Home » Tạo Sinh
Tính Luân Lý Của Việc Tạo Sinh (tiếp theo…) - Một Số Vấn Nạn
17:51 | Tính Luân Lý Của Việc Tạo Sinh (tiếp theo…)
Chương III: Một Số Vấn Nạn
Thật
khó mà xác định sự sống của bào thai khởi đầu từ lúc nào. Xưa nay, khoa
học và tôn giáo vẫn có những tranh luận về vấn đề này. Tuy nhiên, có
một sự không hoàn toàn giống nhau về quan niệm giữa khoa học và tôn
giáo. Các nhà khoa học thì quan tâm tới nguồn gốc của sự sống nơi thai
nhi; còn tôn giáo thì lại quan tâm nguồn gốc của sự sống ấy. Hai từ khởi
đầu và nguồn gốc thực ra có ý nghĩa không hoàn toàn đồng nhất. Nếu dùng
từ “khởi đầu” (commencement) thì sẽ đặt câu hỏi: Khi nào sự sống bắt
đầu hình thành trong thai nhi; còn nếu dùng từ “nguồn gốc” (orgine) thì
sẽ đặt câu hỏi về nguồn cội, sự sống phát sinh từ đâu.
Xem thêm…
Chương III: Một Số Vấn Nạn
I. Bào Thai Ðã Là Sự Sống Con Người Chưa?
Thật
khó mà xác định sự sống của bào thai khởi đầu từ lúc nào. Xưa nay, khoa
học và tôn giáo vẫn có những tranh luận về vấn đề này. Tuy nhiên, có
một sự không hoàn toàn giống nhau về quan niệm giữa khoa học và tôn
giáo. Các nhà khoa học thì quan tâm tới nguồn gốc của sự sống nơi thai
nhi; còn tôn giáo thì lại quan tâm nguồn gốc của sự sống ấy. Hai từ khởi
đầu và nguồn gốc thực ra có ý nghĩa không hoàn toàn đồng nhất. Nếu dùng
từ “khởi đầu” (commencement) thì sẽ đặt câu hỏi: Khi nào sự sống bắt
đầu hình thành trong thai nhi; còn nếu dùng từ “nguồn gốc” (orgine) thì
sẽ đặt câu hỏi về nguồn cội, sự sống phát sinh từ đâu.
Do
đó, ở đây chúng ta sẽ tìm hiểu về vấn đề “phôi thai hay bào thai đã là
sự sống con người chưa?” dựa trên khám phá của khoa học, cách riêng là
của ngành sinh – y học, thứ đến là xem một số quan điểm của các thần học
gia và các học giả, và sau cùng là tiếng nói của Giáo Hội Công Giáo.
1. Những khám phá của ngành sinh – y học
Giới
khoa học gia cũng không thể xác định chính xác sự sống bắt đầu khi noãn
thụ tinh, hay vào tuần thứ 7, thứ 14, thứ 20, thứ 24 sau khi noãn thụ
tinh? Những con số đó do các nhà khoa học đề ra. Tất cả lệ thuộc các
tiêu chí đề ra để định nghĩa sự sống. Tuy nhiên, những khám mới sau đây
của ngành sinh – y học sẽ cho ta một cái nhìn về sự khởi đầu của sự sống
như thế nào.
a. Tiến trình phát triển Mầm Phôi (Pre-embryo)
Tinh
trùng cần phải ở trong đường sinh sản của phụ nữ khoảng 7 giờ đồng hồ
trước khi chúng sẵn sàng đâm xuyên qua các làn vỏ của trứng.
Sự
thụ tinh thường xảy ra ở cuối ống dẫn trứng (fallopian tube) sát bên
buồng trứng. Tinh trùng thường phải tiếp xúc với trứng trong vòng mười
giờ, vì nếu không xảy ra sự thụ tinh trong vòng hai mươi bốn giờ, thì
tinh trùng sẽ chết. Tuy nhiên, thụ tinh không chỉ đơn giản là việc tinh
trùng chọc thủng vỏ của trứng. Hơn thế nữa, nó là một tiến trình sinh
hoá phức tạp, mà qua đó, một tinh trùng chọc thủng dần dần các lớp vỏ
khác nhau của trứng. Chỉ sau khi tinh trùng đơn độc này đã chọc thủng
hoàn toàn trứng và nhân thể đơn bội cái (Haploid female nucleus) chỉ có
một cặp nhiễm sắc thể đã phát triển, làm cho bào tương (cytoplasm) của
trứng và các dung lượng nhân (Nuclear contents) của tinh trùng mới hoàn
toàn hoà lẫn với nhau cho ra một thực thể với nhiễm sắc thể lưỡng bội
(Diploid set of chromosome).
Tiến
trình này được gọi là sự hợp-giao. Phải mất khoảng hai mươi bốn giờ để
hoàn tất và cho ra đời một thực thể (Entity) gọi là hợp tử (Zygote –
trứng thụ tinh). Vì thế, tiến trình này (điều quan trọng chúng ta cần
phải ghi nhận: đây là một tiến trình) nói chung phải mất khoảng 12-24
giờ để hoàn tất và phải mất thêm 24 giờ khác nữa để nhân của hai thể đơn
bội có thể hoà lẫn vào nhau.
Sự thụ tinh hoàn tất với 4 giai đoạn chính:
1/ Cho ra đời một thực thể đầy đủ 46 nhiễm sắc thể
2/ Xác định nhiễm sắc thể giới tính (sex chromosome)
3/ Thiết lập khả năng biến dị di truyền (genetic variability)
4/ Khởi sự tiến trình phân chia (cleavage), phân chia tế bào của thực thể.
Sau
khi tinh trùng đã chọc thủng các lớp vỏ khác nhau của trứng thì bước kế
tiếp là khởi sự tiến trình phân chia tế bào, trứng đã thụ tinh bắt đầu
cuộc hành trình của mình đi từ ống dẫn trứng xuống tử cung. Khoảng 30
giờ sau khi thụ tinh, tế bào sẽ phân làm đôi, khoảng 40 – 50 giờ thì tế
bào sẽ phân làm bốn, và khoảng 60 giờ sau thì tế bào sẽ phân làm tám.
Khi phôi thai tiến vào tử cung thì có 12-16 tế bào ở giai đoạn phôi dâu
(Morula). Các phôi dâu này xuất hiện vào ngày thứ tư. Xung quanh các
ngày thứ sáu và thứ bảy, phôi bào (blatocyst) sẽ tiến tới vách tử cung
(uterine wall) và bắt đầu tiến trình làm tổ (implantation) ở đó, nhờ thế
nó có thể tiếp tục phát triển.
Tiến
trình làm tổ này sẽ hoàn tất vào cuối tuần thứ hai. Có một yếu tố quan
trọng mà chúng ta cần biết, đó là từ tình trạng phôi bào đến khi tiến
trình làm tổ hoàn tất, mầm phôi vẫn có khả năng phân chia thành các thực
thể đa phần (multiple entities) (điều này giải thích tại sao có hiện
tượng sinh đôi). Chúng ta cũng cần ghi nhận rằng: trong các nhiễm sắc
thể của nó, trứng đã thụ tinh không nắm giữ đầy đủ thông tin di truyền
cần thiết để có thể phát triển thành một phôi thai – tiền thân của một
thực thể nhân loại cá biệt. Ở giai đoạn này, hợp tử không tự tích lũy,
cũng không tự cung cấp được gì cho sự phát triển lâu dài của nó. Ðể trở
thành một phôi thai người, điều cốt thiết hơn cả là phải bổ sung thông
tin di truyền vào những gì mà hợp tử yêu cầu.
b. Tiến trình phát triển Phôi Thai (Embryo)
Giai
đoạn phát triển chính yếu kế tiếp là giai đoạn phát triển phôi thai.
Giai đoạn này bắt đầu từ tuần thứ ba của thời kỳ thai nghén. Nó khởi sự
với việc hoàn tất tiến trình làm tổ của mầm phôi ở vách tử cung và việc
phát triển đa dạng các mô liên kết giữa mầm phôi và vách tử cung. Có hai
công việc chính sẽ xảy ra ở giai đoạn này:
Thứ nhất là việc hoàn tất sự hình thành Phôi Vị (gastrulation) tái sắp xếp cách trật tự và phù hợp các tế bào ở phôi thai.
Thứ
hai là tiến trình hình thành Phôi Thai (embryo-genesis) hay hình thành
sinh thể (human organgenesis), bắt đầu từ tuần thứ ba và hoàn tất vào
cuối tuần thứ tám. Tiến trình này dẫn đến kết quả là sự phát triển toàn
bộ cơ quan nội tại và các cấu trúc chính bên trong và bên ngoài bào
thai.
Từ
lúc này, một đứa bé bắt đầu hiện hữu thật sự và kể từ giai đoạn đó, như
lời giáo sư Jérome Lejeune nói: “Một sinh viên ngành Y mà không biết
phân biệt được một con người với một con khỉ tinh tinh (chimpanzé) sẽ bị
đánh trượt trong kỳ thi…”
Ðược
6, 7 ngày sau khi thụ tinh, thân hình đứa bé đo được 1,5 mm và lúc ấy,
đứa bé đã có đủ khả năng chủ trì vận mệnh của nó, bởi vì, bằng một tín
hiệu hoá học được gởi đi, đứa bé làm ngưng kinh kỳ của mẹ nó, bắt mẹ nó
dành cho nó việc bảo vệ nó.
Cuộn
tròn lại như một băng cát-xét tí hon, những sợi dây vi ti – nhìn thấy
rõ qua làn kính hiển vi – là những phân tử ADN chứa đựng một tổng lượng
thông tin lớn lao. Nhờ một cơ cấu tinh xảo và bí ẩn điều động các tế bào
dần dần trở nên chuyên biệt:
- Toán một: lo cấu tạo hệ thống thần kinh và da.
- Toán hai: phụ trách hệ thống tiêu hoá: gan và lá lách (pancreas).
- Toán ba: bộ xương, quả tim, động mạch, cơ bắp.
Ngày
thứ 17 sau khi thụ thai, đứa bé chỉ mới đó được 2mm, và chưa to bằng
hạt lúa mì, tim đứa bé đã đập và sẽ đập mãi mãi cho đến lúc chết… Mẹ đứa
bé chỉ mới trễ kinh cỡ hai hoặc ba ngày và chưa biết là đứa bé đang
sống trong bụng mẹ. Nhưng qua kính hiển vi hiện đại, các chuyên gia có
thể đoán được hai thuỳ bộ não của đứa bé, dưới một chút là khoang tim,
tuỷ sống, nét tổng quát tay, chân của em…
Khoảng
ngày thứ 26, các tay đứa bé xuất hiện. Khoảng ngày 28, đến phiên hai
chân. Chẵn một tháng, thân mình đứa bé đó được 1 cm, nhưng nó đã lớn gấp
10.000 lần cái trứng thụ tinh đầu tiên. Tim nó đập 65 nhịp/phút và máu
nó, hoàn toàn khác biệt máu mẹ nó, truyền đi khắp cơ thể của nó.
Ðến
tuần thứ tư, đứa bé ở tình trạng chồi nụ, đôi tay nó tiến hoá rất
nhanh. Ðược 5 tuần, lòng bàn tay nó tượng hình và chồi 5 ngón tay nó bắt
đầu nhú ra. Ðược 6 tuần lễ, ngón tay cái của đứa bé đã tự lập, các ngón
khác cũng hình thành rõ rệt.
Khi
hai tay em đúng 7 tuần lễ, thì các ngón tay càng lớn dần lên và cứng
cáp trong những tháng tới. Mỗi ngón tay đã có đường vân mạch lạc, làm
cho không ai trên đời có chỉ tay giống nhau.
