Home » Bệnh Học Thần Kinh
TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
06:40 |TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
Bệnh mạch máu não cấp cũng gọi là TBMMN là một chứng bệnh cấp tính thường gặp ở người trung niên và cao tuổi. Đặc điểm lâm sàng chủ yếu của bệnh là: phát hiện đột ngột, hôn mê và bán thân bất toại.
Bệnh có thể chia làm 2 loại: - Xuất huyết não: bao gồm chảy máu não và chảy máu dưới màng cứng. - Nhũn não: bao gồm sự hình thành huyết khối và sự tắc nghẽn mạch máu. Trừ thể xuất huyết dưới màng cứng, sách Y học cổ truyền Đông phương gọi một tên chung là chứng “TRÚNG PHONG”. Nhận thức của Đông y đối với bệnh tai biến mạch máu não: Đông y đã có nhận thức sớm về bệnh này. Cách đây hơn 2000 năm, trong trước tác đông y như “Linh khu” đã ghi các chứng “Kích bộc” “Thiên khô” “Phong phì” có các triệu chứng ghi như: đột nhiên hôn bộc, một nửa người không cử động tự chủ. Và chứng “Đại quyết” trong sách Tố Vấn ghi về cơ chế bệnh là do khí huyết cùng thượng nghịch, và nói đến tiên lượng bệnh là “Khi hồi phục (phản phục) được là sống, còn không phản phục được là chết”. Sách “Kim quỹ yếu lược” của Trương Trọng Cảnh đời Hán mệnh danh là chứng “Trúng phong” và mô tả các triệu chứng của trúng phong như sau: bán thân bất toại, mồm méo, nói khó, nặng thì bất tỉnh nhân sự, sách đời Đường (701-704) và đời Tống (973-1093) nhận thức về nguyên nhân bệnh là do tích tuổi hư tổn. Y gia các thời đại sau bổ sung thêm nhiều luận thuyết về nguyên nhân như Lưu Hà Gian cho là do “hỏa”, Lý Đông Viên cho là “lý hư”, Chu Đan Khê cho là “đàm nhiệt”. Các học gia sau này như Trương Giới Tân (đời Minh) Diệp Thiên Sỹ (đời Thanh) đều cho rằng là do “nội thương” “tích tổn” mà thành chứ không phải do phong tà bên ngoài xâm nhập cơ thể. Về tạng phủ mắc bệnh, các học giả Đông y đều cho rằng sách “Nội kinh” nói: “Đại nộ tắc hình khí tuyệt mà huyết tràn lên trên”, và “huyết khí cùng thượng nghịch”, phía trên là chỉ não là một trong những phủ kỳ hằng, là bể của tủy, khí của não, là thông với thận. Ngoài mặt nhận thức bệnh biến là ở não, đông y cũng nhận thức bệnh có liên quan đến nhiều tạng phủ khác như Can, Thận, Tâm, Tỳ, Vị … Còn việc phân loại “trúng kinh lạc” và “trúng tạng phủ” cũng chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng nặng nhẹ mà phân loại: nhẹ là trúng kinh lạc, nặng là trúng tạng phủ. Triệu chứng trúng kinh lạc thường là: chân tay tê dại, mồm méo, hoặc nói khó, bán thân bất toại nhưng không có hôn mê. Triệu chứng trúng tạng phủ thì bệnh nặng mê man hoặc hôn mê bất tỉnh, các triệu chứng lâm sàng nặng hơn. Kết hợp với nhận thức của YHHĐ, trước tiên cần xác định là chứng trúng phong do xuất huyết não hay do nhũn não, nếu do xuất huyết não thì dùng phép “thanh nhiệt thông phủ bình can” tức phong hoạt huyết chỉ huyết là chính, còn nếu là nhũn não phép chữa chủ yếu là “ích khí hóa ứ” dưỡng âm hoạt huyết là chính. Đông y còn cho rằng “trúng phong” là chứng bệnh dẫn đầu trong 4 loại bệnh lớn nội khoa và gắn triệu chứng bệnh với các tạng phủ cùng tiên lượng bệnh như sau: “mồm há, tay buông thõng là Tỳ tuyệt, mắt nhắm là Can tuyệt, hôn mê bất tỉnh, mũi phập phồng là Phế tuyệt, đái dầm là Thận tuyệt, lưỡi ngắn không nói được là Tâm tuyệt, nấc cụt không dứt là bị Khí tuyệt”. Theo số liệu thống kê của Trung Quốc, gần đây phát hiện số bệnh nhân 30 - 40 tuổi là không ít nhưng số trên 50 tuổi vẫn nhiều, chiếm trên 60%. Báo cáo của Hoàng Bỉnh Sơn năm 1986, trong số 600 b/n TBMMN, số bệnh nhân trên 41 tuổi chiếm 96,2%. Điều này nói rõ là thể chất con người trên 40 tuổi thường chuyển từ thịnh sang suy và TBMMN thường liên quan đến các bệnh mà người trên 40 hay mắc như xơ mỡ mạch, cao huyết áp, bệnh tim, tiểu đường, bệnh béo phì … mà các bệnh này thường là “hư chứng” hoặc trong hư kiêm thực chứng là phù hợp với nhận thức của YHCT đã ghi trong sách “Nội kinh”: “Người 40 là khí âm còn một nửa, đứng ngồi yếu”. Do đó càng thấy rõ TBMMN là một bệnh nội thương mà bản chất bệnh là hư chứng. Những tác động bên ngoài như thời tiết thay đổi đột ngột hoặc những kích động tâm thần đột ngột (stress) làm cho Can phong nội động, khí huyết nghịch loạn, hoặc uống rượu nhiều, ăn nhiều chất béo mỡ gây tích trệ tại tỳ vị, tích cũng hóa nhiệt gây phong động, nói lên bệnh bản chất hư nhưng thường kiêm phong, đàm, nhiệt, ứ là vì vậy.
A- XUẤT HUYẾT NÃO: (Hémorragie cerébrate cerebral hemorrohage).
