Home » Quan Điềm Của Giáo Hội
chống lại quan niệm ”thương xót giả tạo” - Đức Thánh Cha kêu gọi các bác sĩ Công Giáo
07:01 |
G. Trần Đức Anh OP
Ngài bày tỏ lập trường trên đây trong buổi tiếp kiếp sáng ngày 15-11-2014 dành cho 5 ngàn tham dự viên cuộc gặp gỡ của Hội bác sĩ Công Giáo Italia nhân dịp kỷ niệm 70 năm thành lập Hội. Hiện diện tại buổi tiếp kiến cũng có ĐHY Fiorenzo Angelini, nguyên Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh mục vụ y tế, bà Bộ trưởng sức khỏe của Italia, Beatrice Lorenzin, và nhiều trẻ em, bệnh nhân và thân nhân của họ.
Lên tiếng trong dịp này, ĐTC khẳng định rằng ”Tư tưởng thịnh hành ngày nay nhiều lần đề nghị một thứ ”thương xót giả tạo”: cho rằng phá thai là giúp đỡ phụ nữ, làm cho chết êm dịu là một hành vi hợp với phẩm giá con người, coi như một chinh phục khoa học khi ”sản xuất” một đứa con mà người ta coi là một quyền thay vì đón nhận người con như một món quà, hoặc dùng sinh mạng con người như con vật trong phòng thí nghiệm, gọi là để cứu vớt những sinh mạng khác”.
ĐTC minh định rằng: ”Lòng thương xót theo tinh thần Tin Mừng là lòng từ bi tháp tùng trong lúc cần thiết, tức là lòng từ bi của người Samaritano Nhân Lành, nhìn thấy, cảm thương, lại gần và giúp đỡ cụ thể (Xc Lc 10,33). Sứ mạng của anh chị em như bác sĩ đặt anh chị em hằng ngày tiếp xúc với bao nhiêu hình thức đau khổ: Tôi khích lệ anh chị em hãy trợ giúp những người khổ đau khi những người Samaritano nhân lành, đặc biệt quan tâm săn sóc những người già, bệnh nhân và người tàn tật. Lòng trung thành với Tin Mừng sự sống và tôn trọng sự sống như hồng ân của Chúa, nhiều khi đòi anh chị em những chọn lựa can đảm và đi ngược dòng, và trong những hoàn cảnh đặc biệt, có thể đi tới độ phản kháng lương tâm”. (SD 15-11-2014)
Tòa Thánh lên án việc tái lập Nhà Nước Hồi Giáo
02:03 |
VATICAN.
Hội đồng Tòa Thánh đối thoại liên tôn nghiêm khắc lên án việc tái lập
Nhà Nước Hồi giáo với những hành vi man rợ và tàn ác đi kèm.
Trong tuyên ngôn công bố hôm 12-8-2014, Hội đồng Tòa Thánh khẳng định rằng:
”Toàn thế giới kinh hoàng chứng kiến cái gọi là ”sự tái lập Nhà Nước Hồi giáo (califat) vốn đã bị Kamal Ataturk, vị sáng lập nước Thổ nhĩ kỳ hiện đại, bãi bỏ ngày 29-10-1923.
”Sự phản đối của đại đa số các tổ chức tôn giáo và chính trị Hồi giáo chống lại sự ”tái lập” này vẫn không ngăn cản những kẻ ”thánh chiến của Nhà Nước Hồi giáo” phạm và tiếp tục phạm những hành vi tội ác khôn tả. Hội đồng Tòa Thánh này, tất cả những người dấn thân trong công cuộc đối thoại liên tôn, tín đồ của tất cả các tôn giáo cũng như những người nam nữ thiện chí chỉ có thể tố giác và lên án quyết liệt những phương thức bất xứng với con người như:
- tàn sát con người chỉ vì họ thuộc về một tôn giáo nào đó;
- chặt đầu người, đóng đanh và treo thi thể trước công chúng;
- bó buộc các tín hữu Kitô và người yézidi phải chọn lựa một là theo Hòi giáo, hay là trả tiền thuế (yizya) hay là phải di cư;
- trục xuất hàng chục ngàn người, trong đó có các trẻ em, người già, phụ nữ đang mang thai và bệnh nhân.
- bắt cóc các thiếu nữ và phụ nữ thuộc cộng đoàn yézidie và Kitô như chiến lợi phẩm (sabaya);
- áp đặt biện pháp man rợ khâu kín cơ phận sinh dục phụ nữ;
- phá hủy các nơi thờ phượng và lăng tẩm của Kitô giáo và Hồi giáo;
- chiếm đóng hoặc xúc phạm đến các nhà thờ và tu viện;
- tháo gỡ các thánh giá và các biểu tượng tôn giáo khác của Kitô giáo và các cộng đồng tôn giáo khác;
- phá hủy gia sản văn hóa và tôn giáo Kitô có giá trị khôn lường;
- bạo hành dã man với mục đích làm cho dân chúng phải kinh sợ để bó buộc họ đầu hàng hoặc phải chạy trốn.
Hội đồng Tòa Thánh đối thoại liên tôn khẳng định rằng: ”Không chính nghĩa nào có thể biện minh cho những hành vi man rợ như vậy và chắc chắn không tôn giáo nào có thể làm như thế. Đó là một sự xúc phạm cực kỳ trầm trọng đối với nhân loại và đối với Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, như ĐGH Phanxicô thường nhắc nhở.
Nhưng ta cũng không thể quên rằng các tín hữu Kitô và Hồi giáo đã có thể sống chung với nhau, tuy có những lúc thăng trầm, qua bao thế kỷ, kiến tạo một nền văn hóa sống chung và một nền văn minh mà họ hãnh diện. Đàng khác, chính trên căn bản đó mà trong những năm gần đây, cuộc đối thoại giữa các tín hữu Kitô và Hồi giáo đã được tiếp tục và đào sâu.
”Tình trạng thê thảm của các tín hữu Kitô, của những người yézidis và các cộng đồng tôn giáo khác và chủng tộc thiểu số tại Irak đòi phải có một lập trường minh bạch và can đảm từ phía các vị lãnh đạo tôn giáo, nhất là Hồi giáo, những người dấn thân trong cuộc đối thoại liên tôn và tất cả mọi người thiện chí. Tất cả phải đồng thanh liên án quyết liệt những tội ác vừa nói và tố giác việc lạm dụng tôn giáo để biện minh cho những việc làm ấy. Chẳng vậy các tôn giáo, các tín đồ và thủ lãnh của họ có gì đáng tin cậy? Cuộc đối thoại liên tôn đã được kiên nhẫn theo đuổi trong những năm qua còn uy tín nào nữa?