Khi
đứa bé được đúng 8 tuần lễ, thì thân hình em dài cỡ 3 cm! Cánh tay và
bàn tay của em đã hình thành rất rõ nét, hai chân và bàn chân em đang
phát triển đâu ra đó. Bộ xương của đứa bé được cấu thành với các tế bào
xương dần dần thay thế sụn. Mẹ em đã tắt kinh được một tháng rưỡi rồi.
Qua ống nghe, bác sĩ có thể đếm được nhịp tim của đứa bé và ông cũng có
thể thực hiện điện tâm đồ cho em (électrocardiogramme).
Như
thế, đúng 10 tuần lễ, người ta có thể thấy được đôi bàn chân nhỏ xíu
của em. Sau này, đến tuần thứ 14, dùng một loại kính lúp tốt, có thể
phát hiện rõ ràng những đường chấm chấm của mạng lưới dấu ở đầu các ngón
chân tí hon của em.
Cũng
ở tuần lễ thứ 10, các mí mắt che cặp mắt em hiện rõ. Các mí mắt này vẫn
còn khép chặt lại cho đến lúc em được sáu tháng tuổi. Hai phần của vòm
miệng vẫn còn dính nhau ở khoảng giữa; phần trên cấu tạo ra giải hố mũi
để thở, còn phần dưới cấu tạo ra cái miệng để nuốt. Cơ quan sinh dục
phía ngoài cũng đã được hoàn tất: buồng trứng và tinh hoàn đã tích chứa
được các noãn và tế bào gốc của tinh dịch. Thế là các thế hệ hậu lai đã
được lập trình sẵn ngay từ lúc này.
Ðược
11 tuần lễ, khi mẹ em ngủ, em cũng ngủ. Nhưng em lại có thể đánh thức
mẹ em dậy! Các tiếng động ồn ào bên ngoài có thể làm cho em giật mình
tỉnh giấc! Em uống nhiều ngụm nước màng ối, nếu như nó ngòn ngọt, nhưng
em không thèm uống nữa nếu em cảm thấy nó có vị đắng. Em mới chỉ đo được
6 cm, vậy mà em đã gần như được hoàn thành một cách mỹ miều!
Ðược
12 tuần lễ, em cân nặng 35 g và cao 10 cm ! Nếu bị cù nhẹ vào trán, em
quay đầu lại và cau mày. Nếu ai đụng nhẹ vào môi em, em có phản xạ mút
và nuốt ngay. Thỉnh thoảng tay em lại đưa tới gần miệng để tìm cách mút.
Em có thể xếp khuỷu tay và cổ tay lại được; hơn thế nữa, em còn có thể
víu lấy một vật bé nhỏ. Vẫn tuổi đời 12 tuần lễ, toàn thân em đã có cảm
giác khi bị ai sờ vào, trừ phía sau lưng và hai bên đầu em (có thể để
phòng khỏi bị đau lúc sinh ra qua cửa mình người mẹ). Em uống nước màng
ối và tiêu hoá các chất dinh dưỡng, nhờ các tuyến nước bọt, và hệ tiêu
hoá. Em thở nhờ dây rốn của mẹ chuyền dưỡng khí cho em. Thỉnh thoảng, em
cũng tuỳ nghi xả ra bớt những thứ cặn bã của em.
|
|
Ðược
14 tuần lễ tuổi đời, em bé đó được 12 – 13 cm. Các đường nét trên cơ
thể của em trở nên ngày một tinh tế sắc sảo hơn. Từ tuần lễ thứ 15 – 16
trở đi, thân mình em sẽ phát triển với nhịp độ chậm lại, vì nếu em cứ
tăng trưởng theo nhịp đó� của các tuần lễ đầu, thì em sẽ cân nặng hơn 80
Kg lúc chào đời.
Lúc
tuổi đời em được 17 tuần lễ, tầm vóc cao của em đo được 20 cm và cân
nặng khoảng 140 – 150 g. Mẹ em cảm nhận rất rõ khi em quay cuồng nhào
lộn trong “buồng phi hành vũ trụ” của em. Ðối với mẹ em, đây là thời kỳ
an nhàn và hạnh phúc nhất trong toàn bộ giai đoạn thai nghén.
Khi
em bé đã tròn 5 tháng tuổi, kích thước của em là 30 cm và cân nặng 500
g! Tóc em bắt đầu mọc. Lông mi xuất hiện và em hình thành cả các tuyến
vú! Ðến lúc này, bác sĩ có thể làm được điện não đồ
(électroencéphalo-gramme) cho em rồi! Mẹ em biết rõ được chính xác vị
trí của em trong bụng mình. Em cũng có thể bị những cơn nấc cụt kéo dài
từ 15 đến 30 phút!
Bây giờ em bé đã có thể chào đời rồi đấy, nhưng đó là “sinh non”
Phó Tế Nguyễn Văn Tâm, DCCT
Tính Luân Lý Của Việc Tạo Sinh (tiếp theo…) - Giáo Huấn của Giáo Hội
17:47 |Tính Luân Lý Của Việc Tạo Sinh (tiếp theo…)
Chương II (tiếp theo)
IV. Giáo Huấn của Giáo Hội
1. Ðối với việc thụ tinh nhân tạo
Thụ
tinh nhân tạo là làm cho thụ tinh không phải bằng cách giao hợp tự
nhiên, mà là bằng những kỹ thuật hỗ trợ nhân tạo, máy móc, như dùng ống
tiêm để chuyển tinh trùng vào bên trong âm đạo của người phụ nữ. Nếu lấy
tinh trùng của một “đệ tam nhân vô danh” thì gọi là thụ tinh nhân tạo
dị hợp hay khác nguồn (Fécondation artificielle hétérologue). Nếu lấy
tinh trùng của chồng chì gọi là thụ tinh nhân tạo đồng hợp hay cùng
nguồn (Fécondation artificielle homologue). Có 3 trường hợp:
a. Thụ tinh nhân tạo dị hợp (khác nguồn – AID: Artificial Insemination with the Donor’s sperm)
Vào
năm 1949, Ðức Giáo Hoàng Pi-ô XII đã tuyên bố về việc thụ tinh nhân tạo
với tinh trùng của một người hiến vô danh (AID) là trái luân lý: “Sự
thụ tinh nhân tạo dị hợp nghịch với tính duy nhất của hôn nhân, với phẩm
giá của vợ chồng, với ơn gọi riêng của cha mẹ và với quyền của đứa trẻ
được thụ thai và sinh ra trong hôn nhân và do hôn nhân”.
Ngài
nói tiếp: “Luật của Chúa và luật tự nhiên tích cực công bố rằng sự
truyền sinh của đời sống con người mới chỉ là hậu quả của hôn nhân mà
thôi. Nhân phẩm của vợ chồng, sự thiện ích và giáo dục con cái được bảo
đảm chỉ có trong hôn nhân. Cũng vậy, việc thụ tinh nhân tạo bị kết án
nơi người vợ có chồng khi tinh trùng được lấy nơi người thứ ba chứ không
do chồng. Vợ chồng có quyền trên thân xác của nhau với mục đích truyền
sinh, cho dù vợ chồng đồng ý, việc thụ tinh nhân tạo cũng làm mất đi sự
ràng buộc hôn nhân lúc ban đầu, mà đúng ra sự ràng buộc luân lý và pháp
lý phải tồn tại giữa đứa con và cha mẹ như là kết quả tự nhiên của việc
truyền sinh trong hôn nhân”.
Thánh
Bộ Giáo Lý Ðức Tin, trong Huấn Thị Donum Vitae, đã khẳng định: “Việc
nhờ đến giao tử của người thứ ba, để có được tinh dịch hay noãn cầu, là
một sự vi phạm tới sự cam kết hỗ tương giữa vợ chồng và là một thiếu sót
trầm trọng đối với tính duy nhất là đặc tính thiết yếu của hôn nhân.
Việc thụ tinh nhân tạo dị hợp phạm tới quyền của đứa trẻ, lấy mất đi của
nó mối liên hệ với nguồn gốc là mối quan hệ con cái – cha mẹ… Việc đó
cũng xúc phạm tới ơn gọi chung làm cha, làm mẹ của đôi vợ chồng…, tước
đoạt tính duy nhất và tính toàn vẹn của khả năng sinh sản của hai vợ
chồng…”
Vậy, có thể đi đến kết luận đối với việc thụ tinh nhân tạo dị hợp như sau:
“Vậy
phải coi việc làm cho một người phụ nữ có chồng thụ tinh nhờ tinh dịch
của một người cho không phải là chồng mình, và việc dùng tinh dịch của
một người đàn ông để làm cho thụ tinh một noãn cầu không phải của vợ
mình là trái phép, xét về mặt đạo đức. Ngoài ra, việc thụ tinh nhân tạo
nơi một người phụ nữ không kết hôn, độc thân hay góa bụa, dù cho tinh
dịch là của ai đi nữa, cũng không thể biện minh được về mặt đạo đức”.
b. Thụ tinh nhân tạo đồng hợp (cùng nguồn – AIH: Gọi là Artifical Insemination with the Husband’s sperm)
Giáo
Hội cũng lên án hành vi thụ tinh nhân tạo với tinh trùng của người
chồng (AIH), vì nó trái luân lý. Giáo huấn của Giáo Hội cũng dựa trên
tính chất đặc thù của việc vợ chồng và của sự tạo sinh con người. Ðức
Pi-ô XII nói:
“Trong
cơ cấu tự nhiên của nó, việc vợ chồng là một hành vi riêng tư, hai
người đích thân trực tiếp cộng tác với nhau, do bản chất của các tác
nhân và do tính chất của hành vi, việc này biểu lộ một sự hiến dâng
người nọ cho người kia, làm cho họ kết hợp nên một thân một xác như lời
Kinh Thánh”.
Trong
diễn văn tại Ðại Hội Thế giới lần II ở Naples về khả năng sinh sản và
không sinh sản (Fécondité et là stérilité) của con người, ngày
19.5.1956, Ðức Pi-ô XII đã nói: “Không bao giờ được tách rời các khía
cạnh của việc vợ chồng và các điều tốt lành của hôn nhân, đến độ tích
cực loại bỏ hoặc ý định tạo sinh, hoặc việc giao hợp”.
Ðức
Phao-lô VI cũng bác bỏ hình thức thụ tinh này (AIH) dựa trên ý định của
Thiên Chúa muốn liên kết hai ý nghĩa của việc vợ chồng, đó là kết hợp
và tạo sinh. Ngài nói:
“Kết
hợp và tạo sinh, bằng một mối dây không thể tháo gỡ và con người không
thể tự ý phá bỏ. Trong thực tế, việc vợ chồng, do cấu trúc thâm sâu của
nó, kết hợp hai vợ chồng bằng một mối dây liên kết rất sâu sắc, khiến họ
đủ khả năng tạo nên những đời sống mới, theo các luật lệ đã được ghi
tạc trong chính hữu thể của người nam và người nữ. Chính bằng cách bảo
vệ hai khía cạnh chính yếu: kết hợp và tạo sinh, mà việc vợ chồng giữ
trọn được ý nghĩa yêu thương lẫn nhau một cách đích thực và duy trì sự
qui hướng về ơn gọi cao quí làm cha mẹ của con người”.
Cũng
theo chiều hướng giáo huấn đó, Ðức Gio-an Phao-lô II, trong buổi tiếp
kiến chung ngày 16.1.1950, đã nói rằng: “Hai vợ chồng biểu lộ cho nhau
tình yêu riêng của họ trong “ngôn ngữ thể xác”, nó bao gồm rõ rệt “những
ý nghĩa phu phụ” cùng với những ý nghĩa phụ mẫu” . Và trong diễn văn
tại Hiệp Hội các Thầy thuốc thế giới khóa 35, ngày 29.10.1983, Ngài đã
nói: “Con người bắt nguồn từ một sự tạo sinh nối liền với sự kết hợp
không những sinh lý mà còn thiêng liêng của cha mẹ, là những người được
kết hợp nhờ dây liên kết hôn nhân”.
