẩn đây tức là tiêu chuẩn. Con thử nghĩ xem, sản phẩm của nhà máy cứ hợp chuẩn là có thể xuất xưởng đưa ra thị trường. Con không nên dốc toàn bộ thời gian sức lực chỉ để giành lấy điểm cao, danh hiệu giỏi. Nhiều người cứ thứ hai lại còn muốn thứ nhất, được 90 điểm rồi lại muốn 100. Rồi 100 điểm cũng chưa đủ, phải nhiều lần đạt 100, luôn luôn đạt 100! Con ạ, người ham hiểu biết trên thế gian có niềm vui trong học tập, nếu con chỉ muốn có điểm số cao thì học tập dần sẽ trở thành gánh nặng, sẽ chán học. Con nên nhớ rằng, mục đích quan trọng nhất của học tập chính là để bồi dưỡng lòng ham học.
Từ đó, chú bé thấy việc học tập rất nhẹ nhàng, luôn luôn vui vẻ. Nhưng thay đổi thói quen không phải dễ. Một lần, chú hỏi cha:
- Cha ơi, sao con học lại dễ như thế, thời gian rảnh rỗi con biết làm gì bây giờ?
- Con không được quên lời bố dặn. Thời gian còn lại con dùng để đọc sách, để tìm những niềm vui hợp với sở thích của con.
Lời cha dạy khiến ông tỉnh ngộ. Từ đó, ông nghe lời cha, thời gian dành cho việc học không nhiều, thành tích học tập chỉ ở mức trung bình. Nhưng sách ông đọc thì gấp mười lần những đứa trẻ học cùng lớp và hiểu biết của ông cũng phong phú hơn các bạn cùng trang lứa nhiều lần.