Home » Vấn Đề Pháp Lý
Các diễn biến chính của vụ án Hồ Duy Hải (liên tục cập nhật)
20:09 |
Trần Hà Linh
Để
thuận tiện cho việc theo dõi các diễn biến của vụ án Hồ Duy Hải, Luật
Khoa tạp chí sẽ liên tục cập nhật các diễn biến của vụ án tại bài viết
này. Các diễn biến được cập nhật có thể là diễn biến mới xảy ra hoặc
diễn biến đã xảy ra trước đây nhưng chưa được cập nhật. Lần cập nhật gần
nhất là: 11:39 đêm 17/3/2015.
14/1/2008
Buổi sáng, hai nạn nhân Nguyễn Thị Ánh
Hồng (23 tuổi) và Nguyễn Thị Thu Vân (21 tuổi) được phát hiện đã chết
tại Bưu điện Cầu Voi, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Nạn nhân Hồng bị cắt
lìa cuống họng, trên mặt có nhiều thương tích, nằm ngửa bên dưới chân
cầu thang, áo bị cuốn lên khỏi ngực. Bên cạnh đó, thi thể Nguyễn Thị Thu
Vân (21 tuổi) trong tư thế nằm ngửa, đầu gối lên đùi trái của Ánh Hồng,
chân trái dang ra và gác lên một cái ghế xếp, cổ có vết cắt và trên đầu
có nhiều dấu vết do vật cứng va chạm. Số tiền 1.400.000 đồng, một số
điện thoại, sim card và nữ trang cũng biến mất khỏi hiện trường.
Cơ quan điều tra triệu tập Nguyễn Văn
Nghị (28 tuổi, ngụ tại xã Tân Hội, huyện Cai Lậy, Tiền Giang), là một
trong hai người bạn trai của nạn nhân Ánh Hồng, và ban đầu được xác định
là nghi can số một.
16/1/2008
Cơ quan điều tra tiếp tục triệu tập 3
người thợ bạc của tiệm vàng Kim Long, gần Bưu cục Cầu Voi, trong đó có
Nguyễn Mi Sol, được biết cũng là bạn trai của nạn nhân Hồng.
21/3/2008
- Cơ quan điều tra khởi tố và bắt tạm
giam Hồ Duy Hải (23 tuổi, ngụ tại ấp 1, xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa) và
xác định đây chính là hung thủ.
- Nhân chứng Nguyễn Văn Thu ra chợ mua
một con dao nộp cho Ban Công an xã và khẳng định “nó giống với con dao
đã mất” tại hiện trường. Sau này, con dao này được Viện Kiểm sát Nhân
dân tỉnh Long An sử dụng để truy tố Hồ Duy Hải về hành vi giết người.
22/3/2008
Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Long An ra
quyết định phê chuẩn lệnh bắt số 03, ngày 21/3/2008 của Cơ quan Cảnh sát
Điều tra – Công an tỉnh Long An, nhưng trong quyết định đó, tên người
bị bắt là Nguyễn Duy Hải chứ không phải Hồ Duy Hải.
11/4/2008
Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Long
An ban hành kết luận giám định ghi rõ: “Các dấu vết vân tay thu được
tại hiện trường vụ án ngày 14.1.2008 tại Bưu cục Cầu Voi… không phát
hiện trùng với điểm chỉ 10 ngón in trên chỉ bản của Hồ Duy Hải”.
24/6/2008
Theo yêu cầu của cơ quan điều tra, bà Lê
Thị Thu Hiếu (bạn của hai nạn nhân) đi mua một tấm thớt gỗ khác về nộp
cho cơ quan điều tra để làm vật mô phỏng chứng cứ. Cùng với con dao được
mua từ chợ ngày 21/3/2008, chiếc thớt này được Viện Kiểm sát Nhân dân
tỉnh Long An sử dụng để truy tố Hồ Duy Hải về hành vi giết người.
TAND tỉnh Long An tuyên án tử hình đối
với Hồ Duy Hải về hai tội giết người và cướp tài sản, đồng thời buộc bị
cáo bồi thường cho gia đình nạn nhân gần 60 triệu đồng. Hồ Duy Hải đã
làm đơn kháng cáo ngay sau đó.
28/4/2009
Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM
bác đơn kháng cáo của Hồ Duy Hải, tuyên y án sơ thẩm. Hồ Duy Hải đã làm
đơn xin giảm án gửi cho Chủ tịch nước ngay sau đó.
17/5/2012
Chủ tịch nước quyết định bác đơn xin giảm án của Hồ Duy Hải.
25/11/2014
Tòa án Nhân dân tỉnh Long An thông báo
với gia đình về Quyết định thi hành án tử hình, theo đó, Hồ Duy Hải sẽ
bị xử tử hình vào ngày 5/12/2014.
Bà Nguyễn Thị Loan (trái), mẹ Hồ Duy Hải, đã kêu oan cho con mình kể từ đầu vụ án. Ảnh: Nguyễn Lân Thắng
4/12/2014
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang gửi công
văn cho Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát
Nhân dân Tối cao đề nghị chỉ đạo cho tạm dừng thi hành hình phạt tử hình
đối với Hồ Duy Hải.
Ông Lê Quang Hùng, Phó Chánh án TAND –
Chủ tịch Hội đồng thi hành, viết bút phê xác nhận với gia đình Hồ Duy
Hải về việc tạm dừng thi hành án tử hình.
5/12/2014
Tòa án Nhân dân tỉnh Long An tổ chức họp báo công bố thông tin và trả lời chất vấn về vụ án Hồ Duy Hải.
Phái đoàn Liên minh Châu Âu (EU) tại Hà Nội ra tuyên bố hoan nghênh quyết định hoãn thi hành án tử hình, kêu gọi Việt Nam đình chỉ thi hành bản án này và bãi bỏ án tử hình.
24/12/2014
Bà Lê Thị Nga, Phó Chủ tịch Ủy ban Tư
pháp Quốc hội, làm việc với gia đình Hồ Duy Hải theo chương trình giám
sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
05/1/2015
Ông Lê Hữu Thể – Phó Viện trưởng Viện
Kiểm sát Nhân dân Tối cao – cho biết, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao có
công văn đề nghị Tòa án Nhân dân Tối cao và Bộ Công an cử cán bộ tham
gia tổ công tác liên ngành để thẩm định lại kết quả điều tra, truy tố,
xét xử vụ án Hồ Duy Hải.
Ông cũng nói rằng, ngoài hai cơ quan
trên thì Ban Nội chính Trung ương cũng sẽ vào cuộc xem xét, làm rõ Hồ
Duy Hải có bị kết án tử hình oan hay không.
05/3/2015
Bà Nguyễn Thị Loan, mẹ của Hồ Duy Hải,
và bà Nguyễn Thị Rưỡi, dì ruột của Hải, gặp gỡ đại diện phái đoàn Liên
minh Châu Âu tại Hà Nội, tìm cách nhờ EU giúp đỡ, can thiệp kêu oan cho
Hải.
13/3/2015
Ủy ban Thường vụ Quốc hội chất vấn Chánh
án TANDTC Trương Hòa Bình về tình hình oan sai trong hoạt động tố tụng
hình sự và bồi thường oan sai theo Luật Trách nhiệm Bồi thường của nhà
nước. Đại biểu Đỗ Văn Đương (TP.HCM) nêu ra 5 vụ án đặc biệt nghiêm
trọng, có dấu hiệu oan sai, trong những năm qua: Hồ Duy Hải, Nguyễn Văn
Chưởng, Lê Bá Mai, Huỳnh Văn Nén, Nguyễn Thanh Chấn.
Liên quan đến vụ án Hồ Duy Hải, Chánh án
Trương Hòa Bình đáp: “Quá trình điều tra tuy có sai sót nhưng không làm
thay đổi vụ án, vì vậy Tòa vẫn giữ nguyên bản án tử hình”, “Bây giờ bản
án đã có hiệu lực pháp luật. Chưa phát hiện ra căn cứ để kháng nghị”.
(Tiếp tục cập nhật)
Tổng hợp từ:
TED Talks: Làm thế nào để xóa bỏ bức cung, nhục hình?
20:07 |
“Mọi thay đổi đều bắt đầu từ một nhóm ít người có lòng quyết tâm”
Trương Tự Minh (dịch)
Tra
tấn – hay bức cung, nhục hình – không phải là hiện tượng đã thuộc về dĩ
vãng. Nó vẫn hiện hữu ở thời hiện đại, ngay trong thế kỷ 21. Sau các vụ
án oan của Nguyễn Thanh Chấn hay gần đây là nghi vấn án oan Hồ Duy Hải
và Nguyễn Văn Chưởng, tình trạng bức cung, nhục hình trong tố tụng hình
sự Việt Nam đang dần trở thành một vấn đề nhức nhối. Trong một xã hội
pháp trị nơi mà nền tư pháp được xem là phương tiện chính danh duy nhất
để đạt được công lý, một khi có lỗ hổng trong nền tư pháp, con đường dẫn
đến công lý cũng sẽ bị đứt đoạn.
Karen Tse là luật sư chuyên bào chữa
trong các vụ án hình sự, đồng thời là một nhà hoạt động nhân quyền, sáng
lập viên của tổ chức International Bridges to Justice chuyên hỗ trợ và
đào tạo luật sư bào chữa cho các nước đang phát triển. Luật Khoa tạp chí
trân trọng giới thiệu bài trình bày của cô trong chương trình TED Talks
hồi tháng 7/2011 về việc làm cách nào để khắc phục và xóa bỏ tình trạng
phổ biến của bức cung, nhục hình trong tố tụng hình sự.
