Home » Nhục Hình
Công an bị tố ép cung, dùng nhục hình: Hỏi nghi phạm bằng... dùi cui?
06:55 |TMSS: Cũng may mà còn sống và có cơ hội để kêu oan! Ước mong sao không có sự việc như thế này xảy ra nữa!
------------------------------------------------------------------------------
Công an bị tố ép cung, dùng nhục hình: Hỏi nghi phạm bằng... dùi cui?
Diệu Nam - Hùng Kim
Nghi ngờ hai cậu cháu trong một gia đình là đối tượng trộm xe đạp điện, cán bộ Công an đã triệu tập cả hai lên trụ sở. Tuy nhiên, họ đã được trả tự do sau một đêm hãi hùng.
Nhận được lời kêu cứu khẩn thiết từ bà Nguyễn Thị Thêm, phường Lê Lợi,
TP.Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về việc con trai và em trai vô cớ bị Công
an phường tạm giữ, ép cung, đánh đập đến thâm tím người, PV lập tức đi tìm hiểu sự việc.
Sau chừng 1 giờ chạy xe, chúng tôi có mặt tại nhà bà Nguyễn Thị Thêm,
phường Lê Lợi, TP. Bắc Giang. Gặp chúng tôi, bà nghẹn ngào: “Các anh
nhìn xem, chúng nó (tức con và em bà – PV) không tội gì mà bị đánh đập,
gí thuốc lá vào cổ thế này”. Sau một hồi trấn an bà Thêm, chúng tôi bắt
đầu tìm hiểu sự thật câu chuyện hi hữu, vì sao công an lại ép cung, dùng
nhục hình với hai thành viên trong gia đình bà. Con bà
Thêm là Phan Đình Tuyên (SN 1995) và em trai là Lê Thành Kim (SN 1990).
![]() |
Anh Thành Kim bàng hoàng kể lại. |
Chia sẻ với PV, anh Kim kể: “Vào khoảng 17h45 ngày 10/2, hai cậu cháu
vừa về, chưa kịp mở cửa thì thấy hai anh công an. Một trong hai anh công
an đó tên là Thành. Anh Thành mời hai cậu cháu tôi lên trụ sở công an
làm việc. Lên tới trụ sở, tôi và cháu bị tách ra. Tôi được đưa vào phòng
ở tầng 1 lối bên trái cầu thang. Còn cháu Tuyên được đưa lên tầng 2.
Vào phòng, câu hỏi đầu tiên tôi nhận được là ngày 9/2, từ lúc 13h đến
17h tôi đi đâu, làm gì? Vừa nói, các anh công an vừa đưa cho tôi tờ giấy
và yêu cầu khai. Tôi hỏi lý do thì họ chửi thậm tệ. Tôi đang viết, anh
Thành và một cán bộ công an khác mặc áo phao màu xanh nhạt tới giằng
bút của tôi, đập xuống bàn nói: “Thôi mày không phải viết nữa, tao biết
hết rồi”. Xong, anh mặc áo phao màu xanh hỏi tôi: Thế cái xe kia đâu?
Tôi không biết anh ấy hỏi gì, xe nào. Tôi chưa kịp trả lời thì anh công
an này nói luôn: Mày còn thích cãi à, tao có video và mang về tổ dân phố
xác minh chính xác hai người trong clip là hai cậu cháu mày”.
Công an bị tố ép cung, dùng nhục hình: Hỏi nghi phạm bằng... dùi cui?
Anh Kim trình bày tiếp: “Anh Hùng, Trưởng Công an phường xuống phòng
hỏi: Nhận thức ra chưa? Tôi trả lời: Tôi không biết xe nào, bị mất ra
sao. Anh Hùng gằn giọng rồi bắt tôi nằm úp mặt xuống sàn, trong khi tay
tôi bị còng số 8. Anh Hùng dùng dùi cui đánh tôi. Vừa đánh, anh Hùng vừa
nói, đánh vào đây không chết được. Thằng này gan, mày thích lì à? Đánh
một lúc, anh Hùng hỏi: Mày đã được xem video chưa? Tôi trả lời là chưa.
Lập tức, anh Hùng bảo anh Thành lấy clip cho tôi xem.
Vết thuốc lá trên cổ anh Kim khẳng định, do cán bộ tên Quỳnh, Công an TP. Bắc Giang gí vào, gây thương tích.
