Home » Quan Hệ Trung Quốc Và Việt Nam
Vụ khoan dầu khiến Việt Nam đi trên lộ trình mới”
07:07 |GS Jonathan London:
“Vụ khoan dầu khiến Việt Nam đi trên lộ trình mới”
LTS: Tiến
sĩ Giáo sư Jonathan D. London, giáo sư tại Phân Khoa Nghiên cứu Á Châu Á
và Quốc Tế và là thành viên chủ chốt của Trung Tâm Nghiên Cứu Ðông Nam Á
tại Ðại Học Hồng Kông, nói với nhật báo Người Việt, trong một cuộc
phỏng vấn gần đây, rằng cuộc khủng hoảng tạo ra do việc Trung Quốc mang
giàn khoan dầu HD-981 vào lãnh hải Việt Nam, đã khiến Việt Nam đi trên
một lộ trình mới về mối quan hệ với Trung Quốc. Cuộc phỏng vấn do Hà
Giang thực hiện qua điện thoại hôm 25 Tháng Năm, trong lúc ông đang ở Hà
Nội.
Hà Giang (NV): Người Việt khắp nơi trên thế giới
đang theo dõi cuộc việc Trung Quốc mang giàn khoan dầu vào lãnh hải
Việt Nam rất chặt chẽ, và có những bình luận khác nhau. Người cho rằng
Trung Quốc cuối cùng đã hoàn toàn xâm chiếm Việt Nam. Người khác hy vọng
rằng cuộc khủng hoảng này sẽ mang lại một sự thay đổi khiến Việt Nam
thoát được vòng kiềm tỏa của Trung Quốc, và người lại nghĩ rằng Trung
Quốc sẽ rút giàn khoan dầu của họ vào tháng Tám, và cuối cùng tình hình
Việt Nam lại đâu cũng vào đấy. Ông nghĩ là cuộc khủng hoảng này sẽ đưa
đến kết cục thế nào?
Giáo Sư Jonathan London: Tôi nghĩ rằng kết cục sẽ là
không có kết cục gì hết trong khoảng thời gian tới. Tình hình sẽ tiếp
tục căng thẳng và rất khó dự đoán tương lai. Tuy nhiên đã có nhiều biến
chuyển, và điều hấp dẫn nhất về tình hình hiện nay là nó đưa đến nhiều
kết quả bất ngờ. Bất kể nhận định việc mang giàn khoan dầu vào lãnh hải
Việt Nam của Bắc Kinh có khôn ngoan hay không, không thể thay đổi thực
tại là những gì họ làm đã gây ra một phản ứng dây chuyền, đẩy tình thế
đến nhiều hướng rất bất ngờ, và có thể nói là ngoài tầm kiểm soát. Ðây
là một thời điểm đầy biến động, và tôi nghĩ rằng dựa vào những lời tuyên
bố của Bắc Kinh, ngoại trừ có những giải pháp ngoại giao đột biến, Việt
Nam có thể sẽ có những thay đổi lớn.
NV: Có phải giáo sư đang nói rằng giả sử đến
ngày 15 Tháng Tám, Trung Quốc mang giàn khoan đi, và không có biến
chuyển gì mới, Việt Nam vẫn đang ở đi trên một lộ trình khác nhiều so
với ba tháng trước đó?
Giáo Sư Jonathan London: Vâng, tôi tin như thế. Tôi
tin rằng một số quy trình mà kết quả không lường được đã bắt đầu tại
Việt Nam một cách nghiêm túc, và giai điệu của các cuộc thảo luận chính
trị ở Việt Nam hiện nay thực sự là chưa từng có. Người ta có thể hình
dung rằng sau một số bước đột phá bất ngờ trên mặt trận ngoại giao, mọi
thứ sẽ lắng xuống khá nhanh chóng và mọi việc sẽ trở về nguyên trạng,
nhưng tôi nghĩ rằng tình hình Việt Nam sẽ rất khác. Tôi cũng nghĩ rằng
nếu những căng thẳng hiện giờ không suy giảm, thì xác suất có những thay
đổi lớn về quan điểm chiến lược cũng như chính sách của Việt Nam gần
như là điều chắc chắn.
NV: Giáo sư đã gặp gỡ và thảo luận với nhiều bạn bè ở Hà Nội, tâm trạng của người ở đó bây giờ ra sao?
Giáo Sư Jonathan London: Tôi phải nói là tâm trạng
của người Hà Nội đã thay đổi thực sự đáng kể chỉ trong một vài ngày, và
phần lớn sự thay đổi đó liên quan đến những lời phát biểu được người dân
Việt Nam tiếp nhận một cách nồng nhiệt của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Tình thế tích cực ở chỗ có thể nó buộc Việt Nam phải suy nghĩ kỹ một
chính sách khác với lộ trình Việt Nam vẫn đang theo đuổi từ trước đến
nay, và một điều rất hiển nhiên là Việt Nam cần có nhiều bạn bè.
