Bạch chỉ và Kinh giới

21:44 |

Bạch chỉ và Kinh giới





Công dụng khác nhau

Bạch chỉ và kinh giới đều là vị thuốc cay, ôn để giải biểu không phải chỉ có vào khí phận, mà còn chạy vào huyết phận, đều có tác dụng phát tán phong hàn xử lý huyết, có tác dụng tiêu thũng
Nhưng bạch chỉ cay, thơm, ôn táo, chủ yếu vào dương minh kinh. Tán hàn mạnh, và có khả năng thông tỵ khiếu, táo thấp, hoạt huyết, trừ mủ

Kinh giới cay, ôn nhưng không táo chủ trị can kinh khu phong mạnh, vả lại khỏi được bệnh kinh co giật, làm sáng mát, lợi cho yết hầu.

Chủ trị khác nhau


Bạch chỉ chủ yếu chữa phong hàn ngoại cảm
Kinh giới chữa được cả phong hàn, phong nhiệt cảm mạo

Bạch chỉ cay ôn, hương thơm, phát tán phong hàn, thích nghi dùng trong phong hàn ngoại cảm.

Như "Cục phương" Xuyên khung trà điều tán, gồm bạc hà, hương phụ xuyên khung, kinh giới, phòng phong, bạch chỉ, khương hoạt cam thảo, trị bệnh phát nhiệt, ghét lạnh, tắc mũi, chảy nước mũi, đầu và mặt đau nhức các chứng.

Kinh giới chẳng những trị phong hàn cảm mạo, vì nó khu được phong, thanh lợi cho đầu và mắt, mà còn chữa được cả phong nhiệt cảm mạo, như bài Ngân kiều tán.

Bạch chỉ trị xích bạch đới hạ (bệnh phụ khoa)
Kinh giới trị sản hậu kinh nguyệt (sau khi đẻ bị kinh co giật)

Bạch chỉ cay, tỉnh táo, táo thấp, bài nùng (hết mủ) thích nghi dùng chữa hàn thấp sinh ra bệnh xích đới hạ.

Như "Hiệu chú phụ nhân lương phương" có bài Bạch chỉ tán: Bạch chỉ, Ô tặc cốt, đoàn thai phất tán nhỏ, trị bệnh hạ nguyên hư nhược, xích bạch đới hạ hoặc kinh nguyệt ra không hết.

Kinh giới có công dụng khu phong, giải kinh (co giật), cổ thể dùng cho người sau khi sinh đẻ, huyễn vựng, miệng ngậm phát kinh co giật. Như "Tố vấn bệnh có khí nghi bảo mệnh tập" dùng kinh giới tuệ, đào nhân giã nhỏ. Mỗi lần dùng 9 khắc để chừa bệnh sau khi sinh đẻ cảm hư phong sinh huyết vựng (chóng mặt) tinh thần hôn muội.

Bạch chỉ chủ trị tỵ uyên, đầu thống (chảy nước mũi, nhức đầu)
Kinh giới chủ trị các bệnh tật ở đầu và mất.

Bạch chỉ cay, ôn, thơm, đă hay phát biểu lại hay thông khiếu hoạt huyết, bài nùng (làm hết mủ). Chữa bệnh mũi thường dùng vị thuốc này.

Như "Tế sinh phương” có bài Thương nhĩ tán (gồm lân di nhân, thương nhĩ tử, bạch chỉ, bạc hà) chữa các bệnh tỵ uyên, mũi chẩy nước vàng, mũi tắc không thông.
Kinh giới sở trường trị phong, vào can kinh, đưa lên tới đầu, mắt, có công thanh lợi cho đầu và mắt, nôn chữa được tất cả các bệnh về đầu và mắt.

Như “Đông y bảo giám" có bài Kinh hoàng thang gồm đại hoàng, kinh giới tuệ, phòng phong, trị bệnh phong nhiệt huyễn vựng (chóng mặt). "Nhỡn khoa tông mộc luận" chữa các bệnh về đầu và mắt, huyết lao, phong khí đầu thống, đầu choáng, mắt hoa, dùng kinh giới tuệ tán nhỏ mỗi lần dùng 9 khắc uống với rượu.
Bạch chỉ chủ trị bệnh (cảm lạnh trong mùa hạ) xích thũng (phù đỏ)
Kinh giới chủ trị đái ra máu (tiện huyết)

Bạch chỉ tiêu thũng và mủ, thích ứng dùng chữa các bệnh âm thử, xích thũng

Như "Kinh nghiệm phương" trị bệnh âm thử xích thũng dùng bạch chỉ, đại hoàng hai vị bằng nhau, tán nhỏ, dùng nước cơm uống mỗi lần 6 khắc. "Vệ sinh dị giản phương" trị thũng độc, nhiệt thống, dùng bạch chỉ tán nhỏ tấm dấm mà bôi vào.

