Home » Công Hàm PVĐ
Giá trị pháp lý công hàm Phạm Văn Đồng theo luật pháp quốc tế và cơ hội ngàn vàng để Việt Nam xác quyết chủ quyền trên hai nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa
07:03 |TMSS: Cám ơn luật sư Nguyễn Lê Hà đã cho độc giả cái nhìn khách quan và đầy hy vọng. Dòng máu Việt vẫn không ngừng tuôn chảy trong huyết quản của người Việt năm châu. Ước mong lãnh đạo Việt Nam thấy mà hành xử sao cho đúng!
---------------------------------------------------------
Giá trị pháp lý công hàm Phạm Văn Đồng theo luật pháp quốc tế và cơ hội ngàn vàng để Việt Nam xác quyết chủ quyền trên hai nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Theo BVN
Luật sư NGUYEN LE-HA
Từ
nhiều tuần nay, các học giả, nhà nghiên cứu, chính trị gia, luật gia
nói viết nhiều về công điện Phạm Văn Đồng ký và gửi ngày 14/9/1958 cho
Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai liên quan tới lời tuyên bố của Trung
Quốc ngày 4/9/1958 về bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung
Quốc nới rộng là 12 hải lý bao gồm lãnh thổ trên đất liền và các hải đảo
ngoài khơi, Đài Loan và quần đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo
Tây Sa (Xisha tức Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Nansha
tức Trường Sa).
Điều tuyên bố trên của Trung
Quốc về việc nới rộng biển đảo ra 12 hải lý hoàn toàn phù hợp với đề
nghị của Hội Nghị Quốc Tế về luật biển họp tại Genève từ ngày 24-2 đến
29-4-1958.
Bức công điện Thủ tướng Phạm Văn Đồng có nội dung như sau:
“Chính
phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố
ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc,
quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính
phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ
thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc trên mặt bể.”
Chính
công điện hay công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng này đã gây nên những
tranh cãi bất tận và đối nghịch nhau đưa đến những giải thích và kết
luận có nhiều điểm hoàn toàn trái với luật thông lệ quốc tế, công pháp
quốc tế và luật quốc tế về hiệp ước.
Chúng tôi nhận thấy có sự nhầm lẫn căn bản là: sự lẫn lộn Luật quốc nội (droit interne) và Luật công pháp quốc tế (droit publique international), và Luật quốc tế về hiệp ước (droit international des traités), đặt biệt Công Ước Vienne về Hiệp Ước (Convention de Vienne sur le droit des traités).
Chúng
tôi sẽ giải thích sự lầm lẫn trên có thể đưa đến các kết luận tai hại
qua việc đánh giá không chính xác công điện Phạm Văn Đồng đồng thời với
những lời giải thích này hy vọng sẽ soi sáng các quyết định của các nhà
lãnh đạo Chính quyền Việt Nam can đảm nắm bắt cơ may bằng cách sử dụng
cơ quan tài phán quốc tế thích hợp để Việt Nam chiến thắng trên trường
quốc tế liên quan tới Hoàng Sa và Trường Sa (1).
I- TÌM HIỂU NỘI DUNG CÔNG ĐIỆN VÀ Ý ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG
1)- Đọc lại từng câu, từng chữ Công điện, chúng tôi nhận thấy mạch lạc rõ ràng (sans équivoque): “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố…, quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Đoạn tiếp: “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định… hải phận 12 hải lý” và còn nhấn mạnh ba chữ cuối câu “trên mặt bể.”
2)- Công
điện Phạm Văn Đồng không hề nhắc đến, hay ám chỉ các đảo Hoàng Sa và
Trường Sa thuộc chủ quyền và quản lý của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà
(Việt Nam Cộng Hòa), một quốc gia độc lập (indépendance) có chủ quyền
(souveraineté) và được quốc tế thừa nhận tương tự như Chính Phủ Việt Nam
Dân Chủ Cộng Hoà (VNDCCH) với thủ đô là Hà Nội.
Sự
giải thích trên đúng với qui định căn cứ theo điều 29 Công Ước Vienne
về Hiệp Ứơc: thoả ước chỉ áp dụng trên toàn lãnh thổ của bên kết ước
(2).
3)- Nhìn kỹ lại lời tuyên bố của Trung Quốc 4/9/1958, trong thời điểm Hội Nghị Quốc Tế về luật biển họp tại Genève, chỉ cốt yếu về việc nới rộng biển đảo ra 12 hải lý, không phải là lời tuyên bố vể chủ quyền các đảo
mặc dù lời tuyên bố có chồng chéo lên chủ quyền các đảo thuộc các nước
khác như Việt Nam Cộng Hoà (Hoàng Sa và Trường Sa) và các nước
Philippines, Malaysia, Brunei, Đài Loan (Trường Sa).
Đằng khác, Công Pháp Quốc tế cũng chỉ cho phép tuyên bố đơn phương một đối tượng duy nhất chỉ định rõ ràng như như việc việc nới rộng biển đảo ra 12 hải lý của Trung Quốc.
Chính
vì lý do đó, các quốc gia này đã không thấy cần thiết phải lên tiếng về
lời tuyên bố của Trung Quốc ngoại trừ Thủ tướng Phạm Văn Đồng của Chính
Phủ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà là một quốc gia độc lập với Chính Phủ
Việt Nam Cộng Hoà (theo Hiệp Định Genève 1954 phân định) lên tiếng ủng
hộ thông qua Công điện nói trên.
Điều 31 Công
Ước Vienne về hiệp ước cho biết việc giải thích thỏa ước phải thiện ý
theo ý nghĩa bình thường trong bối cảnh thoả ước phát sinh và theo đối
tượng và mục đích rõ ràng trong thỏa ước.
Như
vậy Công điện Phạm Văn Đồng được phát sinh gửi đi trong bối cảnh Trung
Quốc tuyên bố nới rộng biển đảo ra 12 hải lý vào thời điểm Hội Nghị Quốc
Tế về luật biển họp tại Genève từ ngày 24-2 đến 29-4-1958.
Đàng
khác, đối tượng và mục đích rõ ràng ghi trong Công điện chỉ rõ việc
thừa nhận 12 hải lý mở rộng, không có một chữ, một câu nào trực tiếp hay
gián tiếp thừa nhận chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc.
Điều
32 Công Ước Vienne cũng qui định, trong trường hợp văn kiện mù mờ,
không rõ ràng, có nguy cơ đưa tới kết luận kỳ quái (absurde) vô lý thì
phải xem xét những công việc sửa soạn trước đó và những tình huống đưa
tới việc ký kết văn kiện.
Thực vậy cho đến nay,
trước thời điểm ký văn kiện, cũng như từ ngày Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký
gửi công điện 14/9/1958 tán thành việc nới rộng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc,
cho đến khi mất đã không hề tìm thấy một tài liệu nào công nhận hay mặc
nhiên công nhận các đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc.
Đàng
khác, chúng tôi cũng không thấy có một sự kiện nào, bằng các cuộc thảo
luận thương thuyết hay văn bản trao đổi giữa Trong Quốc và Việt Nam liên
quan tới Hoàng Sa và Trường Sa trước và sau công điện do Thủ tướng Phạm
Văn Đồng ký ngày 14/9/1958.
Trái lại, thực tế cho thấy:
- Ngay
khi Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ ngày 30/4/1975, quân đội của
Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam tiếp quản đảo
Trường Sa rối giao lại cho Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà khi thống
nhất đất nước 1976.
- Trận hải chiến ngày
19/1/1974 do Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa thuộc chủ quyền và quản lý của
Việt Nam Cộng Hoà đã làm thiệt mạng 75 quân nhân Việt Nam Cộng Hòa anh
dũng chiến đấu. Ngay tức thì, ngày 19/1/1974, Bộ Ngoại Giao Việt Nam
Cộng Hòa ra tuyên cáo phản đối hành vi xâm lược của Trung Quốc. Tương
tự, Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam cũng đã phản
đối hành động của Trung Quốc, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với
quần đảo Hoàng Sa.