Việt Nam hiện không có bạn bè và đồng minh thân thiết và rõ ràng là
cần phải có quan hệ tốt với Trung Quốc và hy vọng sẽ tiếp tục có quan hệ
tốt với nước này. Ngay cả giữa những sự căng thẳng và đe dọa là sẽ có
xung đột quân sự, về lâu về dài, Việt Nam tuyệt đối cần phải tìm cách để
sống bên cạnh người láng giềng Trung Quốc, như Thủ Tướng Nguyễn Tấn
Dũng từng nêu ra rằng mối quan hệ giữa hai nước phải đặt trên nền tảng
tôn trọng lẫn nhau chứ không phải là sự bắt nạt. Cách duy nhất để có thể
có được quan hệ này, là Việt Nam phải đứng vững được hơn trên đôi chân
của mình, phải tạo được quan hệ tốt hơn, sâu sắc hơn với nhiều quốc gia.
Nói tóm lại, Việt Nam sẽ cần phải cởi mở hơn, một thay đổi mà cách mà
các nhà lãnh đạo Việt Nam từ trước đến giờ có khuynh hướng cưỡng lại.
Nhiều người có nhận định rằng các tương quan giữa các thế lực chính trị
tại Việt Nam đang thay đổi một cách rất nhanh chóng và thú vị.
NV: Ngay trong lúc Việt Nam đang tỏ dấu hiệu
muốn có quan hệ sâu sắc hơn với Hoa Kỳ, trong một cuộc họp tại Malaysia,
ông Nguyễn Tấn Dũng lập lại chính sách “ba không” của Việt Nam, trong
đó có chính sách không liên minh quân sự với bất cứ nước nào. Ông có
thấy đây là một chủ trương mâu thuẫn?
Giáo Sư Jonathan London: Không, tôi nghĩ rằng đó là
một điều khôn ngoan. Bởi vì Trung Quốc là một cường quốc đang lên và là
một sức mạnh bá chủ tiềm năng, còn Mỹ thì là lực lượng duy nhất có thể
kiềm chế được họ, nên nếu Việt Nam tuyên bố đang phát triển một liên
minh quân sự với Mỹ, thì tôi ngờ rằng Trung Quốc sẽ xem đó là một động
tác thù nghịch, và có thể Bắc Kinh sẽ có những phản ứng không lường
được. Ở tại một khu vực mà từ nhiều thập kỷ nay không có chiến tranh,
không sẵn sàng cho những xung đột quân sự, vì thế cần phải có những vùng
đệm, ví dụ giữa Trung Quốc và Mỹ hay giữa Trung Quốc và các cường quốc
khác trong khu vực. Tôi nghĩ rằng Việt Nam vẫn có thể có bạn bè, vẫn có
thể có đồng minh, và vẫn có thể có phản ứng ngoại giao được thế giới ủng
hộ cho những hành xử trái với tiêu chuẩn quốc tế của Trung Quốc. Tôi
hiểu lập luận của giới chỉ trích rằng Việt Nam quá mềm yếu, nhưng tôi
nghĩ lập luận này không đúng. Tôi nghĩ rằng điều quan trọng là cần phải
có tầm nhìn xa, và phải tận dụng mọi phương tiện cần thiết để giải quyết
tranh chấp mà không dẫn đến chiến tranh tại Ðông Nam Á. Dĩ nhiên, nếu
tình hình xấu đi, và thực sự có chiến tranh, thì tình thế sẽ khác, nhưng
tôi nghĩ rằng hiện giờ những gì Việt Nam đang làm là đúng.
NV: Nếu Việt Nam không liên minh quân sự với
nước nào, thì nếu Trung Quốc xem đó như là một nhược điểm và quyết định
tấn công, thì ai sẽ là người trợ giúp Việt Nam?
Giáo Sư Jonathan London: Liên minh quân sự là một chuyện, hợp tác quân sự lại là một chuyện khác. Dù Washington từng háo hức nói rằng họ muốn mở rộng quan hệ (với Việt Nam), vào thời điểm này, mối quan hệ giữa hai bên còn lỏng lẻo. Tôi cho rằng có nhiều cách để phát triển các mối quan hệ an ninh và (Việt Nam) có thể sử dụng thuật ngữ này thay vì cụm từ “liên minh quân sự.” Có nhiều cách để phát triển các mối quan hệ an ninh để đạt được hiệu quả tốt cho những thách thức mà Việt Nam đang phải đối diện. Tình thế hết sức phức tạp, tôi khó có thể hình dung Mỹ có thể đẩy Trung Quốc ra một bên hay đánh bật họ tại thời điểm này. Chúng ta đang ở trong một tình hình rất nhạy cảm. Thủ tướng Việt Nam đã nói rằng Việt Nam đã trải qua quá nhiều chiến tranh rồi, tôi nghĩ rằng thế giới sẽ đồng ý với điều đó, và như vậy, dù tình hình có thể thay đổi, ngay lúc này, cần phải tính từng bước một. Có nhiều cách để phát triển một mối quan hệ an ninh mà không cần thông báo là đang thiết lập một liên minh quân sự, chẳng hạn.