Xem video, tôi khẳng định, hình ảnh trong đó không phải tôi và cháu
Tuyên. Không nói không rằng, anh Hùng dùng dùi cui tiếp tục đánh tôi và
nói: Thế thằng kia nó nhận rồi mà mày không nhận à? Tôi vẫn khẳng định,
người trong clip không phải tôi thì làm sao tôi nhận được.
Sau đó, anh Hùng đưa lời khai của cháu Tuyên cho tôi xem nhưng tôi vẫn
không nhận. Anh Hùng bảo tôi đọc, rồi hỏi: Mày là cậu ruột nó, nó khai
như thế, sao mày không nhận? Nghe tôi trả lời các câu hỏi xong, anh Hùng
đi ra ngoài. Anh Thành, anh Tựa và anh mặc áo phao màu xanh túm tóc,
tát tôi mấy cái liền”.
Còn tiếp....
Lương tâm, có một lương tâm
03:25 |Lương tâm, có một lương tâm
Nhạc sĩ Tuấn Khanh
Trong một vụ án kéo dài suốt nhiều năm, mà nay vẫn còn gây tranh
cãi, đó là trường hợp án oan của ông Nguyễn Thanh Chấn. Trong lần trả
lời báo chí mới đây, ông Phạm Tuấn Chiêm, thẩm phán TAND tối cao trong
vụ xét xử ông Chiêm có tuyên bố rằng “tôi đã không làm gì trái với
lương tâm”.
Ông Chiêm đang trong giai đoạn bị cơ quan điều tra VKSND Tối cao khởi
tố vì vụ án oan sai chấn động cả nước, thậm chí tin tức lan ra cả quốc
tế.
Trong những lời bộc bạch của ông Chiêm, vừa quẩn vừa mạch lạc, người
ta có thể nhìn thấy nhiều thứ từ vụ án này. Một vụ án quái gở năm 2001
biến một người đàn ông lương thiện ở Bắc Giang đột nhiên trở thành kẻ
sát nhân. Ông Nguyễn Thanh Chấn, nạn nhân oan ức của vụ án đã chịu tù 10
năm, bị đánh đập, bức cung và án tử hình luôn lơ lửng trên đầu mình. Cả
gia đình ông tan nát, sụp đổ. Quan trọng hơn là xóm làng của ông Chấn –
những người biết rõ nỗi oan của ông – đã cay đắng với niềm tin rằng
công lý là một điều có thật.
Cuộc sống thật khó lường trong những tíc tắc của định mệnh. Mọi thứ
thật mong manh và đau đớn. Cái tíc tắc của thời khắc ông Chấn bất ngờ
thấy mình bị công an ập đến, còng tay mang đi không khác gì tíc tắc khi
ông dồn hết niềm tin và sức mạnh còn lại của một người đã rã rời, trước
toà kêu oan với thẩm phán rằng ông bị bức cung chứ không hề có tội.
Nhưng rồi tuyệt vọng là điều duy nhất ông Chấn có được, kể từ bị gán
tội cho đến khi ông thẩm phám Phạm Tuấn Chiêm lạnh lùng từ chối tiếp
nhận lời kêu oan của ông trước toà. Mười năm gửi đơn, mười năm kêu oan,
mười năm tủi nhục… chắc rằng hy vọng của ông Chấn và gia đình ông không
còn nhiều, mà mọi hành động chỉ bởi nỗi đau của con người thúc giục muốn
đòi công lý, bản năng con người muốn cưỡng lại số phận mình mà thôi.
Ông Chiêm giải thích ông không quan tâm lời kêu cứu về việc bị bức
cung của ông Chấn trước toà, vì ông tin rằng bọn tội phạm vẫn hay làm
vậy. Và lương tâm của ông vẫn yên ổn. Nhưng vì sao, ông thẩm phán lại
không ưu tiên dùng phán đoán của một người làm luật nhiều năm kinh
nghiệm để giải quyết lời kêu oan đó, thay vì giải quyết bằng giá trị của
một nhà tâm lý học – một lĩnh vực mà ông Chiêm chỉ là người chập chững
trong nghề?
10 năm kêu oan, máu và nước mắt… của ông Nguyễn Thanh Chấn cùng gia
đình, không thể không một lần đến tai ông Chiêm. Vì sao ông lại có thể
lướt qua những số phận người dưới tay mình một cách thản nhiên như vậy?