Chính
Công đồng Va-ti-ca-nô II, trong Hiến Chế GS. 51, cũng đã nói: “Chính
những hành vi đặc thù của đời sống vợ chồng, được thực hiện đúng theo
phẩm giá đích thực của con người, đều phải được kính cẩn tôn trọng…
những tiêu chuẩn ấy sẽ tôn trọng ý nghĩa trọn vẹn của sự trao hiến và
sinh sản con cái trong khung cảnh tình yêu đích thực.”
Bộ
Giáo Luật 1983, điều 1061, khoản 1, nói rằng: “Hôn nhân gọi là thành
nhận và thành toại, nếu đôi bên đã theo cách thức hợp với nhân tính thực
hiện tác động phu thê tự nó có khả năng sinh sản con cái; tác động này
là mục tiêu tự nhiên của hôn nhân và làm cho vợ chồng trở thành một
xương một thịt.”
Vậy,
con người phải được đón nhận trong cử chỉ kết hợp và yêu thương của cha
mẹ, do đó, việc tạo sinh một đứa bé phải là hoa trái của sự dâng hiến
người nọ cho người kia, việc dâng hiến này được thực hiện trong việc vợ
chồng, trong đó, hai người cộng tác vào công trình của tình yêu sáng tạo
như người tôi tớ, chứ không phải như kẻ làm chủ.
c. Việc chuyển tinh dịch:
Khi
Ðức Pi-ô XII lên án hình thức thụ tinh nhân tạo khác nguồn (AID) và
cùng nguồn (AIH), thì Ngài lại để ngỏ một hình thức gọi là “phương tiện
nhân tạo nhằm giúp cho hành vi vợ chồng đạt được cứu cánh của nó”. Ngài
nói: “Không nhất thiết cấm đoán việc sử dụng một số phương tiện nhân tạo
chỉ nhằm giúp cho hành vi tự nhiên dễ dàng hoặc chỉ giúp cho hành vi tự
nhiên thực hiện bình thường, đạt được cứu cánh của nó”.
Có
lẽ từ lời nói này của Ðức Pi-ô XII, Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin, trong
Huấn Thị Donum Vitae, đã nói rằng: “Việc truyền tinh nhân tạo đồng hợp
bên trong hôn nhân, không thể chấp nhận được, trừ trường hợp người ta
không dùng phương tiện kỹ thuật để thay cho việc giao hợp, nhưng chỉ coi
nó như một trợ cụ, giúp cho việc giao hợp được dễ dàng và đạt được cứu
cánh riêng của nó”
Tuy
nhiên, vấn đề đặt ra là hình thức lấy tinh dịch như thế nào để được coi
là hợp luân lý? Ðây là một vấn nạn đang được tranh luận nhiều giữa các
nhà thần học. Chúng ta sẽ tìm hiểu vấn đề này trong phần quan điểm của
các thần học gia dưới đây. Ở đây, lập trường của Huấn Quyền Giáo Hội thì
đối với những tiến trình nào lấy tinh dịch của người chồng để cho thụ
tinh với trứng nơi người vợ bằng cách giao hợp với bao cao su, giao hợp
nửa chừng hay thủ dâm, thì bị coi là trái luân lý và bị cấm. Ðức Pi-ô
XII đã bác bỏ mọi hình thức thụ tinh cùng nguồn mà trong đó tinh dịch
được cung cấp từ những hành vi đi ngược với tự nhiên.
Thánh
Bộ Giáo Lý Ðức Tin nói: “Nếu phương tiện kỹ thuật làm cho việc giao hợp
dễ dàng hay giúp nó đạt được những mục tiêu tự nhiên của nó, phương
tiện đó có thể được chấp nhận về mặt đạo đức. Ngược lại, nó không hợp
đạo đức, nếu nó thay thế việc giao hợp. Việc truyền tinh nhân tạo thay
thế việc vợ chồng bị cấm đoán, vì có sự cố tình tách biệt hai ý nghĩa
của vợ chồng. Việc thủ dâm thường làm để có tinh dịch, là một dấu chỉ
khác của sự tách biệt nói trên: ngay cả khi làm vì mục đích tạo sinh,
thủ dâm vẫn mất cái ý nghĩa kết hợp của nó”.
Bộ
Giáo Lý Ðức Tin cũng bác bỏ hình thức thủ dâm trên đây, bởi vì: “Nó
thiếu cái quan hệ vợ chồng mà đạo đức đòi hỏi, quan hệ thực hiện được ý
nghĩa trọn vẹn của việc dâng hiến hỗ tương và tạo sinh con người, trong
một tình yêu chân thực”.
2. Ðối với việc thụ tinh trong ống nghiệm (In Vitro Fertilization)
Trong
bài nói chuyện với những thành viên của Ðại Hội Thế Giới lần thứ II về
sự thụ thai và son sẻ ngày 19.5.1956, Ðức Pi-ô XII đã lên án là vô luân
đối với hình thức thụ tinh trong ống nghiệm. Ngài nói: “Về những thí
nghiệm thụ tinh thai nhi trong ống nghiệm nhân tạo phải bị loại bỏ như
một điều vô luân và tuyệt đối bất hợp pháp”. Ðức Gio-an XXIII đã cấm
dùng các phương pháp tạo sinh không phù hợp với nhân phẩm con người.
Ngài nói:
“Thiên
nhiên đã trao việc thông truyền sự sống con người cho một hành vi, được
thực hiện bởi một chủ thể ý thức – và do đó bị chi phối bởi các luật
rất thánh của Thiên Chúa: các luật có tính bất khả xâm phạm và bất biến
này phải được nhìn nhận và tuân giữ. Vì vậy, không được dùng các phương
tiện và các phương pháp luật cho phép dùng trong việc truyền sinh các
thảo mộc và cầm thú”.
Sở dĩ Giáo Hội cấm hình thức thụ tinh trong ống nghiệm là vì nhiều lý do:
-
Vì phương pháp lấy tinh trùng khỏi người chồng liên quan đến hình thức
dùng bao cao su, giao hợp nửa chừng, hay thủ dâm, vốn đã bị Giáo Hội lên
án.
-
Tiến trình thụ tinh trong ống nghiệm tách biệt hành vi hôn nhân khỏi sự
truyền sinh. Ngay cả khi tinh trùng được lấy cách hợp pháp thì hình
thức thụ tinh trong ống nghiệm cũng bị cấm chỉ. Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin
khẳng định:
“Theo
Giáo Lý truyền thống về các điều tốt lành của hôn nhân và phẩm giá của
con người, Giáo Hội đứng ở quan điểm đạo đức vẫn chống việc thụ tinh
trong ống nghiệm; việc này tự nó trái với luật đạo đức và đi ngựơc lại
phẩm giá của việc tạo sinh và của sự kết hợp vợ chồng, ngay cả khi người
ta làm mọi cách để tránh việc sát hại phôi thai người”.
-
Vì việc thụ tinh trong ống nghiệm chỉ là kết quả của kỹ thuật và kỹ
thuật chủ trì việc thụ tinh. Do đó, nó không được Giáo Hội chấp nhận.
Bởi vì:
“Nó
không thực sự có được, cũng không tích cực được mong muốn như là sự
biểu thị và hoa trái của một hành vi đặc thù của sự kết hợp vợ chồng.
Như vậy, trong việc thụ tinh trong ống nghiệm đồng hợp, ngay cả xét
trong bối cảnh của những việc giao hợp thực sự, việc tạo sinh con người,
khách quan mà nói, thiếu sự hoàn thiện riêng của nó: đó là nó phải là
đích điểm và hoa trái của một việc giao hợp, trong đó hai vợ chồng có
thể trở thành “cộng tác viên của Thiên Chúa” trong việc thông ban sự
sống cho một nhân vị mới”.
-
Vì việc thụ tinh trong ống nghiệm dẫn đến một sự “thặng dư” phôi thai,
bị hủy bỏ hoặc cho đông lạnh, nhiều phôi sẽ bị hy sinh vì những lý do ưu
sinh, kinh tế hay tâm lý… hoặc đem dùng làm vật thí nghiệm. Các kỹ
thuật hay hình thức này gây thiệt hại cho sự toàn vẹn của sự sống phôi
thai và do đó, Giáo Hội lên án: “Các phương thức đó trái với phẩm giá
con người có nơi phôi thai và đồng thời phạm tới quyền của mọi người
được thụ thai và sinh ra trong hôn nhân và do hôn nhân”.
3. Ðối với việc sinh sản vô tính trên con người (Human Cloning)
Ðây
là một vấn đề lớn vừa mới phát sinh trong những năm gần đây. Do đó,
chúng ta chỉ có Giáo huấn của Vị Giáo Hoàng đương nhiệm là Ðức Gio-an
Phao-lô II và của ủy ban Giáo Hoàng Học Viện về sự sống cũng như của
Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin.
Trong
phương pháp tạo sinh dòng vô tính, ta nhận thấy có liên quan đến vấn đề
sản xuất phôi thai, lấy tế bào gốc và việc cấy ghép cơ phận. Do đó, ta
sẽ lần lượt tìm hiểu xem Giáo Huấn của Giáo Hội nói gì về các vấn đề đó.
Việc sinh sản vô tính nơi con người là một hành động không thể chấp
nhận được về mặt luân lý. Bởi vì, phương pháp này nảy sinh ra nhiều hậu
quả nghiêm trọng, không chỉ về thể lý hay tâm lý, mà còn ảnh hưởng trực
tiếp đến lãnh vực luân lý đạo đức. Do đó, Giáo Hội lên án phương pháp
này.
Phản
ứng chống lại cuộc thí nghiệm sinh sản vô tính một phôi thai người đầu
tiên do Công ty Mỹ tiến hành được công bố trên truyền ngày 25.11.2001,
tại Va-ti-can ngày 28.11.2001, Ðức Gio-an Phao-lô II đã nói:
“Sinh
sản vô tính là một mối nguy lớn cho sự sống… Chủ nghĩa nhân đạo thực sự
có thể không bao giờ cho phép những phương pháp và những cuộc thí
nghiệm, là những mối đe dọa có chương trình cách hệ thống và khoa học,
chống lại sự sống con người. Hãy bảo vệ không khoan nhượng sự sống và
giá trị con người trong việc tôn trọng luật luân lý”. Ngài nói tiếp:
“Mọi thủ thuật nhằm thương mại hoá bộ phận con người hay xem chúng như
vật đổi chác hay mua bán đều không thể chấp nhận được về mặt luân lý, vì
rằng sử dụng thân thể như một “đồ vật” là phạm đến phẩm giá của con
người, dẫu cho mục đích có tốt đi nữa thì những cách xử lý đó cũng vẫn
là bất hợp pháp về mặt luân lý”.
Chính
Ðức Phao-lô VI đã khẳng định: “Con người phải tôn trọng luật của quá
trình sinh sản, ấy là nhìn nhận mình không phải là chủ nhân ông của
nguồn sống nhân loại mà chỉ là thừa tác viên cho ý định của Tạo Hóa. Vì
con người ta không có toàn quyền về thân xác mình thế nào, thì với một
lý do đặc biệt hơn nữa, cũng không có toàn quyền về những khả năng sinh
sản, chúng thuộc về lưu truyền sự sống, mà Thiên Chúa là nguyên tắc.
“Sinh mạng con người phải được coi như là sự thánh” – Lời huấn từ của
Ðức tiền nhiệm Gio-an XXIII – vì ngay từ khởi nguyên, nó trực tiếp kêu
gọi đến tác động tạo thành của Thiên Chúa”.