Não xuất huyết là do thành động mạch não bị bể và máu chảy vào tổ chức não sinh bệnh. Bệnh thường gặp ở tuổi trên 50 có huyết áp cao hoặc xơ cứng động mạch. Nam nhiều hơn nữ. Bệnh khởi phát đột ngột, triệu chứng lâm sàng chủ yếu là hôn mê, liệt tay chân, méo mồm. 1- Triệu chứng lâm sàng: Xuất huyết não thường xảy ra trong lúc bệnh nhân đang tỉnh táo, thường có liên quan đến trạng thái tinh thần bị kích động đột ngột (trạng thái quá tức giận, quá lo lắng, quá vui, quá buồn đau hoặc dùng lực quá mạnh làm cho huyết áp tăng đột ngột gây nên). a- Giai đoạn cấp diễn: - Bệnh nhân đau đầu đột ngột, chóng mặt, buồn nôn, nôn, một bên người yếu hoặc liệt, ý thức lú lẫn dần dần đến hôn mê, sắc mặt nóng đỏ, cổ gáy cứng, mồm méo, liệt mặt, chảy nước dãi, thở nặng sâu, cổ khò khè, bụng đầy táo bón. Phần lớn bệnh nhân sốt, huyết áp cao, mặt lưỡi nhiều ứ huyết, dưới lưỡi nổi gân xanh, chất lưỡi đỏ hoặc đỏ thẫm, rêu lưỡi vàng nhớt hoặc vàng khô, mạch huyền sắc đại. - Bệnh nhẹ thì lúc tỉnh lúc mê, thân lưỡi cứng nói không rõ tiếng, bán thân bất toại, tay chân run giật. - Bệnh nặng thì hôn mê sâu, sắc mặt tái nhợt, chân tay liệt mềm, mình mẩy lạnh ướt, hơi thở ngắn nhanh hoặc ngắt quãng, huyết áp hạ, đồng tử giãn, phản xạ ánh sáng chậm hoặc mất hẳn, tiêu tiểu không tự chủ, mạch hư đại vô căn. - Đối với những người có bệnh huyết áp cao, tiểu đường, bệnh tim, xơ cứng động mạch não, béo phì thường có những triệu chứng báo trước như đau cổ đầu, chóng mặt, tay chân tê dại, chảy máu cam, xuất huyết võng mạc mắt. b- Giai đoạn hồi phục: Sau một thời gian hôn mê từ mấy ngày đến mấy tuần thì bệnh nhân trở lại tỉnh táo, có thể nuốt và uống nước được, hơi thở ổn định, sức khỏe chung tốt dần, chân tay liệt có cử động hồi phục dần. c- Giai đoạn di chứng: Thường sau trên 6 tháng mắc bệnh, tình hình hồi phục chậm lại và để lại những di chứng mức độ khác nhau như liệt chi, chân tay cơ bắp teo gầy, run giật và đau nhức, trí lực giảm sút hoặc đần độn. 2- Chẩn đoán bệnh: Dựa vào các tiêu chuẩn sau: a- Tuổi trên 40, bệnh phát đột ngột. b- Có những triệu chứng: hôn mê, liệt nửa người, méo mồm. c- Có tiền sử huyết áp cao. d- Áp lực nước não tủy tăng, xét nghiệm nước não tủy có máu đỏ (nếu lâm sàng đủ để xác định chẩn đoán, không cần chọc nước não tủy). e- Nếu có điều kiện làm siêu âm sọ não, làm điện não đồ, chụp mạch não, chụp cắt lớp não (CT) để xác định chẩn đoán. 3- Phân tích về nguyên nhân và cơ thể bệnh theo YHCT: Bệnh xuất huyết não phát bệnh đột ngột nhưng hình thành bệnh là một quá trình. Theo YHCT, sự hình thành bệnh có liên quan đến các yếu tố bệnh lý sau: a- Phong: tức “Can phong”, lâm sàng có triệu chứng hoa mắt váng đầu, chân tay run giật do can thận âm hư, thủy không dưỡng mộc, can dương thịnh hóa phong => sinh bệnh. Ngoài ra, tình chí u uất hóa hỏa, đặc biệt lao tâm suy nghĩ nhiều, tâm hỏa thịnh, hoặc giận dữ kích động can hỏa, hoặc ăn uống nhiều chất béo, mỡ tích trệ hóa đều dẫn đến Can phong nội động. b- Hỏa: Can dương thịnh, trường vị nhiệt kết thường biểu hiện mặt đỏ, bứt rứt dễ cáu gắt, đại tiện táo kết. c- Đàm: Thường do thích ăn nhiều chất béo mỡ hoặc nghiện rượu, tỳ vị tích trệ, tân dịch tích tụ sinh đàm, hoặc uất giận ưu tư nhiều quá khí trệ sinh đờm cũng là nguyên nhân thường gặp. Trên lâm sàng biểu hiện ngực tức buồn nôn, khạc ra đờm dãi, thân mình hoặc tay chân tê dại hoặc có những cơn hoa mắt váng đầu. d- Ứ huyết: Nguyên nhân huyết ứ thường là do khí trệ, ngoài ra âm hư huyết ít, khí hư vận hóa suy giảm cũng gây nên huyết ứ. Thực ra 4 yếu tố gây nguy cơ tai biến xuất huyết não trên đây đều có liên quan ảnh hưởng lẫn nhau và là nguyên nhân của nhau. Bệnh xuất huyết não là một bệnh mang tính chất khí hư tà khí thực mà trong giai đoạn cấp biểu hiện chủ yếu là tà thực, nhưng do chính khí vốn hư nên tà khí dễ làm hao tổn nguyên khí → dễ dẫn đến tử vong trong trạng thái hư thoát (dương hư, âm hư hoặc khí âm hư, âm dương đều hư). Đến thời kỳ hồi phục và giai đoạn di chứng thì tà khí đã bị đẩy lùi (nhờ các biện pháp cấp cứu và chính khí thắng tà khí) nhưng chính khí hư tổn là chính chủ yếu là khí âm hư mà huyết ứ vẫn còn tồn đọng tại kinh mạch, cho nên trong điều trị biện chứng cần lưu ý: 4- Biện chứng luận trị: Biện chứng luận trị chủ yếu theo 3 giai đoạn lâm sàng: a- Giai đoạn cấp tính: Thường trong thời gian 1-2 tuần đầu của bệnh mà triệu chứng chủ yếu là hôn mê. Thời gian hôn mê càng dài, càng sâu thì tiên lượng bệnh càng kém. Do thể chất người bệnh, tình hình bệnh lý khác nhau mà biểu hiện lâm sàng khác nhau, có thể chia làm 2 thể bệnh: chứng bế và chứng thoát. @ Chứng bế: - Triệu chứng chủ yếu: hôn mê, liệt nửa người, méo mồm, mắt trợn ngược, mặt đỏ, người nóng sốt, hàm răng nghiến chặt, đờm nước rãi nhiều, họng khò khè, thở thô, mũi ngáy, tay chân co cứng, tiêu tiểu không thông, chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền hoạt sác, gọi là chứng “dương bế” thường gặp trong giai đoạn cấp. - Phép chữa: Khai bế tỉnh não, hoạt huyết chỉ huyết. - Huyệt châm: Chích nặn máu các huyệt: Trung xung, Bách hội, Tứ thần thông (hoặc