Kinh giới tính hay cầm máu, sao dùng càng hay

Như "Giản tiện đơn phương” chữa bệnh đi ỉa ra máu. Dùng kinh giới hai lạng, hòe hoa một lạng sao vàng tán nhỏ, mỗi lần uống 9 khấc uống với nước chè. "Tần bồ tập giản phương" trị bệnh đái ra máu, dùng kinh giới, xúc sa nhân, các vị bằng nhau, tán nhỏ, uống với nước cơm gạo nếp mỗi lần 9 khấc, uỗng ba ngày liền.

Đặc thù sử dụng khác nhau

"Giản tiện phương" trị bệnh huyết nục (đổ máu cam) không cầm, dùng Bạch chỉ tán nhỏ. Đồ sơn căn lập tức khỏi.

"Ngoại khoa chân thuyên” có bài Ô bồi tán gồm thảo ô 5 đồng cân, Bạch chỉ một lạng, long cốt một đồng năm phân, ngũ bội tử 4 lạng. Trước hết đem ba vị giã nát, rồi đổ ngũ bội tử vào cùng sao chín, rồi chỉ lấy ngũ bội tử ra nghiền nhỏ, dùng hương du (dầu thơm, dùng bàn chải bôi vào, để chữa bệnh giáp thư. Bệnh này thường thấy ở ngòn chân giáp bên cạnh làm thối thịt, ngày chẩy nước vàng, sinh nhức đầu khó chịu.

"Kim qũy dực" có bài Kinh giới ẩm gồm kinh giới tuệ, hoàng cầm, bồ hoàng, mỗi vị một lạng. Mỗi ngày uống ba thìa. Dùng nước đun kỹ, bỏ bã, không hạn chế thời tiết nóng lạnh đều dùng được cả để chữa bệnh thổ ra huyết.

"Đông y bảo giám" có bài Kinh hoàng thang gồm có đại hoàng tẩm rượu sao, kinh giới tuệ phòng phong, mỗi vị hai đồng cân, tán nhỏ dùng nước sắc để uống để chữa bệnh phong nhiệt bụng nôn nao không yên.

"Vệ sinh bảo giám"'có bài Chính thiệt tán gồm hùng hoàng, kinh giới tuệ, hai vị bằng nhau, tán nhỏ, mỗi lần uống hai đồng cân dùng đậu lâm tửu điều hạ (rượu nhỏ giọt bằng hạt đậu) để chữa bệnh trúng phong, lưỡi cứng không nói.

"Bản thảo cương mục" trị bệnh miệng, mũi chầy máu như suối, nguyên nhân vì tửu sắc qúa độ dùng kinh giới sao, nghiền nhỏ, lấy trần bì sắc nước làm thang để uống 2 đồng cân, bất qúa chỉ dùng hai lần là khỏi.

Kinh nghiệm của gia đình Hoạt Cổ. "Hoạt cổ gia chân" nói: kinh giới tuệ một lạng phác tiêu hai lạng, đều giã nhõ (nghiên cứu chọn lọc thêm) dùng hành nấu nước để rửa vào chỗ có bệnh để chữa bệnh thận (ngọai thận) bị thũng công dụng khác nhau.
Xem thêm…

Bạch thược cùng Xích thược

17:19 |

Bạch thược cùng Xích thược



Công hiệu khác nhau


Bạch thược và xích thược dùng chữa bệnh Can, tính vị tương tự

 Thược Dược  Hoa Trắng

  • Nhưng xích thược công dụng thiên về tả, tán. Lấy hoạt huyết, lương huyết, tán ứ, chỉ thống làm chủ kiêm thanh tiết can hỏa.


  • Mà bạch thược công dụng thiên về bổ, thu – Lấy dưỡng huyết, liễm âm, hoãn cấp, chỉ thống làm chủ, kiêm bình can tức dương 
  • Cho nên huyết hư, can vượng, can cấp gây đau, dùng ngay Bạch thược. Huyết nhiệt, can hỏa, ứ trệ đông thống nên dùng ngay Xích thược.