Vì sao lương tâm chưa bao giờ thúc giục ông giở lại, hoặc đề nghị xét
lại hồ sơ vụ án để tìm hiểu về hiện trạng?
Thật có quá nhiều điều để nói về lương tâm. Nhất là khi thế giới ngày
càng văn minh, người ta có thể bàn về lương tâm với mọi kiểu nguỵ ngôn.
Thế nhưng, tận cùng thì lương tâm, vẫn chỉ có một lương tâm thật sự đủ
cho giá trị con người đúng nghĩa.
Trong Monster của tác giả Naoki Urasawa, khi viên thanh tra Heinrich
Lunge muốn tìm hiểu sự thật về một tội ác, ông chấp nhận mất việc, tự
mình theo đuổi nhân chứng duy nhất là bác sĩ Kenzo Tenma suốt nhiều năm
để cuối cùng tìm ra được mọi đầu mối chính là tội ác của chính quyền của
chính quyền Đông Đức trên con người. Lương tâm của một con người thúc
đẩy khiến thanh tra Lunge không thể dừng lại, ngay khi ông nghĩ mình đã
đúng, mọi hồ sơ ông đọc qua là hoàn chỉnh. Lương tâm của một viên thanh
tra dẫn ông đến trước mặt con người chịu oan ức nhiều năm để nói một lời
xin lỗi, nhìn nhận ông đã sai.
Cùng vì lương tâm, mà trong Les Misérables, viên thanh Javert chấm
dứt săn đuổi tên tù khổ sai Jean Valjean để cuối cùng gieo mình xuống
sông. Nếu có một lương tâm khác, có lẽ Javert đã yên ổn tiếp tục săn
đuổi và phán quyết các vụ án của mình, đổ hết mọi chuyện rằng mình chỉ
là người thừa hành.
John Lennon, linh hồn và lương tâm của nhóm nhạc Beatles cũng từng
nói rằng “Sống thật dễ khi nhắm mắt lại” (Living is easy with eyes
closed). Hãy nhắm mắt lại, bịt chặt tai để không nghe thấy, để giam hãm
con người mình với trái tim mù loà, chúng ta cũng sẽ an lòng vì đã không
làm gì trái với lương tâm của mình cả.
Cũng may là ông Nguyễn Thanh Chấn đã không chỉ có một lương tâm toà
án của ông Phạm Tuấn Chiêm. Cũng có một lương tâm khác của thủ phạm là
Lý Nguyễn Chung đã cắn rứt anh, khiến anh đầu thú. Một lương tâm không
thể ăn ngon ngủ yên khi thấy kẻ khác đang chịu tội thay mình. Đã có biết
bao những vụ án kêu oan trước toà vì bị bức cung, đã chôn theo năm
tháng vì không có một lương tâm như Lý Nguyễn Chung, ngoài lương tâm
thẩm phán?
Trong những câu chuyện hài hước của người La Mã ghi lại. Có chuyện kể
rằng hai ông cháu ăn mày ngồi ở nghĩa trang. Khi thấy một con chó hoang
bới mộ và tha cái gì đó đi. Đứa cháu kể lại cho ông nghe, vì ông bị mù.
Người ông im lặng cười và nói “có thể đó là mộ Brutus, và cái bị tha là
lương tâm của hắn”. Lịch sử La Mã cổ đại ghi rằng năm 44 trước CN, vì
lo sợ quyền lực của Caesar, một nhóm trong Viện Nguyên Lão đã tổ chức ám
sát Caesar. Trong đó, người đâm nhát gươm chí mạng chính là Brutus, con
nuôi của ông. Sau đó, bị dân chúng phỉ báng , Brutus đã phải kêu lên
rằng “Tôi hành động vì lương tâm La Mã”.
Mong rằng đất nước này sẽ thôi những điều oan trái. Và lương tâm, chỉ có một lương tâm được vinh danh vì thái độ biết làm người
Im lặng nghe thấy phận người
03:15 |Im lặng nghe thấy phận người
Nhạc sĩ Tuấn Khanh
Trong tất cả những áng văn của người Việt xưa, hầu hết các tình
tiết bi thảm của số phận, phần lớn đều bắt nguồn từ việc thiếu vắng công
lý và quyền con người. Hãy thử tưởng tượng, ngay trong truyện Kiều, nếu
có đủ luật pháp và quyền con người được bảo vệ, có lẽ kịch bản về gia
đình Vương Ông đã khác, và Kiều đã không trở thành cái tên thay cho mọi
lời thở than về cuộc đời.