Vì
phương pháp sinh sản vô tính cũng bao hàm các kỹ thuật truyền sinh nhân
tạo, mà các kỹ thuật này đều bị Giáo Hội lên án, vì lý do phản lại đạo
đức – luân lý. Trong Thông Ðiệp Tin Mừng về Sự sống, Ðức Gio-an Phao-lô
II nói: “Ngày nay, các kỹ thuật truyền sinh nhân tạo khác nhau, là những
kỹ thuật dường như phục vụ sự sống… thực tế cũng đang mở ra những thách
thức mới chống lại sự sống. Ngoài việc các kỹ thuật này không thể chấp
nhận được về mặt luân lý, bởi vì chúng tách rời sự truyền sinh thuộc
lãnh vực hoàn toàn nhân bản khỏi hành vi vợ chồng, chúng còn có tỷ lệ
thất bại cao, không những trong việc thụ tinh mà còn trong việc phát
triển sau này của phôi, có nguy cơ tử vong, thời gian thường là rất
ngắn…”.
Trong
diễn từ tại Hội Nghị Quốc Tế Về Cấy Ghép diễn ra tại Rô-ma, ngày
29.8.2000, Ðức Gio-an Phao-lô II nói: “Trong mọi biến cố, các phương
pháp không kính trọng phẩm giá và giá trị của con người phải luôn luôn
bị loại bỏ. Tôi đang đặc biệt nghĩ đến những toan tính dùng phương pháp
sinh sảnh vô tính trên con người nhằm có những cơ quan để cấy ghép:
Những kỹ thuật này, trong mức đó� chúng liên quan đến việc sử dụng và
phá hủy những phôi thai con người, không thể chấp nhận được về mặt đạo
đức – luân lý, dù khi những mục tiêu đề ra tự nó là tốt”.
Cũng
trong diễn từ này, Ngài cũng khẳng định mục đích căn bản của y khoa là
phục vụ sự sống con người, nhưng nó vẫn có những giới hạn, do đó, y khoa
phải được thực hiện theo một tiêu chuẩn căn bản liên quan đến phương
diện nhân loại học và đạo đức học. Ngài nói: “Mục đích căn bản của y
khoa là phục vụ sự sống con người… Trong phạm vi của khoa học y khoa,
tiêu chuẩn căn bản phải là sự bảo vệ và cổ võ sự thiện hảo toàn diện của
con người, phù hợp với phẩm giá độc nhất là phẩm giá của chúng ta do
bởi nhân tính chúng ta. Bởi vậy, hiển nhiên là mọi tiến trình của y khoa
được thực hiện trên con người đều có giới hạn: không chỉ những giới hạn
về khả năng kỹ thuật mà còn những giới hạn được xác định bởi lòng kính
trọng đối với chính nhân tính, hiểu trong sự toàn vẹn của nó: “Ðiều gì
có thể về mặt kỹ thuật, thì không vì lý do đó mà có thể chấp nhận về mặt
đạo đức”.
Phó Tế Nguyễn Văn Tâm, DCCT
Tính Luân Lý Của Việc Tạo Sinh (tiếp theo…) - Truyền Thống Giáo Hội
17:43 |
Tính Luân Lý Của Việc Tạo Sinh (tiếp theo…)
Chương II (Tiếp Theo) II. Truyền Thống Giáo Hội
Trong
Truyền Thống Giáo Hội, các Giáo Phụ đề cập nhiều về vấn đề phá thai.
Còn vấn đề tạo sinh nhân tạo, như đã có lần nói trên đây, là một vấn đề
rất là mới mẽ. Nó chỉ mới nảy sinh ra trong những thập niên gần đây,
cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng như nghành sinh – y
học. Do đó, trong Truyền thống Giáo Hội, các Giáo Phụ chưa phải đối diện
với vấn đề này. Tuy nhiên, chúng ta cũng tìm thấy một vài lời dạy chỉ
dẫn quan trọng liên quan đến vấn đề. Từ những buổi đầu, Truyền Thống
sống động của Giáo Hội đã nhắc lại một cách dứt khoát giới răn “ngươi
không được giết người”, như quyển Didachè, tác phẩm Ki-tô giáo ngoài bộ
Kinh Thánh cổ xưa nhất, đã chứng tỏ điều ấy rằng: “Có hai con đường, một
con đường của sự sống, một con đường của sự chết, nhưng sự khác nhau
giữa hai con đường này rất lớn […}. Giới răn thứ hai của đạo lý: Ngươi
chớ giết người […}, ngươi chớ giết con bởi phá thai và ngươi sẽ không
được làm cho nó chết sau khi nó sinh ra […}. Còn đây là con đường của sự
chết: nhẫn tâm đối với người nghèo, dửng dưng đối với người đau khổ,
không biết đến Ðấng Tạo Hóa của mình, những điều đó làm thất bại công
trình của Thiên Chúa… đó là những kẻ tội lỗi thâm canh cố đế. Ước gì các
con có thể tránh xa tất cả những điều ấy”. Cũng từ thế kỷ thứ nhất,
Giáo Hội đã khẳng định sự xấu xa về luân lý đối với bất cứ hình thức hủy
diệt sự sống nào: “Ngươi không được giết phôi thai bằng việc làm sẩy
thai và ngươi không được hủy hoại kẻ sơ sinh”. Giáo Phụ Tertuliano (thế
kỷ II) đã khẳng định: “Chỉ cần cản trở sinh ra thì đã là kẻ giết người
rồi, người ta tước đoạt sự sống đã sinh ra hay là người ta hủy diệt nó
trong lúc nó sinh ra thì không có gì khác biệt nhau cả. Cái phải trở
thành một con người thì đó là một con người rồi”. Năm 195, Clément thành
Alexandria đã nói: “Do thiết chế, Thiên Chúa đã làm ra liên quan đến
việc sinh sản của nhân loại, tinh trùng không được xuất ra một cách vô
hiệu năng, cũng không được làm cho nó hư đi, cũng không được lãng phí”
Năm 419, trong khoảng thời gian chưa thoát hẳn ảnh hưởng của thuyết nhị
nguyên, thánh Augustinô đã tuyên bố: “Sẽ là một niềm vui lớn lao nếu vợ
chồng có thể có con cái mà không cần sống chung”. Chắc chắn là ngài
không thể thấy trước được rằng khoa học kỹ thuật về sau có thể “sao
chép” một con người mà không hoạt động giới tính. Nhưng, theo ngài, con
người không được tự do xâm phạm sự sống. Ngài nói: “Tự do đầu tiên là
không phạm tội ác… như giết người… và mọi hình thức thuộc loại đó”. Sách
Ngụy Thư của Barnabas nói rằng: “Bào thai được coi như người đồng loại.
Bởi thế, bất cứ sự tấn công trực tiếp nào đối với sự sống của nó, thì
đó là tấn công Thiên Chúa, Ðấng đã tạo dựng và yêu thương nó. Ngươi phải
yêu thương đồng loại như chính bản thân ngươi. Ngươi sẽ không được giết
đứa trẻ…”. Thánh Tomas Aquinô (1225 – 1274) đã viết trong “Tổng Luận
Thần Học Chống Kẻ Ngoại”, rằng: “Thiên Chúa chăm sóc mọi sự để mang đến
sự tốt lành. Vậy, mọi sự tốt lành hệ tại ở việc đạt được mục đích riêng
của nó. Sự dữ lấy đi khỏi mục đích chính đáng ấy. Ðiều này tốt cho cả
hai toàn phần hay từng phần, để rồi mỗi phần của con người và mọi hành
vi của nó phải đạt tới mục đích chính đáng. Vậy, tinh trùng của người
nam, dù nó rất phong phú nơi mỗi cá nhân, thì nó cũng rất cần thiết để
duy trì nòi giống… Vì thế, sự gieo tinh trùng phải mang theo hậu quả
mang thai và sinh con. Thật rõ ràng rằng sự gieo tinh trùng trong cách
thế ấy nếu không có ý mang đến hậu quả là nghịch với sự thiện ích con
người. Và nếu có ý làm như vậy thì mắc tội. Ðây có ý nói tới cách thức
mà không thể có sự truyền sinh như sự gieo tinh trùng không theo cách
thức vợ chồng ăn ở tự nhiên. Trái lại, ăn ở bình thường mà không có sự
truyền sinh do khuyết tật thì không nghịch với tự nhiên và cũng không
mắc tội. Thí dụ người vợ son sẻ…”. Thánh Francis de Sales (1567 – 1622)
đã viết: “Những quan hệ vợ chồng thì rất thánh thiện đến nỗi rất khuyên
làm để mưu ích chung. Tuy nhiên, nếu xâm phạm đến trật tự đã lập để sinh
con thì mắc tội rất nặng. Trong trường hợp đó, tội luôn luôn là nặng và
đáng ghét tùy theo mức độ lệch ra khỏi trật tự này…”. III. Quan Ðiểm
của các Thần Học Gia và Học Giả 1. Ðối với vấn đề thụ tinh nhân tạo a)
Ðối với việc thụ tinh cùng nguồn (AIH) Theo thần học gia B. Haring,
“trong tình trạng vấn đề hiện nay, xem ra một cặp vợ chồng ước muốn có
con và thực sự thấy rằng phương pháp thụ tinh có trong giúp không được
như ý, sẽ không làm điều gi sai khi nhờ đến AIH”. Theo linh mục Th.
Rey-Mermet, DCCT, thì: “Sự thụ tinh nhân tạo được gọi là đồng nhất khi
tinh trùng được lấy từ người chồng, khi ấy đứa bé hoàn toàn là con của
đôi vợ chồng. Em có dồi dào “gien” như những đứa bé khác, nghĩa là có
những đặc tính di truyền của hai cha mẹ em. Ngày nay, các luân lý gia
đồng ý bào chữa việc thụ tinh nhân tạo đồng nhất, trong trường hợp cần
thiết, nghĩa là bằng tinh trùng của người chồng để tránh cho đôi vợ
chồng yêu thương nhau không đau khổ vì không có con. Sự can thiệp y học
này hẳn không phải là một sự giao hợp âu yếm giữa vợ chồng, tuy thế, nó
vẫn là hoàn toàn tình yêu cho tất cả mọi người trong cuộc, kể cả đứa con
sắp sinh ra? Vậy thì nó phù hợp cách tuyệt vời với bản tính nhân loại
và do đó cũng phù hợp với luật tự nhiên”. Trong chiều hướng đó, theo
Karl H. Peschke, các phương pháp giúp cho việc thụ tinh được dễ dàng hơn
đó là dùng một cái muỗng để đưa tinh trùng vào cửa mình, hoặc dùng một
ống tiêm trong đó có đưa tinh dịch của người chồng, sau một lần giao hợp
bình thương giữa hai người, để đưa vào âm đạo của người vợ, thì được
phép sử dụng các phương pháp này. Vấn đề đặt ra là cách thức lấy tinh
dịch từ người chồng để cho thụ tinh nơi người vợ qua việc thủ dâm, giao
hợp nửa chừng hay giao hợp với bao cao su. Các phương pháp này đã bị
Huấn Quyền Giáo Hội (Ðức Pi-ô XII) lên án, vì chúng cung cấp tinh dịch
từ những hành vi ngược tự nhiên. Tuy nhiên, về mặt thực tiễn, thủ dâm là
phương cách dễ dàng và an toàn nhất để cung cấp tinh dịch cần thiết. Do
đó, theo Linh Mục Mark, CMC, “thủ dâm để lấy tinh dịch coi như thiếu
trật tự liên kết hành vi vợ chồng trong hôn nhân. Tuy nhiên, nó hợp pháp
khi không chủ ý tách rời, nhưng vì chủ ý giúp việc thụ thai đạt được
tiến trình tự nhiên”. Theo cha Rey-Mermet, thì: “Việc thủ dâm cần thiết
trong trường hơp này thì không phải là một “tật xấu làm một mình”: nó là
quan hệ yêu đương với người vợ, là quan hệ dâng hiến và sáng tạo sự
sống; nó dẫn vào một “toàn thể” là trật tự giới tính bình thường của con
người. Ngày nay, các nhà thần học có vẻ không lên án việc thủ dâm này. Ý
muốn có tính liên hệ và sáng tạo chắc chắn hiện diện trong việc làm này
hơn là trong nhiều cuộc giao hợp thân xác “bình thường”. Và ai là người
được mong mỏi hơn là đứa trẻ sắp sinh ra?”. Bởi vậy, Karl H. Peschke
nói rằng: “Chức năng sinh sản của hành vi tính dục ở đây không hề bị phá
hỏng, mà còn được hỗ trợ là khác. Mục đích trực tiếp của việc thụ tinh
này là thụ thai. Bao lâu vợ chồng còn muốn có con vì tình yêu giữa hai
người, thì hành vi tính dục ấy vẫn còn đầy đủ ý nghĩa, nó là sự biểu
hiện của tình yêu ấy. Hiểu như thế, hẳn vợ chồng sẽ đánh giá tốt việc
thụ tinh này. Hai mục tiêu của tính dục đã được bảo đảm trong việc thụ
tinh cùng nguồn. Mới nhìn qua, cung cấp tinh dịch như thế không khác lắm
với việc thủ dâm hay làm như Onan. Thế nhưng, nó hoàn toàn khác hẳn.