dùng 12 huyệt tĩnh) kết hợp chích Nhân trung, Thừa tương, Phong trì, Phong phủ, Hợp cốc, Lao cung, Thái xung, Dũng tuyền. Hoặc dùng Nội quan, Nhân trung, Tam âm giao, Hợp cốc, Ủy trung. Chủ yếu dùng phép tả, ngày 1 đến 2 lần, không lưu kim cho đến khi tỉnh và tùy tình hình bệnh thay đổi chọn huyệt. - Thuốc thường dùng “An cung ngưu hoàng hoàn” “Chí bảo đơn” hoặc “Tứ tuyết đơn” (1-2 g x 2-4 lần/ngày). “An cung ngưu hoàng hoàn” và “Chí bảo đơn” mỗi lần uống 2 - 4 g, ngày 2 - 4 lần, tán nhỏ, hòa nước sôi, uống hoặc bơm bằng sonde. + Hoạt huyết chỉ huyết dùng bài “Tê giác địa hoàng thang” (bột sừng trâu 20g, Sinh địa 16-20 g, Xích thược 12-16 g, Đơn bì 12-16 g). + Đối với chứng dương bế (nhiệt bế) có thể dùng bài thuốc sau có tác dụng thanh nhiệt giải độc, bình can tức phong, an thần hoạt huyết: Sinh địa 10-15g, Chi tử 10g, Hoàng cầm 10g, Toàn qua lâu 15-20g, Mang tiêu 10g, Bột sừng trâu 15-25g, Thạch quyết minh 15g, Câu đằng 15g, Xích thược 15g, Đơn sâm 15g, Tam thất bột 6g, Chích thảo 3g, Trúc lịch (nước) 30ml. Ngày sắc uống thang, tùy chứng gia giảm. + Đối với chứng âm bế (thường gặp ở bệnh nhân vốn dương hư đàm thịnh hàn đàm làm bế tắc thanh khiếu) dùng phép chữa: Ôn thông khai khiếu. Bài thuốc: “Tô hợp hương hoàn” mỗi lần uống 2-4 g, 1-2 lần uống với nước Tế tân 3g, Gừng tươi 3-5 lát. + Trường hợp triệu chứng dương hư nặng (sắc mặt tái nhợt, tự ra mồ hôi, chân tay lạnh, mạch vị hoặc phù tế mà huyền) gia Phụ tử, Hoàng kỳ, gia thêm Xuyên khung, Tô mộc, Đương quy, Bạch cương tàm, Ngưu tất, Tế tân để hoạt huyết thông lạc. Trường hợp hôn mê cấm khẩu, đờm thịnh, chính khí dục thoát cần dùng bài “Tam sinh ẩm” (Sinh nam tinh, Sinh bán hạ, Sinh phụ tử mỗi thứ 10g) gia Nhân âm 15-30g, sắc uống cấp, chống hư thoát. Lúc này châm thêm Nhân trung, Hợp cốc, Túc tam lý, Dũng tuyền để hồi dương cứu nghịch. @ Chứng thoát: - Triệu chứng chủ yếu: Đột nhiên ngã quỵ hoặc do chứng bế chuyển thành, có triệu chứng hôn mê bất tỉnh, sắc mặt tái nhợt, mắt nhắm, mồm há, hơi thở ngắn gấp hoặc có lúc ngưng thở, tay buông thõng, tứ chi lạnh, toàn thân ướt lạnh, tiêu tiểu không tự chủ, chân tay liệt mềm, lưỡi rút ngắn, mạch vi dục tuyệt hoặc hư đại vô căn, huyết áp hạ. Thường chứng thoát là âm dương, khí huyết đều hư hoặc do bệnh nhân nguyên khí vốn rất hư đột quỵ là xuất hiện chứng thoát, hoặc là diễn tiến xấu đi của chứng bế, cho nên trong quá trình cấp cứu chứng bế nếu phát hiện 1, 2 triệu chứng của chứng thoát, cần chuyển hướng chữa cấp cứu kịp thời mới hy vọng cứu sống bệnh nhân. - Phép chữa chủ yếu: Hồi dương cứu thoát. - Bài thuốc cơ bản: “Sâm phụ thang” (Nhân sâm, Phụ tử mỗi thứ 15-30 g) Trường hợp ra mồ hôi không dứt gia Long cốt, Mẫu lệ mỗi thứ 30-60 g. Âm dương đều thoát, dùng “Sinh mạch âm hợp sâm phụ thang” gia Sơn thù, Bạch thược, Long cốt, Mẫu lệ. Đây là trường hợp cấp cứu trụy tim mạch, không thể dùng thuốc uống được mà phải tiêm truyền bằng đường tĩnh mạch. Ở Trung quốc dùng thuốc chích Sâm mạch (Nhân sâm, Mạch môn) mỗi lần 4-10 ml gia vào dung dịch Glucose 5% 20 ml chích tĩnh mạch 2-3 lần, sau đó tiếp tục dùng dịch Sâm mạch 10-20 ml cho vào dung dịch Glucose 10% 250-500 ml nhỏ giọt tĩnh mạch cho đến khi trạng thái choáng được cải thiện, huyết áp ổn định. Và sau đó tiếp tục dung dịch Sâm phụ mỗi lần 40-100 ml gia vào 10% Glucose 250-500 ml nhỏ giọt tĩnh mạch ngày 2 lần tùy tình hình bệnh mà duy trì dùng trong 7-10 ngày. Ta chưa có thuốc tiêm Sâm mạch nên phải cấp cứu chứng thoát theo phương pháp y học hiện đại. - Kết hợp châm cứu: Chủ yếu cứu các huyệt Khí hải, Quan nguyên, Thần khuyết, Dũng tuyền. b- Giai đoạn hồi phục: Sau thời gian cấp tính khoảng 1-2 tuần và kinh qua điều trị tích cực chứng bế hoặc chứng thoát, bệnh nhân qua cơn nguy kịch chuyển sang giai đoạn hồi phục. Bệnh lý chủ yếu ở giai đoạn này là chứng hư kiêm huyết ứ đàm trệ ở kinh lạc mà phần lớn là thể khí hư huyết ứ. - Triệu chứng chủ yếu: Tinh thần mệt mỏi, sắc mặt vàng xạm, liệt nửa người, chất lưỡi xám nhợt hoặc có điểm ứ huyết, mạch tế nhược hoặc tế sáp hoặc hư đại, huyết áp thường không cao hoặc không cao. - Phép chữa: Bổ khí hóa ứ, thông lạc. - Bài thuốc: “Bổ dương hoàn ngũ thang” Sinh Hoàng kỳ 30-60g, Xích thược 8-12g, Đương quy 12g, Xuyên khung 8g, Đào nhân 8g, Hồng hoa 8g, Địa long 6-8g. Sắc uống. - Gia giảm: + Thận hư gia Can địa hoàng, Sơn thù, Nhục thung dung, Ngưu tất, Tang ký sinh, Đỗ trọng. + Huyết áp cao gia Thanh mộc hương, Thảo quyết minh, Phòng kỷ. + Chân tay hồi phục chậm gia Đơn sâm, Xuyên giáp hoạt huyết, Quất hồng, Thanh bì hóa đàm thông lạc. - Một số bài thuốc khác như: 1/ Dịch thông mạch sơ lạc gồm: Hoàng kỳ, Xích thược, Xuyên khung, Đơn sâm dùng truyền tĩnh mạch. 2/ Cố bản phục nguyên thang gồm: Hoàng kỳ, Đơn sâm, Kê huyết đằng, Hoàng tinh, Hải tảo, Huyền sâm, thích hợp với thể âm hư. Ngoài ra bệnh viện Bắc kinh có chế bài thuốc uống gồm có độc vị Thủy điệt (con đỉa) dùng có kết quả. * Đối với thể âm hư dương thịnh (liệt nửa người, sắc mặt đỏ, đau đầu chóng mặt, bứt rứt, chất lưỡi đỏ, rêu vàng khô, mạch huyền sác …) có thể dùng bài “Kỷ cúc