Sự khác biệt giữa xưa và nay là Kiều, cũng như tất cả những ai ở trăm
năm trước, nếu có oan ức khóc la, kêu van, bào chữa… thì cũng chẳng
giải quyết được gì. Trong khi ở thế kỷ 20 và 21, người ta có thể tìm
cách im lặng và dụng luật để bảo vệ mình, giải oan cho mình.
Im lặng để cậy nhờ đại diện pháp luật làm chứng cho những lời khai
của mình, để làm chỗ dựa tinh thần theo luật pháp công minh là chuyện đã
được cả thế giới nhìn nhận từ giữa thế kỷ 20. Quyền im lặng trong tố
tụng hình sự còn là cách bảo vệ con người khởi đầu thoát khỏi những màn
ép cung, tra tấn, cưỡng bức nhận tội. Quyền im lặng được hơn 100 quốc
gia trên thế giới nhìn nhận, chắc chắn không thể chỉ là cách để “gỡ tội”
như ĐBQH Đỗ Văn Đương tuyên bố mới đây.
Việt Nam, trong bối cảnh công an thẩm vấn nghi can, lại liên tục xuất
hiện những cái chết, chấn thương vô lý cho công dân… việc đưa quyền im
lặng vào luật đang là cách hữu hiệu để giảm thiểu những bức ép trong xã
hội hôm nay, mà mỗi ngày người ta có thể đọc trên các trang báo, như một
sự hỗn loạn và thiếu kiểm soát của ngành điều tra.
Right to silence, là tên gọi quen thuộc của quyền được im lặng khi bị
thẩm tra và yêu cầu có đại diện luật pháp bảo vệ mình. Thậm chí quốc
gia Hồi giáo khắt nghiệt như Pakistan, nhiễu nhương như Ấn Độ cũng đều
áp dụng đạo luật này. Dễ thấy nhất, bất kỳ ai hay xem phim hình sự của
Hollywood cũng đều có thể nhận ra các dấu hiệu của quyền im lặng, với
tên gọi luật Miranda.
Luật Miranda dựa vào tên của một nghi can người gốc Mexico là Ernesto
Miranda trong một vụ án năm 1963 tại bang Arizona, Mỹ. Bị cáo này khép
tội bắt cóc người, nhưng sau đó bản án được huỷ vì khi bị bắt, Ernesto
Miranda đã không được biết rằng có một đạo luật cho phép im lặng để bảo
vệ mình. Tối cao Pháp viện Mỹ cho rằng nghi can có thể bị đánh, bị ép
cung nên đã khai tội ngay tại chỗ. Miranda Warning (báo cho biết về luật
Miranda) là điều được ghi trong tu chính án số 5 của Tối Cao Pháp viện
Mỹ vào năm 1966, áp dụng cho ngành cảnh sát và giới điều tra nhằm bảo vệ
nghi can, tránh việc ép cung và tra tấn cưỡng tội.
Từ xưa, việc sử dụng một đại diện luật pháp khác để làm chứng và xét
lại hiện trạng sự vụ, đã có từ thời vua Minh Mạng (1820-1840). Để tránh
nạn ép cung, tra tấn nghi can để buộc nhận tội, vua Minh Mạng đã lập ra
cơ quan xử án tối cao của triều đình, gọi là Tam Pháp ty. Sách Đại Nam
Thực Lục ghi đó là nơi tập hợp ba cơ quan tư pháp là Bộ Hình (Tư pháp),
Đô Sát viện (viện Giám sát) và Đại Lý tự (toà Phá án) để giải quyết
những đơn kêu oan của dân. Chuyện đánh trống kêu oan, hay gọi là trống
Đăng Văn cũng từ đó mà có. Chiếc trống gióng lên là nơi nương tựa tinh
thần của người đang vướng lao lý. Ở một ý nghĩa nào đó, việc im lặng và
cậy nhờ luật sư đại diện cũng giống như nương nhờ tinh thần ở một tiếng
trống minh bạch. Tổ tiên người Việt xưa đã nghĩ đến sự công minh và
quyền con người đến vậy.