Ðây chính là lý do giải thích tại sao có sự hiểu lầm khi đánh giá việc
thụ tinh này”. Và cuối cùng, cha B. Haring, DCCT, đã khẳng định: “Không
có lập luận mạnh mẽ nào chứng tỏ sự xuất tinh của người chồng để có con
hay việc đưa tinh trùng vào tử cung của người vợ là vô luân”. Ðó cũng là
ý kiến của các nhà thần học như: Rodrer Van Allen, F. Podimattam,
George V. Lobo, A. Regan… b) Ðối với việc thụ tinh khác nguồn (AID) Vấn
đề thụ tinh nhân tạo với tinh trùng của một người hiến vô danh, dù ngoài
hôn nhân hay trong hôn nhân, đều bị coi là vô luân. Các nhà thần học
luân lý Công Giáo đều nhất trí với kết luận này. Cha B. Haring nói rằng:
“Việc mua tinh trùng ở một ngân hàng tinh trùng để cho thụ tinh nhân
tạo là một việc trái luân lý, không những vì đứa bé có cha vô danh và
nguy cơ đồng huyết, nhưng cũng bởi vì nó tách biệt hẳn mục đích hoà hợp
và sinh sản của hôn nhân. AID còn có thể gây nhiều xáo trộn cho các mối
tương quan trong gia đình, đặc biệt về phía người mẹ”. Kark H. Peschke
cũng khẳng định rõ về việc thụ tinh khác nguồn thì bất hợp pháp. Theo
ông, đứa con được thụ thai trong trường hợp đó là con bất hợp pháp và
nếu sinh ra do một người đã kết hôn, thì đó là con ngoại tình. Tất cả
những lý do nào đã được đưa ra để chống lại việc sinh con bất hợp pháp
và ngoại tình đều có thể áp dụng ở đây, chống lại việc thụ tinh khác
nguồn. Chỉ có hôn nhân mới bảo vệ được phẩm giá người phụ nữ, mà theo sự
thường phải trở thành một người mẹ. Cũng vậy, chỉ có hôn nhân mới tạo
điều kiện đủ để cho con cái được an sinh và giáo dục. Ðối với người cha
hợp pháp, người con ấy chỉ là con ghẻ, đôi khi còn tệ hơn nữa. Ðứa con
ấy sẽ là lời nhắc nhở thường xuyên về sự bất lực của người cha ấy, một
lời nhắc nhở làm ông cảm thấy nhục nhã. Còn đối với người mẹ, đứa con ấy
sẽ không đem lại niềm vui. Bà cảm thấy người cha của đứa con ấy là một
người hoàn toàn xa lạ đồi với mình. Ðứa con sinh ra do người khác cho
hầu chắc sẽ trở thành nguồn nhục mạ, ghen tuông và lo lắng. Theo thần
học gia Gregory C. Higgins, đối với phương pháp AID, nhiều nhà thần học
luân lý e ngại rằng trong trường hợp của một cặp vợ chồng, việc đưa tinh
dịch của đệ tam nhân vào hoạt động thụ thai của vợ chồng thì đã phạm
đến luật hôn nhân. Trong trường hợp của người phụ nữ độc thân, các nhà
phê bình cáo buộc rằng thật là bất công khi đứa trẻ được sinh ra mà nó
không có quyền biết ai là cha của nó. Về mặt thực tế, đứa trẻ mang nhiều
mối bất lợi khi không có những thông tin liên quan đến những nguồn
bệnh-sử, điều này có thể rất quan trọng trong cuộc đời sau này của
chúng. Các nhà luân lý cũng rất lo lắnng về những hoạt động của việc
hiến tinh: Việc hiến tinh hoặc việc bán tinh trùng thường sinh ra một
đứa trẻ mà người ta sẽ không bao giờ biết đứa con đó có hợp với đạo đức
hay không? Một nhận định cuối cùng có thể tác động đến nhiều người ra
như thể hoàn toàn khó tin, ngoại trừ trường hợp đã xảy ra rồi. Một người
hiến tinh có thể thực sự là người cha của rất nhiều đứa con cùng huyết
thống với ông. Trong một trường hợp nổi tiếng, một bác sĩ chuyên thụ
tinh nhân tạo đã dùng chính tinh trùng của ông để cấy vào bệnh nhân của
ông. Ðiều này có thể sinh ra nhiều trường hợp anh chị em cùng cha khác
mẹ hoặc cùng mẹ khác cha sau này cưới nhau mà không biết. Cha Th.
Rey-Mermet, DCCT, cũng nói về việc thụ tinh khác nguồn rằng: “Ðứng về
mặt di truyền thì kết quả của thao tác này sẽ là một đứa con ngoại hôn,
nó là con của người vợ chứ không phải là của người chồng… Vấn đề căn bản
là bình diện luân lý, làm sao có thể chấp nhận sự nắn lại những quan
niệm – và những thực tại- về giới tính, về hôn nhân, về quan hệ cha, mẹ,
con cái, về quan hệ bà con, về gia đình? Bán và mua tinh trùng nhân
loại như bán và mua hạt giống rau cải hay bông hoa… như thế là quên rằng
con người là một nhân vị, là quên rằng không xã hội nào có thể để hôn
nhân và việc sinh sản theo tuỳ tiện của những tư nhân. Ðối với người tín
hữu, những điều này là công việc trực tiếp của Thiên Chúa: Con người
không có quyền hành gì để thay đổi nó. Còn cái gọi là quyền của những bà
goá, của những người độc thân và những người không sinh sản được, thì
quyền ấy đã bị huỷ bỏ bởi quyền đầu tiên của đứa trẻ là được sinh ra
trong một gia đinh thật sự của một cặp vợ chồng”. Thật vậy, bằng cách
thụ tinh nhân tạo này, chấm dứt ý nghĩa hôn nhân trong đó hai người trở
nên một xương một thịt. Hai người không còn định liệu số con theo ý
muốn. Phương tiện kỹ thuật tấn công thẳng vào trật tự do Thiên Chúa tác
thành cho hôn nhân và vào chính phẩm chất của con người trong tình yêu
hôn nhân. 2. Ðối với việc thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) Về phương pháp
IVF, không phải tất cả các bệnh viện đều thực hiện phương pháp IVF để
làm đông lạnh các phôi thai; một số bệnh viện chỉ thực hiện việc thụ
thai ở một số trứng, đồng thời đưa tất cả các trứng được thụ tinh vào cơ
thể người phụ nữ, nhiều người lo ngại về tiến trình này có thể nảy sinh
ra lắm vấn đề. Trước tiên, quá trình làm tan lạnh có thể gây ra nhiều
hiểm hoạ: có từ 30% đến 40% trứng không thể sống sót nổi. Liệu điều kiện
bất thường như thế có làm cho việc đông lạnh những trứng đã thụ tinh
rồi trở thành hành vi vô luân hay không? Thứ đến, giả sử hai trong ba
trứng đậu thai và người đàn bà sinh ra được hai đứa con mạnh khoẻ, sau
đó vợ chồng họ không muốn sinh con nữa. Vậy, điều gì sẽ xảy đến cho hai
trứng đông lạnh đã được thụ tinh rồi? Nó có thể được dùng để nghiên cứu
hay không? Nó có thể bị phá huỷ hay không? Ðiều này đặt ra nhiều vấn đề
về tình trạng của những phôi thai đông lạnh mà người ta thấy có một mối
liên hệ trực tiếp giữa những cuộc tranh luận về các kỹ thuật truyền sinh
với vấn đề phá thai. Theo cha B. Haring, DCCT. ý nghĩa của việc thụ
tinh trong ống nghiệm có thể rất khác biệt nếu trong một trường hợp được
thực hiện vì mục tiêu nghiên cứu với ý định sẽ loại bỏ phôi thai và một
giai đoạn nhất định của cuộc thí nghiệm, và trong trường hợp khác, được
thực hiện để trợ giúp các đôi vợ chồng muốn có con và với ý đinh cấy
trứng thụ tinh vào dạ mẹ ở giai đoạn sớm nhất có thể. Các nhà khoa học
biện minh cho các cuộc thí nghiệm như vật với lý do sẽ giúp khoa phôi
thai học tiến bộ và qua đó phục vụ sự sống con người. Tuy nhiên, những
hy vọng về những lợi ích y khoa về sau không bù đắp được những xâm phạm
kinh khủng đối với mạng sống con người. Thụ tinh trong ống nghiệm với ý
định cấy trứng đã thụ tinh vào tử cung người mẹ có thể được xét theo một
nguyên tắc như đối với thụ tinh nhân tạo với tinh trùng của người
chồng. Tuy nhiên, khả năng sống còn và phát triển bình thường của trứng
được thụ tinh cho đến nay vẫn còn rất mong manh và tỷ lệ thành công rất
thấp. Vì thế, rất khó tán đồng. Theo cha Th. Rey-Mermet, DCCT. sự mong
muốn có con là sự ước muốn rất chính đáng của kẻ làm cha mẹ. Tuy tỷ lệ
thất bại còn rất cao, những thao tác trên trứng con người cũng có lý do
chính đáng để thực hiện trong mức độ nó được dùng để phục vụ sự sống và
tình yêu giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái, với điều kiện là những
thao tác này không biến thành những cuộc thí nghiệm và coi bào thai chỉ
là một chất liệu của phòng thí nghiệm. Tuy nhiên, nó cũng dễ đưa tới
những lạm dụng không thể tha thứ được. Những trứng đã có được bằng thụ
tinh trong ống nghiệm có thể đem cất trong các ngân hàng hay cấy lại vào
những người đàn bà khác mà không phải là người mẹ; hoặc là các trứng ấy
được cắt ra làm đôi hầu có thể có những cặp sinh đôi, mà người ta có
thể làm cho sinh ra cách khoảng nhau 5 hay 10 năm. Phải ngăn chặn ngay
những hành động thí nghiệm đó, bởi vì, đó là một dạng khoa học vô lương
tâm. Quả vậy, như William E. May đã nói: “Việc tạo ra phôi thai người
trong ống nghiệm như một sự nghiên cứu là việc làm hoàn toàn phi luân”.
Nguồn ngọn của một con người – giây phút ban đầu của việc người ấy hiện
hữu phải là hoa trái của một hành vi do tình yêu của cha mẹ thúc đẩy.