Giáo Sư Jonathan London: Liên minh quân sự là một chuyện, hợp tác quân sự lại là một chuyện khác. Dù Washington từng háo hức nói rằng họ muốn mở rộng quan hệ (với Việt Nam), vào thời điểm này, mối quan hệ giữa hai bên còn lỏng lẻo. Tôi cho rằng có nhiều cách để phát triển các mối quan hệ an ninh và (Việt Nam) có thể sử dụng thuật ngữ này thay vì cụm từ “liên minh quân sự.” Có nhiều cách để phát triển các mối quan hệ an ninh để đạt được hiệu quả tốt cho những thách thức mà Việt Nam đang phải đối diện. Tình thế hết sức phức tạp, tôi khó có thể hình dung Mỹ có thể đẩy Trung Quốc ra một bên hay đánh bật họ tại thời điểm này. Chúng ta đang ở trong một tình hình rất nhạy cảm. Thủ tướng Việt Nam đã nói rằng Việt Nam đã trải qua quá nhiều chiến tranh rồi, tôi nghĩ rằng thế giới sẽ đồng ý với điều đó, và như vậy, dù tình hình có thể thay đổi, ngay lúc này, cần phải tính từng bước một. Có nhiều cách để phát triển một mối quan hệ an ninh mà không cần thông báo là đang thiết lập một liên minh quân sự, chẳng hạn.
NV: Ông James Hardy, biên tập viên về khu vực
Châu Á-Thái Bình Dương của tạp chí quốc phòng IHS Jane’s Defence Weekly
cho rằng “quan hệ Mỹ-Việt Nam đã được cải thiện dần trong những năm gần
đây đến độ việc bỏ cấm vận vũ khí có thể xẩy ra.” Ông có đồng ý với nhận
định này không?
Giáo Sư Jonathan London: Có những hạn chế nhất quán
về quan hệ Hoa Kỳ và Việt Nam liên quan đến tình hình nhân quyền, và mỗi
khi đề cập đến việc này thì phải đối mặt với một rào cản. Vì vậy, có
rất nhiều điều Việt Nam cần phải làm ngay lập tức nếu thực sự muốn có
bạn bè và đồng minh. Ðể được quốc tế tôn trọng, Việt Nam cần phải giải
quyết những hạn chế về quan hệ với Mỹ và các nước dân chủ khác. Ðó là lý
do tại sao nhiều người cho rằng có nhiều triển vọng cho Việt Nam, vì
nếu Việt Nam bước trên một lộ trình khác, một lộ trình thực sự độc lập
mà không phải là một đàn em của Trung Quốc, và giải quyết những vấn đề
thể chế, bao gồm việc không giới hạn nhân quyền từ trước đến giờ cản trở
nhiều mối quan hệ với các nước khác. Việt Nam có được phép mua công
nghệ quân sự và những vũ khí sát thương hay không là điều có thể xảy ra,
nhưng còn tùy.
NV: Về tranh chấp tại Biển Ðông, Hà Nội đang
tính đến việc kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế, nhưng nước này từng tuyên
bố là sẽ bất chấp phán quyết của tòa, ông nghĩ rằng Việt Nam có ích lợi
gì không khi kiện Trung Quốc?
Giáo Sư Jonathan London: Nếu Bắc Kinh không thay đổi
chính sách, đưa họ ra tòa quốc tế là một điều tốt, vả lại ngoài biện
pháp đó Việt Nam còn có sự lựa chọn nào? Việt Nam có một hồ sơ pháp lý
khá vững vàng, và tôi nghĩ rằng Việt Nam sẽ có lợi rất nhiều, nhất là
song song với việc áp dụng những biện pháp khác như phát triển quan hệ
tốt với những nước khác như tôi đã nói. Việt Nam sẽ thắng về mặt dư luận
quốc tế nếu chứng minh được rằng mình đang bị xâm lược một cách bất
công. Dù Bắc Kinh có chấp nhận hay không chấp nhận phán quyết của tòa,
việc nộp đơn kiện vẫn có lợi, vì nó giúp Việt Nam tăng cường chính danh
của việc tuyên bố chủ quyền của mình. Việt Nam cũng cần chuẩn bị tinh
thần để chấp nhận phán xét của tòa án nếu tòa quyết định không có lợi
cho Việt Nam. Ðiều thiết yếu là những tranh chấp này phải có một buổi
điều trần công bằng, dưới luật tố tụng của quốc tế.
NV: Ông từng viết rằng tình hình căng thẳng hiện
nay đòi hỏi lãnh đạo Việt Nam phải có những thay đổi đột phá để giải
quyết những bế tắc chính trị hiện có. Theo ông, liệu tình thế này có thể
đưa đến sự đột phá đó không?
Giáo Sư Jonathan London: Có lẽ. Tôi nghĩ rằng đã có một thay đổi cán cân quyền lực, và thay đổi đó là một trong những yếu tố quan trọng trong sự bế tắc, cụ thể là mối quan hệ với Trung Quốc đã chuyển đổi, đã có những quan điểm khác nhau từ căn bản. Tôi không biết ông Nguyễn Tấn Dũng đóng vai trò nào trong tương lai chính trị của Việt Nam, nhưng tại thời điểm này ông rõ ràng đã trở thành một lãnh đạo nổi bật nhất của đất nước, trong khi đó một số các nhà lãnh đạo khác phần lớn im lặng về các cuộc xung đột hiện nay với Trung Quốc. Việt Nam chỉ có thể có lợi trong việc lợi dụng tình huống này như một cơ hội để đạt được những cải cách mang tính đột phá mà mọi người dân Việt Nam và nhiều nước khác trên thế giới đã chờ đợi và khuyến khích. Cái cần phải có là can đảm chính trị.