địa hoàng hoàn” gia Thạch quyết minh, Câu đằng, Đơn sâm, Xích thược để tư âm tiềm dương, hoạt huyết thông lạc. c- Giai đoạn di chứng: Thường sau 6 tháng, sự hồi phục chức năng cơ thể người bệnh tuy vẫn tiếp tục nhưng chậm lại và thường để lại ít nhiều di chứng, có di chứng khó hồi phục trở lại bình thường. Bệnh lý ở giai đoạn này cơ bản là giống giai đoạn hồi phục chủ yếu là hư chứng (tùy từng bệnh nhân mà biểu hiện thiên về khí hư, huyết hư, âm hư hoặc dương hư) kiêm khí huyết ứ trệ hoặc đàm thấp trở lại, nên phép chữa vẫn cần chú ý bổ ích khí huyết, tư âm tiềm dương, hành khí hóa ứ, sơ thông kinh lạc. Đối với giai đoạn này cũng như giai đoạn hồi phục, ngoài việc dùng thuốc ra, kết hợp các phương pháp luyện tập dưỡng sinh, xoa bóp, châm cứu là rất quan trọng có vai trò quyết định sự hồi phục các chức năng vận động, lao động trí óc và chân tay. Ba mặt điều trị tối quan trọng đối với người bệnh trong giai đoạn hồi phục và di chứng là: tự tạo cho mình một tinh thần, tự xây dựng cho mình một chế độ sinh hoạt điều độ, ăn uống thanh đạm, làm việc vừa sức, không ham dục vọng kết hợp với sự luyện tập nhẹ nhàng thường xuyên đều đặn là những vấn đề thiết yếu (có thể gọi là “tam pháp bảo”) để bảo vệ sức khỏe, làm tăng sức khỏe và chống tái phát đối với bệnh nhân. B- NHŨN NÃO: Nhũn não là một trạng thái bệnh lý do sự hình thành huyết khối ở não làm tắc động mạch não → tổ chức não thiếu máu nuôi dưỡng mà sinh ra nhũn não. Sự hình thành huyết khối trong động mạch não là do động mạch não vốn bị xơ cứng, lòng mạch hẹp, máu chảy chậm lại, huyết khối hình thành và làm tắc nghẽn động mạch nuôi dưỡng não. Triệu chứng chủ yếu là liệt nửa người. 1- Triệu chứng lâm sàng: Người bệnh phần lớn trên 50 tuổi, nam nhiều hơn nữ. Phát bệnh bất kỳ lúc nào, có khi đang nghỉ ngơi, đang lao động, có nhiều người ngủ dậy phát hiện liệt nửa người. Thường lúc phát bệnh, tinh thần tỉnh táo, huyết áp bình thường hoặc hơi cao, đối với một số người bệnh khởi phát từ từ, trước đó có triệu chứng đau đầu chóng mặt, trí nhớ giảm sút, chân tay tê hoặc yếu, nói hơi khó … sau 1-2 ngày mới thấy liệt nửa người. Do bệnh lý ở bộ phận mạch máu não khác nhau mà triệu chứng lâm sảng cũng khác nhau. Bệnh nặng và thường đến từ từ, có thể ý thức vẫn tỉnh táo. Chứng nhũn não cũng thường có tiền sử xơ cứng động mạch hoặc huyết áp cao. 2- Tiêu chuẩn chẩn đoán: a/ Người trên 50 tuổi có tiền sử bệnh xơ cứng động mạch hoặc huyết áp cao, liệt nửa người, nói khó hoặc không nói được xuất hiện từ từ. b/ Nước não tủy bình thường. c/ Nếu có điều kiện chụp mạch máu não, làm điện não đồ và kiểm tra CT não giúp xác định chẩn đoán. 3- Phân tích cơ chế bệnh theo y học cổ truyền: Người lớn tuổi thường nguyên khí suy giảm, huyết hành là nhờ có lực của khí cho nên khí hư → lực đẩy kém → huyết dễ ứ trệ → huyết ứ → tắc mạch. Mặt khác, do can thận âm hư, can dương thịnh sẽ sinh đàm sinh phong, can phong động gây co mạch, thuận lợi cho huyết khối làm tắc nghẽn khiến huyết mạch không lưu thông. Hoặc người bệnh vốn béo mập đàm thịnh dẫn đến ứ kết cũng làm mạch lạc không thông. Bệnh cơ chính là do khí hư, huyết khối hình thành làm tắc nghẽn mạch, huyết mạch không thông sinh bệnh. 4- Biện chứng luận trị: Trên lâm sàng thường gặp 2 thể bệnh: a/ Khí hư huyết ứ: là thể bệnh thường hay gặp. - Triệu chứng chủ yếu: phần lớn bệnh nhân thể chất khí hư, sắc mặt tái nhợt, hơi ngắn, dễ mệt, ra nhiều mồ hôi, tiêu phân lỏng, chất lưỡi nhợt, rìa lưỡi có dấu răng, trên mặt hoặc dưới lưỡi có điểm hoặc nốt ứ huyết, một bộ phận chân tay tê dại, liệt nửa người hoàn toàn hoặc yếu, mồm méo, nói khó hoặc không nói được, mạch vi tế hoặc hư đại, tinh thần tỉnh táo. - Phép chữa: Bổ khí, hóa ứ, thông lạc. - Bài thuốc: (1) “Bổ dương hoàn ngũ thang” (2) Có thể dùng bài “Thông lạc hóa ứ” gồm bột Sâm Tam thất, Thủy điệt, Ngô công trộn đều theo tỷ lệ 2:2:1, mỗi lần uống 3g, ngày 3 lần để tăng cường hóa ứ thông lạc. - Gia giảm: + Trong trường hợp bệnh nhân béo mập gia thuốc hóa đàm như Bào Nam tinh, sao Bạch giới tử, Trúc lịch, nước gừng tươi. + Trường hợp có nhiệt chứng như váng đầu, hoa mắt, mặt đỏ, bứt rứt khó chịu, lưỡi đỏ, rêu vàng khô, mạch huyền sác gia Hoàng cầm, Hạ khô thảo, Câu đằng, Thạch quyết minh, Thảo quyết minh, Bạch thược, Cúc hoa, Hắc Chi tử để thanh nhiệt bình can. b/ Can thận âm hư: - Triệu chứng chủ yếu: Bệnh nhân da khô nóng, thường hay hoa mắt váng đầu, tim hồi hộp, mất ngủ, bứt rứt, lưng đau gối mỏi, tiêu bón, bàn chân tay tê dại, thân lưỡi thon, rìa lưỡi đỏ, rêu dày nhớt, liệt nửa người, mồm méo, tiếng nói không rõ, mạch huyền tế sác hoặc huyền hoạt. Huyết áp cao hoặc bình thường. - Phép trị: Tư âm tức phong, hóa đờm tán ứ, thông kinh hoạt lạc. - Bài thuốc: “Mạch vị địa hoàng hoàn hợp Thiên ma câu đằng ẩm gia giảm” Mạch môn 12g, Ngũ vị 4-6g, Thiên ma 8-12g, Câu đằng 12g, Ngưu tất 12g, Ích mẫu thảo 12g, Tang ký sinh 12-16g, Đơn sâm 12g, Hồng hoa 8-12g, Thạch xương bồ 12g, Viễn chí 6g. Sắc uống. Nói chung TBMMN thường có 2 thể bệnh: xuất huyết não và nhũn não có nguyên nhân và cơ chế bệnh khác nhau, triệu chứng