Bài liên quan: Từ Afghanistan: ‘Tôi đã bảo vệ nền pháp trị như thế nào‘
Làm thế nào để xóa bỏ bức cung, nhục hình?
Năm 1994, tôi đến một nhà tù ở Cambodia
để gặp một cậu bé 12 tuổi đang bị giam tại đây, em đã bị bức cung và
không có luật sư bảo vệ. Nhìn vào mắt em, tôi nhận ra hàng trăm bức thư
vận động tự do mà mình đã viết cho những tù nhân chính trị sẽ không có
tên em. Bởi vì 12 tuổi thì chưa thể làm gì to tát cho ai cả. Em không
phải là một tù nhân chính trị, em chỉ là một cậu bé đã ăn trộm một chiếc
xe đạp mà thôi. Lúc đó tôi cũng nhận ra rằng không chỉ riêng Cambodia,
trong số 113 quốc gia đang phát triển vẫn còn tồn tại tình trạng bức
cung, nhục hình, có đến 93 nước đã luật định quyền được có luật sư và
nghiêm cấm việc, bức cung, nhục hình.
Tôi đã nhìn thấy một cơ hội to lớn cho
chúng ta, cộng đồng thế giới, cùng nhau bắt tay để chấm dứt tình trạng
sử dụng bức cung, nhục hình như một công cụ điều tra. Chúng ta thường
nghĩ hình thức đối xử đó chỉ có tù nhân chính trị mới phải chịu hoặc chỉ
xảy ra trong những trường hợp tồi tệ nhất, nhưng trên thực tế, 95% các
vụ bức cung, nhục hình hiện tại lại không thuộc về tù nhân chính trị, mà
nạn nhân là những người bình thường bị đẩy vào một hệ thống tư pháp đã
hỏng. Thật không may, bởi vì bức cung, nhục hình là hình thức điều tra
tiết kiệm nhất – nó rẻ hơn rất nhiều so với yêu cầu tuân thủ đúng quy
trình tố tụng hay việc đảm bảo quyền được có luật sư và tiếp cận luật sư
từ sớm – cũng dễ hiểu khi tình trạng này diễn ra thường xuyên. Tôi tin
chúng ta với tư cách là cộng đồng quốc tế, một khi đã quyết định thực
hiện, chúng ta có thể cùng nhau chấm dứt tình trạng bức cung, nhục hình
trong quá trình điều tra.
Tuy nhiên, để làm được điều đó cần phải có 3 điều. Đầu tiên là việc đào tạo, tiếp sức và kết nối các luật sư biện hộ.
Điều thứ hai: đảm bảo người bị bắt giữ
hoặc tình nghi được tiếp cận luật sư từ sớm trên quy định lẫn thực tiễn.
Và quyết tâm đi đến cùng là điều kiện thứ ba.
Cảm hứng thay đổi từ Cambodia
Vào năm 2000, tôi bắt đầu suy nghĩ, nếu
chúng ta cùng hợp sức làm thì sao? Chúng ta có thể giúp gì cho 93 quốc
gia đó? Và tôi đã lập nên International Bridges to Justice (IBJ). IBJ có
mục tiêu chấm dứt việc sử dụng bức cung, nhục hình như một công cụ điều
tra, đồng thời đảm bảo các quyền tiếp cận quy trình tố tụng đúng luật
được thực thi ở 93 quốc gia bằng cách hỗ trợ các luật sư có kinh nghiệm
tham gia từ sớm vào quy trình tố tụng ở đồn cảnh sát cũng như tại phòng
xử án.
Những kinh nghiệm đầu tiên tôi có được
là ở Cambodia. Tôi nhớ hồi đến đất nước này lần đầu vào năm 1994, khắp
cả nước có chưa đến 10 luật sư sau khi Khmer Đỏ đã thảm sát gần như tất
cả họ. Nhưng thậm chí trải qua 20 năm, cả nước cũng chỉ có vỏn vẹn 10
người hành nghề luật. Thế nên mới có chuyện, khi bước vào trại giam để
gặp một cậu bé 12 tuổi, bạn cũng sẽ bắt gặp ở đó nhiều phụ nữ. Bạn sẽ
hỏi: “Vì sao các chị ở đây?” Để rồi bọn họ đáp: “Tôi đã ở đây 10 năm vì chồng tôi phạm tội nhưng người ta không bắt được anh ấy”. Đúng vậy, đó là nơi mà nền pháp trị không hề tồn tại.
Trong buổi tập huấn cho nhóm các luật sư biện hộ đầu tiên, tôi vẫn còn nhớ một mẩu đối thoại như sau. Tôi hỏi cả nhóm: “Các bạn làm gì trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án?” Một sự im lặng bao trùm lớp học. Cuối cùng một học viên nữ đứng lên cất tiếng: “Thưa
giảng viên, tôi đã từng bảo vệ cho hơn 100 người, nhưng tôi chưa từng
phải điều tra hồ sơ nào vì tất cả bọn họ đều đã khai nhận tội”.
Và thế là lớp chúng tôi đã thảo luận về
hai vấn đề. Thứ nhất, lời khai nhận tội có thể không đáng tin cậy. Và
điều thứ hai, chúng tôi sẽ không khuyến khích cảnh sát tìm mọi cách lấy
lời khai, nhất là khi pháp luật đã cấm.
Đã phải cần rất nhiều can đảm để các
luật sư biện hộ tham gia chương trình tập huấn quyết định sẽ đứng lên và
hỗ trợ nhau đảm bảo thực thi quy định đó. Tôi vẫn còn nhớ rất rõ những
vụ việc đầu tiên chúng tôi tiếp nhận. Như trong một trường hợp, tất cả
25 người bọn họ, một luật sư biện hộ đại diện đứng phía trước, những
người còn lại ở đằng sau ủng hộ cô ấy. Nhưng các thẩm phán vẫn kiên
quyết: “Không, không, không! Tòa sẽ làm đúng như trước giờ vẫn làm”.
Thế rồi một ngày vụ việc như ý cũng đến.
Bị cáo là một phụ nữ bán rau. Cô ấy ngồi bán bên ngoài một ngôi nhà.
Người phụ nữ nói cô đã nhìn thấy có người từ trong chạy ra, cô nghĩ đó
chính là thủ phạm trộm nữ trang. Dẫu vậy khi cảnh sát đến, mặc dù trên
người cô không có gì nhưng cảnh sát vẫn bắt cô đi. Lúc đó cô đang mang
thai. Trên người cô có nhiều vết bỏng của đầu thuốc lá. Cô bị sảy thai
trong quá trình điều tra. Thế rồi vụ án của cô được đưa ra tòa xét xử.
Và lần đầu tiên vị thẩm phán đã đứng lên nói: “Đúng, không có bằng chứng phạm tội nào ngoài lời khai nhận tội của bị cáo do bị bức cung. Bị cáo sẽ được phóng thích”.
Cứ như thế các luật sư biện hộ tiếp tục
nhận lần lượt vụ này đến vụ khác. Và như bạn thấy, từng bước từng bước
một, họ bắt đầu thay đổi lịch sử pháp lý ở Cambodia. Nhưng Cambodia
không phải là đất nước duy nhất. Tôi đã từng nghĩ, chỉ có Cambodia thôi
sao? Hay các nước khác cũng vậy? Sự thật là nhiều quốc gia khác cũng gặp
tình trạng tương tự.
Sự hợp tác của cộng đồng luật sư tạo nên sự khác biệt
Ở Burundi (một quốc gia ở Trung Phi –
ND), tôi bước vào nhà tù và gặp một cậu bé không phải 12 tuổi mà chỉ mới
8 tuổi, em bị bắt vì đã trộm một chiếc điện thoại di động. Tôi cũng gặp
một người phụ nữ là mẹ của một em nhỏ 3 tuổi. Tôi đã bồng cô bé vô cùng
kháu khỉnh đó lên và nói với mẹ bé: “Con chị rất đáng yêu”. Rồi mẹ em nói: “Vì nó mà tôi phải ở đây”.
Người phụ nữ đó bị buộc tội lấy cắp hai cái tã lót và một chiếc bàn là
cho con mình, sau đó bị đưa vào tạm giam. Tôi đã đến gặp trưởng trại
giam và nói với ông ấy: “Các anh phải thả cô ấy ra. Thẩm phán sẽ trả tự do cho cô ấy”. Thế rồi vị này trả lời: “Chúng
ta có thể xem xét việc đó, nhưng cô nhìn nhà tù của tôi mà xem. Tám
mươi phần trăm trong số hai nghìn người ở đây không có luật sư. Chúng
tôi thì làm được gì?” Vì vậy, nhiều luật sư dũng cảm đã cùng nhau
thiết lập một cơ chế giúp họ tiếp nhận vụ việc. Nhưng chúng tôi nhận ra
điều làm nên sự khác biệt không nằm ở việc đào tạo hay tập huấn mà quan
trọng ở mạng lưới kết nối của các luật sư.
Chẳng hạn ở Cambodia. Nữ luật sư mà tôi
nói ban nãy không chiến đấu một mình mà bên cô còn có 24 đồng nghiệp sát
cánh. Tương tự như vậy, các luật sư Trung Quốc thường chia sẻ với tôi: “Khi chúng ta hợp sức cùng nhau, cảm giác như có một ngọn gió mát lành thổi qua sa mạc”. Hay ở Zimbabwe, tôi vẫn còn nhớ một luật sư tên Innocent. Anh đã đến một nhà tù mà ở đó mọi người đều nói: “Chúng tôi đã ở đây được 1 năm, 8 năm, 12 năm mà không có luật sư bảo vệ”.