Ðứa con sinh ra không thể được thụ tinh như là một sản phẩm do việc can
thiêp của các kỹ thuật y học và sinh học mà ra. Không ai được đặt việc
ra đời của một đứa bé vào những điều kiện của tính hữu hiệu kỹ thuật
được đó lường bằng những thông số kiểm tra và chế ngự. Việc thụ tinh
trong ống nghiệm là một việc làm mất đi cá tính người. Trong khi mà tình
yêu phải được biểu lộ qua thân xác và sự sống chớm nở từ thân xác với
bất cứ giá nào, thân xác vẫn phải là nơi diễn ra sự thụ tinh. Bảo đảm
nằm ở đó rằng sự sống ở bước đầu của nó không được giao cho ai khác
ngoài cha mẹ. Mặt khác, việc thụ tinh và nuôi bào thai trong ống nghiệm
là không hợp pháp, khi chỉ sản xuất ra những bào thai con người như
những “sinh thể vật chất”, đồng thời chủ ý diệt phôi thai trong ống
nghiệm chỉ vì mục đích nghiên cứu và các phương pháp thử nghiệm tác hại
đến bào thai trong ống nghiệm. 3. Ðối với vấn đề tạo sinh dòng vô tính
(Cloning) Giáo sư Jean Fz. Mattei, một nhà di truyền học thuộc Ủy Ban
Ðạo Ðức Học của Pháp, đã nói lên quan điểm của mình về tạo sinh dòng vô
tính rằng: “Ðiều cần làm ngay là ngăn chặn những nguy cơ lạm dụng công
nghệ. Nhân bản ra hàng loạt hoàn toàn trái với quan niệm của tôi và vấn
đề nhân cách”. Ðức Tổng Giám Mục Renato Martino, quan sát viên thường
trực của Ðức Gio-an Phao-lô II, tại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc, đã nói
rằng: “Những đứa trẻ được tạo nên bằng dòng vô tính sẽ có một cuộc sống
bất thường trong liên hệ với cha mẹ và thân thuộc, vì hành động định
trước đồng thời có chủ tâm và độc đoán liên hệ đến thân xác của chúng.
Những hậu quả về phương diện đạo đức và pháp lý do hành động ấy mang lại
làm cho tương lai của nhân loại ra ô nhiễm và mất đi tính cách thánh
thiện của nó. Mặt khác, việc tạo sinh như vậy loại bỏ tình nghĩa giữa
cha mẹ và con cái, là một sự thụ thai vô tính (asexual) và vô giao
(agamic), do dó, thiếu sự kết hợp giữa con người và giao tử (gamete)”.
Tuy nhiên, có những người nghĩ rằng tạo sinh dòng vô tính với mục đích
điều trị thật ra không phải là sinh sản vô tính. Ðiều đó có nghĩa là họ
tin rằng sản sinh vô tính mô tế bào (tissues) không phải là sản sinh vô
tính tế bào và do đó, không phải thật là sản sinh vô tính con người.
Hiểu như thế là sai lầm. Không thể sản sinh vô tính tế bào mà không sản
sinh vô tính một bào thai, nghĩa là không tiêu huỷ bào thai. Dĩ nhiên,
không ai có thể hy sinh một mạng người để thử nghiệm. Ðức Hồng Y Murphy –
O’ Connor, thuộc giáo phận Westminster tại Anh quốc, đã nói trong bài
phản đối dự luật của chính phủ Anh về sinh sản vô tính như sau: “Sinh
sản vô tính tạo ra sự sống con người- một phôi thai – được cấy vào tử
cung người phụ nữ, sẽ phát triển thành một em bé. Nó là cách mới để tạo
con người mà tách biệt cách hoàn toàn và tận sâu thẳm khỏi hành vi yêu
thương của con người. Một đứa bé do sinh sản vô tính không có cha và
không cần tinh trùng trong cuộc sinh này và mẹ nó thì bị giản lược thành
một người cung cấp trứng đơn thuần… chấp nhận kiểu sinh sản vô tính con
người mà không có yếu tố di truyền từ cha mẹ là một kiểu mới kèm theo
những hệ luỵ xã hội lâu dài và những nan giải về đạo đức. Việc sinh sản
vô tính như là việc lao đầu theo một luân lý liều lĩnh”. Christian Much,
cố vấn pháp luật của Liên Hiệp Quốc, đã nói rằng: “Trên bình diện luân
lý, Ki-tô giáo, Hồi giáo và tất cả mọi tôn giáo đều xem việc nhân bản vô
tính là một sự xâm phạm đến quyền năng sáng tạo của Thượng Ðế”. Kinh
nghiệm của các nhà khoa học trong việc thí nghiệm với loài vật cho thấy
hiện rõ ràng có nguy trầm trọng tạo nên những cá nhân tàn tật bất toàn
nếu cấy bào thai do sinh sản vô tính vào trong lòng bà mẹ cho phát
triển. Tiến trình thụ thai theo dòng sinh vô tính thì thực là niềm mong
đợi không thực tế chút nào. Thành quả của tạo sinh vô tính không bao giờ
có thể thay thế con người được cưu mang trong tình yêu hôn nhân tự
nhiên được cả. Những con người do tạo sinh vô tính, xét về thể lý, có
thể rất giống với bản mẫu, thế nhưng hai con người này sẽ khác biệt ít
nhất là không như hai người sinh đôi đồng dạng trên bình diện cá tính và
những đặc tính về tâm thần. Giáo sư Jacques Testard, giám đốc nghiên
cứu của INSERM (Viện Quốc Gia Về Sức Khoẻ Và Nghiên Cứu Y Học của Pháp),
người đã cho ra đời đứa bé đầu tiên được thụ tinh trong ống nghiệm tại
Pháp, đã nói rằng: “Ðứng trên quan điểm đạo đức, sinh sản vô tính một
con người hiện nay là điều không thể chấp nhận. Không chỉ biến phụ nữ
thành công cụ mà họ còn phải chịu những nguy hiểm không lường trước và
cả cho ra đời những đứa trẻ dị tật. Tỷ lệ thất bại, như đã được thừa
nhận trong khuôn khổ nghiên cứu trên loài vật, cũng là con số không thể
chấp nhận. Có thể nơi đứa bé đầu tiên, người ta không nhận thấy có gì
bất thường. Nhưng những đứa bé “không hoàn chỉnh” sau đó sẽ bị ném vào
giỏ rác chăng?” Thần học gia Bernard Haring, DCCT, nhấn mạnh rằng: “Tôi
hy vọng rằng người ta sẽ không bao giờ thực hiện việc sinh sản vô tính
nơi con người. Xét về mặt sinh học, nó sẽ làm giảm sự đa dạng sinh học
cần thiết để duy trì nòi giống. goài những thiệt hại hiển nhiên thấy
được trên bình diện sinh học, xét về mặt luân lý, nó sẽ còn gây thiệt
hại lớn lao cho các đứa bé sẽ ra đời. Mỗi con người đều được Thiên Chúa
ban cho cái quyền có một gia đinh là thành phần của lịch sử nhân loại,
trong đó, sự sống được lưu truyền nhờ vào tình yêu của cha mẹ. Những đứa
trẻ do sinh sản vô tính tạo ra sẽ là những đứa trẻ mồ côi được định
trước. Ðứa bé không thể chỉ là bản sao của một người cha mẹ có óc chiếm
hữu. Một xã hội không cha hay không mẹ hẳn sẽ chẳng có sự phong phú và
đa dạng mà Ðấng Tạo Hoá đã muốn ban cho nhân loại”.
Phó Tế Nguyễn Văn Tâm, DCCT
Tính Luân Lý Của Việc Tạo Sinh (tiếp theo…) - Mặc Khải Kinh Thánh
17:41 |Tính Luân Lý Của Việc Tạo Sinh (tiếp theo…)
Chương II: Tính Luân Lý Trong Việc Tạo Sinh
I. Mặc Khải Kinh Thánh
1. Chính Thiên Chúa tạo thành sự sống con người
Kinh
Thánh mặc khải cho chúng ta thấy sự sống con người do chính Thiên Chúa
tạo thành. Thật vậy, những trang đầu của Sách Sáng Thế đã ghi lại rằng:
“Thiên Chúa phán: chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta,
giống như chúng ta… Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình,
Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng
tạo con người có nam có nữ” (St 1, 26 – 27). Kinh Thánh còn cho thấy:
“Ðức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nắn ra con người, thổi sinh khí
vào lỗ mũi và con người trở nên một sinh vật…” (St 2, 7). Ở một chỗ
khác, Kinh Thánh còn nói: “Này Thiên Chúa sáng tạo con người, Chúa làm
ra con người giống như Thiên Chúa. Chúa sáng tạo con người có nam có nữ,
Chúa ban phúc lành cho họ và đặt tên cho họ là “người” ngày họ được
sáng tạo” (St 5, 1 – 2).
Sách
Khôn Ngoan cũng khẳng định sự sống mà Thiên Chúa ban cho con người thì
vượt trên cuộc hiện hữu trong thời gian: “Thiên Chúa không làm ra cái
chết, chẳng vui gì khi sinh mạng tiêu vong. Quả thế, Thiên Chúa đã sáng
tạo con người cho họ được trường tồn bất diệt. Họ được Người dựng nên
làm hình ảnh của bản tính Người” (Kn 1, 13; 2, 23). Bởi vậy, tác giả
sách Khôn Ngoan đã ca ngợi sự khôn ngoan của Thiên Chúa: “Lạy Thượng Ðế
của bậc tổ tiên, lạy Ðức Chúa từ bi lân tuất, Chúa đã dùng lời Chúa mà
tác thành vạn vật và dùng sự khôn ngoan của Chúa mà cấu tạo con người để
con người làm chủ mọi loài Chúa dựng nên” (Kn 9, 1 – 3).
Các
ngôn sứ cũng xác tín sự sống con người bắt nguồn từ Thiên Chúa, Ðấng
tạo thành. Ngôn sứ Giê-rê-mi-a nói rằng: “Có lời Ðức Chúa phán với tôi
rằng: trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi,
trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi” (Gr 1, 5).
Ngôn
sứ I-sai-a cũng xác tín rằng: “Ðức Chúa, Ðấng đã nắn ra ngươi từ khi
ngươi còn trong lòng mẹ” (Is 44, 24) và “chính Ta đã làm ra trái đất và
trên trái đất, đã dựng nên con người” (Is 45, 12).
Sách
Giảng Viên cũng nói khi Thiên Chúa dựng nên con người, “Ngài mặc cho nó
bộ áo sức mạnh và dựng nên họ theo hình ảnh Ngài” (Hc 17, 3). Và đến
lượt những người tin xác tín Thiên Chúa là Ðấng tạo dựng nên loài người
và ban cho con người tinh thần và sự sống (x. 2 Mcb 7, 22 – 32). Ông
Gióp nói: “Tay Ngài đã nắn và tạo nên tôi… xin hãy nhớ, Ngài đã dựng nên
tôi từ đất sét… Ngài đã chẳng lấy da thịt mặc cho tôi và dệt nên tôi
bằng gân cốt sao? Ngài đã cho tôi sự sống và máu nóng, và ân cần săn sóc
hơi thở tôi” (G 10, 8 – 12).
Sau
nữa, các âm điệu ngạc nhiên và tuyên xưng sự can thiệp của Thiên Chúa
và sự sống đang thành hình trong lòng mẹ vàng lên trong các Thánh Vịnh
(Tv 22 (21), 10 – 11; 71 (70), 6…). Ðặc biệt, tác giả Thánh vịnh biểu lộ
niềm xác tín với một cái nhìn phát sinh từ lòng tôn kính Thiên Chúa của
sự sống, Ðấng đã tạo dựng mọi con người, bằng cách làm cho họ nên như
một kỳ công phản chiếu của Ðấng Tạo Hoá và hình ảnh sống động của Ngài
(x. St 1, 27; Tv 8, 6). Vì thế, tác giả Thánh Vịnh thốt lên:
“Tạng phủ con, chính Ngài cấu tạo,
dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân con.
Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng,
công trình Ngài xiết bao kỳ diệu!