lâm sàng có những đặc điểm riêng. Xuất huyết não thường khởi phát đột ngột, phần lớn hôn mê, bệnh cảnh lâm sàng nặng dễ dẫn đến tử vong (hôn mê càng sâu, càng kéo dài thì tử vong càng cao). Nhũn não thường phát bệnh từ từ hơn, có những tiền triệu chứng, ít có hôn mê, tinh thần phần lớn là tỉnh táo, chỉ có liệt nửa người, rối loạn ngôn ngữ, bệnh cảnh lâm sàng nhẹ hơn, dễ hồi phục hơn, nhưng cũng có những trường hợp nhất là những trường hợp huyết khối từ các nơi khác di chuyển đến não làm tắc nghẽn mạch não thì phát bệnh cũng đột ngột và cũng có những trường hợp hôn mê nặng, cần lưu ý lúc chẩn đoán. c/ Kết hợp điều trị bằng phương pháp YHHĐ: Chủ yếu ở giai đoạn bệnh nhân hôn mê, bệnh nhân cần được: - Bảo đảm thông khí đường hô hấp: hút đờm giải, thở oxy. - Bảo đảm đủ chất dinh dưỡng: mỗi ngày ít nhất 1.500 calo. Truyền dung dịch ngọt ưu trương xen kẽ với dung dịch ngọt và dung dịch mặn đẳng trương. - Theo dõi và xử trí kịp thời các biến chứng tim mạch như thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim … - Chống loét (cần thay đổi tư thế) và chống nhiễm khuẩn (dùng kháng sinh) - Chống phù não: Lasix (Furosemide) 20 mg x 1 ống TM, dun dịch ngọt ưu trương 30% 40-100 ml, Glycérol MgSO4. - Cân bằng nước, điện giải … ổn định huyết áp. Đối với bệnh nhân không hôn mê, huyết áp ổn định, thực hiện điều trị phục hồi càng sớm càng tốt. 5- Giới thiệu một số bài thuốc kinh nghiệm điều trị TBMMN: (1) Địa long đơn sâm thang - Công thức: Địa long 20g, Đơn sâm 30g, Xích thược 15g, Hồng hoa 15g, Một dược 10g. Sắc nước uống. - Tác dụng: Hoạt huyết tức phong thông lạc. Chủ trị chứng trúng phong. - Gia giảm: + Âm hư dương thịnh gia Quy bản 20g, Đơn bì, Mạch môn, Huyền sâm đều 15g. + Đàm thấp thịnh gia Bán hạ 15g, Trần bì, Phục linh đều 20g. (2) Trúng phong tinh thần hợp tế - Công thức: 1- Uất kim, Xương bồ đều 5g theo tỷ lệ 1:1 chưng lấy nước cất, đóng ống 10 ml. 2- Câu đằng, Tang ký sinh đều 20g, Hoàng cầm, Địa long đều 10g, tán bột mịn đóng gói 15g. 3- Bột sừng trâu 1,5g, Ngưu hoàng nhân tạo 1,3g tán bột thật mịn. - Cách chế và dùng: Trước hết sắc (2) 15 phút sau cho (1) và (3) vào trộn đều uống, nếu nuốt khó cho vào đường mũi, mỗi ngày 3 lần: sáng, trưa và tối. - Tác dụng: Bình can tức phong, thanh tâm khai khiếu. Chủ trị TBMMN cấp. - Gia giảm: + Trường hợp sốt cao: uống Cam lộ thối nhiệt tán (Kim ngân hoa, sinh Thạch cao, Hạ khô thảo đều 20g, Chi tử 5g, tán bột mịn, đóng gói 15g/gói) bỏ vào sắc cùng với (2). + Đàm nhiều gia bài thuốc trừ đàm (Đờm tinh 6g, Viễn chí 10g, Quất hồng 10g, tán bột thô) sắc cùng (2). (3) Tư thọ giải ngũ thang - Công thức: Phòng phong 9g, Phụ phiến 6g, Thiên ma 6g, Toan táo nhân 9g, Linh dương giác 4,5g, Quế tâm 3g, Cam thảo 3g, Xuyên khung 9g, Huyền sâm 9g, Xương bồ 6g. Cho 400 ml nước sắc còn 200 ml. Gia thêm Trúc lịch 1ml, nước gừng 1 ml trộn đều chia 2 lần, mỗi cách 1 giờ uống 1 lần. (4) Linh liên thang - Công thức: Hoàng cầm, Bán hạ, Chế nam tinh, Trúc nhự, Địa long đều 10g. Hoàng liên, Xuyên bối mẫu, Quất bì đều 9g. Phục linh, Chỉ thực, Ngưu tất đều 12g. Sắc uống. - Tác dụng: Táo thấp hóa đờm, thanh nhiệt trừ phiền, điều hòa can đởm. Chủ trị chứng trúng phong. - Gia giảm: + Chân tay đau tê dại, chất lưỡi đỏ thẫm hoặc có ban ứ huyết, bỏ Xuyên bối, Ngưu tất, Quất bì, gia Đan sâm, Đào nhân, Hồng hoa. + Âm hư rõ gia Bạch thược, Sinh địa, Thạch hộc, Ngọc trúc, Huyền sâm. + Táo bón gia Qua lâu, Ma nhân + Ngủ kém gia Táo nhân, Viễn chí, Dạ giao đằng. (5) Thông mạch sơ lạc phương - Công thức: 1- Hoàng kỳ, Đơn sâm, Xuyên khung, Xích thược chế thành dịch tiêm, truyền tĩnh mạch mỗi ngày 250 ml, 1 liệu trình 10 ngày, nghỉ 4 ngày, tiếp tục liệu trình 2. 2- Hoàng kỳ 30g, Xuyên khung 10g, Địa long 15g, Ngưu tất 15g, Đơn sâm 30g, Quế chi 6g, Sơn tra 30g sắc nước uống. - Tác dụng: Ích khí hoạt huyết thông lạc. Chủ trị nhũn não do huyết khối. - Gia giảm: + Có rối loạn ngôn ngữ và ý thức thuộc khí uất đàm thấp: bài (1) gia Uất kim, Xương bồ, Đơn sâm chế thuốc chích, mỗi lần chích 4ml, ngày 2 lần. + Nói và nuốt khó: bỏ Quế chi gia Đởm nam tinh 10g, Uất kim 10g. + Đau đầu nhiều: bỏ Quế chi gia Cương tàm, Cúc hoa 15g + Chóng mặt mà cơ thể mập, bỏ Quế chi giảm lượng 10g Hoàng kỳ, gia Bạch truật, Trạch tả đều 10g, Phục linh 15g. + Can dương thịnh: bỏ Quế chi, Xuyên khung, Hoàng kỳ gia Trân châu mẫu 30g, Sung úy tử 10g. + Ăn kém, rêu lưỡi trắng dày, bỏ Quế chi gia Bạch truật, Phục linh đều 10g, Ý dĩ 20g hoặc Hoắc hương 10g, Bội lan 10g. + Nôn: gia Trúc nhự 10g, Khương bán hạ 10g. + Co giật: bỏ Quế chi gia Bạch cương tàm 10g, Câu đằng 10g. + Táo bón, mồm hôi gia Đại hoàng 12g (cho sau). (6) Đào hồng thông mạch phương - Công thức: Đào nhân, Hồng hoa, Xuyên khung, Xuyên sơn giáp, Quế chi, Địa long, Bạch thược đều 10g, Sinh hoàng kỳ, Đơn sâm đều 15g, chế thành thuốc bột, hòa uống, lượng trên thành 1 gói, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần ¼ gói. Trường hợp nặng và bệnh lâu ngày, mỗi ngày 1 gói, chia 2-3 lần, uống. - Tác dụng: Hoạt huyết thông mạch. - Chủ trị: nhũn não giai đoạn hồi phục và di chứng.