”Các vị lãnh đạo tôn giáo cũng được mời gọi dùng ảnh hưởng của mình nơi các chính quyền để chấm dứt những tội ác ấy, trừng phạt những kẻ phạm tội như thế và tái lập chế độ pháp quyền trên lãnh thổ của mình, đồng thời bảo đảm cho những người bị trục xuất được hồi hương. Khi nhắc nhớ sự cần thiết phải có luân lý đạo đức trong việc quản trị xã hội loài người, cũng các vị lãnh đạo tôn giáo ấy không được quên nhấn mạnh rằng sự hỗ trợ, tài trợ và cung cấp võ khí cho khủng bố là điều bị lên án về luân lý”.
Ngoài những điều trên đây, Hội đồng Tòa Thánh đối thoại liên tôn cám ơn tất cả những người đã lên tiếng tố giác nạn khủng bố, nhất là thứ khủng bố lợi dụng tôn giáo để biện minh cho mình.
Vậy chúng ta hãy hiệp tiếng với ĐGH Phanxicô: ”Xin Thiên Chúa hòa bình khơi lên nơi tất cả mọi người một ước muốn chân thành đối thoại và hòa giải. Không thể thắng bạo lực bằng bạo lực. Chỉ có thể thắng bạo lực được bằng hòa bình!” (SD 12-8-2014)
G. Trần Đức Anh OP
(Yézidi hay Yazidi là nhóm bộ tộc tôn giáo nói tiếng Kurde theo đạo Hồi có pha trộn các yếu tố truyền thống địa phương. Phần lớn họ sống tại tỉnh Ninive ở miền bắc Irak. Trên thế giới có khoảng 700 ngàn người Yézidi).
NGƯNG BẮN KHÔNG GIẢI QUYẾT ĐƯỢC GÌ, NỀU CÁC ĐIỀU KIỆN SỐNG TẠI GAZA KHÔNG THAY ĐỔI
18:32 |NGƯNG BẮN KHÔNG GIẢI QUYẾT ĐƯỢC GÌ, NỀU CÁC ĐIỀU KIỆN SỐNG TẠI GAZA KHÔNG THAY ĐỔI
![]() |
| Bên trong một đường hầm xuyên biên giới Gaza-Israel |
GIÊRUSALEM:
”Ngưng bắn không giải quyết được gì, nếu Gaza vẫn là một nhà tù của
tuyệt vọng, bị phong tỏa, nơi chỉ có sự sợ hãi, bị tước đoạt lớn lên, và
nuôi dưỡng thù hận khiến cho người trẻ tuyệt vọng và dễ dàng trở thành
các kẻ cuồng tín sẵn sàng làm mọi sự.”
Đức Thượng Phụ Latinh
Giêrusalem Fouad Twal đã nói như trên với hãng thông tấn Fides của Bộ
Truyền Giáo ngày mùng 1-8-2014. Theo Đức Thượng Phụ cần phải lấy đi các
điều kiện cơ cấu nuôi dưỡng hận thù, bắt đầu bằng cách hủy bỏ lệnh cấm
vận, rộng mở các con đường cho phép dân chúng và hàng hóa di chuyển, cho
phép đánh cá ngoài khơi dải Gaza, thì tất cả sẽ di chuyển trên đất liền
và sẽ không có ai nghĩ tới việc đào hầm để di chuyển dưới lòng đất. Ý
chí tàn ác và mù quáng tiêu diệt kẻ thù đang biến thường dân tại Gaza
thành nạn nhân bị sát tế. Chỉ cần nhìn danh sách các nạn nhân thì biết:
70% là phụ nữ và trẻ em. Trong số biết bao nhiêu đường hầm mà lực lượng
Hamas xây dưới lòng đất cũng có các hầm là nơi trú ẩn cho dân chúng.
Liên quan tới tình liên đới quốc tế với các tín hữu kitô và dân chúng
tại Thánh Địa và vùng Trung Đông, Đức Thượng Phụ Twal cho biết đã nhận
được rất nhiều điện thư của các tổ chức và bạn bè từ nhiều đại lục. Đức
Cha cám ơn tình liên đới của mọi người, nhưng ngài cũng xin gửi các trợ
giúp cụ thể cho dân chúng. Đức Cha cho biết ngài đã đến thăm các người
bị thương trong nhà thương Pháp. Gia đình họ cũng cần được giúp đỡ. Tòa
Thượng Phụ Giêrusalem đã cùng Caritas làm những gì có thể, nhưng có ít
trợ giúp cụ thể hữu hiệu đến từ nước ngoài. Theo Đức Thượng Phụ chỉ gửi
điện thư khẳng định ”chúng tôi liên đới với anh chị em” thì không đủ (FIDES 1-8-2014)
Linh Tiến Khải
Theo R. Vatican
Chiến tranh: lò sa thải và thử nghiệm khí giới
00:00 |Chiến tranh: lò sa thải và thử nghiệm khí giới
Như
chúng tôi đã liên tục đưa tin, trong ba tuần qua chiến cuộc giữa quân
đội Israel và lực lựơng Hamas của người Palestine đã khiến cho 1.500
người chết, hơn 5.000 người bị thương và mấy trăm ngàn người phải bỏ nhà
cửa di tản. Từ hơn mười ngày qua quân đội Israel đã cảnh báo người dân
Palestine sống tại miền bắc dải Gaza phải mau chóng rời bỏ nhà cừa ruộng
vườn, vì họ sẽ bỏ bom và bắn đại bác vào các vùng này, để tiêu diệt các
căn cứ của lực lượng Hamas, rải rác trà trộn giữa nhà người dân.
Cho tới nay phía Israel đã phá hủy 50 hầm bí mật, mà lực lượng Hamas đã
đào sang đất Israel để mở các cuộc tấn công hay bắn các hỏa tiễn vào
làng mạc và thành phố của người do thái, kể cả Tel Aviv, Haipha và
Giêrusalem. Đa số các hỏa tiễn này đã bị lực lượng phòng không của
Israel phá hủy trên không trung. Tuy không chính xác, nhưng hàng ngàn
hỏa tiễn này có tiếng rú rất mạnh khiến cho dân chúng kinh hoàng sợ hãi,
vì phải liên tục nghe tiếng còi báo động và sống trong bất an.
Mấy cuộc ngưng bắn do Ai cập đề nghị và làm trung gian, cũng như qua
trung gian của ngoại trường Hoa Kỳ John Kerry và ông Ban Ki Moon, Tổng
thư ký Liên Hiệp Quốc, đã chỉ kéo dài vài giờ, vì không được phe Hamas
tôn trọng. Phe Hamas đòi chính quyền Israel hủy bỏ lệnh cấm vận Gaza đã
kéo dài từ 12 năm qua, khiến cho vùng Gaza hoàn toàn bị cô lập với thế
giới bên ngoài. Nhưng đó là điều Israel không muốn. Do đó, chiến tranh
vẫn tiếp diễn nên các tổ chức cứu trợ nhân đạo đã không thể trợ giúp các
nạn nhân, đa số là người Palestine sống trong dải Gaza.