Sau đó anh gặp tôi và chúng tôi cùng trải qua một khóa tập huấn. Bởi vì
đã nghe nhiều lời than vãn và điều tiếng nên anh chia sẻ: “Nhiều người nói không thể có công lý ở đây vì chúng tôi không có đủ nguồn lực để làm điều đó”. Rồi anh nói tiếp: “Nhưng tôi muốn chị biết rằng việc thiếu thốn nguồn lực không bao giờ là lý do chính đáng cho tình trạng bất công và oan sai”. Và như thế, anh đã cùng 68 luật sư khác lập nên một nhóm làm việc có tổ chức để nhận bảo vệ cho nhiều vụ việc.
Dẫu vậy, vẫn có yếu tố quan trọng ở khâu
đào tạo luật sư và đảm bảo họ tham gia vào quá trình tố tụng từ sớm.
Gần đây tôi có đến Ai Cập, và cảm hứng đã đưa tôi đến gặp một nhóm luật
sư ở đây. Họ cho biết: “Cô xem, bây giờ trên đường không còn cảnh
sát nữa. Cảnh sát là một trong những nguyên nhân chính khiến dân chúng
đã xuống đường làm cách mạng. Nhiều người từng là nạn nhân bức cung,
nhục hình của cảnh sát”. Tôi thắc mắc: “Nhưng hàng chục triệu đô-la đã được rót vào các dự án phát triển hệ thống pháp lý ở đây. Chuyện gì đã xảy ra?”
Tôi cũng đến gặp một trong những cơ quan
tiến hành các dự án trên. Khi đó họ đang có chương trình tập huấn dành
cho các công tố viên và thẩm phán. Việc chọn lựa hai nhóm này thay vì
các luật sư bào chữa là sự thiên vị thường thấy ở đây. Họ cho tôi xem
một cuốn sổ tay hướng dẫn, phải nói đó là một tài liệu rất hay. Tôi thầm
nhủ sẽ tham khảo nội dung từ cuốn sổ tay này, vì nó có đầy đủ mọi thông
tin. Theo luật, các luật sư bào chữa có thể có mặt trong quá trình cơ
quan điều tra làm việc. Thật hoàn hảo. Các công tố viên cũng được đào
tạo rất bài bản. Nhưng tôi vẫn nói với họ: “Tôi có một câu hỏi, đó là khi hồ sơ vụ án được chuyển đến văn phòng công tố, chuyện gì đã xảy ra cho người bị buộc tội?” Sau một hồi ngập ngừng, người ta trả lời: “Họ đã bị bức cung”.
Như vậy mấu chốt không chỉ ở công tác
đào tạo, tập huấn cho luật sư mà nó còn là việc tìm ra cách thức đảm bảo
luật sư được tiếp cận thân chủ trong giai đoạn đầu của quá trình điều
tra. Các luật sư chính là tấm lá chắn giúp người bị tình nghi, buộc tội
không rơi vào tình trạng bị nhục hình, bức cung khi đang ở trong tay cơ
quan công quyền. Nói với các bạn điều vừa rồi, tôi biết các bạn sẽ hỏi: “Nghe chừng làm được đó, nhưng liệu có thực sự khả thi không?” Dẫu nghe có vẻ to tát, nhưng có nhiều lý do giúp tôi tin rằng có thể.
Lý do đầu tiên chính là những người luật
sư đang trực tiếp thực hiện công việc khó khăn này, những người luôn
tìm ra cách tạo nên điều kỳ diệu nhờ quyết tâm đi đến cùng của mình.
Không chỉ có Innocent, anh bạn luật sư người Zimbabwe tôi kể ban nãy, mà
đó còn là tất cả các luật sư trên khắp thế giới đang làm công việc bào
chữa trong các án hình sự. Ở IBJ, chúng tôi có một chương trình là
JusticeMakers (tạm dịch: Người kiến tạo công lý). Trước đó vì nhận ra có
nhiều người can đảm muốn đứng lên làm điều đúng đắn, chúng tôi đã cố
gắng tìm cách hỗ trợ họ. Kết quả là một cuộc thi trực tuyến được tổ chức
với giải thưởng 5.000 đô-la dành cho những ý tưởng sáng tạo góp phần
thực thi công lý. Cuối cùng chúng tôi đã có 30 JusticeMakers ở khắp nơi
trên thế giới, từ Sri Lanka đến Swaziland hay Cộng hòa Congo. Với 5.000
đô-la, họ đã làm nên những điều tuyệt vời thông qua chương trình SMS,
chương trình hỗ trợ pháp lý cùng nhiều sáng kiến khác.
Không chỉ có các JusticeMakers, bên cạnh
đó chúng tôi còn sát cánh với những người nhìn thấy mình đang đứng cùng
ai và biết rõ cùng nhau họ sẽ đi đến đâu.
Lấy ví dụ ở Trung Quốc. Nước này đã ra
những quy định rất tốt ngăn cấm cảnh sát sử dụng hình thức nhục hình,
bức cung; nếu vi phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm. Tôi đã ngồi cạnh một
trong những đồng nghiệp can trường của mình và nói: “Chúng ta có thể vận dụng quy định này như thế nào? Làm sao để chúng ta chắc rằng nó sẽ được thực thi? Quy định này là rất tốt”. Rồi anh bạn đồng nghiệp hỏi lại tôi: “Cô có kinh phí không?” Tôi nói không. Nhưng anh tiếp lời: “Không sao, chúng ta vẫn có cách”.
Thế là vào ngày 4 tháng 12, anh đã tập
hợp ba nghìn thành viên của Đoàn Thanh niên Cộng sản đến từ 14 trường
luật hàng đầu. Họ đã cùng nhau in áp phích phổ biến thông tin về các quy
định mới. Họ đến các đồn cảnh sát và bắt đầu điều mà anh bạn đồng
nghiệp của tôi gọi là một cuộc cách mạng pháp lý bất bạo động nhằm mục
tiêu bảo vệ quyền công dân.
“Mọi thay đổi đều bắt đầu từ một nhóm ít người có lòng quyết tâm”
Tôi đã nói về yêu cầu đào tạo và hỗ trợ
các luật sư bào chữa. Chúng ta cũng đã nhắc đến việc cần đảm bảo về mặt
quy định lẫn thực tế người bị tình nghi hoặc buộc tội được tiếp cận luật
sư sớm trong quá trình tố tụng. Tuy nhiên, điều kiện thứ ba, cũng là
điều quan trọng nhất, đó là quyết tâm đi đến cùng.
Nhưng mọi người thường nói với tôi: “Chị biết đó, công việc này rất hay, nhưng nó lý tưởng quá. Khó thành hiện thực lắm”.
Tôi cho rằng những câu nói như vậy thật thú vị vì cũng chính những lời
tương tự đã được nói với những người đã chấm dứt tình trạng nô lệ và xóa
bỏ chế độ Apartheid. Mọi thay đổi đều bắt đầu từ một nhóm ít người có
lòng quyết tâm.
Tôi xin chia sẻ một dòng thơ mà các đồng nghiệp của tôi thường đọc cho nhau nghe: “Can trường lên bạn ơi, hành trình còn dài, đường ta bước khó tường minh, và dẫu còn nhiều chông gai, nhưng từ sâu thẳm bên trong, bạn không hề đơn độc”.
Tôi tin nếu chúng ta, cộng đồng quốc tế, có thể hợp sức lại giúp đỡ
không chỉ các luật sư mà còn tất cả những ai là một phần của hệ thống tư
pháp và muốn thay đổi, chúng ta có thể cùng xóa bỏ tình trạng sử dụng
bức cung, nhục hình như một công cụ điều tra. Tôi luôn chọn một cái kết
cho bài nói của mình, vì tôi chắc chắn câu hỏi mà tôi nhận được sẽ là: “Nhưng tôi có thể thực sự làm gì?”
Với câu hỏi đó, tôi xin được trả lời thế này. Đầu tiên, bạn biết mình
phải làm gì. Thứ hai, tôi sẽ kết thúc phần trình bày của mình bằng câu
chuyện về cậu bé Vishna, người đã truyền cảm hứng cho sự ra đời của tổ
chức International Bridges to Justice.
Lúc gặp tôi, Vishna là một cậu bé 4 tuổi
sinh ra trong một trại giam ở tỉnh Kandal, Cambodia. Vì em được sinh ra
như thế nên mọi người, kể cả các cai tù, ai cũng quý mến em. Cậu bé là
người duy nhất được phép chui ra chui vào giữa những song chắn cửa ngục.
Rồi em bắt đầu lớn, đầu em cũng phát triển dần lên. Thế nên vào một
ngày, sau khi chui lọt qua song thứ nhất và thứ hai, đến song thứ ba cậu
nhóc phải từ từ di chuyển đầu mình mới cho qua được, rồi vòng ngược trở
lại, song thứ ba, thứ hai, thứ nhất. Em thường nắm lấy ngón út của tôi,
vì em muốn mỗi ngày được đi vòng quanh thăm các tù nhân trong trại. Tất
nhiên em chẳng thể gặp được tất cả bọn họ mỗi ngày, nhưng lúc nào em
cũng muốn gặp hết thảy 156 tù nhân ở đó. Tôi thường bồng cậu bé lên để
em đưa ngón tay qua những song sắt và chạm đến người tù bên trong.