Một nền luật pháp mạnh và văn minh, là khi người dân bị gọi tên là
nghi can, cũng có thể bình tâm bước vào vì biết quyền con người của mình
đã được bảo vệ. Có thể ĐBQH Đỗ Văn Đương còn chưa đủ động tâm với số
phận của anh Ngô Thanh Kiều bị 5 công an điều tra ở Phú Yên đánh đến
chết để ép nhận tội. Có lẽ ông Đương cũng chưa thấy hình ảnh con gái ông
Phùng Văn Cung tức tưởi quỳ lạy trước cửa toà án Gia Lai-Kon Tum trong
vụ án, mà sau 10 năm mới được giải oan.
Không cần là một người làm luật, ai cũng hiểu rằng nếu ông Nguyễn
Thanh Chấn ở Bắc Giang khi bị bắt nếu im lặng và nhờ luật sư đại diện
trong khi thẩm vấn, thì ông đã không bị tra tấn đến mức phải nhận tội
giết người, ngồi suốt 10 năm tù với án tử lơ lửng trên đầu. Tại Daklak,
nếu ông Y Két Bdap rành tiếng người Kinh và có luật sư đại diện, thì đã
không bị đánh đến chết, thi thể nát tan bởi 2 công an xã. Những câu
chuyện như vậy chưa đủ lâu để quên đi, cũng như sẽ không bao giờ phai mờ
trong lịch sử luật pháp Việt Nam, khi nào quyền con người chưa được
kiện toàn.
Xã hội Việt Nam đang có những dấu hiệu mở, song hành cùng văn minh
nhân loại khi những câu chuyện về quyền con người, về xã hội – luật pháp
bắt đầu được bàn tán mạnh mẽ ở nhiều nơi. Dĩ nhiên, trong mọi lời bàn,
người ta có thể tìm thấy những phản biện cần thiết. Nhưng dù loại lý
luận nào đi nữa, việc tán dương cho bạo hành và áp đặt kiểm soát con
người, cũng đều là hủ bại.
Giở lại sách xưa, thấy ghi rằng đời vua Tự Đức (1847-1883), sợ rằng
dân đánh trống kêu oan bị lẫn với đời thường, vua ra lệnh trong Thành
Nội cấm đánh trống thường, để ai cũng biết, cũng nghe khi có trống kêu
oan. Vua vẫn dặn rằng “làm quan mà không nghe được tiếng con dân kêu
oán, thì chỉ là phường vô lại”. Trăm năm trước, người xưa mông muội còn
biết im lặng để nghe thấy phận người. Trăm năm sau, đã có được gì?
—————————————
Thông tin thêm:
Phát biểu trong chương trình Sự kiện & Bình luận của đài VTV hôm 27-09/2014, đại biểu quốc hội Đỗ Văn Đương – ủy viên thường trực ủy ban Tư pháp của quốc hội đã nói rằng:
“Quyền im lặng không phải quyền con người, mà quyền bào chữa mới là quyền cơ bản của người phạm tội trong tố tụng hình sự. Nó nhằm thực hiện chức năng gỡ tội cho họ”.
Phát biểu trong chương trình Sự kiện & Bình luận của đài VTV hôm 27-09/2014, đại biểu quốc hội Đỗ Văn Đương – ủy viên thường trực ủy ban Tư pháp của quốc hội đã nói rằng:
“Quyền im lặng không phải quyền con người, mà quyền bào chữa mới là quyền cơ bản của người phạm tội trong tố tụng hình sự. Nó nhằm thực hiện chức năng gỡ tội cho họ”.
Phát biểu trên được ông Đương đưa ra sau khi có ý kiến đưa
quyền im lặng vào trong bộ luật tố tụng hình sự. Quy định này nhằm ngăn
chặn tình trạng người bị giam giữ bị công an ép cung hay dùng nhục hình
trong quá trình điều tra.
Ông Đỗ Văn Đương sinh năm 1960, được giới thiệu có bằng tiến sỹ luật, là đại biểu quốc hội đang giữ vị trí uy viên thường trực ủy ban Tư pháp của Quốc hội.
Ông Đỗ Văn Đương sinh năm 1960, được giới thiệu có bằng tiến sỹ luật, là đại biểu quốc hội đang giữ vị trí uy viên thường trực ủy ban Tư pháp của Quốc hội.