- Ngày 14/3/1988, Trung Quốc
đem quân xâm chiếm các bãi đá Gạc Ma, Colin và Len Đao thuộc quần đảo
Trường Sa của Việt Nam và giết hại 64 hải quân Việt Nam ra bảo vệ.
Các
sự kiện nêu trên, sau khi Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa không tồn tại,
các Chính quyền kế tiếp từ Chính quyền Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền
Nam Việt Nam đến Chính quyền Dân Chủ Cộng Hoà và nay là Chính quyền Xã
Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không có một sự nhượng bộ hay thỏa ước nào được
biết đến cho tới nay liên quan tới các đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tất
cả các giải thích trên cho thấy, Công điện hay Công hàm của Thủ tướng
Phạm Văn Đồng ký gửi ngày 14/9/1958 cho Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai
tuyến bố về lãnh hải 12 hải lý, chỉ là một sự tuyên bố ngoại giao không giá trị pháp lý, không có tác dụng công nhận chủ quyền liên quan tới đảo Hoàng Sa (Xisha) và Trường Sa (Nansha) của Việt Nam.
Theo
chúng tôi, Công điện này chỉ có ý nghĩa lịch sử, đánh dấu một thời kỳ
thắm thiết “môi hở răng lạnh giữ hai nước anh em đồng chí cùng chung một
giường” và dưới ảnh hưởng nặng nề của Trung Quốc đồng thời chứng tỏ
người lãnh đạo đất nước thiếu cảnh giác và không có tầm nhìn xa.
II- NHỮNG LẦM LẪN TAI HẠI
Sai lầm:
lẫn lộn về tư cách pháp lý trong hiệp ước quốc tế và cách giải thích
Công điện Phạm Văn Đồng tùy tiện theo cảm tính hay theo lăng kính chính
trị không căn cứ vào căn bản pháp luật.
Chúng ta đều biết Hiến Pháp quốc gia là luật quốc nội
thường ghi nhận và bảo đảm những quyền căn bản của công dân đồng thời
qui định cách tổ chức và điều hành quốc gia làm sao phát triển bền vững
và mang phúc lợi tối đa cho mỗi người dân.
Trong
Hiến Pháp, có những điều khoản qui định về về tư cách pháp lý (qualité
juridique) của người dân, của viên chức chính quyền hay của các tổ chức
dân sự hay thương mại, được gọi là pháp nhân (personne juridique).
Trong Công Pháp Quốc Tế, cũng có những điều khoản qui định về người đại diện quốc gia hay người có thẩm quyền, không nói người có tư cách pháp lý bởi vì nó thuộc luật quốc nội qui định các điều kiện khác nhau tùy theo mỗi quốc gia.
Bởi
vậy không thể áp dụng tư cách pháp lý (luật quốc nội) vào các hiệp ước
quốc tế để yêu cầu hủy bỏ thỏa ước đã ký do ngươi ký không có tư cách
pháp lý hay vựợt quyền (ultra vires) theo luật quốc nội như trường hợp
nêu ra bởi một số học giả và luật gia liên quan tới câu hỏi làm sao giải
thoát hoặc vô hiệu hóa Công Hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký.
Có
người lại còn yêu cầu Quốc Hội Việt Nam ra nghị quyết hủy bỏ Công Hàm
của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký cách đây 56 năm, hoăc xa hơn đòi xoá
bỏ chính thể hiện nay và lập lại Việt Nam Cộng Hòa. Thật là ngộ nghĩnh
tức cười.
Luận cứ của họ cho rằng công hàm Thủ
tướng Phạm Văn Đồng thực sự công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên các
đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam tương tự lập luận của Trung Quốc
nhưng, theo họ, là vô giá trị vì những lý do sau đây:
- Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có tư cách pháp lý để ký công hàm; hoặc
- Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã vượt quyền hạn (ultra vires); hoặc
-
Công hàm ký bởi Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã không đưa ra Quốc Hội Việt
Nam phê chuẩn, nên thiếu sự đồng thuận (vice de consentement), hoặc vi
hiến.
Các lập luận trên hoàn toàn trái với Thông Tục Quốc Tế, đặc biệt các qui định của Luật Quốc tế về hiệp ước.
Thật
vậy, nếu đã coi Công hàm ký bởi Thủ tướng Phạm Văn Đồng là một văn bản
(hiệp ước) công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên các đảo Hoàng Sa và
Trường Sa của Việt Nam thì giải pháp vô hiệu hóa Công Hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký của các học giả và luật gia trên hoàn toàn lầm lạc bởi các lý do sau đây:
-
Điều 27 và 46 Công Ước Vienne về hiệp ước không cho phép viện dẫn luật
quốc nội như là tì vết (vice) của sự thỏa thuận (consentement) để hủy
hiệp ước đã ký, hay không muốn thi hành viện dẫn lý do Công Hàm Thủ
tướng Phạm Văn Đồng đã không được đưa ra Quốc Hội Việt Nam phê chuẩn.
-
Điều 7 Công Ước trên ghi rất rõ những ai là đại diện của quốc gia kết
ước có đầy đủ quyền lực (pleins pouvoirs) ký, chuẩn nhận, đồng ý một
hiệp ước và quốc gia đó bị trói buộc vào hiệp ước.
- Điều 7.2.a): chỉ rõ người đứng đầu quốc gia, người đứng đầu chính phủ, bộ trưởng ngoại giao là những người đại diện quốc gia.
-
Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký Công Hàm là người đứng đầu chính phủ Chính
Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà có đầy đủ quyền lực ký và nhà nước Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hoà phải bị ràng buộc.
- Nói khác đi, Nhà Nước Việt Nam phải tôn trọng và thi hành hiệp ước được ký bởi người đại diện là Thủ tướng Phạm Văn Đồng.
Giả
sử nội vụ được đưa ra Tòa Án Công Lý Quốc Tế với những dữ kiện và lập
luận sai lầm trên, kết quả sẽ hết sức tai hại mà độc giả đã thấy trước.
III- CƠ HỘI NGÀN VÀNG ĐỂ VIỆT NAM XÁC QUYẾT CHỦ QUYỀN TRÊN HAI NHÓM ĐẢO HOÀNG SA và TRƯỜNG SA
1- Cơ hội ngàn vàng
Từ
ngày Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký Công Hàm đã 56 năm, môt số không nhỏ
các nhà lãnh đạo đất nước vẫn còn mê mẩn với các khẩu hiệu loè bịp như
“các nước xã hội chủ nghiã đều là anh em”, rồi “16 chữ vàng và 4 tốt” do
Trung Quốc ban tặng, mặc dù chính họ đã kinh qua nhiều trận chiến tàn
phá khủng khiếp 6 tỉnh biên giới Việt-Trung năm 1979, xâm chiếm biển đảo
Hoàng Sa năm 1974 và đảo đá Gạc Ma thuộc Trường Sa năm 1988.
Sự
việc giàn khoan Hải Dương 981 Trung Quốc đặt trái phép vào thềm lục địa
Việt Nam từ hai tháng nay cùng kéo theo hơn 100 các tàu đủ loại, đủ cỡ
để bảo vệ các hoạt động của họ cộng với thái độ ngang ngược bất nhân đối
với các tàu kiểm ngư và tàu cá của Việt Nam đã là một giọt nước làm
tràn ly.
Sự kiện này có lẽ đang thức tỉnh một số quan chức còn mơ màng chỉ nhìn thấy Tàu lạ mà không thấy TÀU thiệt đã và đang giết hại ngư dân Việt từ nhiều năm nay.