Gần như mọi tù nhân ở đó đều nói cậu bé
là niềm vui lớn nhất và tia nắng ấm đối với họ. Họ luôn trông ngóng em
mỗi ngày. Và tôi luôn nói với mọi người: Vishna là một cậu bé 4 tuổi. Em
sinh ra trong một nhà tù chẳng có gì cho em, không của cải vật chất.
Nhưng cậu bé luôn có một cảm nhận về trách nhiệm cao cả của mình, điều
mà tôi tin ai trong chúng ta sinh ra cũng đều có. Em nói: “Có thể
con không làm được mọi thứ. Nhưng con được sinh ra trên đời này, con có
khả năng làm được điều gì đó. Con sẽ làm điều con có thể”. Thế nên
cảm ơn các bạn, những người đã có tầm nhìn viễn kiến để cùng chúng tôi
tạo nên một thế giới mới. Xin mời các bạn bước vào hành trình này cùng
chúng tôi.
Xin cảm ơn đã lắng nghe.
Đôi nét về Karen Tse:
Sau khi tốt nghiệp đại học năm 1986 ở
California, Karen Tse dành hai năm tiếp theo giúp đỡ người tỵ nạn ở Hong
Kong và Thái Lan. Tại những trại tập trung này cô đã chứng kiến nhiều
trường hợp người tỵ nạn bị bắt bỏ tù mà không qua xét xử. Từ đó cô bắt
đầu nhận thấy mối liên hệ giữa những vi phạm nhân quyền và lỗ hổng trong
tư pháp hình sự, vì vậy cô quyết định theo học luật ở Đại học
California (UCLA Law School). Năm 1994, sau khi ra trường, Karen đến
Cambodia trong một chương trình đào tạo pháp lý do Liên Hiệp Quốc tài
trợ. Trong thời gian ở đây, cô đã đào tạo và hỗ trợ về mặt chuyên môn
cho giới luật sư hình sự, công tố viên và thẩm phán. Cô cũng vận động để
tư pháp hình sự nước này tổ chức phiên tòa xét xử đầu tiên. Những trải
nghiệm cô có được suốt những năm làm việc ở quốc gia Đông Nam Á này đã
dẫn đến sự ra đời của International Bridges to Justice – IBJ (tạm dịch:
tổ chức Cầu nối Quốc tế đến Công lý) 6 năm sau đó.
Năm 2000, IBJ được thành lập với nhiệm vụ
đào tạo và hỗ trợ các luật sư bào chữa trong lĩnh vực hình sự ở các quốc
gia đang phát triển. IBJ hướng đến việc bảo vệ những người đang bị giam
giữ trái luật, không có luật sư và có nguy cơ cao trở thành nạn nhân
của bức cung, nhục hình – nhóm người mà Karen ước tính con số hiện lên
tới hàng chục ngàn trong những hệ thống tư pháp đã quá tải, bị lỗi hoặc
chứa nhiều tiêu cực. Bên cạnh đó, IBJ phối hợp cùng các hội nhóm xã hội
dân sự trong hoạt động giám sát cơ quan tư pháp hình sự qua các báo cáo
và bằng chứng hình ảnh, tư liệu. Tổ chức này cũng đã tham gia vào quá
trình tư vấn xây dựng luật và các cơ chế pháp lý nhằm đảm bảo quyền con
người trong tố tụng hình sự. Những năm đầu hoạt động, Karen cùng tổ chức
của cô đã có nhiều đóng góp mang tính đột phá trong cải cách tư pháp ở
Trung Quốc, Việt Nam và Cambodia. IBJ hiện đang có mặt ở 16 quốc gia
thuộc châu Á và châu Phi.
Karen tâm niệm: “Tôi tin chúng ta có thể xóa bỏ nạn bức cung, nhục hình trong thế kỷ này”.
|
Án tử hình oan và làn sóng cải cách luật pháp ở Trung Quốc (phần 3 và hết)
02:31 |
Nguyễn Huyền Trang
Các bản án oan sai cho thấy nhiều lỗ hổng
trong hệ thống pháp lý của Trung Quốc, từ việc dùng cực hình, bức cung
nghi can, đến việc sử dụng pháp luật làm công cụ trả đũa luật sư biện
hộ, đến sự thiếu độc lập và vô tư trong hoạt động xét xử giữa ba bên
điều tra, công tố và tòa án. Luật Khoa tạp chí xin giới thiệu
phần cuối báo cáo về cải cách tư pháp ở Trung Quốc: Những bài học từ các
vụ án oan sai.
Để khắc phục những sai sót dẫn đến các
vụ án oan sai, Trung Quốc cần hướng đến một giải pháp cải cách pháp lý
toàn diện, thúc đẩy hệ thống tranh tụng thay thế cho hệ thống tố tụng và
minh bạch hóa hoạt động điều tra, xét xử.
Cải cách toàn diện hệ thống pháp lý
Trung Quốc cần một hướng tiếp cận toàn
diện để đặt dấu chấm hết cho lề lối làm việc truyền thống. Đất nước này
cần cải cách toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự bởi việc đưa ra các biện
pháp ngăn ngừa tình trạng kết án oan sai sẽ là bất khả nếu như cải cách
hoạt động tố tụng hình sự không đi liền với cải cách toàn bộ hệ thống
pháp lý.
Trước hết, cần có một sự chuyển đổi giá
trị trong các cuộc cải cách pháp lý của Trung Quốc. Thay vì tập trung
vào mục đích trấn áp, kiểm soát tội phạm, cải cách pháp lý ở đất nước
này cần hướng đến sự cân bằng giữa mục đích duy trì trật tự xã hội và bảo vệ quyền
cũng như lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan. Văn hóa trấn áp,
kiểm soát tội phạm là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng mô
hình tranh tụng chưa phát huy được hiệu quả trên thực tế, dù đã được đưa
vào luật từ năm 1996.
Ngoài ra, như có thể thấy qua các vụ án
oan sai ở Trung Quốc, một nguyên nhân khiến người vô tội phải nhận án
oan là hoạt động điều tra, xét xử thường được thực hiện trên giả định có
tội thay vì vô tội. Vì giả định có tội, nên lực lượng điều tra tìm mọi
phương cách để thu thập chứng cứ có lợi cho hướng điều tra của mình, bất
kể phương cách đó vi phạm pháp luật. Cả She Xianglin và Zhao Zouhai đều
bị dùng cực hình – họ bị thẩm vấn liên tục suốt một thời gian dài,
không được nghỉ ngơi, không được ăn uống đủ, thậm chí bị đánh đập, hăm
dọa. Cũng vì giả định có tội, nên các thẩm phán có xu hướng “thà giết
nhầm còn hơn bỏ sót”, sẵn sàng kết án người vô tội, thay vì tuyên trắng
án khi vụ án xuất hiện những dấu hiệu đáng ngờ.
Có nhiều ý kiến cho rằng trở ngại lớn
nhất mà Trung Quốc phải đối mặt không phải là đưa ra các điều luật mới,
mà là ở việc triển khai các điều luật đó. Vì vậy, để các cải cách pháp
lý phát huy hiệu quả, những động cơ khiến cơ quan điều tra, công tố và
tòa án tập trung vào mục tiêu đạt được tỷ lệ phá án, xử án cao phải được
loại bỏ. Thực thi công lý cần phải là mục tiêu cao nhất trong công tác
điều tra, xét xử.
Bức ảnh nổi tiếng của Reuteurs: Một tử tù nữ, người Quảng Châu, gào thét trước giờ hành hình.
Xây dựng hệ thống pháp lý minh bạch, độc lập
Không chỉ giúp khôi phục niềm tin của
người dân vào hệ thống pháp lý, tăng cường tính minh bạch còn là điều
kiện cần để tránh tình trạng xử oan người vô tội. Ngoài ra, minh bạch
hóa hoạt động điều tra, xét xử cũng cho phép giám sát toàn hệ thống pháp
lý một cách hiệu quả và rộng khắp, từ đó tránh được tình trạng lạm dụng
chức quyền từ phía các nhà chức trách.
Như có thể thấy, một dấu hỏi nổi bật hẳn
lên trong các vụ án oan sai là những lời phản cung của bị can tại tòa.
Trong vụ Zhao Zhouhai, Zhao đã nhận tội tất cả 9 lần. Nhưng sau mỗi lần
kết thúc thẩm vấn, Zhao đều phản cung và cho biết đã bị tra tấn cho đến
khi chịu nhận tội. Để tránh tình trạng bức cung, việc ghi hình các phiên
thẩm vấn và phát lại băng hình thẩm vấn như một chứng cứ phục vụ xét xử
là cần thiết.
Tiến trình minh bạch hóa cũng cần được
thúc đẩy qua việc tăng cường hơn nữa vai trò của luật sư biện hộ trong
thủ tục tái thẩm án tử hình. Làn sóng cải cách pháp lý năm 2010 của
Trung Quốc được đánh dấu bằng sự kiện Tòa án Nhân dân Tối cao khôi phục
quyền tái thẩm các bản án tử hình. Tuy nhiên, thủ tục tái thẩm vẫn còn
thô sơ và nhiều thiếu sót. Các tòa tái thẩm thường được tổ chức kín,
thiếu hẳn thông tin từ phía biện hộ. Vì vậy, để hạn chế nguy cơ xảy ra
án oan, các luật sư cần được tham gia và thực hiện vai trò biện hộ trong
các phiên tòa tái thẩm.