Tin
cuối cùng cho biết hôm 1-8-2014 Israel và lực lượng Hamas đã chấp thuận
ngưng bắn 72 giờ đồng hồ, để các tổ chức nhận đạo có thể đem các phẫm
vật cứu trợ tới cho người Palestine dang phải chịu cảnh đói khát, không
có nước uống và thiếu thực phẩm cũng như mọi thứ cấn thiết. Các nhà
thương trong dải Gaza đầy ắp người bị thương và người chết. Từ 5 năm qua
đây là lần thứ ba xảy ra xung khắc giữa người Israel và lực lượng
Hamas.
Mặc dù các lời kêu gọi liên tục và sáng kiến cầu nguyện
cho hòa bình của Đức Thánh Cha Phanxicô, cũng như của nhiều Hội Đồng
Giám Mục quốc gia và các giới chức lãnh đạo tôn giáo trên thế giới, cả
hai bên đều ”giả điếc làm ngơ”, không bên nào chịu nhượng bộ bên nào. Và
thế là cứ ”hòn đất ném qua, hòn chì ném lại”. Chỉ tội nghiệp cho các
thường dân vô tội phải gánh hết mọi hậu quả tiêu cực của chiến tranh:
chết chóc, thương đau và tàn phá. Chỉ một quả bom hay một trái đại bác,
cả gia tài cơ nghiệp mà họ cố gắng gầy dựng với biết bao nhiêu hy sinh
chắt bóp và mồ hôi nước mắt bỗng thành mây khói.
Thật ra, chúng
ta đều biết rằng tất cả mọi cuộc chiến trên thế giới hiện nay đều là
cách sa thải các vũ khí cũ, và thử nghiệm các vũ khí mới tối tân và tàn
sát hữu hiệu và nặng nề hơn. Trong trường hợp tại Thánh Địa các nước A
rập trong đó có A rập Sauđi, Iran, Ai Cập và các nước khác trong khối A
rập thù nghịch với Israel cung cấp vũ khí cho lực lượng Hamas và người
Palestine. Trong khi Hoa Kỳ yểm trợ khí giới cho Israel. Các quốc gia có
kỹ nghệ sản suất chế tạo và buôn bán khí giới mạnh nhất vẫn là các
cường quốc Hoa Kỳ, Nga, các nước Âu châu như Đức, Anh quốc, Pháp,
Italia. Và các nước kỹ nghệ đang lên như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan,
Brasil, Nam Phi, Camerun, cũng sản xuất và buôn bán khí giới.
Để
có thể tiêu thụ mọi thứ vũ khí ngày càng tối tân, cần phải tạo ra chiến
tranh, với tất cả các lý do chính đáng và thường khi là không chính
đáng. Và không cần phải tìm tòi và lý luận dài dòng ai cũng biết ngay
rằng các quốc gia có kỹ nghệ chế tạo và buôn bán khí giới thường tìm cớ
gây ra chiến tranh, xúi dục cho các lực lượng và phe phái khác nhau thù
hằn bắn giết nhau, rồi rêu rao là trợ giúp các quốc gia hay các phe lâm
chiến ấy, vì muốn bảo vệ các nền dân chủ, hay du nhập nền dân chủ kiểu
tây âu vào các xã hội Phi châu, châu Mỹ Latinh và Á châu. Các kho chứa
vũ khí đã đầy ứ, vì thế cần phải thải bớt và bán các vũ khí cũ đi, để
lấy chỗ cho các khí giới mới tối tân và có sức tàn phá mạnh hơn. Chiến
tranh trở thành dịp sa thải các khí giới cũ, đồng thời cũng là dip thử
các vũ khí mới tinh vi hơn.
Đó là các lý do ngoại tại của chiến
tranh. Các lý do nội tại của chiến tranh thường là các bất công, đàn áp,
trong các đường lối chính trị, kinh tế tài chánh và xã hội của một
nước, trong đó hàng lãnh đạo có khuynh hướng cai trị độc tài, bưng bít
và ngu dân.
Dầu sao đi nữa, trong cái luận lý của kỹ nghệ chế
tạo buôn bán vũ khí, chiến tranh cần thiết, vì nó là chợ trời sa thải vũ
khí, cũ và là lò thử nghiệm các vũ khí mới tối tân, có khả năng giết
người và tàn phá môi sinh mạnh mẽ hữu hiệu hơn. Qua đó chúng ta hiểu tại
sao thế giới này lại không có hòa bình.
Linh Tiến Khải
Theo R. Vatican
KÊU GỌI NGƯNG CHIẾN TẠI GAZA
22:15 |ĐỨC HỒNG Y VINCENT NICHOLS KÊU GỌI NGƯNG CHIẾN TẠI GAZA
LUÂN ĐÔN: Đức Hồng Y Vincent Nichols, Giáo chủ Anh quốc và vùng Galles, đã kêu gọi ngưng chiến ngay tức khắc để kết thúc cảnh tàn sát tại Gaza, và tìm ra giải pháp cho hòa bình giữa hai dân tộc Israel và Palestine.
Đức Hồng Y đã đưa ra lời kêu gọi trên đây trong thông cáo công bố ngày 31-7-2014 tại Luân Đôn. Trước nạn bạo lực gia tăng đang nuốt trửng người dân sống trong vùng Gaza, Đức Hồng Y nghĩ tới và cầu nguyện cho tất cả những ai đã mất người thân, và cuộc sống bị phá hủy bởi cuộc xung khắc. Các khổ đau lo âu và tuyệt vọng của những người nam nữ và trẻ em kêu lên rằng chiến tranh không phải là câu trả lời cho các vấn đề. Như xung khắc cho thấy bạo lực sinh ra bạo lực. Cùng với bao nhiêu người khác, tôi nài xin qúy vị ngưng cuộc tàn sát tại Gaza, và tìm ra giải pháp cho các vấn đề nòng cốt của cuộc xung đột giữa Israel và Palestin đã tàn phá cuộc sống của mọi dân tộc tại Thánh Địa (SD 31-7-2014)
Linh Tiến Khải
Tế bào gốc và lập trường Giáo Hội Công Giáo trước các khám phá mới
17:26 |Tế bào gốc và lập trường Giáo Hội Công Giáo trước các khám phá mới
Linh Mục Tiến Sĩ Trần Mạnh Hùng, STD
|
||||||||
|
DẪN NHẬP:
Gần đây, giới truyền thông đại chúng và báo chí đã cho đăng tải và
phổ biến cách rộng rãi về những kết quả nghiên cứu của tế bào gốc (Stem
Cells), đặc biệt là các ứng dụng và hiệu quả của việc sử dụng các tế bào
gốc trong các phương pháp trị liệu. Có thể nói đây là một bước tiến
nhảy vọt trong nghành y-sinh học vào đầu thế kỷ thứ 21. Nếu quả thực
đúng như những dự đoán và tiên liệu của các chuyên gia nghiên cứu, thì
đây là một khám phá hết sức mới mẻ và cực kỳ quan trọng đối với nền văn
minh của con người, cụ thể nhất là trong lãnh vực nghành y.