Trong
khi đó nhân dân cả nước đã tỉnh ngộ từ lâu, họ biết tàu lạ là ai. Đức
Giám Mục Nguyễn Thái Hợp, Chủ tịch Ủy Ban Công Lý Hoà Bình thuộc Hội
Đồng Giám Mục Việt Nam, đã quả quyết rằng: “Tàu lớn, tàu nhỏ, tàu lạ, tất cả đều là TÀU cả”.
Ngày nay phải bổ túc câu nói trên: “… tàu lặn, tàu ngầm, tàu bay, tất cả đều là TÀU cả”.
Ý
dân là Ý Trời: các cuộc xuống đường hàng chục ngàn người, các cuộc hội
thảo công khai về biển đảo, các kiến nghị của trí thức, các hội đoàn đủ
mọi tầng lớp trong xã hội tố cáo Trung Quốc chiếm đoạt và vi phạm biển
đảo Việt Nam dâng cao chưa từng có phải chăng là dấu chỉ báo trước cơn
đại địa chấn Tsumani?
Trên bình diện quốc tế,
Trung Quốc đang bị kết án không tuân theo luật lệ quốc tế và muốn dùng
vũ lực thay đổi đơn phương nguyên trạng tại biển Hoa Đông và Biển Đông.
Thủ
tướng Nguyễn Tấn Dũng và vài vị lãnh đạo cao cấp mới đây, đã tố cáo
đích danh Trung Quốc vi phạm lãnh hải Việt Nam và đe doạ đưa vụ việc ra
Toà Án Quốc Tế giải quyết.
Đó là tín hiệu đáng
mừng! Nhưng quan trọng là phải hành động ngay! Không phải truyền lại
trách nghiệm cho các thế hệ con cháu 1000 năm sau mới đòi lại như tuyên
bố của một quan chức quyền thế.
Theo thiển ý,
chúng tôi nghĩ rằng Chính quyền Việt Nam không còn chọn lựa nào khác hơn
là khiếu kiện Trung Quốc ra Toà Án Công Lý Quốc Tế La Haye thay vì Toà
Án Trọng Tài Quốc Tế như Philippines đang tiến hành.
Việc đưa các tranh chấp ra Tòa Án Quốc Tế là một phương cách giải quyết hòa bình, bình đẳng và khách quan. Các quốc gia văn minh dân chủ coi đó là cách giải quyết rất bình thường giữa các quốc gia khi có bất đồng tranh chấp và không hề làm suy giảm tình hữu nghị.
Hiến Chương Liên Hiệp Quốc tại Điều 73 khuyến nghị các thành viên Liên Hiệp Quốc sử dụng Tòa Án Công Lý Quốc Tế giải quyết các tranh phương chấp như là biện pháp hoà bình.
2- Tòa Án Công Lý QuốcTế La Haye
Chúng tôi đề nghị vụ khiếu kiện Trung Quốc ra Tòa Án Công Lý QuốcTế La Haye và nội dung khiếu kiện phải bao gồm các tranh chấp liên quan tới các nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa bởi các lý do sau đây:
a)- Toà Án Trọng Tài Quốc Tế
đang thụ lý vụ Chính quyền Philippines khiếu nại đường lưỡi bò 9 đoạn
do Trung Quốc tự nhận chủ quyền chiếm đến 90% toàn bộ Biển Đông, vi phạm
quyền, chủ quyền và quyền tài phán các biển đảo của họ đang chiếm giữ.
- Mục đích và đối tượng khiếu tố của họ đơn giản và dễ dàng giải quyết:
Trung Quốc chỉ cần có chút thiện chí công nhận các quyền đó bằng một
thỏa ước riêng rẽ giữa hai nước và được phê chuẩn bởi Toà Án Trọng Tài
Quốc Tế đang thụ lý mà không tổn hại nhiều tới đường lưỡi bò 9 đoạn của
họ.
Chúng tôi cũng cần lưu ý quý độc giả rằng,
nếu thỏa ước đó thành hình thì nó chỉ có giá trị giữa hai nước ký kết mà
không ảnh hưởng gì tới các nước khác về đường lưỡi bò 9 đoạn của Trung
Quốc.
- Toà Án Trọng Tài Quốc Tế, như tên gọi,
cốt yếu nhằm giảng hoà, tìm đồng thuận giữa các bên để đạt tới một thỏa
hiệp (compromis) mà không bắt buộc phải căn cứ vào các luật lệ quốc tế.
Án lệ quốc tế đã nhiều lần minh tỏ điều đó.
Giải pháp đó gọi là ex aequo et bono (công bình và hữu ích).
Bởi
vậy, Chính quyền Việt Nam, nếu muốn giải quyết toàn bộ và dứt khoát các
tranh chấp liên quan tới các nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nên khiếu
tố trước Tòa Án Công Lý QuốcTế La Haye, theo chúng tôi là chọn lựa thích hợp và tốt nhất bởi các lý do trình bày dưới đây.
b)- Tòa Án Công Lý QuốcTế La Haye
-
Vụ việc tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc liên quan tới Hoàng Sa
và Trường Sa phức tạp hơn nhiều vì theo chúng tôi hiểu, thứ nhất là cả
hai nước đều đòi chủ quyền trên toàn thể hai nhóm đảo này và thứ hai là các chủ quyền đòi hỏi chồng chéo nhau
liên quan tới nhiều quốc gia như: Việt Nam, Trung Quốc, Philippines,
Đài Loan, Malaysia, Brunei đối quần đảo Trường Sa và Việt Nam, Trung
Quốc đối với nhóm đảo Hoàng Sa.
- Tòa Án Công Lý
Quốc Tế (3) là cơ quan cơ quan tài phán chính yếu của Liên Hiệp Quốc có
thẩm quyền bao quát các tranh chấp quốc tế tương tự như các Toà Án Trên
(Cour Supérieure), còn được gọi là Toà Án Luật Chung (tribunal de droit
comun) tại các nước có truyền thống pháp quyền.
-
Tòa Án Công Lý Quốc Tế, qua thủ tục có thể giúp Việt Nam thông đạt tới
tất cả các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc, các luận cứ và chứng cứ
liên quan tới Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Đây là một
phương cách hữu hiệu nhất để các nước trên toàn thế giới biết quyền lợi
chính đáng về biển đảo của Việt Nam.
- Tòa Án
Công Lý Quốc Tế, cũng có thể cho mở điều tra hay lấy ý kiến chuyên môn
của các cá nhân, tổ chức, cơ quan khi thấy cần thiết do Tòa chỉ định.
- Tòa Án cũng có thể ra án lệnh yêu cầu các bên cung cấp tài liệu cần thiết (pertinents) nhằm giải quyết vụ việc.
Đó là tính cách đặc thù về thẩm quyền bao quát (globale, universelle) của Tòa Án Công Lý Quốc Tế La Haye.
- Hơn nữa, trong vụ khiếu kiện trước Tòa Án Công Lý Quốc Tế các nước có chủ quyền chồng chéo có thể tham dự với tư cách quốc gia đệ tam (intervenant)
một khi phán quyết của Toà Án có thể tổn hại tới chủ quyển của họ, như
trường hợp quần đảo Trường Sa nói ở trên giữa Việt Nam, Trung Quốc,
Philippines, Đài Loan, Malaysia, Brunei.
Một khi đã tham dự thì phán quyết có giá trị cho tất cả.
Hy
vọng những trình bày các sự kiện và giải thích (4) trên giúp độc giả có
cái nhìn đứng đắn về một vấn đề cực kỳ quan trọng có nguy cơ tổn hại
đến sự toàn vẹn lãnh thổ biển đảo và chủ quyền độc lập Việt Nam.
N. L. H.
Tác giả gửi BVN.