Giáo Sư Jonathan London: Có lẽ. Tôi nghĩ rằng đã có một thay đổi cán cân quyền lực, và thay đổi đó là một trong những yếu tố quan trọng trong sự bế tắc, cụ thể là mối quan hệ với Trung Quốc đã chuyển đổi, đã có những quan điểm khác nhau từ căn bản. Tôi không biết ông Nguyễn Tấn Dũng đóng vai trò nào trong tương lai chính trị của Việt Nam, nhưng tại thời điểm này ông rõ ràng đã trở thành một lãnh đạo nổi bật nhất của đất nước, trong khi đó một số các nhà lãnh đạo khác phần lớn im lặng về các cuộc xung đột hiện nay với Trung Quốc. Việt Nam chỉ có thể có lợi trong việc lợi dụng tình huống này như một cơ hội để đạt được những cải cách mang tính đột phá mà mọi người dân Việt Nam và nhiều nước khác trên thế giới đã chờ đợi và khuyến khích. Cái cần phải có là can đảm chính trị.
NV: Cảm ơn ông đã dành thời giờ cho cuộc phỏng vấn.
Hà Giang/Người Việt
Vải thưa che mắt ai?
03:24 |Vải thưa che mắt ai?
Theo Boxitvn
Thục Quyên
Nói là một chuyện. Làm là một chuyện khác.
![]() |
| Tam giác quỷ - Ảnh Internet |
Ở
vị thế quan sát và tìm hiểu, những người thông minh khi nghe, không
những nghe cả những điều nói ra mà nghe cả những điều không được nhắc
tới. Những người thông minh khi nhìn, không chỉ nhìn những hành động mà
còn nhìn, và nhìn kỹ, kết quả của những hành động.
Thế giới đang nghe và nhìn Việt Nam và Trung Quốc để hình thành ý kiến của họ về cuộc "tranh chấp" giữa hai nước.
Lẽ
dĩ nhiên cả hai nước đang tìm cách tuyên truyền đường lối của mình,
bênh vực "lẽ phải" của mình. Do đó nếu Việt Nam, rõ ràng là một nước
nhược tiểu đang cần thế giới bênh vực mình, thì cần đủ thông minh để
quan tâm thế giới đang đánh giá mình ra sao?
Báo chí Đức đã viết gì trong những tuần qua?
Tin
tàu kiểm ngư Việt Nam bị tàu Trung quốc đâm hư hại đã được các báo chí
Đức (như mọi nơi trên khắp thế giới) chú ý và đăng tải. Xét về mặt này
thì Việt Nam đã thành công trong việc đánh động thế giới. Nhưng xét về
cách đăng tin thì Việt Nam nên giật mình, tỉnh giấc.
Điểm quan trọng nhất là báo chí Đức đồng thanh mô tả đây là cuộc tranh chấp giữa hai nước cộng sản anh em.
Đọc tin như vậy thì phải hiểu họ muốn nhấn mạnh với độc giả của họ là
chuyện này không ăn thua gì tới chúng ta. Hãy nhìn sự giả dối của những
nước cộng sản: Nước lớn Trung Hoa không những bóc lột mà còn thản nhiên
cướp của, nô lệ hóa một phần chưa đủ phải tiếp tục nô lệ toàn diện. Nước
nhỏ Việt Nam đã chọn lựa, khăng khăng một lòng anh em vô sản với nhau,
thì là vấn đề của Việt Nam.
Điểm thứ hai là mọi tờ báo đều mô tả đây là sự tranh chấp tại một vùng biển mà cả Trung Hoa và Việt Nam đòi chủ quyền.
Không kể là còn các nước khác cũng đòi phần của họ. Đây là một sự thất
bại nặng nề của Việt Nam, nếu không chỉnh sửa được tin tức, sẽ đưa đến
mất Biển Đông không thể cứu chữa.
Đảng Cộng Sản
VN ngày xưa đã đủ lươn lẹo dấu nhẹm sự có mặt của Trung Hoa và Liên xô
trong cuộc nội chiến Bắc Nam để buộc tội sự có mặt của đồng minh Mỹ của
chính phủ miền Nam là ngoại xâm, nay lại thua sự lươn lẹo của đàn anh
mình. Không thắng nổi ngay cả việc đưa tin là Trung Hoa ngang nhiên cắm
giàn khoan dầu trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Điểm
thứ ba là vấn đề biểu tình. Không thể tìm được một tờ báo Đức nào không
loan tin những cuộc biểu tình trở thành "bạo loạn" như chính phủ Việt
Nam mô tả đều là do chính nhà cầm quyền ngầm cho phép. Họ đưa ra những
bằng chứng là những người biểu tình chống mưu đồ xâm lược của Trung Cộng
vẫn bị cầm tù (chính phủ Đức rất tích cực cùng với các chính phủ các
nước Âu Châu khác và Mỹ đòi tự do cho nhiều nhà tranh đấu như Điếu Cày,
Đỗ Thị Minh Hạnh v.v...) và những cuộc biểu tình của dân chúng tại Hà
Nội , Sài Gòn vẫn tiếp tục bị cấm đoán. Họ biên rõ ràng giấy trắng mực
đen chính phủ Việt Nam có khả năng điều khiển những cuộc biểu tình từ
không đến có và ngược lại.