Tuy nhiên, vấn đề nêu trên còn là một sự kiện tương đối quá mới mẻ so
với đại chúng. Hầu hết giới bình dân, nếu có được nghe qua thì cũng
không thể nắm bắt và thông hiểu tường tận. Điều này có nhiều nguyên nhân
gây ra.
Trước tiên, việc nghiên cứu tế bào gốc chỉ được bắt đầu từ năm 1998,
điều này bắt nguồn từ sự hiểu biết về chức năng của các tế bào gốc hiện
diện ở phôi bào (blastocyst – là phôi đã được hình thành khoảng từ 5-7
ngày, sau khi trứng thụ tinh), trước khi chúng biệt-phân, và do đó có
tiềm năng để trở thành bất kỳ loại tế bào nào trong cơ thể con người,
gồm khoảng 220 loại tế bào. Sự hiểu biết sâu sắc ấy đã dẫn đưa các
chuyên gia ra sức nghiên cứu để làm sao có thể tách biệt các tế bào gốc
này ra khỏi phôi bào nhằm cô lập chúng và để nuôi dưỡng chúng trong các
môi trường thuận lợi, để các tế bào gốc ấy có thể gia tăng sinh sản thêm
nhiều các tế bào giống như vậy. Sau đó các chuyên gia nghiên cứu sẽ vận
dụng y-thuật, tỷ dụ như việc kích thích các tế bào, để các tế bào này
tự nó sẽ phát triển và biến thành các mô (tissues) riêng biệt, chẳng hạn
như các cơ trong bắp thịt, dây thần kinh, hoặc các tế bào tuỵ.
Những tế bào chuyên biệt này, sau đó được đem cấy với mục đích nhằm
chữa trị hoặc thay thế các mô đã bị hỏng. Các chuyên gia nghiên cứu đã
dùng tế bào gốc của loài động vật để thử nghiệm, đặc biệt là của loài
chuột, và nay họ đang thí nghiệm trên con người.
Như đã được đề cập ở trên, việc nghiên cứu trong cách thức sử dụng
các tế bào gốc cho các phương pháp trị liệu những căn bệnh nan y mà từ
xưa đến nay, hầu hết các y sĩ đều bó tay chịu trận, thì nay đã có khả
năng và rất hy vọng nó sẽ trở thành một hiện thực, tuy còn nhiều thử
thách. Tuy nhiên, điều ấy theo như ước đoán của các nhà chuyên môn thì
có rất nhiều tiềm năng và việc ấy được coi như là khả thể.
Nguyên nhân khó khăn thứ hai, hệ tại ở chỗ, đó là việc sử dụng các thuật ngữ chuyên môn để mô tả hoặc giải thích về những đề tài này còn xa lạ đối với đại đa số quần chúng. Nhất là khi phải chuyển dịch chúng sang ngôn ngữ Việt, vì hầu hết các tài liệu hiện nay đề cập đến vấn đề tế bào gốc, đều được viết bằng ngoại ngữ. Đây cũng là một công việc nhiều cam go và không mấy đơn giản. Tôi xin mạn phép được đơn cử một tỷ dụ để làm sáng tỏ vấn đề. Hiện nay, vấn đề "Human Cloning", mà tôi tạm gọi là “nhân bản vô tính” đang được bàn thảo và tranh luận thật sôi nổi tại nhiều quốc gia trên thế giới, giữa các chuyên gia gồm đủ moị thành phần, đủ các khoa ngành, thuộc phạm vi xã hội cũng như tôn giáo. Riêng ở khía cạnh ngữ-nghĩa, thì ở Việt Nam ta, nội chỉ nguyên có một từ “Cloning” mà ta đã cảm thấy thật khó khăn khi chuyển ngữ sang tiếng Việt.
Điều đáng chú ý nhất là cách đây khoảng gần 8 năm, một công ty tư
nhân, gọi là “Advanced Cell Technology – Kỹ thuật tiên tiến về tế bào”
(ACT), có trụ sở tại tiểu bang Massachusetts – Hoa Kỳ, ngày 25 tháng 11
năm 2001, đã tuyên bố trên màn ảnh truyền hình, là họ mới thực hiện
thành công "Cloning" một phôi người đầu tiên (the first human embryo).
Điều này đã gây một chấn động trên thế giới, gồm cả đời lẫn đạo. Ngay
lập tức, Tòa Thánh Vaticanô, và Đức cố Thánh Cha Gioan Phalô II đã lên
tiếng chỉ trích và cảnh báo việc làm thiếu tính cách đạo đức của công ty
nói trên. Tất cả các văn bản và sứ điệp trên được ghi lại đầy đủ trong
bản tin của Zenith News (phát hành hôm 26 tháng 11, 2001 – số ZE01112602
và ZE01112606).
Và cách đây khoảng hơn 5 năm, vào ngày 12 tháng 2 năm 2004, chuyên
gia nghiên cứu Woo Suk Hwang và các bạn đồng nghiệp, thuộc Đại học Quốc
Gia Seoul tại Nam Triều Tiên đã tiêm chất liệu di truyền học lấy từ các
tế bào trưởng thành vào các noãn mà cấu tử di truyền cơ bản của nó đã
được lấy ra khỏi. Như thế các phôi được tạo thành do kỹ thuật này, đều
có chung một cấu tử di truyền cơ bản giống y hệt như người đã hiến tặng
tế bào, và như thế là họ thành công nhân bản phôi vô tính. Sau đó các
nhà nghiên cứu sẽ thâu hoạch tế bào gốc từ các phôi này.
Thế nhưng cũng chính các chuyên gia nghiên cứu ấy lại lên tiếng kêu
gọi cộng đồng thế giới nghiêm cấm việc sinh sản người bằng phương pháp
vô tính (human cloning). Họ cho rằng kỹ thuật mà họ đã sử dụng để nhân
bản phôi người vô tính, thì không bao giờ nên sử dụng để tạo ra các em
bé. Song song với những cuộc bàn luận sôi nổi đó đây, các hội nghị
chuyên đề đã được tổ chức và nhóm họp thường xuyên trong thời gian vừa
qua, nhất là tại các quốc gia vùng Âu Châu, và các nước thuộc Bắc Mỹ.