GHI CHÚ
(1): Theo
đánh giá các chứng cứ hiện có của Trung Quốc và Việt Nam, theo chúng
tôi, khả năng thắng kiện gần như chắc chắn. Tuy nhiên vấn đề còn tuỳ
thuộc cách trình bày vấn đề, chọn lựa các chứng cứ (pertinents), toà án
thụ lý, chiến thuật trình bày vấn đề, để làm sao bắt buộc Trung Quốc có
nhiệm vụ phải chứng minh các chứng cứ về chủ quyền (charges de preuves)
không phải phía Việt Nam vì các hành vi xâm phạm chủ quyền của Trung
Quốc đối với Việt Nam, v.v. Các chứng cứ về lịch sử, chiếm hữu thực sự
hòa bình, liên tục của Việt Nam rất rõ ràng, điều mà Trung Quốc không
có, nên luận cứ chính của họ là Công Hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng
ngày 14/9/1958 mặc nhiên công nhận chủ quyền của họ trên hai quần đảo
Trường Sa và Hoàng Sa.
Chiến thuật hiện nay của
họ là thương thảo đơn phương, không chấp nhận phân xử của Toà Án Quốc
Tế, và từ từ tạo ra các chứng cứ mới qui định bởi Công Ứơc Quốc Tế về
luật biển 1982, bằng cách ru ngủ các nhà lãnh đạo Việt Nam bất động
trong một thời gian dài với mỹ từ “chuyện trong gia đình, đời sau sẽ
đòi, ngàn năm sau sẽ đòi…”.
(2): Công Ước
Vienne về Hiệp Ước (Convention de Vienne sur le droit des traités) thông
qua ngày 23/5/1969 và có hiệu lực ngày 27/01/1980.
(3): Tòa Án Công Lý Quốc Tế được thông qua ngày 26/6/1945 và có hiệu lực ngày 24/10/1946.
(4):
Chúng tôi chỉ đưa ra vài sự kiện với lời giải thích ngắn gọn nhằm giúp
độc giả dễ hiểu một điểm pháp lý quan trọng về Công điện hay Công hàm
của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ngày 14/9/1958. Đàng khác, ý thức được
tầm quan trọng này, chúng tôi để đồng bào, các cơ quan truyền thông
(medias) trong và ngoài nước Việt Nam tùy ý sử dụng, chỉ với một điều
kiện duy nhất là không được thay đổi, cắt xén thêm bớt nội dung.
Là
một luật sư chuyên nghiệp, có ba con luật sư, hai trong ba hiện với hơn
12 năm kinh nghiệm các hồ sơ quốc tế và các toà án quốc tế, hiện một
con làm việc với tư cách luật sư cố vấn, luật sư biện hộ (co-counsel,
defense lawyer) tại Tòa Án Quốc Tế tại La Haye, mong đóng góp phần
chuyên môn liên quan tới Hoàng Sa và Trường Sa. Trân trọng.
BÀI HỌC VỀ SỰ MINH BẠCH VÀ TUÂN THỦ LUẬT PHÁP QUỐC TẾ
02:55 |Theo Teublog
TMSS: Cám ơn Đào Tiến Thi! Cái gì cũng cần minh bạch! Minh bạch là cốt lõi của vấn đề! Và bây giờ, mọi thứ cần minh bạch mới giải quyết được! Đất nước và dân Việt Nam cần sự minh bạch ấy từ chính quyền!
Nhân việc
bạch hoá Công thư 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng:
Bài
học về sự minh bạch và tuân thủ luật pháp quốc tế
Đào Tiến Thi
Từ mấy năm trước, trong một
số lần “đàm đạo” với giới trí thức “lề phải” (nhưng
có ít nhiều quan tâm đến tình hình đất nước), hễ nói đến vấn đề Hoàng Sa,
Trường Sa, tôi đều nhận được ý kiến các vị ấy là: mình “đuối lý” vấn
đề này vì trót có cái công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm
Văn Đồng. Chính tôi lúc đầu cũng tin như vậy. Nhưng về sau, nhờ
đọc báo “lề trái”, được ngườita phân tích cho (tinh thần cũng giống như tuyên
bố của “lề phải” mấy hôm nay), tôi mới vỡ ra vấn đề. Tôi
đem các lý lẽ ấy thuyết phục các bậc trí thức khả kính kia nhưng
vẫn không thắng nổi các vị ấy. Mà ý kiến tôi lúc ấy
tôi còn khiêm tốn hơn cả Bộ Ngoại giao cũng như các ông Từ Đặng
Minh Thu, Lê Văn Cương, Hoàng Việt hôm nay. Tôi bảo cái
công hàm ấy chỉ làm cho lý lẽ của mình yếu đi một chút chứ không có
giá trị quyết định. Nhưng các vị trí giả có thói quen
chỉ tin “lề phải” không thể tin tôi. Các vị ấy càng tin hơn
khi gần đây việc tranh chấp đến hồi căng thẳng mà “bên ta” vẫn
im lặng. Theo các vị ấy, việc “lơ” cái công hàm kia chứng
tỏ bên tabị đuối lý, bị “há miệng mắc quai”.
Cho đến chiều 23-5-2014, khi Bộ
Ngoại giao họp báo bạch hoá vấn đề và sau đó còn có nhiều chuyên gia phân
tích, sáng tỏ thêm thì nhiều người mới à lên: hoá ra cái công hàm ấy – nay
gọi chính xác là “công thư”– chả là cái gì cả! Mời độc giả
nghe lại một số phát biểu của nhân vật“lề phải”:
“Xin khẳng định công thư của
cố Thủ tướng là văn bản ngoại giao. Giá trị pháp lý nằm trong nội dung
công thư. Việt Nam tôn trọng vấn đề 12 hải lý nêu trong công thư chứ không đề cập
tới Hoàng Sa, Trường Sa vì thế đương nhiên không có giá trị pháp lý với
Hoàng Sa và Trường Sa. Giá trị công thư phải đặt trong bối cảnh cụ thể. Công
thư gửi Trung Quốc lúc đó Hoàng Sa và Trường Sa đang thuộc quản lý Việt Nam
cộng hòa, Trung Quốc chỉ là một bên tham gia. Không thể cho người khác cái
gì mà bạn chưa có được. Vì thế công thư không có giá trị chủ quyền với Tây
Sa, Nam Sa theo cách gọi của Trung Quốc.
(Ông Trần Duy Hải, Phó chủ nhiệm Ủy ban Biên giới)
“Bởi vì theo các quy định
trong Hiệp định Geneve năm 1954 thì lúc này trên lãnh thổ Việt Nam tồn tại song
song hai quốc gia, từ vĩ tuyến 17 trở ra phía Bắc là VNDCCH, còn từ vĩ tuyến 17
trở vào phía Nam là lãnh thổ thuộc VNCH. Hoàng Sa, Trường Sa đều nằm ở
phía nam của vĩ tuyến 17, vì thế về mặt pháp lý cũng như trong thực tế,
hai quần đảo này là đối tượng quản lý của VNCH, và vì thế, những
tuyên bố của phía VNDCCH đối với Hoàng Sa, Trường Sa vào thời điểm này là không
có giá trị pháp lý”.
(ThS. Hoàng Việt, nhà nghiên cứu Biển Đông)
“Xem xét các điều kiện trên, ta thấy công thư của
Thủ tướng Phạm Văn Đồng khó mà đáp ứng được các yêu cầu để trở thành một
estopel. Vì thế nó chỉ nên được coi như một lời hứa vô thưởng vô phạt
mà thôi”.