Hồn con đây biết rõ mười mươi.
Xương cốt con, Ngài không lạ lẫm gì,
khi con được thành hình trong nơi bí ẩn,
được thêu dệt trong lòng đất thẳm sâu.
Con mới là bào thai, mắt Ngài đã thấy;
Mọi ngày đời được dành sẵn cho con
đều thấy ghi trong sổ sách Ngài,
Trước khi ngày đầu của đời con khởi sự”
(Tv 139 (138),13 – 16)
Như
vậy, qua các bản văn Kinh Thánh trên đây, chúng ta xác tín rằng, nguồn
gốc sự sống con người phát sinh từ Thiên Chúa, “Ðấng cho con người được
sinh ra, không phải do bởi khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục
thể hoặc ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa” (Ga 1,
13). Thế nên, sự sống ấy hệ tại việc được sinh ra bởi quyền năng Thiên
Chúa chứ không phải bởi khả năng tạo sinh của con người. Thật vậy, “giá
trị sự sống không chỉ gắn liền với nguồn cội của nó, theo như nó được
trao ban từ Thiên Chúa, mà còn nối kết vào cùng đích, vào vận mệnh của
nó là được hiệp thông với Thiên Chúa, để nhận biết và yêu mến Ngài”. Do
đó, chính Thiên Chúa mới có quyền năng nắm giữ tuyệt đối trên sự sống do
Ngài tạo ra: “chính Thiên Chúa nắm trong tay hồn của mọi sinh linh và
hơi thở của mọi xác thịt của người phàm” (G 12, 10)
2. Thiên Chúa là chủ sự sống
Một
khi Thiên Chúa là tác nhân của sự sống con người thì Ngài cũng chính là
Ðấng nắm quyền tuyệt đối trên sự sống do Ngài tạo thành. Thật vậy,
Thiên Chúa là Chúa duy nhất của mọi sự sống. Ngay từ đầu, khi tạo dựng
con người, Ngài đã thổi sinh khí vào lỗ mũi nó và con người đã thành sự
sống (x. St 2, 7). Chính ông Gióp cũng xác tín Thiên Chúa ban cho ông sự
sống: “Sinh khí của Thiên Chúa đã làm ra tôi, hơi thở của Ðấng Toàn
Năng đã cho tôi được sống” (G 33, 4). Ông Gióp còn tuyên xưng rằng:
“Chính Người nắm trong tay hồn của mọi sinh linh cũng như hơi thở của
mọi xác thịt người phàm” (G 12, 10). Kinh Thánh còn cho thấy chỉ Thiên
Chúa là Ðấng duy nhất nắm quyền quyết định trên sự sống cũng như rút lại
sự sống đó: “Nếu Người muốn rút lại sinh khí và quy tụ hơi thở về mình,
thì mọi sinh vật sẽ tắt thở cùng một lúc và phàm nhân sẽ trở về cát
bụi” (G 34, 14 – 15). Tác giả Thánh Vịnh cũng diễn tả niềm xác tín như
thế: “Sinh khí của Ngài, Ngài gởi tới là chúng được dựng nên; Ngài lấy
sinh khí lại là chúng tắt thở ngay mà trở về cát bụi” (Tv 104, 29 – 30).
Thiên
Chúa là Ðấng nắm quyền sinh tử của con người: “Chính Ngài có quyền trên
sự sống và sự chết, Ngài đẩy xuống âm phủ rồi lại đưa lên” (Kn 16, 13;
x.Tx 13, 12); “Ta cầm quyền sinh tử, Ta đánh phạt rồi Ta lại chữa lành,
không ai cứu khỏi tay Ta được” (Ðnl 32, 3; x. 2 V 5, 7). Sách Sa-mu-en
cũng lặp lại cùng một niềm xác tín như trên: “Ðức Chúa là Ðấng cầm quyền
sinh tử, đẩy xuống âm phủ rồi lại kéo lên” (1 Sm 2, 6).
Tuy
Thiên Chúa nắm giữ số mạng sinh tử của con người (x. Tv 15, 5) và ghi
khắc nó trong lòng bàn tay Ngài (x. Is 49, 16; x. G 12, 10), nhưng Ngài
không thực hiện uy quyền một cách tàn ác, trái lại, Ngài yêu thương,
chăm sóc con người như mẹ hiền ấp ủ con thơ (x. Is 66, 13; Hs 11, 4),
như con ngươi trong mắt Ngài. Dù cho cha mẹ có bỏ quên con mình đi nữa
thì Thiên Chúa cũng chẳng quên nó bao giờ (x. Tv 26, 10; Is 49, 15), bởi
vì, “Thiên Chúa không tạo nên sự chết cũng chẳng vui gì khi sinh mạng
tiêu vong. Ngài sáng tạo muôn loài cho chúng hiện hữu trường sinh bất
tử” (Kn 1, 13 – 14), bởi vì, con người được Thiên Chúa dựng nên theo
hình ảnh của Ngài (St 1, 26 – 27; 9, 6) và “là hình ảnh của bản tính
Ngài” (Kn 2, 23).
Vậy,
con người không có quyền tuyệt đối trên sự sống và sự chết của mình hay
của người khác, bởi vì “số phận của con người lệ thuộc vào Thiên Chúa”
(Tv 15 (16), 5), và con người cũng chẳng thể tạo ra được sự sống đích
thực, nhưng “chính thiên Chúa ban cho có mọi sự sống, hơi thở và mọi sự…
Thật vậy, chính nơi Người mà chúng ta sống, cử động và hiện hữu” (Cv
17, 25 . 28).
Nếu
con người tự cho mình có quyền trên sự sống và sự chết thì con người đã
chiếm quyền tối thượng của Thiên Chúa. Sự sống của con người là của
riêng Chúa (x. Is 43, 1), thuộc về Chúa: “Chào đời con được dâng cho
Chúa, được Ngài là Chúa tự sơ sinh” (Tv 22, 11) và “kẻ nào động đến con
người là động đến con ngươi mắt Chúa” (Dcr 2, 12). Thiên Chúa giao phó
sự sống cho con người như kho báu không được phung phí, như một nén bạc
phải làm sinh lợi, con người phải trả lẽ về điều ấy với Chúa của mình.
(x. Mt 25,14 – 30; Lc 19, 12 – 27)
3. Con người tham sự vào quyền tạo dựng của Thiên Chúa
Khi
tạo dựng con người, Thiên Chúa cũng trao cho họ nhiệm vụ bảo vệ và
thăng tiến sự sống, tôn trọng và yêu mến sự sống. Nhiệm vụ này được ban
cho con người khi Thiên Chúa kêu gọi họ tham dự vào quyền tạo dựng của
Ngài: Thiên Chúa ban phúc lành cho họ và Ngài phán bảo họ: “Hãy sinh sôi
nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá
chủ cá biển chim trời và mọi giống vật bò trên mặt đất” (St 1, 28).
Như
ở các phần trên đây, chúng ta thấy chính Thiên Chúa là Ðấng tạo thành
sự sống con người và Ngài cũng là Ðấng duy nhất nắm quyền chủ tể trên sự
sống của họ.
Tuy
nhiên, Thiên Chúa cho con người được tham dự một phần nào đó vào quyền
chủ tể của Ngài, bởi đó, để thực hiện ý định ấy, Thiên Chúa phán: “Con
người ở một mình không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với
nó” (St 2, 18). Thế rồi, Thiên Chúa đã làm ra một người nữ để người này
thành vợ của con người và cả hai thành một xương một thịt (x. St 2, 22 –
25).
Như
thế, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ (St 1, 27), với ý muốn
con người tham dự, cộng tác đặc biệt vào công trình sáng tạo của Thiên
Chúa qua việc sinh sản, vì thế, trong bậc hôn nhân, “người đàn ông lìa
cha mẹ mà gắn bó với vợ mình và cả hai thành một xương một thịt” (St 2,
24). Họ được Thiên Chúa chúc phúc và truyền lệnh: “Hãy sinh sôi nảy nở
thật nhiều cho đầy mặt đất” (St 1, 28).
Kinh
Thánh còn cho ta thấy khi con người cộng tác với Thiên Chúa qua việc
sinh sản sự sống mới, thì việc sự sống hình thành trong lòng mẹ cũng như
việc chào đời và mối dây liên hệ chặt chẽ giữa giây phút đầu tiên của
sự sống và tác động của Thiên Chúa, đều đồng thời có sự hiện diện của
Ngài trong biến cố đó: “Trước khi Ta nắn ra ngươi trong lòng mẹ, Ta đã
thánh hoá ngươi” (Gr 1, 5); “con chưa thành hình, mắt Ngài đã nhìn thấy
con” (Tv 139, 16).
Cuộc
đời mỗi con người ngay từ đầu đã ở trong kế hoạch của Thiên Chúa: “Mọi
ngày đời được dành sẵn cho con đều thấy ghi trong sổ sách Ngài, trước
khi ngày đầu của đời con khởi sự” (Tv 139, 16). Con người dù là cha là
mẹ, chỉ là cộng tác viên của Thiên Chúa sáng tạo trong việc nhận mang
thai và sinh hạ một sự sống mới. Con người không thể tự mình tạo ra được
sự sống mới.
Kinh
Thánh cho thấy chính người mẹ cưu mang và sinh hạ con cái của mình mà
vẫn không thể hiểu biết chúng được cấu tạo thế nào: “Mẹ không rõ các con
đã thành hình trong lòng mẹ thế nào. Không phải mẹ ban cho các con thần
khí và sự sống. Cũng không phải mẹ đã sắp đặt các phần cơ thể cho mỗi
người trong các con. Chính Ðấng Tạo Hoá càn khôn đã nắn đúc nên loài
người và đã sáng tạo nguồn gốc muôn loài, chính Ngài do lòng thương xót
cũng sẽ trả lại cho các con thần khí và sự sống…” (2 Mcb 7, 22 – 23).
Như
vậy, Thiên Chúa cho con người tham dự vào công trình tạo sinh sự sống
qua việc Ngài dùng cung lòng của họ, để trong đó, chính tay Ngài tạo tác
nên con người mới và quan tâm đến từng hơi thở của nó. “Ta đã nâng các
ngươi từ trong lòng mẹ, đã hứng các ngươi từ lúc chưa chào đời” (Is 46,
3; x. G 10, 8 – 12; Gr 1, 5) và cũng chính “Ngài kéo con người ra khỏi
lòng mẹ” (Tv 71, 6); “đưa con ra khỏi thai bào, vòng tay mẹ ẵm Chúa trao
an toàn” (Tv 22, 10).
Kinh
Thánh còn chứng tỏ một khía cạnh khác nữa là: không phải bất cứ lúc nào
con người cũng có thể quyết định sinh sản con cái, dù cho họ hết lòng
mong muốn, nếu Thiên Chúa không can thiệp; bằng chứng là “khi ông A-đam
được một trăm ba mươi tuổi thì ông mới sinh ra được một người con trai…
và đặt tên là Sết” (St 5, 1 – 3); hoặc như ông Áp-ra-ham đã tới 100 tuổi
và bà Sa-ra đã già 90 tuổi mà vẫn không thể có con cái. Nhưng khi Thiên
Chúa can thiệp và chúc phúc cho họ thì họ mới sinh được một đứa con
trai tên là I-xa-ác (x. St 17, 15 – 22; 18, 9 – 15); hoặc như ông
Da-ca-ri-a và bà Ê-li-sa-bét, cả hai đều đã cao niên mà vẫn không thể có
con cái, vì bà Ê-li-sa-bét là người hiếm hoi. Nhưng nhờ quyền năng
Thiên Chúa can thiệp và chúc phúc, bà đã mang thai và sinh hạ một người
con trai tên là Gio-an. Ý thức mình được can thiệp do quyền năng Thiên
Chúa, bà Ê-li-sa-bét thốt lên với tất cả niềm vui khôn tả: “Chúa đã làm
cho tôi như thế đó, khi Ngài thương cất nỗi hổ nhục tôi phải chịu trước
mặt người đời” (Lc 1, 25).