Như đã được đề cập trong phần dẫn nhập, là hiện nay đang có những
cuộc bàn thảo và tranh luận rất sôi nổi giữa các giới chuyên gia, đặc
biệt là các khoa học gia nghành y-sinh học và các nhà luân lý sinh-học.
Việc tổng thống Mỹ, George W. Bush bằng lòng thỏa thuận cho phép sử dụng
ngân quỹ liên bang để tài trợ cho việc nghiên cứu khoảng 64 kiểu tế bào
gốc khác nhau đã được thâu hoạch từ các phôi (embryos), do phương pháp
thụ tinh trong ống nghiệm (In Vitro Fetilization – IVF). Mục đích nguyên
thủy của các chuyên gia khi tạo nên các phôi này, là nhằm để cấy cho
các cặp vợ chồng hiếm muộn hoặc vô sinh muốn có con, nhưng vì con số
phôi sản xuất quá nhiều nên đã trở thành thặng dư, và đã được đông lạnh
trong một thời gian lâu dài, do đó, đã được các chuyên gia nơi phòng thí
nghiệm quyết định sử dụng để lấy các tế bào gốc, thuộc nhiều loại khác
nhau.
Việc làm của tổng thống Bush đã gây nên một sự bất bình trầm trọng
giữa Giáo Hội Công Giáo (GHCG) Hoa Kỳ và vị nguyên thủ quốc gia, được
các cử tri Công Giáo phần đông ủng hộ trước đi đắc cử. Đại diện cho GHCG
Hoa Kỳ, Đức giám mục Joseph Fiorenza, thuộc tổng địa phận
Galveston-Houston, cựu chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đã phát biểu
như sau:
"Lần đầu tiên trong lịch sử của đất nước Hoa Kỳ, chính phủ liên
bang đồng ý ủng hộ việc nghiên cứu, mà hệ quả của nó là việc hủy diệt
những con người vô phương kháng cự, nhằm mục đích đem lại lợi ích cho kẻ
khác… Quyết định này cho phép các công ty, các dịch vụ nghiên cứu tư
nhân tại quốc gia của chúng ta, gia tăng phát triển sự bất kính đối với
sự sống con người. Cho nên, chúng tôi cầu nguyện và hy vọng rằng tổng
thống Bush sẽ trở về lại với nguyên tắc chính trực, nhằm chống lại những
cách thức hành-xử coi sự sống con người không hơn gì những vật thể, có
thể được tận dụng cho các mục đích nghiên cứu và sau đó thì bị hủy
diệt."
Tuy nhiên, chính Tổng Thống George Bush đã phủ quyết sự chấp thuận
của Quốc Hội Mỹ cho phép các chuyên gia được quyền nới rộng việc nghiên
cứu của họ bằng phương pháp sử dụng các tế bào gốc lấy từ phôi
(embryonic stem cells). Việc làm này đã được hoan nghênh nhiệt liệt của
nhóm phò sự sống và của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ. Ông Richard M.
Doerfinger, đại diện cho giám đốc văn phòng bảo vệ sự sống của Hội Đồng
Giám Mục Hoa Kỳ đã phát biểu tại tòa Bạch Ốc hôm thứ tư, ngày 19 tháng
07 năm 2006, như sau:
“Chúng tôi tán thành việc Tổng Thống Bush đã phủ quyết pháp luật do
Quốc Hội đã chấp thuận cho phép các khoa học gia dùng tế bào gốc lấy từ
phôi để nghiên cứu. Điều này sẽ khuyến khích việc huỷ diệt thêm các phôi
người để thâu hoạch tế bào gốc.”
Tổng Thống George W. Bush phủ quyết dự luật cho phép nghiên cứu tế bào gốc lấy từ phôi.
Thế nên, chúng ta cần phần biệt tỏ tường để tránh sự ngộ nhận là,
hiện nay, khi nói đến về việc nghiên cứu về tế bào gốc, chúng ta cần am
hiểu thấu đáo:
1) Tế bào gốc là gì? 2) Tế bào gốc lấy từ đâu ra? 3) Những lợi ích khả thể trong công trình nghiên cứu tế bào gốc. 4) Lập trường và quan điểm của G.H Công Giáo trước sự việc nghiên cứu này. Cho nên trong bài viết này, tôi cố gắng làm sáng tỏ những vấn đề nêu trên, hầu giúp cho chúng ta hiểu biết một cách tường tận những vấn đề éo le và hóc búa, liên quan đến những gì mà hiện nay đang được bàn cãi, tranh luận cực kỳ sôi nổi, đặc biệt trong lãnh vực luân lý. Tỷ dụ như có được phép, xét về mặt luân lý, sử dụng phôi để thu hoạch tế bào gốc và làm chất liệu để nghiên cứu hay không? Vậy trước tiên, tôi xin phép được đề cập đến.
I. TẾ BÀO GỐC LÀ GÌ?
Tế bào gốc là tế bào có khả năng phân chia vô hạn định, và có khả
năng sinh sản và tạo nên các tế bào khác có những chức năng chuyên biệt,
một khi nó được cấy vào một môi trường thích hợp. Để cho chúng ta có
một khái niệm cụ thể về các chức năng của tế bào gốc, điều tốt nhất là
chúng ta thử khảo-sát chúng trong các tiến trình phát triển nơi con
người được bắt đầu, khi tinh trùng làm cho trứng (noãn) thụ tinh, và sau
đó tạo nên một tế bào duy nhất, gọi là hợp-tử, tế bào này có khả năng
tự tại phát triển thành một cơ thể (organism). Vì thế, trứng thụ tinh
(hợp-tử) còn được coi như là tế bào toàn-năng. Sau khi trứng đã được thụ
tinh, chỉ vài tiếng đồng hồ sau (khoảng 4-6 tiếng), hợp tử sẽ tự động
phân chia thành nhiều tế bào toàn-năng (totipotent cells), đồng chất thể
về mặt di truyền. Vì lý do đó, mà giả thể ta lấy một tế bào toàn-năng
(đã được phân chia sau khi trứng đã thụ tinh khoảng 3 ngày) đem cấy vào
vách tử cung của người phụ nữ (nếu thành công) thì tế bào này có khả
năng phát triển thành bào thai. Từ đó, ta có thể giải thích hiện tượng
sinh đôi, là một trứng sau khi đã thụ tinh, tự phân chia làm 2 tế bào
toàn-năng riêng biệt và rồi sau đó sẽ tự phát triển thành 2 cá thể riêng
rẽ (trong thời hạn 14 ngày, kể từ khi thụ tinh). Do đó, xét về mặt di-
truyền thì trẻ em sinh đôi (cùng một trứng) có cùng chung một gien y hệt
như nhau.