Hai cuộc biểu tình
lớn tại thủ đô Berlin và Muenchen (Munich) với sự tham dự đông đảo của
Việt kiều (những người Việt còn dùng thông hành Việt Nam) tiếc thay lại
chứng minh cho nguồn tin này vì được tổ chức quy mô với áo, khăn buộc
đầu và Cờ Đỏ Sao Vàng, giống như hình ảnh các báo đăng về cuộc biểu tình
trở thành bạo động tại Bình Dương. Trong cuộc biểu tình tại Berlin, một
nhà thơ bị cấm nói và xô đẩy, mặc dù trước đó được BTC mời lên micrô
phát biểu, nghĩa là người này hoàn toàn theo đúng thể lệ của BTC biểu
tình. Có phải vì bài thơ của ông này nói ra những điều nhà cầm quyền
Việt Nam không muốn dân biết hay chú ý tới?
Cuộc
biểu tình Cờ Đỏ tại Muenchen viết rõ ràng trong lời kêu gọi là "ỦNG HỘ
CHÍNH PHỦ" và trước đó ban tổ chức đã viết trên FaceBook thóa mạ cùng
kêu gọi đừng tham dự cuộc biểu tình chống Trung Quốc bành trướng, mang
biểu tượng bản đồ Tổ quốc, của những người muốn giới thiệu đến người dân
bản xứ hình ảnh những người mang giòng máu Việt yêu chuộng hòa bình,
thành đạt và hòa nhập với xã hội nơi mình sinh sống, nhưng luôn luôn
tranh đấu cho tự do, độc lập của quê mẹ, chống lại một Trung Hoa hung
hãn, và không quên những người bạn đồng hành tại quê nhà đang bị nhà cầm
quyền giam cầm, đầy ải.
Những kiều bào nóng
ruột vì họa ngoại xâm góp mặt trong những cuộc biểu tình "ủng hộ chính
phủ" không biết có kịp suy nghĩ là họ đã đồng thời xác nhận với chính
phủ và nhân dân Đức: chúng tôi ủng hộ chính phủ Việt Nam đã ký kết và
tuân thủ tinh thần 16 chữ Vàng với Trung Quốc?
Một
khía cạnh tin tức đáng lưu tâm khác đúng vào thời điểm này là buổi ra
mắt ngày 14/05/2014 của cuốn phim tài liệu lịch sử "Die Legion,
Deutscher Krieg in Viet Nam" của nhà đạo diễn Đức Emanuel Rotstein tại
Muenchen.
Cuốn phim " Đoàn lính lê dương, cuộc
chiến Đức-Đức tại Việt Nam" lần đầu tiên bạch hóa chiến thuật tuyên
truyền vu cáo của Đông Đức (Cộng Hòa Dân Chủ Đức) trong những năm chiến
tranh ý thức hệ tại Việt Nam. Bị vu họa là "lính lê dương" , tình báo
cho "đế quốc Mỹ", những nhân viên y tế của Tây Đức (Cộng Hòa Liên Bang
Đức) đang phục vụ tại những nhà thương, chẩn y viện, đại học y khoa Huế
đã bị Việt Cộng bắt giết, hoặc bắt cóc giải về miền Bắc, mặc dù những
bác sĩ, y tá Tây Đức nhận chữa trị và bảo vệ cho tất cả mọi người bị
thương cần đến họ, không dấu diếm và không bị cản trở bởi chính phủ miền
Nam.
Hai trong số những người Tây Đức bị bắt
cóc còn sống sót, được thả cùng với lớp tù binh Mỹ đầu tiên, là một vị
bác sĩ và một bà y tá. Những nhân chứng này đang sống tại Đức và đã lên
tiếng trong cuốn phim.
Tiếp theo, trong phần
bình luận, đa số khán giả đã chỉ trích đạo diễn Rotstein không nhắc tới
thủ phạm chính là Mỹ đã xâm lược Việt Nam. Hai người Việt Nam được mời
tham dự là TS Thành Nguyễn - Brem và tôi đã có cơ hội lên tiếng.
Chúng
tôi đã nói lên sự đau khổ của người dân Việt nhỏ bé kẹt giữa hai ý thức
hệ và yêu cầu mọi người bén nhậy trong khi thu nhập tin tức: cuộc chiến
tại Việt Nam khi xưa không thể có và càng không thể kéo dài 20 năm nếu
không có súng đạn của ngoại quốc. Một bên là Mỹ, bên kia là Trung Cộng
và Nga Xô. Hậu quả tàn khốc đã không chấm dứt năm 1975, không chỉ thu
gọn trong những vùng bị bột da cam Mỹ. Mà bây giờ còn lan rộng tại những
vùng nơi Trung Hoa đào Bauxite, nơi công ty thối nát tham nhũng Rosatom
của Nga sửa soạn xây những nhà máy hạt nhân, nơi Trung Hoa đang ngang
ngược cướp đảo và cướp biển của Việt Nam. Chúng tôi rất biết ơn nước Đức
góp phần bảo vệ Luật Quốc Tế và Hoà Bình toàn cầu.