(TS. Từ Đặng Minh Thu)
“Điều 4 Hiệp định Geneve 1954
quy định Việt Nam Cộng hòa quản lý vùng biển đảo phía nam vĩ tuyến 17, tức bao
gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhất
và duy nhất trong thế kỷ 20 khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.Phải
đặt một công thư bên cạnh một hiệp định quốc tế thì chúng ta sẽ thấy rõ
hiệu lực pháp lý của chúng thế nào. Có thể so sánh thế này: công
thư tương đương như một văn bản cấp xã, Hiệp định Geneve thì như một văn bản
của Thủ tướng chính phủ. Điều đó có nghĩa là chỉ có Hiệp định Geneve mới có thể
phủ định công thư. Do vậy, giá trị pháp lý của công thư ở mức rất thấp so với
Hiệp định Geneve”.
(Thiếu tướng,
GS.TS. Lê Văn Cương,
nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược, Bộ
Công an)
Chỉ tiếc rằng giá như bạch hoá vấn đề sớm hơn, thì cái
công hàm trên đã được giải toả, khỏilàm u ám đầu óc ngay chính
người Việt, ngay chính người trí thức Việt. Thì dân tộc ta có tư
thế hơn. Ấy là chưa kể sẽ không bị “bọn xấu” lợi dụng, bảo
đó là “công hàm bán nước”.
Nhân ý kiến của Thiếu tướng, GS.TS. Lê
Văn Cương (xem lại đoạn in đậm trên), điều cần nói thêm ở đây là: văn
bản pháp lý của quốc tế thì dĩ nhiên có giá trị cao hơn văn
bản pháp lý của quốc gia. Cao đến nỗi mà vị tướng – đồng thời cũng là một
nhà khoa học phải so sánh như là văn bản của thủ tướng với văn bản cấp
xã. Điều này thì đúng quá đi rồi, nhưng chẳng lẽ đến giờ nhà
nước ta mới biết?
Có thể như vậy nhưng cũng có
thể không phải như vậy. Bởi vì mỗi khi dư luận quốc tế họ nhắc nhở (thường
là nhắc nhở thôi, chứ cũng không đao to búa lớn gì), rằng nhà nước Việt
Nam nên tuân thủ những vấn đề về nhân quyền, về dân chủ (bằng chính
những công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết), chẳng hạn, thì thường bị
nhà nước ta phản đối với lý do “Việt Nam có đặc thù riêng”, chưa
kể có khi còn mắng họ là “can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam”. (Cái
này cũng làm rất nhiều bậc trí giả lầm tưởng như vậy).
Chính lối tư duy coi “Việt Nam là
trung tâm”, lối tư duy đặt quốc tế ra ngoài, nếu chưa nói thẳng là coi thường
luật pháp quốc tế, đã làm cho việc nhìn nhận, đánh giá vấn
đề nhiều khi trở nên thiếu sáng suốt. Cái mình đúng lại tưởng
mình sai. Một vấn đề bình thường cũng trở thành “nhạy cảm” và bị
né tránh.
Những ngày qua, để đấu tranh
với nhà cầm quyền Trung Cộng về cái giàn khoan bất hợp pháp, phía Việt Nam
bao giờ cũng viện dẫn các công ước quốc tế làm cơ sở, mới thấy
luật pháp quốc tế có giá trị như thế nào. Mong rằng từ nay Đảng Cộng
sản và Nhà nước Việt Nam
luôn biết coi trọng luật pháp quốc tế.
Đ.T.T
Việt Nam chính thức tuyên bố công hàm Phạm Văn Đồng là vô giá trị
06:38 |Việt Nam chính thức tuyên bố công hàm Phạm Văn Đồng là vô giá trị
Theo RFI
Sau nhiều năm im lặng, mãi đến những năm gần đây, chính quyền
Việt Nam mới lên tiếng giải thích về công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958,
nhưng lần đầu tiên, Hà Nội vừa chính thức tuyên bố công hàm đó là vô giá
trị, tức là không hề công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa.
Công hàm Phạm Văn Đồng, mà nhiều người gọi là « công hàm bán
nước », đã được đưa ra trong bối cảnh như thế nào ? Ngày 04/09/1958, Thủ
tướng Chu Ân Lai đã tuyên bố với quốc tế quyết định của chính phủ Trung
Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo
ngoài khơi, bao gồm hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Trường
Sa và Hoàng Sa của Việt Nam).
Sau đó, ngày 14/09/1958, Thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Phạm Văn
Đồng đã gởi cho Thủ tướng Chu Ân Lai bức công hàm ghi rõ: “Chính phủ
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành” tuyên bố nói trên của
chính phủ Trung Quốc và “sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách
nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc”.
Từ đó cho đến nay, đối với Bắc Kinh, bức công hàm nói trên của Thủ
tướng Việt Nam là đồng nghĩa với việc Hà Nội thừa nhận chủ quyền của
Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Thật ra, từ lâu, nhiều chuyên gia đã phân tích rõ là công hàm Phạm
Văn Đồng chẳng có giá trị nào về mặt pháp lý trên vấn đề chủ quyền Hoàng
Sa-Trường Sa, bởi một lý do đơn giản là hai quần đảo này vào thời đó
thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.
Trong bài báo ngày 20/07/2011, tờ Đại Đoàn Kết cũng đã công nhận rằng
vào thời điểm năm 1958, Hoàng Sa và Trường Sa “tạm thời thuộc quyền
quản lý của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa” và chính phủ này “đã liên tục
thực thi” chủ quyền trên hai quần đảo đó và đặc biệt đã quyết liệt chống
trả sự xâm lược của Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974. Hơn nữa,
vào thời điểm đó, chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không có nghĩa vụ
và quyền hạn hành xử chủ quyền trên hai quần đảo này.
Nhưng đó chỉ mới là ý kiến của một tờ báo chính thức, được đăng tải
vào lúc đó để xoa dịu dư luận, không chỉ đang phẫn nộ về những hành động
ngang ngược của Trung Quốc trên Biển Đông, mà còn rất bất bình trước
hành động đàn áp người biểu tình phản đối Trung Quốc. Nay, trong bối
cảnh Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển của Việt Nam, lần đầu tiên
chính phủ Hà Nội chính thức tuyên bố công hàm đó là không hề công nhận
chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Trong cuộc họp báo quốc tế hôm qua, 23/05/2014 ( lần thứ ba kể từ đầu
vụ giàn khoan HD-981 ), phó chủ nhiệm Ủy ban Biên giới Quốc gia Trần
Duy Hải đã nhắc lại lập luận rằng công hàm ( mà ông gọi là công thư )
Phạm Văn Đồng không đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bởi
lẽ hai quần đảo này lúc đó nằm dưới vĩ tuyến 17 và thuộc quyền quản lý
của Việt Nam Cộng Hòa, được Pháp giao lại vào năm 1956, phù hợp với Hiệp
định Genève 1954, mà Trung Quốc có tham gia.
Việt Nam đã phải chính thức tuyên bố công hàm Phạm Văn Đồng là vô giá
trị trong bối cảnh mà chính phủ Hà Nội đang cố vận động sự ủng hộ của
quốc tế bằng cách nêu rõ những cơ sở pháp lý và lịch sử về chủ quyền của
Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Hà Nội cũng đang xem xét việc khởi kiện Trung Quốc ra trước tòa án
quốc tế. Trong cuộc họp báo quốc tế hôm qua, bà Nguyễn Thị Thanh Hà, Hàm
Vụ trưởng Vụ Luật pháp quốc tế Bộ Ngoại giao, cho biết, với tư cách
thành viên của Công ước Quốc tế về Luật biển (UNCLOS), Việt Nam có quyền
sử dụng tất cả các cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến mình.
Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam
17:05 |Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam
(Chinhphu.vn) - Trung Quốc mới đây lại viện dẫn Công hàm
1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như một "bằng chứng" về việc Việt Nam
đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa. Song đây là một "vở diễn lại" quá lố của Trung Quốc bởi công
luận Việt Nam đã từng phân tích sáng tỏ nội dung Công hàm 1958, khẳng
định rằng văn bản này được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề
có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa.