Mối quan hệ khăng khít của cơ quan điều
tra, công tố và tòa án, và sự lệ thuộc của các cơ quan này vào ủy ban
nội chính cũng là một yếu tố khác làm tăng nguy cơ xảy ra án oan sai ở
Trung Quốc. Từ lâu, mối quan hệ giữa cơ quan điều tra, công tố và tòa án
đã được ví như ba chân kiềng, tuần tự và phối hợp cùng nhau trong hoạt
động trấn áp, kiểm soát tội phạm. Thiếu sự kiểm tra và cân bằng, các cơ
quan này không thể thực hiện tốt vai trò bảo vệ công lý, và thường đứng
về cùng một phe trong cuộc chiến pháp lý với bị can và luật sư biện hộ.
Sự can thiệp của các ủy ban nội
chính vào tiến trình tố tụng cũng đặt ra sức ép, buộc các cơ quan điều
tra, công tố và tòa án phải phá án, xử án nhanh. Nếu không có
áp lực từ ban nội chính địa phương, rất có thể She Xianglin sẽ không
phải ngồi tù suốt cả chục năm. Nhiều nhân chứng lương tâm nhìn thấy vợ
She bỏ đi, thậm chí có người đã giúp vợ She bắt đầu cuộc sống mới ở nơi
khác, tuy nhiên tình tiết này không được cơ quan xét xử xem là chứng cứ
của vụ án. Hệ thống pháp lý giống như một chiếc băng chuyền lắp ráp sản
phẩm, và áp lực từ các ủy ban nội chính là nguồn thúc chiếc băng chuyền
đó phải chạy thật nhanh để đi đến phán quyết, bất kể có những dấu hiệu
cho thấy bị cáo có thể là người vô tội.
Các lỗ hổng pháp lý đưa đến nhiều hệ
lụy, và việc kết án, thi hành án tử hình oan là hệ lụy mà người ta không
thể sửa sai hay làm lại. Ngay cả khi những khuyến nghị cải cách trên
được thực hiện, các bản án oan sai vẫn là một thực tế khó tránh. Vì vậy,
xóa bỏ hoàn toàn án tử hình là tiến trình cần sớm được triển khai.
Trong đó, những việc cần làm ngay trước mắt là hoãn thi hành các bản án
tử hình đã tuyên và ngừng áp khung hình phạt tử hình, thay bằng hình
phạt chung thân.
Lược dịch và tham khảo từ bài viết Death Penalty Reforms in China: Lessons from Wrongful Convictions? của tác giả JIANG Na và Trial in China Tests Limits of Legal System Reform (New York Times, 2011).
· by Nguyễn Huyền Trang · in Vấn đề Pháp lý
Nguyễn Huyền Trang - Các bản án oan sai cho thấy nhiều lỗ hổng trong hệ thống pháp lý của Trung Quốc, từ việc dùng cực hình, bức cung nghi can, đến việc sử dụng pháp luật làm công cụ trả đũa luật sư biện hộ, đến sự thiếu độc lập và vô tư trong hoạt động xét xử giữa ba bên điều tra, công tố và tòa án. Luật Khoa tạp chí xin giới thiệu phần cuối báo cáo về cải cách tư pháp ở Trung Quốc: Những bài học từ các vụ án oan sai.
Để khắc phục những sai sót dẫn đến các
vụ án oan sai, Trung Quốc cần hướng đến một giải pháp cải cách pháp lý
toàn diện, thúc đẩy hệ thống tranh tụng thay thế cho hệ thống tố tụng và
minh bạch hóa hoạt động điều tra, xét xử.
Cải cách toàn diện hệ thống pháp lý
Trung Quốc cần một hướng tiếp cận toàn
diện để đặt dấu chấm hết cho lề lối làm việc truyền thống. Đất nước này
cần cải cách toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự bởi việc đưa ra các biện
pháp ngăn ngừa tình trạng kết án oan sai sẽ là bất khả nếu như cải cách
hoạt động tố tụng hình sự không đi liền với cải cách toàn bộ hệ thống
pháp lý.
Trước hết, cần có một sự chuyển đổi giá
trị trong các cuộc cải cách pháp lý của Trung Quốc. Thay vì tập trung
vào mục đích trấn áp, kiểm soát tội phạm, cải cách pháp lý ở đất nước
này cần hướng đến sự cân bằng giữa mục đích duy trì trật tự xã hội và bảo vệ quyền
cũng như lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan. Văn hóa trấn áp,
kiểm soát tội phạm là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng mô
hình tranh tụng chưa phát huy được hiệu quả trên thực tế, dù đã được đưa
vào luật từ năm 1996.
Ngoài ra, như có thể thấy qua các vụ án
oan sai ở Trung Quốc, một nguyên nhân khiến người vô tội phải nhận án
oan là hoạt động điều tra, xét xử thường được thực hiện trên giả định có
tội thay vì vô tội. Vì giả định có tội, nên lực lượng điều tra tìm mọi
phương cách để thu thập chứng cứ có lợi cho hướng điều tra của mình, bất
kể phương cách đó vi phạm pháp luật. Cả She Xianglin và Zhao Zouhai đều
bị dùng cực hình – họ bị thẩm vấn liên tục suốt một thời gian dài,
không được nghỉ ngơi, không được ăn uống đủ, thậm chí bị đánh đập, hăm
dọa. Cũng vì giả định có tội, nên các thẩm phán có xu hướng “thà giết
nhầm còn hơn bỏ sót”, sẵn sàng kết án người vô tội, thay vì tuyên trắng
án khi vụ án xuất hiện những dấu hiệu đáng ngờ.
Có nhiều ý kiến cho rằng trở ngại lớn
nhất mà Trung Quốc phải đối mặt không phải là đưa ra các điều luật mới,
mà là ở việc triển khai các điều luật đó. Vì vậy, để các cải cách pháp
lý phát huy hiệu quả, những động cơ khiến cơ quan điều tra, công tố và
tòa án tập trung vào mục tiêu đạt được tỷ lệ phá án, xử án cao phải được
loại bỏ. Thực thi công lý cần phải là mục tiêu cao nhất trong công tác
điều tra, xét xử.
Xây dựng hệ thống pháp lý minh bạch, độc lập
Không chỉ giúp khôi phục niềm tin của
người dân vào hệ thống pháp lý, tăng cường tính minh bạch còn là điều
kiện cần để tránh tình trạng xử oan người vô tội. Ngoài ra, minh bạch
hóa hoạt động điều tra, xét xử cũng cho phép giám sát toàn hệ thống pháp
lý một cách hiệu quả và rộng khắp, từ đó tránh được tình trạng lạm dụng
chức quyền từ phía các nhà chức trách.
Như có thể thấy, một dấu hỏi nổi bật hẳn
lên trong các vụ án oan sai là những lời phản cung của bị can tại tòa.
Trong vụ Zhao Zhouhai, Zhao đã nhận tội tất cả 9 lần. Nhưng sau mỗi lần
kết thúc thẩm vấn, Zhao đều phản cung và cho biết đã bị tra tấn cho đến
khi chịu nhận tội. Để tránh tình trạng bức cung, việc ghi hình các phiên
thẩm vấn và phát lại băng hình thẩm vấn như một chứng cứ phục vụ xét xử
là cần thiết.
Tiến trình minh bạch hóa cũng cần được
thúc đẩy qua việc tăng cường hơn nữa vai trò của luật sư biện hộ trong
thủ tục tái thẩm án tử hình. Làn sóng cải cách pháp lý năm 2010 của
Trung Quốc được đánh dấu bằng sự kiện Tòa án Nhân dân Tối cao khôi phục
quyền tái thẩm các bản án tử hình. Tuy nhiên, thủ tục tái thẩm vẫn còn
thô sơ và nhiều thiếu sót. Các tòa tái thẩm thường được tổ chức kín,
thiếu hẳn thông tin từ phía biện hộ. Vì vậy, để hạn chế nguy cơ xảy ra
án oan, các luật sư cần được tham gia và thực hiện vai trò biện hộ trong
các phiên tòa tái thẩm.
Mối quan hệ khăng khít của cơ quan điều
tra, công tố và tòa án, và sự lệ thuộc của các cơ quan này vào ủy ban
nội chính cũng là một yếu tố khác làm tăng nguy cơ xảy ra án oan sai ở
Trung Quốc. Từ lâu, mối quan hệ giữa cơ quan điều tra, công tố và tòa án
đã được ví như ba chân kiềng, tuần tự và phối hợp cùng nhau trong hoạt
động trấn áp, kiểm soát tội phạm. Thiếu sự kiểm tra và cân bằng, các cơ
quan này không thể thực hiện tốt vai trò bảo vệ công lý, và thường đứng
về cùng một phe trong cuộc chiến pháp lý với bị can và luật sư biện hộ.
Sự can thiệp của các ủy ban nội
chính vào tiến trình tố tụng cũng đặt ra sức ép, buộc các cơ quan điều
tra, công tố và tòa án phải phá án, xử án nhanh. Nếu không có
áp lực từ ban nội chính địa phương, rất có thể She Xianglin sẽ không
phải ngồi tù suốt cả chục năm. Nhiều nhân chứng lương tâm nhìn thấy vợ
She bỏ đi, thậm chí có người đã giúp vợ She bắt đầu cuộc sống mới ở nơi
khác, tuy nhiên tình tiết này không được cơ quan xét xử xem là chứng cứ
của vụ án. Hệ thống pháp lý giống như một chiếc băng chuyền lắp ráp sản
phẩm, và áp lực từ các ủy ban nội chính là nguồn thúc chiếc băng chuyền
đó phải chạy thật nhanh để đi đến phán quyết, bất kể có những dấu hiệu
cho thấy bị cáo có thể là người vô tội.