Tràng pháo tay trong phòng chiếu phim thật bất ngờ .
Nhưng qua những ngày hôm sau lại nhuốm chua chát.
Với
dân trí của họ, người Đức có khả năng suy xét và sửa đổi tầm nhìn của
họ, trong khi người Việt vẫn vỗ ngực thắng thua và phất cờ Vàng Đỏ trên
đường phố của họ, chửi nhau là Giặc.
Giặc ở Biển Đông kia kià.
Giặc ở biên giới, Giặc ngồi trong từng món hàng rẻ tràn ngập thị trường Việt Nam. Có biết không?
Đừng chạy than khóc với người ngoài.
Có thể bắt đầu LÀM.
Bằng cách đem hai cái cờ Đỏ Vàng bỏ vào viện bảo tàng .
Để bắt đầu lại với nhau.
T.Q.
Tác giả gửi BVN
Phải xét lại toàn bộ quan hệ với Trung Quốc
02:57 |
Ngô Minh
Lâu
nay lãnh đạo đảng và nhà nước Việt Nam quan niệm mối quan hệ Việt –Trung là
“anh em tình nghĩa keo sơn” ( bốn phương vô sản đều là anh em) , là “môi hở
răng lạnh”, là cùng ý thức hệ Chủ nghĩa Cộng sản, cùng xây dựng chủ nghĩa xã
hội , là “16 chữ vàng”, là “4 tốt”…Từ chỗ xác định như vậy nên cái gì cũng làm
theo Trung Quốc.
Cải tạo công thương nghiệp ở miền Bắc sau năm 1954, Hợp tác
hóa nông nghiệp, Cải cách ruộng đất theo chỉ đạo của cố vấn Trung Quốc, “đánh”
nhân văn gai phẩm” theo mô hình Trung
quốc. Tin tưởng vào Trung Quốc đến độ ngây thơ tội nghiệp ( Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ
( Việt Phương) . Tất cả những chủ trương “ăn theo” Trung Quốc ấy đã gây nên bao
chết chóc, đau thương, bao nhiêu đổ vỡ, tan nát cho từng gia đình Việt Nam, làm
chậm sự phát triển của dân tộc. Chỉ có hai vấn đề mà đảng không theo Trung Quốc
thì thắng lợi to. Đó là “Đánh chắc tiến chắc” ở Điện Biên Phủ” và đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ.
Sau
những bài học xương máu ấy, lạ lùng nhất là Việt Nam vẫn tin tưởng và lệ thuộc
vào Trung Quốc đến độ Trung Quốc đánh chiếm Quần đảo Hòang Sa của Việt Nam năm
1974 vẫn không có một lời phản đối. Tháng 2-1979, Trung Quốc đem 60 vạn quân
đánh Việt Nam trên toàn tuyến
biên giới
phía Bắc, gây bao tang tóc cho nhân dân ta; Trung Quốc đánh chiêm đảo
Gạc Ma
thuộc Quần đảo Trường Sa của Việt Nam năm 1984 làm 64 chiến sĩ hải quân
hy sinh, vẫn “bắt tay” với Trung Quốc tại Hội nghị bí mật Thành Đô năm
1990, “tái lập
quan hệ hữu nghị”, thực chất là đẩy Việt Nam phụ thuộc hơn vào Trung
Quốc. (….) Lệ thuộc đến mức, trong những ngày nhân dân ta đang trao
cờ tang Đại tướng thiên tài Võ Nguyên Giáp, lãnh đạo Hà Nội cũng bắt
phải bỏ cờ
tăng tướng Giáp xuống để đón thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường. Đó
không phải
là ngoại giao. Đó là sự sợ sệt vì lệ thuộc.
Rất
nhiều nhà trí thức, tướng lĩnh Việt Nam đã nhiều lần bày tỏ ý kiến lo ngại
trước âm mưu thôn tính của bọn bành trướng Đại Hán. Thậm chí những người rất
hiểu tâm địa Trung Quốc như tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nhà ngoại giao Dương Danh
Dy đã nhiều lần phát biểu, viết bài phân tích âm mưu thâm độc của Trung Quốc,
nhưng không ai nghe. Thậm chí ngược lại, nhiều trí thức, sinh hiên, học sinh
biểu tình chống Trung Quốc trong nhưng
năm 2011, 2012…đã bị đàn áp như kẻ thù.
Từ
đầu tháng 5-2014 đến nay, Trung Quốc đưa
giàn khoan khủng vào cắm ở sâu trong lãnh hải Việt Nam, rồi đưa hàng trăm tàu chiến, tàu tên lửa, tàu hải
giám vào vùng biển Việt Nam để bảo vệ giàn khoan. Đó là sự xâm lược trắng trợn, ngạo mạn và đểu cáng.