Chủ trị khác nhau




Bạch thược chủ huyết hư, can vượng, huyễn vựng


Xích thược chủ huyết nhiệt, nục, tiện, huyễn các chứng xuất huyết


Bạch thược chua, đắng, tân, hàn, dưỡng huyết liễm âm, bình can, ức dương, nên dùng cho huyết lúc can vượng dẫn đến chóng mặt, choáng váng, nhức đầu, tai ù

  • "Y thuần tích nghĩa" Dưỡng huyết thống thắng thang ( sinh địa hoàng, bạch thược dược, toan táo nhân, tang diệp, câu kỷ tử, hắc chi ma, ngũ vị tử. bá tử nhân, cúc hoa, đương quy, đại táo), trị huyết hư, đầu thống - Tự biết là đầu ngực không hư mắt mờ mà hoa.
  • "Trong đinh thông tục thương hàn luận" Linh giác câu đằng thang (linh dương giác, tang diệp, xuyên bối mẫu, sinh địa, câu đằng, cúc hoa, phục thần, truật bạch thược dược) trị huyết hư can vượng, động phong sinh bệnh giản). Sản hậu kinh phong, triêu xúc, kinh quyết, lưỡi đỏ, mạch huyền xác.

Xích thược đắng, hơi hàn, thanh nhiệt, lương huyết chỉ huyết, nên dùng cho các chứng : huyết nhiệt vọng hành, sinh ra thổ huyết, nục huyết, tiện huyết, nhiều chứng xuất huyết khác.

  • Như "Bị cấp thiên kim yếu phương" Tê giác địa hoàng thang (tê giác, sinh địa hoàng, thược dược, mẫu đơn bì) trị nhiệt vào doanh huyết, tâm bào do đó sinh cao nhiệt, thần hôn, thổ huyết, nục huyết, tiện huyết, phát ban, phát chẩn, lưỡi chất hồng, mạch tế xác.

Bạch thược chủ âm huyết hư, nguyệt kinh không đều


Xích thược chủ huyết ứ, kinh không đều


  • Bạch thược dưỡng huyết, liễm âm, dùng chữa âm huyết khuy hư, kinh nguyệt không đều, kinh hành, phúc thống, băng lậu hạ huyết
  • Như "Cục phương” Tứ vật thang (đương quy, xuyên khung, bạch thược, thục địa) trị Xung Nhâm hư tổn, huyết hư, huyết đối, kinh nguyệt không đều, bụng đau, băng trung, lậu hạ.
  • "Thâm thị giao hàm” Gia vị tiêu giao tán (bạch truật, phục thần, cam thảo, bạch thược, sài hồ, chi tử, mẫu đơn bì) trị huyết hư can vượng, mục ám bất minh, đầu mục sáp thống, đến phụ nhân kinh nguyệt không đều. Sinh thược hoạt huyết điều kinh, cho nên chu tư huyết nhiệt hoặc huyết trê, sinh ra kinh không đều, thống kinh, kinh bế.
  • Như “Y tông kim giám" Đào hồng tứ vật thang (đương quy, sinh thược, sinh địa, xuyên khung, đào nhân, hồng hoa) trị phụ nữ kinh nguyệt không đều, nhảy kinh, kinh tiềm phúc thống hoặc kinh hành không thoải mái, có huyết cục, sắc huyết đen.

Bạch thược chủ can cấp, hung hiếp, phúc thống


Xích thược chủ huyết ứ đông thống


Bạch thược nhu can hòa tỳ, hoãn cấp, chỉ thống thích ứng dùng can tỷ bất hòa, khí trệ hoãn cấp dẫn đến hung phiền mãn thống, hiếp cân thích thống, tả lỵ phúc thống

  • Như "Kim quỹ yếu lược" Đương quy thược dược tán (đương quy, thược dược, phục linh, bạch truật, trạch tả, xuyên khung - Trị nhâm thần trong bụng đau nhức.
  • "Thương hàn luận” Tứ nghịch tán (trích cam thảo, trích chỉ thực, sài hồ, thược dược) gần đây hay dùng cho chứng cấp can viêm mạn tính, hiếp, cân, quản phúc đau nhức.
  • Như "Thanh tế tổng lục" Xích thược dược tán (sao xích thược dược, hạnh nhân, sao cát cánh) trị trong nồn mửa, đau.
  • "Y lâm cải thác” Cách hạ trục ứ thang (đào nhân, mẫu đơn bì, xích thược, ô dược, huyền hồ, đương quy, xuyên khung, ngũ linh chi, hồng hoa, chỉ xác, hương phụ) trị chứng cách hạ, ứ huyết hình thầnh tích khối, chỗ đau không di chuyển, nằm thời bụng trụy xuống.