Dưới đây, Báo điện tử Chính phủ xin dẫn lại bài báo "Công hàm
1958 với chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam" đăng trên báo Đại
Đoàn kết vào tháng 7/2011 trong đó tác giả bài báo phân tích rõ nội dung
Công hàm 1958 cũng như chỉ ra những diễn giải xuyên tạc của Trung Quốc
đối với văn bản này:Gần đây Trung Quốc luôn rêu rao cái gọi là họ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc Trung Quốc diễn giải nội dung Công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như là một chứng cứ cho thấy Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức phiến diện và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bản Công hàm đó, hoàn toàn xa lạ với nền tảng pháp lý của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, bất chấp thực tế khách quan của bối cảnh lịch sử đương thời. Có thể nói, giải thích xuyên tạc Công hàm 1958 là một trong chuỗi những hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ quyền phi lý của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Theo lý giải của Trung Quốc, ngày 4 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam). Sau đó, ngày 14/9/1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng gửi Công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên văn như sau:
"Thưa Đồng chí Tổng lý, Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng".
Cần phải thấy rằng, các tuyên bố nói trên của Trung Quốc cũng như của VNDCCH ra đời trong bối cảnh có nhiều chuyển biến phức tạp và cấp bách đối với Trung Quốc về tình hình lãnh thổ trên biển theo luật pháp quốc tế cũng như diễn biến căng thẳng của vấn đề quân sự xung quanh eo biển Đài Loan.
Năm 1956, Liên Hợp Quốc bắt đầu tiến hành các hội nghị quốc tế bàn về Luật Biển, sau đó một số hiệp định được ký kết vào năm 1958, tuy nhiên vẫn chưa làm thỏa mãn yêu sách về lãnh hải của một số quốc gia.
Từ đầu thế kỷ XX, nhiều quốc gia đã bắt đầu chú ý tới nguồn lợi to lớn từ khoáng sản và tài nguyên biển, bộc lộ ý đồ mở rộng chủ quyền trên biển. Trung Quốc, dù trong lịch sử ít quan tâm đến biển, cũng bắt đầu chú ý đến việc mở mang, kiếm tìm những đặc quyền trên biển. Mặc dù lúc đó chưa phải là thành viên của Liên Hợp Quốc, nhưng Trung Quốc cũng bắt đầu chú ý đến việc lên tiếng với cộng đồng quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề trên biển theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Trong chiến lược cho tương lai, thì việc cạnh tranh trên biển, cũng như tìm kiếm những nguồn tài nguyên trên biển là một vấn đề được Trung Quốc đặt ra.
Trên thực tế, cũng từ đầu thế kỷ XX, Trung Quốc đã hình thành ý định nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Rõ ràng, việc nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam từ thế kỷ XX đã nằm trong chiến lược "lấn sân" của Trung Quốc về tham vọng mở rộng biên giới quốc gia trên biển.
Ngày 26/5/1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman đã ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan, ngăn chặn cuộc tấn công của Trung Quốc nhắm vào các đảo trên eo biển Đài Loan. Với hành động này, Mỹ đã thực sự bảo hộ Đài Loan, mặc cho Trung Quốc kịch liệt lên án. Để tỏ rõ quyết tâm giải phóng Đài Loan, ngày 3/9/1954, Trung Quốc đã tấn công trừng phạt đối với các hòn đảo ven biển như Kim Môn, Mã Tổ. Các nhà chép sử gọi đây là cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất.
Ngày 11/8/1954, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố sẽ "giải phóng" Đài Loan, và tăng cường pháo kích vào hai đảo Kim Môn và Mã Tổ.
Ngày 12/9/1954, Chủ tịch Hội đồng Liên quân Hoa Kỳ đưa ra dự tính tấn công Trung Quốc bằng vũ khí nguyên tử nhưng Tổng thống Eisenhower đã do dự sử dụng vũ khí nguyên tử cũng như sự liên can của quân đội Hoa Kỳ vào cuộc chiến này.
Năm 1958, tiếp tục xảy ra cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai. Ngày 23/8/1958 Trung Quốc đột ngột tăng cường nã pháo vào đảo Kim Môn. Theo Hiệp định Phòng thủ tương hỗ giữa Đài Loan-Hoa Kỳ, Tổng thống Eisenhower đã ra lệnh cho tàu chiến Hoa Kỳ đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đài Loan đến 2 đảo tiền tiêu Kim Môn và Mã Tổ.
Ngoài bối cảnh "phức tạp và cấp bách" đối với Trung Quốc như đã nêu trên, theo Thạc sĩ Hoàng Việt (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông), Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ đặc thù VNDCCH -Trung Quốc lúc đó "vừa là đồng chí vừa là anh em". Năm 1949, bộ đội Việt Nam còn tấn công và chiếm vùng Trúc Sơn thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ tay các lực lượng khác rồi trao trả lại cho Quân giải phóng Trung Quốc. Năm 1957, Trung Quốc chiếm giữ đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam từ tay một số lực lượng khác, rồi sau đó cũng trao trả cho Việt Nam. Điều này cho thấy quan hệ đặc thù của hai nước VNDCCH - Trung Quốc lúc bấy giờ. Do vậy, trong tình hình lãnh thổ Trung Quốc đang bị đe dọa chia cắt, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai khiến Hải quân Hoa Kỳ đưa tàu chiến vào can thiệp, việc Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải bao gồm đảo Đài Loan trước hết nhằm khẳng định chủ quyền trên biển của Trung Quốc trong tình thế bị đe dọa tại eo biển Đài Loan. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn không quên mục đích "sâu xa" của họ trên Biển Đông nên đã "lồng ghép" thêm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào bản tuyên bố.
Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất phát từ mối quan hệ rất đặc thù với Trung Quốc trong thời điểm VNDCCH đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia trong khối xã hội chủ nghĩa bấy giờ và là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp thể hiện quan điểm ủng hộ của VNDCCH trong việc tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trước các diễn biến quân sự phức tạp trên eo biển Đài Loan.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu những lời ủng hộ Trung Quốc trong hoàn cảnh hết sức khẩn trương, chiến tranh chuẩn bị leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ đang tiến vào eo biển Đài Loan và đe dọa Trung Quốc.
Nội dung Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bởi, hơn ai hết, chính Thủ tướng VNDCCH thấu hiểu quyền tuyên bố về lãnh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, và việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia luôn luôn là mục tiêu hàng đầu đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh ra đời của Công hàm như đã nêu trên.
Công hàm 1958 có hai nội dung rất rõ ràng: Một là, Chính phủ VNDCCH ghi nhận và tán thành việc Trung Quốc mở rộng lãnh hải ra 12 hải lý; Hai là, Chính phủ VNDCCH chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng giới hạn lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố.
Trong Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có từ nào, câu nào đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không nêu tên bất kỳ quần đảo nào như Trung Quốc đã nêu. Do vậy, chỉ xét về câu chữ trong một văn bản có tính chất ngoại giao cũng dễ dàng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng Công hàm 1958 đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và coi đó là bằng chứng khẳng định Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này là xuyên tạc lịch sử và hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.
Tại Hội nghị San Francisco 1951, các quốc gia tham dự đã bác bỏ yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng tại hội nghị này, Việt Nam đã long trọng tuyên bố chủ quyền lâu đời và liên tục của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong phiên họp toàn thể mà không có bất kỳ sự phản đối hay ý kiến gì khác của tất cả các quốc gia tham dự. Điều đó có nghĩa là kể từ năm 1951, cộng động quốc tế đã thừa nhận chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những tuyên bố đơn phương về chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế là vô hiệu.