(Đông y điều trị bệnh tim mạch. GS.BS. Trần Văn Kỳ)
ĐIỀU TRỊ ĐAU THẦN KINH TỌA
03:18 |ĐIỀU TRỊ ĐAU THẦN KINH TỌA
I- ĐẠI CƯƠNG
Đau dây thần kinh tọa được định nghĩa là một hội chứng thần kinh có đặc điểm chủ yếu là đau dọc theo lộ trình của dây thần kinh tọa và các nhánh của nó, nguyên nhân thường do bệnh lý đĩa đệm ở phần thấp của cột sống.
Đau dây thần kinh tọa có nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do những tổn thương ở cột sống thắt lưng. Năm 1928, một nguyên nhân mới đã được phát hiện đã làm thay đổi hẳn khái niệm về nguyên nhân gây bệnh, đó là thoát vị đĩa đệm vùng thắt lưng.
- Sigwald và Deroux là những người đầu tiên mô tả hội chứng đau dây thần kinh tọa (1764).
- Lasègue. C.E., Brissaud.E., Déjeurine J. J. đã chứng minh đây là bệnh đau rễ chứ không phải đau dây (1914).
- Wirchow mô tả đĩa đệm, tuy chưa phải rõ ràng (1857), sau đó Goldnwait J.E., Middleton và Teacher tách đau dây thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm thành một thể riêng (1911).
- Schomorld G. (1925 - 51) là người mô tả rất kỹ về cấu trúc giải phẫu của đĩa đệm (qua 10.000 cột sống).
- Alajouanine, Petit Dutaillis (1928 - 30), Mauric (1933) và Mixter và Barr (1934) đã mô tả kỹ về lâm sàng và giải phẫu bệnh của thoát vị đĩa đệm.
- Từ 1937, đã có hàng loạt công trình nghiên cứu về đau dây thần kinh tọa của Glorieux (1937), Bergouignan và Caillon (1939). Trong số này, trường phái của De Sèze đã có những đóng góp rất lớn.
II- DỊCH TỄ HỌC
- Bệnh thường gặp ở lứa tuổi 30 - 60.
- Nam mắc bệnh nhiều hơn nữ gấp 3 lần.
- Đau thần kinh tọa có nhiều nguyên nhân nhưng phổ biến nhất là thoát vị đĩa đệm (chiếm 60 - 90% theo nhiều tác giả, 75% theo Castaigne. P).
III- NGUYÊN NHÂN
A. THEO YHHĐ:
Có nhiều nguyên nhân gây đau thần kinh tọa. Để dễ vận dụng trong thực hành, người ta sắp xếp:
1. Thoát vị đĩa đệm: Đây là nhóm nguyên nhân thường gặp nhất, chiếm tỷ lệ cao nhất trong các loại nguyên nhân khác.
2. Các bất thường cột sống thắt lưng cùng (mắc phải hoặc bẩm sinh).
- Mắc phải: viêm nhiễm tại chỗ (do bị lạnh, nhiễm khuẩn, nhiễm độc như chì, tiểu đường …), di căn cột sống (K tiền liệt tuyến, K vú, u vùng chậu nhỏ, u buồng trứng …).
- Bẩm sinh: Nhiều tác giả cho rằng trước khi chẩn đoán nguyên nhân đau dây thần kinh tọa do các dị tật bẩm sinh, cần phải loại trừ thoát vị đĩa đệm và chỉ xem các dị tật chỉ là yếu tố thuận lợi.
3. Các nguyên nhân trong ống sống: U tủy và u màng tủy, viêm màng nhện tủy khu trú, abcès ngoài màng cứng vùng thắt lưng.
4. Một số nguyên nhân hiếm: khó chẩn đoán, thường chỉ xác định được sau phẫu thuật như dãn tĩnh mạch quanh rễ, dãn tĩnh mạch màng cứng, phì đại dây chằng vàng, rễ thần kinh thắt lưng L5 hoặc cùng S1 to hơn bình thường.
B. THEO YHCT:
Theo YHCT, hội chứng đau dây thần kinh tọa đã được mô tả trong các bệnh danh “Tọa điến phong”, “Tọa cốt phong”, “Phong” trong hội chứng bệnh lý này nhằm mô tả tính chất thay đổi và di chuyển của đau.
Một cách tổng quát, do triệu chứng quan trọng nhất của bệnh là đau nên hội chứng đau dây thần kinh tọacó thể được tìm hiểu thêm trong phạm trù của chứng “Tý” hoặc “Thống” (tùy theo nguyên nhân gây bệnh).
Nguyên nhân gây bệnh:
- Ngoại nhân: Thường là phong hàn, phong nhiệt, hoặc thấp nhiệt thừa lúc tấu lý sơ hở xâm nhập vào các kinh Bàng quang và Đởm.
- Bất nội ngoại nhân: Những chấn thương (vi chấn thương) ở cột sống (đĩa đệm) làm huyết ứ lại ở 2 kinh trên.
Những nguyên nhân này làm cho khí huyết của 2 kinh Bàng quang và Đởm bị cản trở hoặc bị tắc lại, gây nên đau (không thông thì đau). Tùy theo bản chất của nguyên nhân gây bệnh mà biểu hiện của đau sẽ khác nhau.
Nếu bệnh kéo dài sẽ ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của Can và Thận.
Sơ đồ nguyên nhân và cơ chế bệnh đau dây thần kinh tọa
IV- TRIỆU CHỨNG HỌC VÀ CHẨN ĐOÁN ĐAU DÂY THẦN KINH TỌA A. THEO YHHĐ:
1. Triệu chứng:
- Chủ quan:
+ Đau lưng lan dọc xuống chi dưới 1 hay 2 bên. Đau âm ỉ hoặc dữ dội.
+ Đau lan theo 2 kiểu:
* Từ thắt lưng xuống mông, xuống mặt mgoài đùi, mặt ngoài cẳng chân tới lưng bàn chân, từ bờ ngoài bàn chân chéo qua mu bàn chân đến ngón cái (rễ L5).
* Hoặc từ thắt lưng xuống mông, xuống mặt sau đùi, mặt sau cẳng chân tới gót lòng bàn chân, tận cùng ở ngón út (rễ S1).
* Có thể kèm theo dị cảm (tê, nóng, đau như dao đâm, cảm giác kiến bò bên chi đau).
- Thăm khám bệnh nhân:
+ Quan sát bệnh nhân khi đi hoặc đứng: ½ người bên lành hạ thấp (vẹo người về bên lành). Khi đứng, chân bên đau hơi co lên, tay chống vào mạn sườn hoặc đầu gối bên đau.