Khoảng 4 ngày, sau khi trứng đã thụ tinh, hợp-tử sẽ trải qua nhiều
chu kỳ phân chia tế bào, gọi là hiện tượng nhân đôi: từ 1 tế bào duy
nhất thành 2, điều này diễn ra khoảng 30 tiếng đồng hồ sau khi trứng đã
thụ tinh. Sau 40-50 giờ, chúng sẽ tự phân chia thành 4 tế bào, và sau 60
tiếng đồng hồ thành 8 tế bào. Khi trứng đã thụ tinh tiến gần đến lối
dẫn vào tử cung, nó phát triển thành 16 tế bào, và người ta gọi nó là
phôi dâu (Morula). Sự kiện này diễn ra vào ngày thứ 4 kể từ khi trứng đã
thụ tinh. Trong giai đoạn này, chưa có sự tiền định của bất cứ một tế
bào nào sẽ trở thành một thực thể (entity) riêng biệt hay là bộ phận của
thực thể. Khoảng chừng ngày thứ 6 hoặc ngày thứ 7, hợp tử (tên gọi của
trứng sau khi đã thụ tinh) sẽ trở thành phôi bào (Blastocyst) và nó di
chuyển đến vách tử cung để bắt đầu tiến trình làm tổ, nếu thành công,
việc thụ thai sẽ diễn ra và phôi bào sẽ tiếp tục phát triển. Ở vào thời
điểm này, ta có thể phân biệt là phôi bào gồm có hai loại tế bào:
1) Loại tế bào thứ nhất trở thành màng bao bọc phôi bào (Trophectodern);
2) Loại thứ hai là các tế bào nội tại (Inner Cell Mass = ICM)
Các tế bào nội tại này sẽ thiết lập hầu hết các mô (tissues) của thân
thể. Mặc dầu các tế bào nội tại có thể tạo thành, dường như, tất cả các
loại tế bào nơi thân thể con người, nhưng chúng lại không có khả năng
để tạo thành một cơ thể (organism). Các tế bào nội tại được coi như là
các tế bào đa-năng, vì chúng có khả năng trợ giúp nhiều loại tế bào khác
nhau. Các tế bào nội tại có tính đa-năng, tuy nhiên, chúng không phải
là các tế bào toàn-năng, vì lý do đó chúng không thể tạo nên một cơ thể,
như các tế bào toàn-năng, tỷ dụ như tế bào hợp-tử.
Những tế bào gốc đa-năng (Pluripotent stem cells) tiếp tục trải qua
nhiều sự phân-hóa để trở thành những tế bào gốc với chiều hướng nhằm yểm
trợ các tế bào mà chúng có những chức-năng hoặc phận-vụ chuyên-biệt. Tỷ
dụ như tế bào gốc của máu (Blood stem cells), thì trợ giúp các hồng
huyết cầu và bạch huyết cầu. Các tế bào gốc của máu hiện diện trong tủy
(của xương – bone marrow) của trẻ em cũng như người lớn, thực vậy, chúng
có thể tìm thấy trong máu hiện đang lưu thông nơi các huyết quản. Tế
bào gốc của máu nắm giữ một vai trò rất quan trọng, trong công việc cung
cấp cho đủ số tế bào máu trong thân thể con người, suốt cả cuộc đời.
Các tế bào máu thì gồm có: hồng huyết cầu và bạch huyết cầu. Chúng ta
không thể sống sót nếu không có các tế bào gốc của máu.
II. TẾ BÀO GỐC LẤY TỪ ĐÂU RA?
Trong khoảng thời gian qua, có 2 phương pháp cơ bản để có thể lấy được các tế bào gốc đa-năng.[1]
• Cách thứ nhất được thực hiện do Dr. James Thomson, thuộc đại học Wisconsin – Hoa Kỳ vào năm 1998.
Các tế bào gốc đa năng được tách rời trực tiếp từ các tế bào nội tại
của phôi trong giai đoạn phôi bào (blastocyst). Sau đó đem cấy chúng vào
một môi trường thích hợp, với những điều kiện thiết yếu cho việc phát
triển, dần dần chúng sẽ sản xuất một loại tế bào gốc đa-năng.
• Cách thứ hai được thực hiện do Dr. Gearhart.
Ông ta tách biệt các tế bào gốc đa-năng từ các mô của bào thai đã
được hủy, vì không muốn tiếp tục cưu mang hoặc vì những lý do khác. Điều
này được thực hiện với sự đồng ý của chủ nhân bào thai và vị bác sĩ có
trách nhiệm. Ông ta chọn những tế bào thuộc các vùng của bào thai mà
biết chắc chắn rằng sau này, chúng sẽ phát triển thành tinh hoàn hoặc
buồng trứng.
Mặc dầu có sự khác biệt về hai nguồn cung cấp chất liệu để tạo nên
các tế bào gốc đa-năng. Tuy nhiên, kết quả của việc hình thành các tế
bào gốc này rất giống nhau.
Một loài tế bào gốc nữa, có tên là "Multipotent Stem Cells", có thể tìm thấy ở một vài loại mô trưởng thành (Adult tissues). Gần đây, có nhiều dấu chỉ khả quan cho thấy, các chuyên gia nghiên cứu có thể tìm thấy thêm nhiều loại tế bào gốc hiện diện trong các mô trưởng thành. Tỷ dụ trước đây, các chuyên gia nghiên cứu nghĩ rằng: các tế bào gốc dường như không có ở trong hệ thống thần kinh não. Nhưng những năm gần đây, họ đã khám phá ra và họ đã làm các cuộc thí nghiệm và cho thấy là họ có thể tách rời các tế bào gốc thuộc thần kinh (Neuronal Stem Cells) ra khỏi hệ thống thần kinh não của các chú chuột. Điều này đã được thực hiện do các khoa học gia thuộc viện Nghiên Cứu Y Học "The Walter and Eliza Hall" ở vùng Parkville, thuộc tiểu bang Victoria, thành phố Melbourne, Úc Đại Lợi. Họ đã tách biệt được tế bào gốc từ một khu vực của óc gọi là khu vực "Periventricular". Từ các tế bào gốc này, không những có thể tạo thành tế bào thần kinh, mà nó còn có thể tạo ra các mô và các cơ mới. Cho nên, với những thành công như vậy chắc chắn sẽ thúc đẩy việc nghiên cứu về tế bào gốc đi xa thêm một bước nữa, và hy vọng nó sẽ góp phần sáng chế ra những thứ thuốc, giúp cho những người bị chấn thương não sẽ tự phục hồi.