Hiệp định Genève 1954, mà Trung Quốc là một nước tham gia chính thức, cũng thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về người Việt Nam. Các điều khoản trong Hiệp định cũng yêu cầu các quốc gia tham dự Hội nghị cam kết tôn trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Do vậy, phần tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc liên quan tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trong bản tuyên bố ngày 4/9/1958 về cơ sở pháp lý quốc tế đương nhiên được xem là không có hiệu lực.
Trong Công hàm 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng không hề đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì điều đó là không cần thiết, bởi theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Trong thời điểm đó, dưới góc độ tài phán quốc tế, thì Chính phủ VNDCCH không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế.
Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đương nhiên chỉ tán thành những tuyên bố của Trung Quốc có nội dung hợp pháp được cộng đồng quốc tế thừa nhận trên cơ sở luật pháp quốc tế cho đến giai đoạn đó. Một phần nội dung của bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia về lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời cũng vi phạm nghiêm trọng các cơ sở pháp lý về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà cộng đồng quốc tế đã thừa nhận cũng như đã nhiều lần tái thừa nhận một cách minh thị là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chính phủ VNDCCH trong bối cảnh quan hệ hữu nghị rất đặc thù với Trung Quốc đã khẳng định lập trường ghi nhận, tán thành tuyên bố giới hạn 12 hải lý về lãnh hải của Trung Quốc, còn những nội dung cụ thể diễn giải vượt quá phạm vi chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc theo các hiệp ước quốc tế đã không được đề cập tới như là một sự mặc nhiên thừa nhận sự vô hiệu của nó dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế.
Trong khi đó, Chính quyền VNCH, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục thực thi chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai thực thi chủ quyền thực tế trên hai quần đảo này. Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn này là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân VNCH chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974.
Trong bối cảnh lịch sử đặc biệt nêu trên càng thấy rõ một sự thật hiển nhiên là Công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đơn giản chỉ ghi nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc, không hề nhắc lại các nội dung mập mờ liên quan đến các quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam. Về thực chất, Công hàm 1958 thể hiện một thái độ chính trị, một cử chỉ hữu nghị với tuyên bố giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc. Thực là phi lý, nếu cố tình suy diễn và xuyên tạc (như lập luận phía Trung Quốc), cho rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người con ưu tú của dân tộc, lại ký văn bản từ bỏ lãnh thổ và chủ quyền của đất nước trong khi chính ông và cả dân tộc Việt Nam đã chiến đấu hết mình để giành độc lập, tự do.
Có lẽ cần phải nhấn mạnh rằng tất cả những hành động ngoại giao của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong Công hàm 1958 có thể hiểu không phải là ông không nhìn thấy mọi ý đồ của Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam vì ông đã có kinh nghiệm trong bàn đàm phán Genève năm 1954, khi mà Trung Quốc đã có không ít động thái rất bất lợi cho VNDCCH. Nội dung Công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng phù hợp với hoàn cảnh và mối quan hệ đặc thù giữa VNDCCH và Trung Quốc bấy giờ, đồng thời cũng hàm chứa thái độ không bao giờ từ bỏ chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó cũng là quan điểm nhất quán của Việt Nam, bởi từ năm 1945 đến nay, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, Mặt trận DTGPMN Việt Nam và sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và hiện nay là Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam chưa bao giờ lên tiếng hoặc ra nghị quyết từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Một cơ sở nữa trên phương diện pháp lý, nước VNDCCH lúc đó không trực tiếp quản lý đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hòa và Philippines. Như vậy, những lời tuyên bố của VNDCCH xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp. Tuy nhiên, có tác giả đã cố tình nêu thuyết "estoppel" để suy diễn những lời tuyên bố đó có hiệu lực bó buộc đối với Việt Nam.
Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết "estoppel". Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác. Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính: (1) Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu và phải được phát biểu một cách minh bạch; (2) Quốc gia nại "estoppel" phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động; (3) Quốc gia nại "estoppel" cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó; (4) Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và lâu dài. Thí dụ: bản án "Phân định biển trong vùng Vịnh Maine", bản án "Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua", bản án "Ngôi đền Preah Vihear"...
Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên bố của VNDCCH, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2 và 3 đã nêu ở trên. Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của VNDCCH. Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. VNDCCH cũng không được hưởng lợi gì khi có những lời tuyên bố đó.
Trong suốt quá trình thực hiện mưu đồ bá chủ trên Biển Đông, Trung Quốc đã không ít lần đưa ra các tài liệu xuyên tạc lịch sử, biến có thành không, biến không thành có, tung hỏa mù để cố tình làm sai lệch nhận thức của chính nhân dân Trung Quốc cũng như của cộng đồng quốc tế về vấn đề này theo hướng có lợi cho mưu đồ của Trung Quốc. Tuy nhiên, trước những bằng chứng hiển nhiên của sự thật lịch sử và dưới ánh sáng của luật pháp quốc tế những hành vi xuyên tạc, tung hỏa mù, cố tình làm cho cộng đồng quốc tế ngộ nhận càng khiến cho Trung Quốc lộ rõ âm mưu cũng như thủ đoạn của họ trong suốt quá trình áp đặt ý đồ "nuốt trọn" Biển Đông, theo kiểu "miệng nói hòa bình không xưng bá, tay làm phức tạp hoá tình hình".
TQ lại nhắc Công hàm Phạm Văn Đồng
16:12 |![]() |
| Trung Quốc nói không có tranh chấp với Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa |
Một nhà ngoại giao và một học giả Trung Quốc nói Công hàm 1958 là bằng chứng Việt Nam công nhận Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc.
Công hàm 1958 gây tranh cãi của Thủ tướng Phạm
Văn Đồng lại được Trung Quốc đề cập trong bối cảnh Việt Nam và Trung
Quốc đối đầu vì vụ giàn khoan HD-981.
Căng thẳng Việt – Trung đã gia tăng, với việc nổ ra các cuộc bạo động ở Việt Nam, sau khi Việt Nam lên án Trung Quốc hạ đặt giàn khoan tại khu vực biển Hoàng Sa.
Hôm 20/5, đại biện lâm thời Sứ quán Trung Quốc ở Indonesia có bài đăng trên báo Indonesia Jakarta Post để biện hộ cho Trung Quốc.
Ông Lưu Hồng Dương nói quần đảo Tây Sa (tên Trung Quốc dùng để chỉ Hoàng Sa) là “lãnh thổ vốn vẫn thuộc về Trung Quốc”.
“Vị trí của các đảo đã được cộng đồng quốc tế, kể cả Việt Nam, công khai thừa nhận trong nhiều thập niên từ Thế chiến Hai.
“Trong tuyên bố ngày 14/9/1958 thay mặt chính phủ Việt Nam, Thủ tướng Việt Nam khi đó, Phạm Văn Đồng, công khai thừa nhận quần đảo Tây Sa và các đảo khác ở Nam Hải là lãnh thổ Trung Quốc.”
Ông Lưu Hồng Dương cáo buộc “việc chính phủ Việt Nam gần đây thay đổi và từ chối công nhận Tây Sa là của Trung Quốc thật vô cùng gây sốc”.
“Việt Nam rõ ràng vi phạm nguyên tắc ‘estoppel’ [không được nói ngược],” ông Lưu cáo buộc.
Bày tỏ lập trường chính thức của Trung Quốc, ông Lưu nói tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc chỉ tồn tại ở quanh quần đảo Trường Sa.
Ông Lưu cáo buộc Việt Nam có “tiêu chuẩn kép” khi đã “đánh dấu 57 lô dầu khí ở trong vùng biển tranh chấp”.