+ Quan sát khi bệnh nhân nằm: xem cơ tứ đầu đùi, cơ bắp chân có teo không ?
+ Làm những nghiệm pháp căng dây thần kinh tọa:
* Nghiệm pháp Lasègue: Bệnh nhân nằm ngữa, hai chân duỗi thẳng, nâng gót chân bệnh nhân lên cao khỏi giường. Chân bình thường nâng cao được tới 90o, chân đau chỉ lên tới 30o - 60o là bệnh nhân than đau lan tơi thắt lưng. Đây là dấu hiệu rất quan trọng, gần như lúc nào cũng có, còn dùng để theo dõi diễn tiến của bệnh.
* Nghiệm pháp Bonnet: Bệnh nhân nằm ngữa. Gập gối về phía bụng và xoay khớp háng vào trong. Nếu gây đau, Bonnet (+).
* Nghiệm pháp Néri: Bệnh nhân đứng thẳng, giữ thẳng 2 gối, từ từ gập người để cố chạm 2 tay xuống đất. Nếu bệnh nhân than đau và không thể thực hiện động tác này (gập gối bên đau), Néri (+).
+ Nghiệm pháp làm tăng áp lực dịch não tủy: Nghiệm pháp Naffziger: đè vào tĩnh mạch cổ 2 bên. Nếu bệnh nhân than đau thốn từ cột sống lan xuống chân, nghiệm pháp (+). Có thể phối hợp với việc bảo bệnh nhân ho.
+ Nghiệm pháp gây đau bằng cách ấn vào lộ trình của dây thần kinh tọa:
* Dấu ấn chuông: ấn vào ngang gai sống L4 - L5 hoặc L5 - S1 sẽ gây đau lan dọc theo lộ trình dây thần kinh tọa tương ứng.
* Thống điểm Valleix: ấn những điểm trên lộ trình dây thần kinh tọa (nhất là vùng dây thần kinh tọa đi gần xương) sẽ gây đau theo rễ.
+ Khám dấu cảm giác: Có thể giảm cảm giác ở vùng cơ thể tương ứng với rễ thần kinh bị tổn thương.
+ Khám dấu vận động:
* Bệnh nhân đứng, nếp mông bên bệnh xệ thấp hơn bên đối diện.
* Cơ bắp chân nhão.
* Ấn mạnh vào gân gót ghi nhận bên bệnh lõm nhiều hơn bên lành.
* Yếu cơ (tùy theo rễ bị tổn thương): nếu L5, xuất hiện yếu các nhóm cơ cẳng chân trước, duỗi các ngón, bệnh nhân không đứng bằng gót được và có dấu hiệu bàn chân rơi. Nếu S1, xuất hiện yếu các nhóm cơ ở mặt sau cẳng chân, bệnh nhân không đứng bằng ngón chân được.
* Mất hoặc giảm phản xạ gân cơ (tương ứng với rễ bị tổn thương).
* Dấu hiệu tại cột sống: co cơ phản ứng. Cột sống mất đường cong sinh lý, có thể có vẹo cột sống tư thế.
2. Dấu hiệu cận lâm sàng:
- Xét nghiệm máu (hồng cầu, bạch cầu, công thức bạch cầu, tốc độ máu lắng) và chọc dò dịch não tủy trong trường hợp đau thần kinh tọa không điển hình và có nghi ngờ đến khối u trong ống sống …
- X quang cột sống quy ước:
* Nếu có hình ảnh bản lề thắt lưng - cùng bình thường, cũng không cho phép loại trừ thoát vị đĩa đệm.
* Dấu hiệu của thoát vị đĩa đệm: xẹp đĩa đệm biểu hiện chiều cao của khe gian đốt hẹp hơn so với khe gian đốt trên và dưới.
* Dấu hiệu có giá trị lớn: hình hẹp hoặc hở 1 bên đĩa đệm. Trên phim thẳng, hở 1 bên có giá trị hơn hẹp 1 bên. Nếu trên phim chụp nghiêng, hình ảnh hở 1 bên đĩa đệm vẫn không mất đi thì rất có giá trị.
- Chụp X quang có cản quang: được chỉ định chủ yếu trong trường hợp nghi ngờ đau dây thần kinh tọa có khối u gây chèn ép và gồm:
* Chụp tủy bơm hơi (sacco - radiculographie classique): Với kỹ thuật này, các chứng hẹp ống sống, các thoát vị đĩa đệm giữa và kề giữa thấy rất rõ trên phim, nhưng các thoát vị đĩa đệm bên không phát hiện được.
* Chụp bao rễ thần kinh (radiculographie classique): các thoát vị đĩa đệm giữa và kề giữa thấy rất rõ trên phim.
* Chụp đĩa đệm (discographie): Trên phim chụp thẳng, nghiêng có thể thấy đĩa đệm bị thoái hóa, nhưng chỉ có đĩa đệm nào gây đau nhiều khi bơm thuốc cản quang mới đúng là đĩa đệm cần phẫu thuật.
- Các phương pháp thăm dò khác:
* Điện cơ đồ: ghi điện cơ và đo thời trị dây thần kinh, cho phép chẩn đoán vị trí của thoát vị đĩa đệm.
* Chụp điện toán cắt lớp (CT- scan): là phương tiện hiện đại nhất được vận dụng để chẩn đoán thoát vị đĩa đệm.
B. THEO YHCT:
Y học cổ truyền phân làm 2 thể lâm sàng chủ yếu:
1- Thể cấp: (Thể phong hàn phạm kinh lạc hoặc Khí huyết ứ trệ):
Đặc điểm lâm sàng:
- Đau:
* Đau lưng lan xuống chân dọc theo dây thần kinh tọa.
* Đau dữ dội, đau tăng khi ho, khi hắt hơi, khi cúi gập cổ đột ngột.
* Đau tăng về đêm, giảm khi nằm yên trên giường cứng.
* Giảm đau với chườm nóng.
* Rêu lưỡi trắng, mạch phù (nếu do phong hàn).
* Lưỡi có thể có điểm ứ huyết (nếu do khí huyết ứ trệ).
- Bệnh nhân có cảm giác kiến bò, tê cóng hoặc như kim châm ở bờ ngoài bàn chân chéo qua mu bàn chân đến ngón cái (rễ L5) hoặc ở gót chân hoặc ngón út (rễ S1).
- Khám lâm sàng:
* Triệu chứng ở cột sống: cơ lưng phản ứng co cứng, cột sống mất đường cong sinh lý.
* Triệu chứng đau rễ: dấu hiệu Lasègue (+), Bonnet (+), Néri (+).
* Để xác định chính xác rễ nào bị xâm phạm, cần khám phản xạ, cảm giác, vận động, dinh dưỡng theo bảng sau:
RỄ PXGX Cảm giác Vấn đề Teo cơ L5PX gân gót bình thường Giảm hoặc mất phía ngón cái Không đi được bằng gót chân Nhóm cơ cẳng chân trước-ngoài- các cơ mu bàn chân. S1PX gân gót giảm Giảm hoặc mất phía ngón út Không đi được bằng mũi bàn chân Cơ bắp cẳng chân Cơ gan bàn chân
2- Thể mạn: (Thể phong hàn thấp / Can thận âm hư):
Đây là loại thường gặp trong đau dây thần kinh tọa do các bất thường cột sống thắt lưng cũng như thoái hóa các khớp nhỏ cột sống, các dị tật bẩm sinh.