Như
vậy, khi tạo dựng nên người nam và người nữ, cho họ kết hợp với nhau
bằng mối dây liên kết hôn nhân, Thiên Chúa muốn cho họ hợp tác với
chương trình tạo dựng của Ngài qua việc cưu mang và sinh dưỡng sự sống
mới. Còn người con, một sự sống mới – chính là hồng ân của Thiên Chúa:
“Tôi đã được một người con nhờ ơn Ðức Chúa” (St 4, 1). Bà E-và đã kêu
lên như thế khi ý thức được sự can thiệp của Thiên Chúa. Thật vậy, “con
cái là hồng ân của Chúa, con mình sinh hạ là phần thưởng Chúa ban” (Tv
117, 3).
4. Sự sống là hồng ân thánh thiêng – bất khả xâm phạm
a. Sự sống con người là hồng ân thánh thiên do Thiên Chúa ban
Con
người được hiện hữu và được sống trong vũ trụ trần gian hoàn toàn là do
ý muốn tự do của Thiên Chúa quyết định. Kinh Thánh cho thấy sự kiện
Thiên Chúa sáng tạo con người với một quyết định đặc biệt và một cuộc
thảo luận để đặt mối dây liên hệ đặc biệt với Thiên Chúa: “Chúng ta hãy
làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta” (St 1, 26).
Sự sống mà Thiên Chúa ban tặng cho con người thì khác với và tách biệt
khỏi sự sống và bất cứ sinh vật nào, bởi vì, con người dù bởi đất mà ra
và sẽ trở về với bụi đất (x. St 2, 7; 3, 19; G 34, 15; Tv 103, 24; 104,
29), nhưng con người sống trên trần gian là sự biểu lộ vinh quang Thiên
Chúa, một dấu chỉ cho sự hiện diện của Ngài và một vết tích của vinh
quang Ngài.
Trong
trình thuật về nguồn gốc các sự vật, sách Sáng Thế trình bày cho thấy
con người là chóp đỉnh tạo thành của Thiên Chúa, như vậy một sự kết thúc
công trình sáng tạo: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên
Chúa. Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ. Thiên Chúa chúc phúc
cho họ và truyền lệnh: hãy sinh sôi nảy nở cho đầy mặt đất, và hãy thống
trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời và mọi giống vật bò trên
mặt đất” (St 1, 27 – 28). Kinh Thánh còn trình bày sự sống mà Thiên
Chúa ban tặng cho con người là một hồng ân: “Tôi đã được một người con
nhờ ơn Ðức Chúa” (St 4, 1); “con cái là hồng ân của Chúa, con mình sinh
hạ là phần thưởng Chúa ban” (Tv 127, 3).
Chúng
ta cũng thấy được trong Kinh Thánh, sự sống con người có tính chất
thánh thiêng: sự sống thánh thiêng bởi vì nó được tạo dựng theo hình ảnh
Thiên Chúa (x. St 1, 27), giống như Thiên Chúa (x. St 5, 1), như hình
ảnh của bản tính Ngài (x. Kn 2, 23), nó được thánh hoá ngay từ trong
lòng mẹ (x. Gr 1, 5); nó còn được Thiên Chúa ban cho chính sinh khí sự
sống của Người (x. St 27; G 10, 8 – 12), nó cũng được Thiên Chúa ban cho
có những yếu tố tinh thần đặc thù của con người như lý trí, khả năng
phân định tốt – xấu và ý chí tự do: “Ngài làm cho chúng được đầy kiến
thức thông minh, tỏ cho chúng biết điều tốt điều xấu” (Hc 17, 7).
Hơn
nữa, con người và sự sống con người không chỉ là một thụ tạo kỳ diệu
trong công trình sáng tạo, nhưng Thiên Chúa còn ban cho con người một
phẩm giá gần như là thần thiêng: “Chúa cho con người chẳng thua kém thần
linh là mấy, ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên, cho làm chủ
công trình tay Chúa sáng tạo, đặt muôn loài muôn sự dưới chân…” (Tv 8, 6
– 7).
Như
vậy, sự sống là một hồng ân thánh thiêng mà Thiên Chúa ban cho con
người, nó quý giá hơn muôn loài Chúa đã dựng nên (x. Mt 6, 25 – 34).
Chính vì thế, Thiên Chúa là “Ðấng yêu mến sự sống” (Kn 11, 26), là “Ðấng
đã dựng nên con người không phải để chúng hư nát” (Kn 2, 23), đã yêu
thương con người tới độ ban chính Con Một của Ngài để cứu con người khỏi
hư mất và cho con người được sống sự sống đời đời (x. Ga 3, 16; 10, 10)
b. Bất khả xâm phạm sự sống con người
Trên
đây, Kinh Thánh đã cho ta thấy Thiên Chúa là Ðấng tạo dựng nên con
người theo hình ảnh của Ngài; Thiên Chúa là Ðấng làm chủ sự sống do Ngài
tạo ra; sự sống con người là hồng ân linh thiêng; và tiếp theo, Kinh
Thánh cũng còn trình bày cho thấy sự bất khả xâm phạm sự sống con người.
Ðối
với dân Do-thái cũng như nhiều dân tộc Thượng Cổ, “máu chính là sự
sống” (Ðnl 12, 23), mà sự sống, nhất là sự sống con người chỉ thuộc
quyền Thiên Chúa. Bởi đó, kẻ nào xâm phạm đến sự sống con người thì
Thiên Chúa liền ra tay trừng phạt (x. Xh 21, 12. 14 . 20). Khi Ca-in
giết em mình là A-ben, máu của A-ben đã kêu lên thấu tận Thiên Chúa, thì
Ngài đã chúc dữ và trừng phạt Ca-in (x. St 4, 2 – 16). Thiên Chúa cũng
không để cho vua Pha-ra-ô tuỳ hứng ra tay tàn sát hết thảy hài nhi của
dân Do-thái (x. Xh 1, 15 – 23). Chính Thiên Chúa cũng nhắc lại cho ông
Nô-ê sau đại hồng thuỷ rằng: “Ta sẽ đòi con người phải đền nợ máu, Ta sẽ
đòi mỗi người phải đền mạng sống của người anh em mình. Ai đổ máu con
người, thì máu nó sẽ bị con người đổ ra, vì Thiên Chúa đã làm ra con
người theo hình ảnh Thiên Chúa” (St 9, 5 – 6).
Hơn
thế nữa, Kinh Thánh đặc biệt trình bày cho ta một giới luật liên hệ tới
tính bất khả xâm phạm của sự sống: “Ngươi không được giết người” (Xh
20, 13). Giới luật này nằm trong Thập giới, ở trung tâm Giao Ước mà
Thiên Chúa ký kết với dân tộc Ít-ra-en, nhưng nó cũng mang tính phổ quát
cho toàn nhân loại. Về sau, bộ luật của Ít-ra-en đã giải thích giới răn
ấy còn cấm gây thương tích cho người khác (x. Xh 21, 12 – 27), và cấm
giết người vô tội và công chính: “Ngươi không được giết kẻ vô tội và
công chính” (Xh 23, 7); ngay cả việc nếu gây tổn thương cho một bào thai
thì bị can án phải lấy mạng đền mạng: “Nếu có gây tổn thương cho bào
thai, thì ngươi phải lấy mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay
đền tay…” (Xh 21, 22 – 25).
Tuy
nhiên, dù Cựu Ước khẳng định minh nhiên sự đề cao giá trị của sự sống
và những giới luật hàm chứa tính bất khả xâm phạm của sự sống, nhưng
chưa đạt tới nét tinh vi hoàn hảo như luật của Tân Ước. Bởi vì, luật Cựu
Ước còn qui định những hình phạt nặng nề trên thân thể, có khi còn bị
án tử hình đối với những kẻ giết người. Trái lại, sứ điệp tổng quát mà
Tân Ước sẽ phải đưa tới mức hoàn hảo, vốn đã là lời kêu gọi khẩn thiết
phải tôn trọng tính bất khả xâm phạm của sự sống thể lý và sự toàn vẹn
nơi con người khi người thanh niên đến hỏi Chúa Giê-su: “Thưa Thầy, tôi
phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời?” Chúa Giê-su đáp:
“Nếu anh muốn vào cõi sống thì hãy tuân giữ các giới răn” (Mt 19, 16 –
17).
Và
trong các giới răn mà Chúa Giê-su nêu lên cho người thanh niên thì
trước hết, Ngài nhắc lại giới luật thứ nhất trong Mười Ðiều Răn: “Ngươi
không được giết người” (Mt 19, 18). Rồi sau khi nêu lên cho anh ta một
loạt các giới răn phải giữ, Chúa Giê-su kết thúc bằng một giới răn tích
cực, như là sự bao hàm tất cả các giới luật trước đó: “Ngươi phải yêu
người đồng loại như yêu chính mình” (Mt 19, 19). Như thế, giới luật có
tính tiêu cực “ngươi không được giết người” (Ðnl 20, 13) đã được Chúa
Giê-su đưa tới chiều kích tích cực hơn: “Ngươi phải yêu mến người đồng
loại như yêu chính mình” (Mt 19, 19), nhưng giới luật sau vẫn bao hàm
tất cả ý lực của giới luật trước.
Chúa
Giê-su còn đòi hỏi phải tôn trọng sự sống ở một mức độ cao hơn nữa.
Trong bài giảng trên núi, Chúa Giê-su nói: “Anh em đã nghe luật dạy
người xưa rằng: chớ giết người; ai giết người thì đáng bị đưa ra toà.
Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa
ra toà…” (Mt 5, 21 – 22).
Như
vậy, lệnh truyền của Thiên Chúa, Ðấng luôn bảo vệ sự sống con người (x.
St 4, 1 – 15; Is 41, 14), đã đi tới mức sâu xa hơn trong sự đòi hỏi
phải tôn trọng và yêu mến mọi người và mọi sự sống. Giáo huấn của Thánh
Phao-lô đã vang vọng lại lời dạy của Chúa Giê-su khi Thánh Tông Ðồ viết:
“Ngươi không được giết người, cũng như mọi giới răn khác, đều tóm lại
trong lời này: ngươi phải yêu mến người thân cận như chính mình. Ðã yêu
thương thì không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn Lề Luật
vậy” (Rm 13, 8 – 10).
Vậy,
sự sống của con người biểu thị một tính chất thánh thiêng và bất khả
xâm phạm, nơi đó phản chiếu chính sự bất khả xâm phạm của Thiên Chúa. Vì
thế, Thiên Chúa tỏ ra là Ðấng Thẩm phán rất nghiêm khắc đối với mọi vi
phạm giới răn “ngươi không được giết người”. Giới răn này vẫn được Chúa
Giê-su lấy lại và đưa tới hoàn thiện trong Lề Luật mới, đến nỗi: Tất cả
Luật Mô-sê và các Sách Ngôn Sứ đều gồm tóm trong hai điều răn: Tình yêu
đối với tha nhân là một giới răn giống như giới răn về tình yêu đối với
Thiên Chúa (x. Mt 22, 36 – 40). Sau cùng, giới răn “ngươi không được
giết người” vẫn là nền tảng của tất cả sự đồng sinh tồn của xã hội và là
điều kiện để người ta có thể vào được “trong cõi sống” (x. Mt 19, 16 –
19). Trong chiều kích đó, Thánh Tông Ðồ Gio-an còn khẳng định bằng một
giọng kiên quyết rằng: “Phàm ai ghét anh em mình, ấy là kẻ sát nhân và
anh em biết: không kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời ở lại trong nó” (1
Ga 3, 15).
Phó Tế Nguyễn Văn Tâm, DCCT