Nói về cuộc đối đầu quanh giàn khoan HD-981, ông Lưu nói Việt Nam “phải bỏ mọi ảo tưởng và tiến hành hai biện pháp quyết định”.
“Một, ngay lập tức dừng mọi hoạt động nguy hiểm chống lại giàn khoan Trung Quốc và rút toàn bộ tàu khỏi vùng biển thuộc Trung Quốc.
“Hai, thực thi lời hứa dừng mọi bạo lực trong nước để bảo vệ công dân và tài sản công ty Trung Quốc ở Việt Nam.”
Bộ Ngoại giao Việt Nam chưa lên tiếng về bài báo của ông Lưu Hồng Dương.
Trong một diễn biến liên quan, Tiến sĩ Ngô Sĩ Tồn, Giám đốc Viện Nghiên cứu Nam Hải của Trung Quốc, có bài trả lời phỏng vấn hãng tin Đức Deutsche Welle (DW), được đăng trên mạng hôm 20/5.
Ông này cũng nhắc lại về Công hàm Phạm Văn Đồng.
“Năm 1958, Thủ tướng Việt Nam khi đó là Phạm Văn Đồng đã công nhận chủ quyền Trung Quốc đối với Tây Sa và Nam Sa trong công hàm gửi Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai.
“Hà Nội chỉ thay đổi lập trường sau khi đất nước thống nhất năm 1975,” tiến sĩ Ngô nói.
“Nhưng theo nguyên tắc estoppel, Trung Quốc không tin rằng Việt Nam có thể thay đổi lập trường về vấn đề chủ quyền.”
Căng thẳng Việt – Trung đã gia tăng, với việc nổ ra các cuộc bạo động ở Việt Nam, sau khi Việt Nam lên án Trung Quốc hạ đặt giàn khoan tại khu vực biển Hoàng Sa.
Hôm 20/5, đại biện lâm thời Sứ quán Trung Quốc ở Indonesia có bài đăng trên báo Indonesia Jakarta Post để biện hộ cho Trung Quốc.
Ông Lưu Hồng Dương nói quần đảo Tây Sa (tên Trung Quốc dùng để chỉ Hoàng Sa) là “lãnh thổ vốn vẫn thuộc về Trung Quốc”.
“Vị trí của các đảo đã được cộng đồng quốc tế, kể cả Việt Nam, công khai thừa nhận trong nhiều thập niên từ Thế chiến Hai.
“Trong tuyên bố ngày 14/9/1958 thay mặt chính phủ Việt Nam, Thủ tướng Việt Nam khi đó, Phạm Văn Đồng, công khai thừa nhận quần đảo Tây Sa và các đảo khác ở Nam Hải là lãnh thổ Trung Quốc.”
Ông Lưu Hồng Dương cáo buộc “việc chính phủ Việt Nam gần đây thay đổi và từ chối công nhận Tây Sa là của Trung Quốc thật vô cùng gây sốc”.
“Việt Nam rõ ràng vi phạm nguyên tắc ‘estoppel’ [không được nói ngược],” ông Lưu cáo buộc.
Bày tỏ lập trường chính thức của Trung Quốc, ông Lưu nói tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc chỉ tồn tại ở quanh quần đảo Trường Sa.
Ông Lưu cáo buộc Việt Nam có “tiêu chuẩn kép” khi đã “đánh dấu 57 lô dầu khí ở trong vùng biển tranh chấp”.
Nói về cuộc đối đầu quanh giàn khoan HD-981, ông Lưu nói Việt Nam “phải bỏ mọi ảo tưởng và tiến hành hai biện pháp quyết định”.
“Một, ngay lập tức dừng mọi hoạt động nguy hiểm chống lại giàn khoan Trung Quốc và rút toàn bộ tàu khỏi vùng biển thuộc Trung Quốc.
“Hai, thực thi lời hứa dừng mọi bạo lực trong nước để bảo vệ công dân và tài sản công ty Trung Quốc ở Việt Nam.”
Bộ Ngoại giao Việt Nam chưa lên tiếng về bài báo của ông Lưu Hồng Dương.
Trong một diễn biến liên quan, Tiến sĩ Ngô Sĩ Tồn, Giám đốc Viện Nghiên cứu Nam Hải của Trung Quốc, có bài trả lời phỏng vấn hãng tin Đức Deutsche Welle (DW), được đăng trên mạng hôm 20/5.
Ông này cũng nhắc lại về Công hàm Phạm Văn Đồng.
“Năm 1958, Thủ tướng Việt Nam khi đó là Phạm Văn Đồng đã công nhận chủ quyền Trung Quốc đối với Tây Sa và Nam Sa trong công hàm gửi Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai.
“Hà Nội chỉ thay đổi lập trường sau khi đất nước thống nhất năm 1975,” tiến sĩ Ngô nói.
“Nhưng theo nguyên tắc estoppel, Trung Quốc không tin rằng Việt Nam có thể thay đổi lập trường về vấn đề chủ quyền.”
![]() |
| Công hàm Phạm Văn Đồng vẫn gây tranh cãi sau 50 năm |
Công hàm tranh cãi
Công hàm ngoại giao do Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ông Phạm Văn Đồng ký năm 1958 để phúc đáp tuyên bố của CHND Trung Hoa hôm 04/9 năm 1958 về hải phận 12 hải lý của nước này.
Viết trên BBC, Tiến sĩ Trần Công Trục, cựu Trưởng ban Biên giới Chính phủ Việt Nam, cho rằng công hàm “không liên quan gì đến 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, càng không có nghĩa là Việt Nam thừa nhận 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc”.
“Bởi thời điểm này 2 quần đảo đang do chính thể Việt Nam Cộng hòa, đại diện cho nhà nước Việt Nam quản lý, thực thi chủ quyền,” ông Trục giải thích.
Tuy vậy, tranh luận trên BBC, ông Lý Thái Hùng, một lãnh đạo của đảng Việt Tân ở Hoa Kỳ, lại nói công hàm “vẫn đã thừa nhận chủ quyền Trung Quốc trên Biển Đông bao gồm luôn quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, và cho Trung Quốc lý cớ để cột công hàm này vào nền tảng biện minh cho chủ trương xâm lược của họ hiện nay”.
Nói như một nhà nghiên cứu khác, Dương Danh Huy, công hàm có gây ra nghĩa vụ ràng buộc cho Việt Nam liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa hay không là một vấn đề “còn tranh cãi”.
Công hàm ngoại giao do Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ông Phạm Văn Đồng ký năm 1958 để phúc đáp tuyên bố của CHND Trung Hoa hôm 04/9 năm 1958 về hải phận 12 hải lý của nước này.
Viết trên BBC, Tiến sĩ Trần Công Trục, cựu Trưởng ban Biên giới Chính phủ Việt Nam, cho rằng công hàm “không liên quan gì đến 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, càng không có nghĩa là Việt Nam thừa nhận 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc”.
“Bởi thời điểm này 2 quần đảo đang do chính thể Việt Nam Cộng hòa, đại diện cho nhà nước Việt Nam quản lý, thực thi chủ quyền,” ông Trục giải thích.
Tuy vậy, tranh luận trên BBC, ông Lý Thái Hùng, một lãnh đạo của đảng Việt Tân ở Hoa Kỳ, lại nói công hàm “vẫn đã thừa nhận chủ quyền Trung Quốc trên Biển Đông bao gồm luôn quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, và cho Trung Quốc lý cớ để cột công hàm này vào nền tảng biện minh cho chủ trương xâm lược của họ hiện nay”.
Nói như một nhà nghiên cứu khác, Dương Danh Huy, công hàm có gây ra nghĩa vụ ràng buộc cho Việt Nam liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa hay không là một vấn đề “còn tranh cãi”.



-b1926%5B1%5D.jpg)