Các lỗ hổng pháp lý đưa đến nhiều hệ
lụy, và việc kết án, thi hành án tử hình oan là hệ lụy mà người ta không
thể sửa sai hay làm lại. Ngay cả khi những khuyến nghị cải cách trên
được thực hiện, các bản án oan sai vẫn là một thực tế khó tránh. Vì vậy,
xóa bỏ hoàn toàn án tử hình là tiến trình cần sớm được triển khai.
Trong đó, những việc cần làm ngay trước mắt là hoãn thi hành các bản án
tử hình đã tuyên và ngừng áp khung hình phạt tử hình, thay bằng hình
phạt chung thân.
Lược dịch và tham khảo từ bài viết Death Penalty Reforms in China: Lessons from Wrongful Convictions? của tác giả JIANG Na và Trial in China Tests Limits of Legal System Reform (New York Times, 2011).
Án tử hình oan và làn sóng cải cách luật pháp ở Trung Quốc (phần 2)
15:11 |
Nguyễn Huyền Trang
Ngoài sự yếu kém về pháp lý, các yếu tố chính trị, văn hóa cũng là những
chướng ngại cản trở sự phát triển hệ thống tranh tụng ở Trung Quốc,
khiến hệ thống tranh tụng ở nước này không những không thỏa được các yêu
cầu quốc tế, mà còn đi ngược lại với các tiêu chí của một “phiên tòa
xét xử công bằng”. Luật Khoa tạp chí xin giới thiệu phần tiếp theo của
một báo cáo dài về cải cách tư pháp ở Trung Quốc, liên quan đến vấn đề
án tử hình: Những chướng ngại đẩy lùi cải cách.
Bài liên quan: Án tử hình oan và làn sóng cải cách luật pháp ở Trung Quốc (phần 1)
Bài liên quan: Án tử hình oan và làn sóng cải cách luật pháp ở Trung Quốc (phần 1)
Mặc dù hệ thống tư pháp Trung Quốc đã có
nhiều cải cách, song con đường đi tới một hệ thống tranh tụng hiệu quả
để không còn những án oan như vụ She Xianglin hay Zhao Zouhai của đất
nước này vẫn còn những chặng dài phía trước. Các làn sóng cải cách đưa
vào mô hình tố tụng tranh tụng, song lại thiếu các quy định pháp lý bảo
vệ hệ thống này. Vì vậy, hoạt động tranh tụng trong các phiên tòa hình
sự, bao gồm cả những phiên tòa kết án tử hình, không được thực hiện đúng
thủ tục.
Các trở ngại pháp lý từ Bộ luật Hình sự
Tuy có nhiều điểm mới, nhưng có lẽ Bộ
luật Tố tụng Hình sự 2012 của Trung Quốc sẽ không hiệu quả hơn Bộ luật
Tố tụng Hình sự 1996 là bao trong việc ngăn chặn và sửa chữa các bản án
oan sai. Bộ luật này còn nhiều lỗ hổng. Chẳng hạn, các quy định mới
nghiêm cấm sử dụng các chứng cứ thiếu căn cứ tại các tòa hình sự thiếu
rõ ràng, và có thể bị những thẩm phán sẵn định kiến vô hiệu hóa. Các
điều luật phạt những luật sư biện hộ hăng hái bảo vệ thân chủ cũng chưa
được xóa bỏ. Những bù đắp về tinh thần và vật chất cho người bị kết án
oan còn rất hạn chế. Ngoài ra, vẫn chưa có sự bảo vệ hiến định và luật
định nào đối với quyền im lặng hoặc nguyên tắc suy đoán vô tội – hai
điều kiện đảm bảo loại trừ được những chứng cứ phi pháp. Hoạt động kiểm
tra và cân đối quyền lực giữa các bên tòa án, công tố và cảnh sát còn
nhiều thiếu sót và thường không được triển khai. Nguyên nhân gốc rễ của
tất cả những lỗ hổng trên là ba yếu tố “truyền thống” đang tồn tại trong
hệ thống tư pháp Trung Quốc. Cụ thể đó là:
- Truyền thống giả định có tội khi xét xử
- Cấu trúc quyền lực thiếu cân đối truyền thống giữa bên biện hộ và bên công tố
- Thái độ miễn cưỡng của các thẩm phán khi phải từ bỏ hệ thống tố tụng truyền thống – thẩm vấn
Chừng nào thực tế trên còn tồn tại, cuộc
chuyển đổi sang hệ thống tố tụng tranh tụng bảo vệ quyền của bị cáo ở
Trung Quốc sẽ là bất khả.
Nie
Shubin bị tử hình năm 21 tuổi vì tội “hiếp dâm, giết người”. 10 năm sau
(2005), thủ phạm thật của vụ án bị bắt và đã thú tội. Trong ảnh là mẹ
Nie Shubin khóc ngất trên mộ con. Nguồn ảnh: China.org.cn
Một nguyên nhân khác nữa là dù vai trò
biện hộ đã được tăng cường qua các lần cải cách pháp lý, song trên thực
tế vai trò củng cố này tồn tại chủ yếu là trên giấy tờ. Các luật sư biện
hộ dễ bị khép vào tội “làm giả chứng cứ” theo Điều 306 Bộ luật Tố tụng
Hình sự 1996, theo đó các luật sư không được “ép hoặc xúi giục nhân
chứng” thay đổi lời khai. Với ngôn ngữ mơ hồ, quá trình triển khai thiếu
tin cậy và dấu hiệu vi phạm nhân quyền, điều luật này được cho là một
trở ngại pháp lý đối với tiến trình xây dựng hệ thống tố tụng tranh tụng
ở Trung Quốc. Không chỉ dừng lại đó, nó cũng dễ trở thành một vũ khí
trong tay các nhà chức trách để trả thù những luật sư biện hộ thực hiện
tốt vai trò đại diện pháp lý. Luật sư biện hộ có thể bị bỏ tù vì “khai
man và cản trở công lý” khi “hướng dẫn nhân chứng nói dối” như trong vụ
luật sư Li Zhuang [1], trong khi bộ luật lại thiếu các điều khoản hình sự hóa sai sót nghiệp vụ của các nhà chức trách.
Mặc dù rất ít luật sư bị buộc tội theo
Điều 306 phải ngồi tù, song bản án dành cho Li Zhuang cho thấy “sự mục
nát đáng báo động của môi trường dành cho các luật sư trong hoạt động
xét xử hình sự”. Những diễn biến sau cùng của vụ Li quả thật đã khiến
việc đại diện cho các can phạm trong giai đoạn trước xét xử trở nên khó
khăn hơn, đồng thời khiến sự bất cân đối quyền lực giữa luật sư biện hộ
và các cơ quan chấp pháp thêm trầm trọng.
Ảnh hưởng chính trị: Sự can thiệp từ đảng Cộng sản
Một trở ngại khác là ảnh hưởng chính trị
không mong muốn lên hoạt động xét xử và kết án trong các vụ án hình sự.
Dưới hệ thống tư pháp và chính trị hiện tại, đảng Cộng sản và các cơ
quan chính phủ ở Trung Quốc có thể can thiệp vào các phiên tòa hình sự,
và có thể gây áp lực chính trị kết án tử hình, như có thể thấy trong
nhiều vụ án oan được phát hiện gần đây. Ảnh hưởng này tất yếu dẫn đến
những nghi ngờ về tính hiệu quả của các cuộc cải cách pháp lý mà Trung
Quốc tiến hành trong thời gian qua.
Tệ hơn nữa, hệ thống thực thi công lý
của Trung Quốc vẫn tồn tại tình trạng tham nhũng và chịu sự can thiệp
chính trị mạnh mẽ. Lực lượng điều tra, công tố và tòa án không hoạt động
độc lập và đều chịu sự giám sát của đời sống chính trị và các ủy ban tư
pháp của đảng Cộng sản. Trên thực tế, các yếu tố ngoài luật luôn có
những ảnh hưởng thái quá lên việc triển khai các điều luật có liên quan
do “tính quanh co của quá trình phát triển pháp lý ở Trung Quốc”. Do đó,
nhiều vấn đề pháp lý của Trung Quốc không thể được giải quyết bằng
phương tiện pháp lý, mà phải bằng các tính toán chính trị.
Can thiệp chính trị phá vỡ cấu trúc tam
giác cần có giữa thẩm phán, công tố và biện hộ, trong đó mỗi bên lẽ ra
đều có vai trò riêng để đảm bảo công lý được thực hiện. Các vụ xét xử
hình sự bị biến thành một dạng dây chuyền lắp rắp, với cảnh sát ở đầu
vào, công tố ở đầu tiếp theo và thẩm phán án ngữ đầu ra, và hậu quả là
bất công. Đầu vào ban đầu thường là những lời khai bị ép buộc. Tình hình
càng tệ thêm bởi áp lực từ ban Nội chính, ép cho ra một bản tuyên án có
tội ngay cả khi bị cáo vô tội và án phạt là tử hình. Thậm chí, kể cả
khi có những dấu hiệu đáng ngờ, các quan chức cũng sẽ đưa ra một bản án
tử hình nhưng hoãn thi hành án, thay vì tuyên trắng án, để lập thành
tích duy trì tỷ lệ phá án cao, hay đúng hơn là tỷ lệ phá án tuyệt đối.