Đặc điểm lâm sàng:
- Bệnh kéo dài. Đau âm ỉ với những đợt đau tăng. Chườm nóng, nằm nghỉ dễ chịu. Thường đau 2 bên hoặc nhiều rễ.
- Triệu chứng toàn thân: ăn kém, ngủ ít, mệt mỏi. Mạch nhu hoãn, trầm nhược.
V- ĐIỀU TRỊ:
A- Thể cấp: Giai đoạn cấp và các đợt cấp của thể mạn tính (Thể phong hàn phạm kinh lạc hoặc Khí huyết ứ trệ):
- Nằm yên trên giường cứng, kê 1 gối nhỏ dưới khoeo chân cho đầu gối hơi gập lại. Tránh hoặc hạn chế mọi di chuyển.
- Công thức huyệt và kỹ thuật châm cứu:
* Áp thống điểm (thường là các Giáp tích L4 - L5, L5 - S1.
* Hoàn khiêu.
* Ủy trung.
* Kinh cốt, Đại chung (nếu đau dọc rễ S1).
* Khâu khư, Lãi câu (nếu đau dọc rễ L5).
Kích thích kim mạnh, có thể sử dụng điện châm kết hợp với cứu nóng. Thời gian lưu kim cho 1 lần châm là 5 - 10 phút.
- Có thể sử dụng nhĩ châm (đặc biệt quan trọng trong thời gian cấp tính, khi xoay trở của bệnh nhân thật sự khó khăn) với huyệt sử dụng gồm: cột sống thắt lưng (+++), dây thần kinh (++), hông, mông, háng, gối, cổ chân (+).
- Những bài tập vận động trị liệu đau dây thần kinh tọa. Chỉ bắt đầu khi đã thực sự giảm đau (xem hướng dẫn ở phần tiếp theo).
- Bài thuốc sử dụng: Bài thuốc Trị thấp khớp (GS. Bùi Chí Hiếu) gồm Lá lốt 12g, Cà gai leo 12g, Quế chi 10g, Thiên niên kiện 12g, Cỏ xước 10g, Thổ phục linh 12g, Sài đất 12g, Hà thủ ô 16g, Sinh địa 16g.
B- Thể mạn: (Thể phong hàn thấp / Can thận âm hư):
- Tuy mức độ đau ít hơn nhưng thường đáp ứng điều trị chậm. Giai đoạn này cần chú trọng thêm xoa bóp và tập luyện. Cần chú trọng tập mạnh các cơ vùng thắt lưng, nhóm cơ mông và cơ tứ đầu đùi. Tuy nhiên, phải tập từ từ và theo sức của bệnh nhân. Ở giai đoạn đầu, chỉ cho tập gồng cơ, dần dần tiến tới vận động chủ động, rồi chủ động có đề kháng.
Ngoài ra, kéo nắn và kéo cột sống cũng có thể đem lại kết quả tốt.
- Công thức huyệt và kỹ thuật châm cứu:
Công thức huyệt như trên, gia thêm:
* Thận du
* Thái khê
* Phi dương
* Tam âm giao
Đối với những huyệt gia thêm: kích thích kim nhẹ hoặc vừa. Thời gian lưu kim cho mỗi lần châm là 20 - 30 phút.
- Những bài tập vận động trị liệu đau dây thần kinh tọa:
+ Người bệnh nằm ngữa:
* Gồng cơ tứ đầu đùi
* Tập cổ chân
* Động tác ưỡn lưng
* Động tác tam giác và tam giác biến thể.
+ Người bệnh nằm ngữa, háng và gối gập: Tập gồng cơ bụng.
+ Người bệnh nằm sấp:
* Gồng cơ mông
* Ngẩng đầu lên, xoay đầu
* Nhấc từng chân lên, hạ xuống
* Gập, duỗi gối từng bên và 2 bên cùng lúc
* Tập để sau gáy, nhấc đầu và vai lên.
+ Người bệnh quỳ (chống 2 tay và 2 gối):
* Đưa từng chân lên, hạ xuống
* Động tác chào mặt trời.
+ Người bệnh ngồi duỗi thẳng 2 chân. Hai tay và thân mình vươn tới bàn chân, đầu ngón tay cố chạm vào đầu ngón chân.
Chú ý khi tập:
* Bắt đầu từ động tác dễ, nhẹ (gồng cơ) tiến dần đến các động tác nặng, khó hơn.
* Khi bắt đầu tập một động tác mới, người thầy thuốc phải có mặt để theo dõi, đánh giá, trợ giúp cho người bệnh, tránh tình trạng quá sức.
- Bài thuốc 1: Bài thuốc Trị thấp khớp (GS. Bùi Chí Hiếu) gồm Lá lốt 12g, Cà gai leo 12g, Quế chi 10g, Thiên niên kiện 12g, Cỏ xước 10g, Thổ phục linh 12g, Sài đất 12g, Hà thủ ô 16g, Sinh địa 16g.
- Bài thuốc 2: Độc hoạt tang ký sinh gia giảm gồm Độc hoạt 12g, Phòng phong 8g, Tang ký sinh 12g, Tế tân 6g, Quế chi 6g, Ngưu tất 12g, Đỗ trọng 8g, Đảng sâm 12g, Phục linh 12g, Cam thảo 6g, Bạch thược 12g, Đương quy 12g, Thục địa 12g, Đại táo 12g.
Bài thuốc bao gồm những dược liệu có chứa tinh dầu, có tính nóng, ấm, có tác dụng chống viêm, giảm đau. Đồng thời có những vị thuốc nâng đỡ tổng trạng, bổ dưỡng.
C- Điều trị phẫu thuật được đặt ra trong 4 trường hợp:
- Thể liệt và teo cơ: Là chỉ định phẫu thuật sớm, tránh tàn phế cho bệnh nhân.
- Thể ngoan cố đặc biệt là loại đau dữ dội: Sau điều trị tích cực nhiều tháng (thường là 3 tháng) mà tiến triển vẫn không ổn định.
- Thể tái phát nhiều lần và ngày càng gần làm ảnh hưởng sinh hoạt của bệnh nhân.
- Thể phức tạp như kèm hội chứng chùm đuôi ngựa.
VI- PHÒNG BỆNH:
Đau dây thần kinh tọa tuy có nhiều nguyên nhân nhưng phần lớn là xung đột giữa đĩa đệm và rễ thần kinh. Đây là điểm quan trọng cần chú ý để phòng ngừa.
- Trong lao động chân tay, cần chú trọng trong các động tác phải cúi để bốc vác một trọng lượng lớn. Luôn cố gắng giữ cột sống thẳng khi bê vác.
- Tập thể dục để rèn luyện cơ lưng và tăng sự mềm mại của cột sống.
- Điều trị kịp thời các bệnh thoái hóa cột sống có giá trị tích cực phòng bệnh trong đau dây thần kinh tọa.
(Bài giảng Bệnh học và điều trị - Tập 2. Bộ môn YHCT. Trường ĐHYD TP Hồ Chí Minh)