Ngược lại, nơi con người, các tế bào gốc loại này, nếu muốn thâu
hoạch, thì hiện nay chỉ có thể lấy từ các mô của bào thai (fetal
tissues). Hẳn nhiên, việc thử nghiệm này đối với con người thì còn rất ư
là hạn chế. Tuy nhiên, điều ấy cho thấy là có những dấu chỉ khả thi
rằng: không bao lâu nữa thì việc này có thể được áp dụng đối với con
người.
III. NHỮNG LỢI ÍCH KHẢ THỂ TRONG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN TẾ BÀO GỐC.
Qua các kết quả của các công trình nghiên cứu về việc sử dụng tế bào
gốc trưởng thành nơi con người cho thấy rằng các "Multipotent Stem
Cells" (tên của một loại tế bào gốc đa-năng), có tiềm năng rất lớn trong
công việc nghiên cứu lẫn việc phát triển phương pháp trị-liệu tế bào
(cell therapies). Một bằng chứng cụ thể, là ta có thể dùng các tế bào
gốc trưởng thành trong việc cấy, ghép. Nếu chúng ta có thể tách biệt
những tế bào gốc từ bệnh nhân, rồi tạo điều kiện thuận tiện để chúng từ
từ phân chia và sinh sản ra các tế bào có những chức năng chuyên-biệt.
Sau đó, chúng ta đem cấy chúng trở lại cho bệnh nhân. Làm như vậy thì sẽ
tránh được tình trạng các tế bào này bị từ chối hay bị phản kháng bởi
cơ thể của bệnh nhân.
Cách thức sử dụng các tế bào gốc trưởng thành cho các phương pháp
trị-liệu, nhằm thay thế các tế bào đã bị thoái hóa hay không còn khả
năng thực hiện các chức năng riêng biệt của chúng nữa, sẽ giảm thiểu
hoặc tránh né được, ngay cả việc sử dụng đến các tế bào gốc lấy được từ
các phôi hoặc các mô từ bào thai người. Điều này đã và đang gây nhiều sự
phản đối, vì những yếu tố về mặt luân lý.
1. Những lợi ích khả thể.
Những lợi ích khả thể mà các chuyên gia nghiên cứu hiện nay đưa ra
thì có lẽ nhiều vô số kể. Trong bài viết về "The Benefits of Human
Cloning." (http://www.humancloning.org/benefits.htm.),
thì tác giả đưa ra một số danh sách các lợi ích thực tiễn về "Human
Cloning". Nói chung hầu như là bá bệnh đều có thể trị được, nếu bằng
lòng áp dụng và cho phép "Cloning". Vì khuôn khổ của bài viết, nên tôi
mạn phép chỉ đề cập đến những gì có tính cách hiện-thực mà cộng-đồng thế
giới đang mong mỏi nơi các chuyên gia nghiên cứu, dựa trên những khám
phá gần đây nhất.
2. Việc sử dụng các tế bào gốc cho phương pháp trị-liệu.
Phần đông các bệnh tật nơi con người là kết quả do việc các tế bào
của chúng ta ngưng hoạt động hay không làm việc, theo đúng như chức năng
của chúng, hoặc do bởi các mô của thân thể bị hủy hoại. Hiện nay, để
thay thế cho các cơ phận hoặc ghép các bộ phận, cũng như mô không còn
hoạt động bình thường, các chuyên viên y khoa đã cần phải sử dụng đến
các bộ phận, tỷ dụ như tim, thận, tủy, mắt v.v.., được hiến tặng. Tuy
nhiên, không may cho chúng ta là số bệnh nhân càng ngày càng gia tăng và
vượt hẳn con số về các bộ phận mà chúng ta có được (do sự hiến tặng của
các ân nhân) để thay thế hay cấy, ghép. Tế bào gốc có thể cung ứng cho
ta một nguồn nguyên-liệu mới phong phú, hầu có thể thay thế các tế bào
và mô đã bị hỏng, nhằm chữa trị các chứng bệnh nan y, tỷ dụ như: bệnh
tim, bệnh ung thư, bệnh Parkinson, bệnh tiểu đường, bệnh mất trí nhớ,
bệnh chấn thương cột sống, cơn đột trụy (stroke), bệnh đau nhức thấp
khớp kinh niên, bị phỏng nặng v.v… Có thể nói hầu như các căn bệnh thông
thường hiện nay, đều có nhiều cơ may được điều trị bởi việc sử dụng các
tế bào gốc mà gần đây các chuyên gia nghiên cứu mới khám phá ra.[2] Ví dụ như bài viết sau đây: “Stem cells used to help cure sight loss.” (Tế Bào Gốc được sử dụng để giúp trị liệu nạn khiếm thị) By Danny Rose – AAP – ngày 28.05.2009
Figure 1. Contact lense có chứa tế bào gốc màng sừng mắt
Tuy nhiên, trước những dấu hiệu khả quan và những thành công rực rỡ
đã và đang gặt hái được nhiều thành quả vượt bực đáng kể trong công việc
điều trị các căn bệnh đương thời. Y học ngay nay vẫn còn gặp phải một
số vấn đề khó khăn trong công việc áp dụng và đưa các khám phá mới mẻ ấy
vào trong công việc thực hành cụ thể nơi các sở y tế. Những khó khăn
này tuy đáng kể, nhưng không phải là chúng ta không có khả năng vượt
qua.
Nói tóm lại, chúng ta cần chờ đợi với thời gian để xem coi các phát
minh mới ấy sẽ mang lại những lợi ích cụ thể gì cho nhân loại.
IV. QUAN ĐIỂM VÀ LẬP TRƯỜNG CỦA GÍAO HỘI CÔNG GIÁO.
Đứng trước các phát minh mới mẻ trong ngành y-sinh học, được thực hiện đầu thế kỷ thứ 21 này, cụ thể là việc sử dụng các tế bào gốc trong các phương pháp trị liệu. Giáo Hội Công Giáo luôn luôn tán thưởng và khuyến khích các nổ lực và sự thiện chí của các chuyên gia nghiên cứu. Cách đây vài năm tại Rôma, Giáo Hội Công Giáo đã tổ chức một Hội nghị chuyên đề, vào ngày 13-14, tháng 11, 2001 tại Đại học giáo hoàng Ateneo Pontificio Regina Apostolorum – Rôma. Hội nghị này đã được bảo trợ của 2 Đại học và 1 Học viện danh tiếng trên thế giới: Đại học Francisco de Vitoria (Madrid – Tây Ban Nha), Pontifical Athenaeum Regina Apostolorum (Rôma) và Guilé Foundation (European Institute for Social Studies – Thụy Sĩ), nhằm thảo luận về những vấn đề nan giải và những thiện-ích cho con người trong công trình nghiên cứu tế bào gốc.