Cái giàn khoan HD-981 ấy đã lật tây bộ mặt thật của mỹ từ “ 16 chữ vàng”,”4 tốt”
của nhà cầm quyền Bắc Kinh, hiện nguyên hình là những tên xâm lươc. Chính cái
giàn khoan ấy cũng đã dạy cho người Việt Nam, từ nay trở đi phải đối xứ với
Trung Quốc như thế nào. Phải xét lại toàn bộ mối quan hệ với Trung Quốc đúng
với sự thật đã phơi bày để có phương cách ứng đối lâu dài.
Trong
cả tháng trời nay, nhân dân , trí thức, học sinh Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Huế,
Đà Nẵng …và cả nước đã xuống đường rầm rộ biểu tình biểu tình phản đối hành
động xâm lược của Trung Quốc. Và rất mừng là đảng và nhà nước đã đồng tình với
nhân dân, nên không đàn áp bắt bớ như những lần trước. Nhân dân cả nước rất
đồng tình với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong những phát biểu phản đối hành vị
ngang ngược của Trung Quốc một cách mạnh mẽ tại hội nghị cấp cao ASEAN, tại hội
nghị ở Philippine. Thủ tướng tuyên bố :” Việt
Nam luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập,
tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận
đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển
vông, lệ thuộc nào đó”. Thủ
tướng tuyên bố:” Chúng tôi không bao
giờ đơn phương sử dụng biện pháp quân sự, không bao giờ khơi mào một cuộc đối
đầu quân sự, trừ khi chúng tôi bị bắt buộc phải tự vệ”…
Lâu lắm rồi, giờ mới được nghe thấy câu trả lời hay
đến như vậy. Đó là thông điệp về ước nguyện hòa bình của Việt Nam đến toàn
thể bạn bè quốc tế". Tuyên bố của
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là tuyên ngôn của người Việt, mạnh mẽ, sòng phẳng,
trách nhiệm và bóc trần dã tâm bành trướng của nhà cầm quyền Trung Quốc”
Từ vụ giàn khoang HD-981
xâm lược này, nhân dân mong mỏi đảng và nhà nước phải thay đổi quan điểm về mối
quan hệ Việt- Trung. Là hai nước láng giềng, phải luôn luôn giữ mối giao hòa để
phát triển, để nhân dân hai nước yên ổn làm ăn. Vì Việt Nam không thể “chuyển
nước” đi nới khác được. Bao triều đại trước của Việt Nam cũng đã “sống với
Trung Quốc” như thế. Nhưng các Hoàng đế Việt Nam xưa luôn luôn đề cao cảnh giác
với sự xâm lăng của Trung Quốc. Tăng cường sức mạnh, trình độ tác chiến của
quân đội cũng để đề phòng xự xâm lăng
luôn thường trực của bọn bánh trướng Đại Hán. Không cho chúng vào những địa
bàn hiểm yếu của quốc gia. Phải bàn tính
kỹ các kế hoạch, biện pháp trước mắt và lâu dài để chống lại sự xâm lăng của Trung Quốc đối với vùng viển, vùng trời
và lãnh thổ quốc gia. Chủ quyền là thiêng liêng nhất. Nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng
liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó.
Người viết bài này cho rằng, phải đuổi cái giàn
khoan ấy ra khởi lãnh hải Việt Nam, phải cắt cái lưỡi bò ra khỏi cái mồm
tham lam ấy, nhưng cũng phải “cám ơn” nó vì nó đã làm được hai điều quan trọng
: Nó lột cái mặt nạ “anh em 16 chữ vàng” để cho cả thế giới biết cái mặt thật xâm
lược, gian xảo, ngang ngược . cái mặt “không chơi được” của nhà cấm quyền Trung
Quốc. Thứ hai là nó làm cho nhiều quan chức Việt Nam tỉnh ngộ :Thì ra bọn Trung
Quốc là thâm hiểu, tham lam , là giặc, thế mà lâu nay mình cứ tưởng…
Tác giả gửi Quê Choa
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả
...................
(...) Quê Choa lược bỏ ba câu
TRUNG QUỐC LÀ GÌ CỦA VIỆT NAM?
02:58 |
TRUNG QUỐC LÀ GÌ CỦA VIỆT NAM?*
Giáp Văn Dương
Từ xưa đến nay, quan hệ Việt-Trung luôn phức tạp. Để có chiến lược ứng xử thích hợp, đã đến lúc phải thẳng thắn trả lời câu hỏi: Trung Quốc là gì của Việt Nam?
Định vị lại Trung Quốc
Khi xem xét chiến lược ứng xử với Trung Quốc, có ý kiến cho rằng, với Việt Nam, Trung Quốc đồng thời là: người thầy vĩ đại, người bạn thân thiết và đối thủ nguy hiểm.
Nhìn vào lịch sử quan hệ và những ảnh hưởng qua lại giữa hai nước, thì thấy rằng Trung Quốc đã từng đóng tất cả các vai ấy trong mối quan hệ thăng trầm với Việt Nam.
Tuy nhiên, vào thời điểm hiện nay, nếu coi đây là xuất phát điểm cho chiến lược ứng xử với Trung Quốc thì cần phải xem xét lại.