Tóm lại, với việc các ủy ban đảng vẫn
nắm quyền chi phối mọi khía cạnh trong đời sống chính trị và pháp lý của
người dân, vai trò của luật sư trong các vụ án hình sự ở Trung Quốc chỉ
có thể được cải thiện, khi Đảng Cộng sản nước này thể hiện ý chí và
cam kết xây dựng một nhà nước pháp trị thật sự.
Năm
2013, tử tù Wu Changlong (phải) được trả tự do sau 12 năm ngồi tù chờ
thi hành án tử vì bị kết tội khủng bố. Nguồn ảnh: caixin.com
Nguyên nhân văn hóa: Kiểm soát tội phạm hay bảo vệ nhân quyền?
Sau thất bại của Bộ luật Tố tụng Hình sự
1996 trong việc đạt được sự cân bằng giữa mong muốn kiểm soát tội phạm
và mong muốn bảo vệ các quyền của nghi can, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2012
và các cơ chế pháp lý khác cũng đang có nguy cơ gặp phải những trở ngại
văn hóa tương tự trong quá trình triển khai.
Với truyền thống đặt ổn định xã hội và
giá trị của hoạt động kiểm soát tội phạm là ưu tiên hàng đầu, các nhà
chức trách Trung Quốc có thể cảm thấy cần chú trọng đến mục đích kiểm
soát tội phạm, và do đó chủ ý hạn chế quyền lực của luật sư trong hoạt
động tố tụng. Ngoài ra, với văn hóa Khổng giáo và ý thức hệ xã
hội chủ nghĩa luôn đặt lợi ích tập thể lên trước lợi ích cá nhân, các
luật sư thường được yêu cầu phải trung thành với mục đích xã hội và đặt
lợi ích của xã hội lên trước.
Nhằm cân bằng giữa mục đích kiểm soát
tội phạm và mục đích bảo vệ nhân quyền, Bộ luật Tố tụng Hình sự 1997 bắt
đầu đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng mô hình tố tụng tranh tụng
với hy vọng cải thiện tính hiệu quả của các luật sư trong hoạt động bảo
vệ quyền của các bị can, và điều chỉnh lại vai trò của các bên tại tòa,
trong đó đại diện tư pháp đóng vai trò như một người phân xử độc lập và
trung lập giữa công tố và biện hộ.
Tuy nhiên, có thể thấy rõ mục đích kiểm
soát tội phạm vẫn chi phối mạnh mẽ hoạt động tố tụng ở Trung Quốc, hay
nói cách khác lý tưởng kiểm soát tội phạm vẫn còn rất mạnh mẽ trong não
trạng của các cơ quan chấp pháp nước này. Các phiên tòa vẫn tập trung
vào mục đích kiểm soát tội phạm, và cảnh sát cũng như công tố vẫn thích
áp dụng các hình thức cáo buộc. Chịu ảnh hưởng từ truyền thống đó, các nhà điều tra có xu hướng thu thập chứng cứ trọng yếu bằng bất kỳ phương tiện nào dù là trái luật,
như tra tấn, đánh đập và các hình thức phi pháp khác. Trong vụ She
Xianlin và Zhao Zhohai, cả hai đều bị dùng cực hình cho đến khi chịu
nhận tội. Thậm chí trong vụ Zhao, vợ của anh cũng bị đánh cho đến khi
chịu cung khai có lợi cho hướng điều tra của cảnh sát. Rõ ràng, mục tiêu
của chiến dịch chống tội phạm không chỉ dừng lại ở bị cáo, mà còn
chuyển hướng sang người thân của bị cao, hay luật sư biện hộ, như trong
vụ Li Zhuang.
Để hạn chế những trường hợp oan sai dưới
hệ thống tranh tụng chưa hoàn thiện, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2012 đã
cải cách hơn nữa cách thức thực thi công lý của ba cơ quan thông qua
việc củng cố mô hình tranh tụng để bảo vệ hơn nữa quyền con người cho
phía biện bộ. Mặc dù những vụ án được xét xử sau khi bộ luật này có hiệu
lực chưa đủ để đưa đến kết luận thế hệ lãnh đạo mới ở Trung Quốc nghiêm
túc đến đâu với kế hoạch cải cách có ý nghĩa, song các vụ oan sai trong
quá khứ quả thật cho thấy tầm quan trọng của việc thúc đẩy văn hóa nhân
quyền thay cho văn hóa kiểm soát tội phạm.
———-
[1] Li Zhuang là luật
sư biện hộ cho Meng Ying trong một phiên tòa xét xử băng nhóm tội phạm
có tội chứng năm 2008. Theo cáo buộc của công tố, Li Zhuang đã hướng dẫn
Xu Lijun, nhân chứng của vụ án, thay đổi lời khai. Trong phiên tòa, Li
Zuang khẳng định anh không can thiệp vào quyết định đưa ra lời khai của
Xu Lijun. Vụ Li là một chỉ báo cho thấy những thiếu sót trong các cải
cách pháp lý của Trung Quốc và kéo cuộc cải cách của nước này tụt lùi 30
năm, theo nhận định của He Weifang, giáo sư luật học đại học Peking (New York Times, 2011).
Lược dịch và tham khảo từ bài viết Death Penalty Reforms in China: Lessons from Wrongful Convictions? của tác giả JIANG Na và Trial in China Tests Limits of Legal System Reform (New York Times, 2011).
Kỳ sau: Những bài học để lại cho nền tư pháp
Án tử hình oan và làn sóng cải cách luật pháp ở Trung Quốc (phần 1)
08:00 |
Nguyễn Huyền Trang
“Cảnh sát điều tra chia thành ba nhóm, thẩm vấn Zhao liên tục trong hơn
một tháng trời. Zhao bị trói và phải trả lời thẩm vấn trong tình trạng
súng nhằm thẳng mặt, bị đánh đập bằng gậy và báng súng. Anh không được
nghỉ ngơi, không được ăn uống đầy đủ. Zhao đã nhận tội tất cả 9 lần,
nhưng khi các đợt thẩm vấn kết thúc, anh đều khai đã bị tra tấn buộc
phải nhận tội…”. Nền luật pháp của Trung Quốc có rất nhiều nét tương
đồng với Việt Nam, mà các án oan là một trong đó. Luật Khoa tạp chí xin
giới thiệu phần đầu của một báo cáo dài về cải cách tư pháp ở Trung
Quốc, liên quan đến vấn đề án tử hình.
Những vụ án oan
Mùa xuân năm 2005 có lẽ là một mùa xuân
vui buồn lẫn lộn đối với She Xianglin. Sau 11 năm tù đày, mang bản án tử
hình vì tội giết vợ, rồi sau đó phúc thẩm còn 15 năm, She chính thức
được trả tự do khi người vợ (mà 11 năm trước đó She bị cáo buộc giết
hại) bỗng dưng… quay về.
Năm 1994, She bị bắt giữ sau khi cảnh
sát tỉnh Hubei (Hồ Bắc) phát hiện xác một phụ nữ đang phân hủy. Một số
thủ tục khám nghiệm được tiến hành. Ngay sau đó, anh bảo vệ 28 tuổi She
Xianglin bị bắt giam, vì xác chết kia có chiều cao tương tự và thời điểm
chết trùng với thời điểm vợ She biến mất. She bị thẩm vấn liên tục suốt
10 ngày, bị đánh đập và chỉ được cho nghỉ khi khai nhận tội giết vợ. Mẹ
và anh trai She, trong quá trình đi tìm công lý cho con, em mình, cũng
bị tống giam nhiều ngày. Riêng mẹ She đã bị giam giữ hơn 9 tháng trời vì
tội “che giấu hành vi phạm pháp”.
| She Xianglin được trả tự do vào ngày 13/4/2005. Nguồn ảnh: China.org.cn |
Kịch tính không kém trường hợp của She
Xianglin, năm 1999, Zhao Zuohai cũng phải nhận án tử hình cho tội danh
giết người khi cảnh sát tìm thấy thi thể đang phân hủy của một người đàn
ông được cho là mất tích và Zhao đã có xích mích với ông ta từ trước
đó. Điều tra viên chia thành ba nhóm, thẩm vấn Zhao liên tục trong hơn
một tháng trời. Zhao bị trói gô và phải trả lời thẩm vấn trong tình
trạng súng nhằm thẳng mặt, bị đánh đập bằng gậy và báng súng. Anh không
được nghỉ ngơi, không được ăn uống đầy đủ. Zhao đã nhận tội tất cả 9
lần, nhưng khi các đợt thẩm vấn kết thúc, anh đều khai đã bị tra tấn để
buộc phải nhận tội. Vợ Zhao cũng bị bắt giữ và tạm giam hơn một tháng.
Chị cũng bị đánh đập cho đến khi chịu khai nhận những túi nilon tìm thấy
quanh thi thể không đầu kia là túi nilon nhà mình.
11 năm sau, “nạn nhân” của vụ án trở về
làng vì ốm nặng và cần làm các thủ tục giấy tờ để được hưởng phúc lợi xã
hội. Ngày 8/5/2010, Tòa án Tối cao tuyên Zhao vô tội và ra lệnh trả tự
do cho anh ngay lập tức. Sau 11 năm tù, người đàn ông 57 tuổi gần như
không còn lại gì. Người vợ đã đưa đơn ly dị, rồi tái hôn, có cuộc sống
mới. Hai trong số những người con của Zhao được cho đi làm con nuôi.