Vấn nạn bức cung nhục hình ở VN
06:40 |TMSS: Cảm ơn luật sư Ngô Ngọc Trai đã nói hộ chúng tôi. Cảm ơn luật sư đã không ngưng đấu tranh cho sự thật và công lý. Đấu tranh cho sự thật và công lý bằng chính chuyên môn của mình cũng chính là đấu tranh cho quyền sống chính đáng của người dân Việt Nam. Ước mong những gì luật sư phân tích ở đây sẽ sớm thành hiện thực tại Việt Nam ta.
---------------------------------
Vấn nạn bức cung nhục hình ở VN
Luật sư Ngô Ngọc Trai
![]() |
| Ông Nguyễn Thanh Chấn đã phải chịu oan ức trong nhiều năm |
Trong
vụ án oan của ông Nguyễn Thanh Chấn, ông này đã phải khai nhận một tội
mà mình không hề phạm. Vậy ông Chấn có phải đã bị bức cung nhục hình hay
không, và có câu hỏi là lấy đâu ra chứng cứ chứng minh hành vi bức cung
nhục hình?
Quy định của luật
Hiện
chưa có con số thống kê cụ thể nhưng có thể hình dung số lượng các vụ
án có tình trạng bức cung nhục hình ở Việt Nam là vô cùng lớn. Số trường
hợp bị nhục hình thì không dám chắc nhưng nạn bức cung có khả năng xảy
ra ở 100% các vụ án.
Vấn nạn bức cung phổ biến
lớn rộng như thế không phải do một vài sai phạm nghiệp vụ mà nó có
nguyên nhân từ chính sự cho phép của luật. Điều này có vẻ vô lý, luật
nào cho phép được bức cung? Nhưng sự thực đúng là như thế.
Bộ
Luật Tố tụng Hình sự đã quy định nghiêm cấm mọi hình thức truy bức nhục
hình, tức là chỉ chấp nhận những lời khai tự nguyện. Nếu bị cáo không
tự nguyện khai báo thì thôi, không được sử dụng bất kỳ thủ pháp nghiệp
vụ nào buộc người ta phải khai, vì luật cấm mọi hình thức truy bức.
Nhưng
Bộ Luật Hình sự lại có điều luật xử phạt tù đối với hành vi từ chối
khai báo, theo đó Điều 308 quy định về tội từ chối khai báo đã viết
rằng: "Người nào từ chối khai báo hoặc trốn tránh việc khai báo mà không
có lý do chính đáng thì có thể bị phạt tù từ ba tháng đến một năm".
Lý
do chính đáng ở đây là gì? Để tự bảo vệ tính mệnh và tự do của mình có
phải là một lý do chính đáng không? Trường hợp nào mà bị cáo chẳng có lý
do chính đáng là tự bảo vệ mình? Như thế thì trường hợp nào bị cáo cũng
phải có quyền từ chối khai báo chứ?
Tại sao bị
cáo lại phải nói ra những điều mà nó chính là chứng cứ để người ta kết
tội lại mình? Có ai là người tự nguyện trong việc này?
Dọa nạt bỏ tù người ta nếu không chịu tự nguyện khai báo, đó chẳng phải là một hình thức bức cung thì là gì?
Như
thế, chính quy định của luật đã tạo ra tình trạng bức cung nhục hình.
Quy định như thế đã tạo cho điều tra viên tính hợp pháp về mặt luật pháp
để bức cung, và giải thoát cho họ mặc cảm tội lỗi về mặt đạo đức nếu
có. Và đó là lý do vì sao vấn nạn bức cung phổ biến ở hầu như 100% các
vụ án.
Vấn đề của năng lực

Bị cáo Dương Chí Dũng cũng từng tố cáo trước Tòa mình bị bức cung
Quy định của luật lệch lạc như thế không phải nhà làm luật không biết, mà họ có lý do để duy trì điểm mâu thuẫn vô lý đó.
Sự
vô lý của luật thực ra là hệ quả phản ánh thực tế năng lực thực thi
pháp luật của hệ thống tư pháp Việt Nam. Về mặt nghiệp vụ nếu không buộc
được bị can khai báo thì điều tra viên không có đủ khả năng để xét đoán
sự việc và điều tra nghi phạm.
Hoạt động điều
tra là lần theo manh mối dấu vết tội phạm, mà muốn làm được điều này thì
phải có khả năng xét đoán, ngoài ra cần có trang thiết bị máy móc hiện
đại phục vụ cho công tác điều tra.