Nếu coi Trung Quốc là người thầy vĩ đại, thì sẽ có xu hướng bắt chước thầy, chịu sự chỉ dẫn của thầy với tư cách học trò. Khi xảy ra tranh chấp, điều đã từng xảy ra nhiều lần trong lịch sử, thì trò khó lòng có thể thắng được thầy.
Còn nếu coi Trung Quốc vừa là người bạn thân thiết, vừa là đối thủ nguy hiểm thì lại tự mâu thuẫn nhau. Đã là bạn thì không thể là kẻ thù, vì cơ sở của tình bạn là sự tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau. Còn đã coi nhau là kẻ thù thì không thể là bạn.
Nếu coi Trung Quốc vừa là thầy, vừa là bạn, vừa là đối thủ của Việt Nam, tất yếu dẫn đến những lúng túng và yếu thế trong chiến lược ứng xử với Trung Quốc. Nói cách khác là gây ra bối rối ngay từ khâu lên kế hoạch, nên thua thiệt là điều khó tránh khỏi.
Một nhận định khác cũng thường được nói đến nhiều: Trung Quốc và Việt Nam là anh em "môi hở răng lạnh". Việc tự coi mình là em đã đặt Việt Nam vào thế bất lợi toàn diện trong quan hệ với Trung Quốc, tất yếu sẽ rất đến những thua thiệt trong ngoại giao, trao đổi văn hóa, thương mại, thậm chí cả trong bảo vệ chủ quyền và lợi ích hợp pháp của đất nước, v.v.
Vậy Trung Quốc là gì của Việt Nam?
- Đối tác bình đẳng
Trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi viết rằng:
"Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập.
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương."
Qua đó có thể thấy, Nguyễn Trãi không coi Trung Quốc là thầy, bạn, hay kẻ thù hoặc kết hợp của cả ba thứ này. Nguyễn Trãi cũng không coi Trung Quốc là anh em với Việt Nam. Ông chủ trương Trung Quốc là một đối tác độc lập, bình đẳng trong quan hệ với Việt Nam về mọi mặt.
Đây là chiến lược sáng suốt của Nguyễn Trãi, dù ra đời đã gần 600 năm. Chủ trương này vẫn còn là kim chỉ nam cho chiến lược ứng xử với Trung Quốc ngày nay, không chỉ trong quan hệ ngoại giao, mà còn cả trong trao đổi văn hóa, thương mại, v.v.
Trong ngoại giao, việc xác định Trung Quốc là đối tác bình đẳng sẽ giúp định ra các chính sách và thái độ đối ngoại đúng đắn, góp phần củng cố vị thế Việt Nam trên trường quốc tế và bảo vệ quyền lợi chính đáng của đất nước, nhất là khi tranh chấp biển đảo giữa Việt Nam và Trung Quốc đang có những diễn biến phức tạp.
Trong văn hóa, việc coi Trung Quốc là đối tác chứ không phải là người thầy, bạn bè, đối thủ hay bậc đàn anh sẽ giúp Việt Nam giữ được bản sắc văn hóa của mình trong khi vẫn sàng lọc được những điều hay cần học hỏi.
Trong mậu dịch, Việt Nam đang yếu thế so với Trung Quốc: cán cân thương mại Trung Quốc-Việt Nam đang có những mất cân đối nghiêm trọng. Nhập siêu từ Trung Quốc đang ở mức đáng lo ngại và tăng liên tục: ước tính khoảng 11 tỷ USD năm 2008, so với 200 triệu USD năm 2001. Cơ cấu mậu dịch cho thấy Việt Nam chủ yếu xuất khẩu tài nguyên và sản phẩm thô, ước tính khoảng 80% tổng giá trị xuất khẩu sang Trung Quốc, trong khi nhập về chủ yếu hàng công nghiệp. Do đó cần phải có chiến lược điều chỉnh thích hợp, phấn đấu đưa Trung Quốc trở thành đối tác thương mại ngang hàng với Việt Nam.
Tất cả những điều đó chỉ có thể thực hiện từ xuất phát điểm: coi Trung Quốc là đối tác bình đẳng, chứ không phải là thầy-bạn-đối thủ hay anh-em của Việt Nam.
Việc coi Trung Quốc là đối tác bình đẳng còn giúp Việt Nam tận dụng được sức mạnh của hệ thống pháp lý và sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Vì một lẽ đơn giản, tất cả các nước đều bình đẳng trước các cam kết và hệ thống pháp lý quốc tế. Và cộng đồng thế giới ủng hộ sự bình đẳng này.
Do đó, Việt Nam cần phải nương vào nguyên tắc bình đẳng và sự hỗ trợ này để vươn lên vị trí bình đẳng toàn diện trong quan hệ với Trung Quốc.
Bước vào thập kỉ mới - thập kỉ bản lề ẩn chứa nhiều cơ hội và thách thức cho sự phát triển của Việt Nam, nhất là trong quan hệ với Trung Quốc - câu hỏi Trung Quốc là gì của Việt Nam cần phải được trả lời dứt khoát: Trung Quốc là đối tác bình đẳng với Việt Nam trên mọi lĩnh vực, chứ không phải là thầy-bạn-đối thủ hay anh-em như nhiều người đã và đang nghĩ.