Hai vụ án oan trên đã thu hút được sự
chú ý không chỉ của dư luận Trung Quốc mà còn của thế giới, và làm dấy
lên những làn sóng cải cách luật tử hình ở nước này. Trong đó, đáng kể
nhất là những làn sóng bắt đầu từ sau năm 2005, với việc Tòa án Nhân dân
Tối cao Trung Quốc khôi phục lại quyền tái thẩm án tử hình năm 2006, và
phạm vi áp dụng án tử hình được thu hẹp trong lần sửa đổi Bộ luật Hình
sự năm 2011. Ngoài ra, trước và giữa các làn sóng cải cách này, Trung
Quốc cũng có nhiều nỗ lực cải cách khác nhằm bảo vệ quyền của các nghi
can và ngăn chặn nguy cơ xảy ra các bản án oan sai trong tương lai.
Nỗ lực xây dựng hệ thống tố tụng minh bạch, công bằng
Để khắc phục những sai lầm trong quá
trình xét xử, năm 1996, Trung Quốc đã ban hành Bộ luật Tố tụng Hình sự
mới. Bộ luật đưa ra thêm các quy định về chứng cứ nhằm bảo vệ nhân chứng
trước lực lượng điều tra, tăng cường vai trò của luật sư biện hộ cũng
như thể hiện sự tôn trọng quyền kháng nghị của bị cáo. Hầu hết các sửa
đổi quan trọng trong 61 điều khoản bổ sung của bộ luật này đều thể hiện
một mong muốn: xây dựng mô hình tố tụng tranh tụng thay cho mô hình tố
tụng thẩm vấn để hạn chế tình trạng xảy ra oan sai. Các cải thiện cũng
đều hướng tới việc thúc đẩy quyền được đối xử bình đẳng trước pháp luật
của bị can, và có tác dụng điều chỉnh lại sự bất cân đối về mặt cấu trúc
giữa ba bên – công tố, biện hộ và tòa án.
Các cải cách trong thủ tục tố tụng được
tiếp nối với quyết định khôi phục quyền tái thẩm của Tòa án Nhân dân Tối
cao Trung Quốc năm 2006. Tòa án này quyết định thành lập các tòa án
riêng với mục đích tái thẩm tất cả các bản án tử hình đã được đưa ra.
Đồng thời, Tòa án Nhân dân Tối cao Trung Quốc cũng yêu cầu các tòa án
phúc thẩm phải đảm bảo các vụ án có thể liên quan đến tử hình đều phải
được xét xử công khai để tăng tính minh bạch, tăng
cường trách nhiệm giải trình và hạn chế nguy cơ xử sai. Cả hai cải cách
trên đều được quy định trong bản sửa đổi Luật Cơ bản về Tòa án Nhân dân
được Ủy ban Thường trực Quốc hội Trung Quốc thông qua.
Điểm đáng chú ý khác là trong bản đề
cương cho Kế hoạch Cải cách 5 năm lần III năm 2009, Tòa án Nhân dân Tối
cao Trung Quốc đã đẩy các cải cách trong việc áp dụng khung hình phạt tử
hình lên thành một phần chính yếu của kế hoạch cải cách. Mặc dù vẫn còn
nhiều bất cập trong hoạt động tố tụng liên quan đến các bản án tử hình,
song công bằng mà nói, các hoạt động tố tụng ở Trung Quốc đang tiến tới
hướng dân chủ, công bằng và minh bạch hơn.
Đặc biệt, tháng 6/2010, 5 bộ và cơ quan
tư pháp của Trung Quốc đã đưa ra một bộ quy định pháp lý chung điều
chỉnh lại hệ thống chứng cứ hình sự trước đó. Cụ thể, điều khoản liên
quan đến các vấn đề kiểm tra chứng cứ trong các vụ án tử hình quy định
rõ, dữ kiện, thực tế khách quan trong các vụ án tử hình phải được xác lập dựa trên chứng cứ.
Đây là một bước tiến đáng kể so với nguyên tắc “dựa trên thực tế khách
quan và phán quyết theo luật” được quy định trong Điều 6 của Bộ luật Tố
tụng Hình sự nước này. “Chứng cứ” là những bằng chứng thỏa mãn tất cả
các yêu cầu được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự, trong khi “thực
tế khách quan” có thể đưa đến việc ngụy tạo các chứng cứ giả, chẳng hạn
những lời cung khai do bị tra tấn như trong trường hợp của She Xianglin
và Zhao Zouhai.
Những cải cách kể trên đã tạo ra một môi
trường nghiêng theo hướng hạn chế sử dụng án tử hình cũng như giảm các
trường hợp thi hành án tử hình trên thực tế. Theo báo cáo hàng năm của
Tòa án Nhân dân Tối cao Trung Quốc năm 2008, lần đầu tiên kể từ sau năm
1979, số vụ tử hình treo 2 năm đã vượt số vụ tử hình thi hành ngay. Đồng
thời, thống kê cũng cho thấy phần lớn án tử hình được áp dụng cho các
vụ án có hành vi bạo lực nghiêm trọng nhất như giết người, trộm cắp, bắt
cóc, và tấn công có chủ đích gây chết người. Những thay đổi này đều đặt
nền móng vững chắc cho một cải cách quan trọng được coi là bước tiến
của Trung Quốc trong tiến trình xóa bỏ hẳn án tử hình: Bộ luật Hình sự
sửa đổi lần VIII.
| Mẹ của Nie Shubin gục khóc trên mộ con. Nie Shubin bị tử hình năm 21 tuổi vì tội “hiếp dâm, giết người”. 10 năm sau (2005), thủ phạm thật của vụ án bị bắt và đã thú tội. Nguồn ảnh: China.org.cn |
Cú đột phá “sửa đổi lần VIII”
Sau khi nhiều bản án tử hình oan được
phát hiện, đặc biệt là trường hợp oan sai của Zhao Zouhai, có thêm nhiều
đề xuất cải cách tập trung vào việc hạn chế phạm vi áp dụng án tử hình.
Trong đó, Bộ Luật Hình sự sửa đổi lần VIII năm 2011 được đánh giá là cú
đột phá quan trọng, đưa Trung Quốc tiến dần tới việc xóa bỏ án tử hình.
Theo luật sửa đổi, 13 tội danh phi bạo
lực được xóa khỏi khung hình phạt tử hình. Từ 68 tội danh theo Bộ luật
Hình sự năm 1997, số tội danh có thể phải chịu án tử giảm xuống còn 55.
Có nhiều ý kiến cho rằng sửa đổi này có cũng như không vì đây là các tội
danh phi bạo lực, và những người phạm các tội danh này hiếm khi bị tử
hình trên thực tế. Tuy nhiên, với con số 19% tội danh được xóa án tử,
khách quan mà nói bản sửa đổi này là một cột mốc quan trọng của Trung
Quốc trong nỗ lực cải cách luật về tử hình.
Ngoài ra, bản sửa đổi lần VIII còn cho
thấy một thay đổi trong quyết định lựa chọn giá trị của cơ quan lập pháp
Trung Quốc. Nếu như trước đây, luật hình sự nói chung và bản án tử hình
nói riêng được sử dụng như một công cụ để duy trì trật tự xã hội, thì
những sửa đổi năm 2011 dường như cho thấy cơ quan lập pháp Trung Quốc
bắt đầu xem xét lại lựa chọn giá trị của mình khi ban hành luật, và chuyển đổi trọng tâm từ chỗ duy trì trật tự xã hội, sang đạt đến sự cân bằng giữa trật tự xã hội và quyền con người.
Một điểm mới khác, đáng chú ý trong bản
sửa đổi VIII là sự khoan dung của pháp luật Trung Quốc đối với những
người phạm tội trên 75 tuổi; theo đó, hình phạt tử hình sẽ không áp dụng
với những can phạm trên 75 tuổi, trừ trường hợp người phạm tội gây chết
người bằng những phương thức đặc biệt dã man. Cũng theo luật sửa đổi,
người phạm tội trên 75 tuổi có thể được hưởng mức án nhẹ hơn cho những
tội danh cố ý. Ngoài ra điều 19 của luật sửa đổi cũng quy định, người
phạm tội dưới 18 tuổi tại thời điểm gây án và nhận án dưới 5 năm tù
không có trách nhiệm khai báo với đơn vị liên quan về tiền án của mình
khi đăng ký tòng quân hay đi xin việc.
Đánh giá khách quan các sửa đổi trên, có
thể nói lời hứa “Nhà nước tôn trọng và bảo vệ quyền con người” được ghi
trong Hiến pháp Trung Quốc đang dần được hiện thực hóa trong lĩnh vực
luật hình sự. Bộ luật Hình sự sửa đổi lần VIII là cú đột phá có tính
lịch sử, là hành động cụ thể hóa lập trường của Chính phủ Trung Quốc về
án tử hình, hướng đến “mục đích cuối cùng là xóa bỏ án tử hình” như cam
kết của ông La Yifan, đại diện của Trung Quốc trong Hội đồng Nhân quyền
Liên hợp quốc tháng 3 năm 2009.
Tổng hợp từ các bài viết:
Death Penalty Reforms in China: Lessons from Wrongful Convictions? của tác giả JIANG Na đăng trên tạp chí Tsinghua China Law ReviewThe Death Penalty in China: Reforms and its Future của tác giả Zhou Zhenzie đăng trên WIAS Research Bulletin
Zhao Zuohai: Beaten, framed and jailed for a murder that never happened của tác giả Clifford Coonan (independence.co.uk).
Kỳ sau: Những chướng ngại đẩy lùi cải cách