Nhưng ở Việt
Nam thì cả hai vấn đề này đều thiếu, điều tra viên thì kém năng lực, thế
mạnh chủ yếu dựa vào việc áp chế người khác, thể hiện qua việc bắt bớ
giam cầm, bức cung nhục hình buộc phải khai nhận. Về mặt trang thiết bị
máy móc thì có lẽ cũng còn thiếu sự đầu tư nhất định.
Vì
tình hình thực tế như vậy cho nên khi soạn luật người ta đã lần lựa đưa
vào hay bỏ ra các quy định như thế nào để phù hợp với năng lực thực tế
của cơ quan điều tra.
Tức là nhà làm luật đã không được tự do thoải mái đứng hẳn về phía các chế định pháp lý văn minh tiến bộ.
Hệ quả là có những quy định luật mang tính nửa vời, vừa tỏ ra tiến bộ, nhưng xét kỹ lại là lổng hổng.
Tại
sao luật không quy định bị cáo được quyền giữ im lặng và chỉ đồng ý
khai báo khi có sự tham gia của luật sư bào chữa, như vậy sẽ đảm bảo
tiệt nọc tình trạng bức cung nhục hình? Mà lại chỉ quy định nghiêm cấm
mọi hình thức truy bức nhục hình, trong khi cả hai lối quy định cũng chỉ
nhằm một mục đích là đảm bảo những lời khai phải là tự nguyện?

Hệ thống tư pháp Việt Nam có nhiều lỗ hổng có thể bị lợi dụng?
Đây
là một chế định pháp lý văn minh tiến bộ để bảo vệ các quyền tự do dân
chủ của công dân, không thể không đưa vào luật. Nhưng các nhà làm luật
đã sử dụng xảo thuật để vừa tỏ ra tôn trọng chân giá trị vừa tìm cách
đáp ứng đòi hỏi thực tế của hoạt động điều tra trong khi giải thoát cho
mình khỏi mặc cảm tội lỗi ở khâu làm luật.
Các
nhà soạn luật hẳn đã tự biện minh rằng, chúng tôi đã quy định nghiêm cấm
mọi hình thức bức cung nhục hình rồi, còn thực hiện như thế nào là do
thực tế và đó là trách nhiệm của cơ quan điều tra.
Họ
đã bỏ qua tình hình thực tế về điều kiện giam giữ người và quy trình
làm việc không bị giám sát của cơ quan điều tra. Thực tế như vậy cộng
hưởng với quy định lập lờ nửa vời của luật đã dẫn đến vấn nạn bức cung
nhục hình phổ biến rộng khắp.
Cho nên vấn nạn bức cung nhục hình phải giải quyết ở khâu soạn luật chứ không chỉ giải quyết ở khâu thực thi pháp luật.
Các
nhà soạn luật cũng tìm cách để xoa dịu hậu quả của tình trạng bức cung
nhục hình bằng cách đưa vào chế định rằng nếu thành khẩn khai báo và ăn
năn hối cải sẽ được đánh giá là tình tiết giảm nhẹ để giảm mức án cho bị
cáo.
Việc này cũng giúp lấp liếm đi tình trạng
bức cung của cơ quan điều tra. Có những vụ án bị cáo ban đầu chối bay
chối biến, sau khi bị bức cung nhục hình thì đã khai nhận hành vi phạm
tội, đến khi xét xử lại được đánh giá là thành khẩn khai báo và được
giảm án.
Biết bao nhiêu vụ án đã như vậy, nhưng chẳng mấy ai thắc mắc là vì đâu bị cáo thay đổi lời khai từ chối tội sang nhận tội.
Vấn đề niềm tin

Ngô Thanh Kiều là nạn nhân của nạn bức cung nhục hìnhcủa công an
Vấn
nạn bức cung nhục hình không chỉ phản ánh năng lực trình độ của cán bộ
điều tra mà nó còn phản ánh nhận thức lệch lạc của những người giải
quyết án, bao gồm cả kiểm sát viên, thẩm phán, luật sư.
Ở
Việt Nam lâu nay người ta đặt rất nặng vấn đề chứng cứ và yêu cầu việc
xử án phải theo chứng cứ. Nhận thức này xem qua thì cho đó là lối làm
việc khách quan khoa học đảm bảo tính chắc chắn và thực ra thì việc đòi
hỏi phải có chứng cứ là tốt và đương nhiên.