Tiến sĩ Esmail D. Zanjani, một trong những chuyên gia đang dẫn đầu về
việc nghiên cứu tế bào gốc, hiện là giảng sư tại Đại học Nevada, Hoa
Kỳ, đã đưa ra những nhận định phù hợp với quan điểm và chiều hướng lập
luận hiện thời của Giáo hội Công Giáo. Ông ta phát biểu rằng: "Hiện nay,
có rất nhiều dữ kiện cho thấy, chúng ta có thể thành công trong viêc sử
dụng các tế bào gốc trưởng thành (Adult Stem Cells) để điều trị các
chứng bệnh về tim, và các mô bị hư hại. Sau nhiều lần thử-nghiệm thì kết
quả cho thấy công việc này đã rất có hiệu nghiệm." (Phỏng theo bài
thuyết trình của Dr. Zanjani tại hội nghị – Thứ tư 14 tháng 11, 2001).
Tiến sĩ Zanjani còn cho biết thêm, theo như kết quả của những cuộc
thử-nghiệm vừa qua thì nó chứng minh cho ta thấy, việc dùng các tế bào
gốc trưởng thành, đạt được những kết quả khả quan như đã tiên đoán.[3]
Cho nên, "Tôi (Dr. Zanjani) thiết nghĩ chúng ta không nhất thiết phải
sử dụng đến các tế bào gốc lấy được từ phôi (Embryonic Stem Cells), vì
điều đó gặp phải nhiều sự chống đối xét về mặt luân lý, mà đồng thời kết
quả thì cũng chưa chắc gì đã trỗi vượt hơn, việc dùng các tế bào gốc
trưởng thành trong các phương pháp trị liệu."
Với một lối suy tư tương tự như thế, bà Monica Lopez Barahona, giảng
sư tại Đại học Francisco de Victoria (Tây Ban Nha), khi được phóng viên
nhà báo phỏng vấn tại Hội nghị đã phát biểu như sau: "Không thể chấp
nhận được sự việc tạo một phôi người, rồi sau đó chỉ lấy các tế bào gốc
rồi thì hủy bỏ nó đi." Bà ta nhấn mạnh, theo quan điểm của các khoa học
gia, thì hiển nhiên đã có sự hiện diện của một “con người” ngay từ lúc
khi trứng được thụ tinh. Vì lý do đó, không thể chấp nhận được xét về
mặt đạo đức, khi sử dụng sự sống con người này (tức là các phôi được sử
dụng để lấy tế bào gốc) để cứu một người khác (để cấy ghép hoặc thay thế
các bộ phận bị hư hỏng). Quan điểm này, chúng ta có thể tìm thấy trong
giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo:
"Con người phải được đối xử như một nhân vị kể từ khi thụ tinh, và
vì vậy cũng từ lúc đó nhân quyền của nó phải được thừa nhận, trước hết
là quyền sống bất khả xâm phạm của một con người vô tội."[4]
|
[1]
. Tuy nhiên với những khám phá mới gần đây cho thấy các khoa học gia có
thể tìm thấy và thâu hoạch tế bào gốc từ các nguồn khác nữa, ví dụ: Tế
bào gốc cũng có thể lấy được từ dây rốn, dịch ối hay nhau thai của trẻ
sơ sinh, đặc biệt là trong tủy xương.
[2] . Nhật Báo The Australian hôm
29 tháng 5 năm 2009 đã loan tin cho biết là các chuyên gia nghiên cứu
tại Đại Học New South Wales, Úc Đại Lợi đã thành công chữa trị 3 bệnh
nhân mù lòa bằng việc sử dụng tế bào gốc trưởng thành. Dẫn đầu nhóm
nghiên cứu này là Dr. Nick Di Girolamo, ông và các cộng sự viên đã thành
công chữa trị cho ba bệnh nhân bị mù lòa vì màng sững mắt của họ không
còn hoạt động. Các chuyên gia này đã sử dụng tế bào gốc lấy từ mắt của
bệnh nhân rồi cho sản sinh ở các dĩa thí nghiệm, sau đó bỏ các tế bào
gốc này vào các “contact lenses” và rồi họ ghép nó vào mắt của các bệnh
nhân này. Khoảng 10-14 ngày sau, các tế bào gốc đã bám vào màng sửng mắt
và bắt đầu thay thế các tế bào đã bị thoái hóa hoặc hư hỏng, nhờ đó họ
đã có nhìn thấy và có thể đọc sách trở lại. Có thể nói đây là một thành
công khá rực rỡ trong việc sử dụng tế bào gốc trưởng thành trong y khoa
trị liệu. Mời qúi vị tham khảo bài viết ấy tại: http
[3]
. Độc gỉa có thể kiểm chứng điều này bằng việc tìm đọc các tài liệu đã
được phổ biến trên các tạp chí khoa học về việc sử dụng Tế Bào Gốc
trưởng thành trong phương pháp trị liệu. Điều này đã mang lại sự thành
công và có hiệu qủa khả quan hơn so với việc sử dụng Tế Bào Gốc phôi.
Luận điểm này đã được khoa học gia Ian Wilmut công nhận trong bài phỏng
vấn dành cho ký gỉa người Pháp – The French interview is at http://www.genethique.org/tribunes_mensuelles/mai_2009.asp. Bài phỏng vấn này cũng được dịch sang tiếng Anh và đăng tại:
Prof. Ian Wilmut là vị đã khai mào công trình nghiên
cứu về lãnh vực nhân bản vô tính và đã thành công trong việc tạo nên chú
cứu Dolly vào năm 1997 bằng phương pháp chuyển nhân.
Quí vị độc gỉa cũng có thể tham khảo thêm ở điạ chỉ
website dưới đây, để nắm rõ chi tiết về sự lợi ích của việc sử dụng tế
bào gốc trưởng thành trong phương thức trị liệu, xin nhấn vào đây: www.stemcellresearch.org. Theo thông tin của Zenit News – Published on Monday 8th June 2009 – http://www.zenit.org/article-26117?l=english
The readers can also go to www.stemcellresearch.org, and see for themselves the dozens of cures that have already been obtained with adult stem cells, and the zero cures with embryonic stem cells - all documented with research articles in scientific journals.
[4] . Xem Huấn Thị "Donum Vitae" (Qùa Tặng Sự Sống) do Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin ban hành ngày 22/02/1987.