Nhưng nó sẽ là sai lầm nếu coi chứng cứ là vấn đề duy nhất khi giải quyết một vụ án.
Trong
vụ oan sai của ông Nguyễn Thanh Chấn, khi nêu ra vấn đề cần xử lý các
điều tra viên về tội bức cung nhục hình thì có ý kiến thắc mắc là lấy
đâu ra chứng cứ chứng minh việc bức cung nhục hình?
Đây
thực ra là một nhận thức sai lệch nghiêm trọng của không chỉ người dân
mà cả các chuyên gia về luật, mà từ đó góp phần tạo nên vấn nạn bức cung
nhục hình.
Chúng ta biết rằng chứng cứ nhằm để
chứng minh, chứng minh nhằm để thuyết phục, vậy nếu sự việc đã đủ sức
thuyết phục rồi, sự thật đã hiển nhiên rồi thì không cần phải chứng minh
nữa và không cần chứng cứ.
Ông Chấn nếu không
bị bức cung nhục hình thì tại sao lại nhận một tội mà mình không hề
phạm? Mà cái tội đó nào có nhẹ nhàng gì, nếu bố ông Chấn không phải là
liệt sĩ nên ông Chấn được giảm án thì có lẽ ông đã bị tử hình rồi.
Việc ông Chấn bị bức cung nhục hình là điều không còn có thể tranh cãi nữa.
Mặc dù không hề có chứng cứ nhưng chúng ta có thể xác quyết bằng niềm tin.
Niềm tin nội tâm

Nguyễn Thân Thảo Thành nhận mức án nhẹ trong vụ án làm chết Ngô Thanh Kiều
Trong
lĩnh vực tư pháp có một khái niệm là “niềm tin nội tâm”. Niềm tin này
là cơ sở xét đoán của mọi người tham gia vào hoạt động xét xử. Cả điều
tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, luật sư đều phải dựa vào niềm tin
nội tâm để xét đoán sự việc.
Bởi vì tất cả những
người này dù thế nào đi nữa thì họ cũng không phải là bị cáo, họ không
thể chắc chắn bị cáo có phải là hung thủ hay không. Cho nên khi quy kết
buộc tội hay bào chữa gỡ tội chỉ có thể dựa vào niềm tin nội tâm.
Niềm
tin nội tâm được tạo thành từ những hiểu biết về vụ án thông qua các
tài liệu chứng cứ, qua nghiên cứu hiện trường, hồ sơ vụ án, thông tin về
nhân thân bị cáo …
Ở Việt Nam lâu nay, khi xét
xử người ta ít sử dụng đến niềm tin nội tâm, và khái niệm niềm tin nội
tâm chỉ nằm gọn hạn hẹp trong các nghiên cứu về học thuật. Lý do có lẽ
vì niềm tin là thành tố có tính tôn giáo trong khi chính thể hiện tại là
vô thần.
Thay vì xét xử dựa vào niềm tin nội
tâm trong đó chứng cứ chỉ là một thành tố tạo thành (ngoài chứng cứ còn
cần trình độ kinh nghiệm để tạo nên niềm tin xét đoán), việc xét xử hiện
nay đặt nặng vào chứng cứ, chứng cứ thế nào không quan trọng, miễn là
phải có chứng cứ.
Nếu giải quyết án cứ phải có
chứng cứ rõ ràng thì chỉ cần một người phán quyết là đủ, cần gì phải hội
đồng nhiều người, và cũng chỉ cần một lần xét xử là được cần gì phải
qua hai cấp?
Cái lối xét xử đặt nặng chứng cứ mà
không dựa vào niềm tin nội tâm sẽ không lý giải được là dựa vào đâu mà
người ta có thể tuyên án trong khi vụ án có cả chứng cứ kết tội và chứng
cứ gỡ tội.
Vì nhận thức như thế nên trong lối
làm việc người ta phải tìm ra bằng được chứng cứ. Luật cũng phụ họa cho
việc này khi bỏ qua đòi hỏi về tính khách quan đã quy định lời khai của
bị can cũng là chứng cứ.
Và khi gặp khó khăn trong các lối điều tra khác thì dễ dàng nhất là tiến hành bắt giam bức cung buộc bị can phải khai báo.
Đó là lý do vì sao tình trạng bức cung nhục hình tràn lan như hiện nay.
N.N.T
%5B1%5D.jpg)