Bạch thược chủ trị tay chân co quắp


Xích thược hoãn cấp, chỉ thống, dùng chữa chứng chân tay co quắp, đau nhức


  • Như "Thương hàn luận" Thược dược cam thảo thang (bạch thược dược, trích cam thảo, trị thoái cước co quắp - Hiện nay thường dùng nhiều chữa loại kinh loạn đau nhức.
  • Xích thược thanh nhiệt, lương huyết, tán ứ, thích ứng chữa chứng can hỏa gây nên mắt đỏ đau sưng huyết tịch, huyết lâm.
  • Như chữa mắt đỏ sưng, đau thường phối hợp cúc hoa, cốc tinh thảo, thạch quyết minh, đương quy
  • Như chữa huyết lâm dùng với rễ cỏ tranh, xa tiền tử (lược), tảo liên thảo, hoàng bá.

Xem thêm…

Bạch truật cùng Thương truật

17:30 |

Bạch truật cùng Thương truật

Công hiệu khác nhau

 

  • Bạch truật cùng thương truật đều táo thấp kiện tỳ. Nhưng bạch truật tính hoãn, không táo, thiên về ích khí, bổ trung, trừ thấp, giữ mà không chạy, cầm mồ hôi điều hòa tiện, (tả cùng tiện bí đều dùng được cả).



  • Thương truật tính ôn mà táo, chạy mà không giữ, công dụng thiên táo thấp, thống trị chất ở thượng, trung, hạ, tam tiêu, phát hãn, tẩy sạch được chất bẩn, giải được uất, sáng mắt.

Chủ trị khác nhau

 Bạch truật chủ tỳ phế hư nhược

Thương truật chủ thấp thịnh khốn tỳ

Bạch truật ích khí, kiện tỳ, táo thấp, nên dùng cho tỳ vị hư nhược nên ít ăn, bụng trướng, tiết tả thân thể mỏi mệt sức lực thiếu
  • Như "Cục phương" Tứ quân tử thang (nhân sâm, trích cam thảo, phục linh, bạchtruật) trị vinh vệ khí hư, tạng phủ khiếp nhược, tâm phúc trướng măn, không thiết gì ăn uống, ruột kêu ong ách, tiết tả, nôn mửa. Thân thể mỏi mệt, không có lực.
  • "Trọng cảnh toàn thư" Thánh truật tán (sao bạch truật, sao can khương, quế tâm, trần bì ) trị bệnh vì ăn uống ngẫu nhiên bị tổn thương, hoặc thổ, hoặc tả, hoặc hung cách bĩ muộn, thượng tang khí, khí khiếp, thần quyện.
Thương truật táo thấp lực thắng, hay chữa được thấp tà ở thượng, trung, hạ tâm tiêu.
  • Như "Giản tiện đơn phương" trị thấp khí thân thống. Dùng thương truật, ngâm tẩm cần thiết rồi sắc uống. Lấy nước cốt cô thành cao.
  • "Cục phương" Bình vị tán (thương truật, hậu phác, trần bì, cam thảo) trị thấp tử, khí trệ, tâm phúc, hiếp trướng mãn thống, không muốn ăn uống hoặc thổ, hoặc tả.
  • "Tố vấn bệnh cơ khí nghi bảo mệnh tập" Tiêu truật hoàn (thương truật, tiểu tiêu) trị thấp thịnh, xôn tiết, (ăn vào lại đi ngoài ngay)

Bạch truật chủ đàm ẩm, thùy thũng

Thương truật chủ thấp tý, túc nuy

  • Bạch truật ích khí, kiện tỳ, vận thấp, hòa đàm. Dùng cho các chứng tỳ hư, đình ẩm, thủy thũng.
  • Như "Kim quỹ yếu lược" (tâm hạ kiên đại như bàn, biên như tàn bàn, thủy ẩm) gây nên (dưới tim rắn cứng, lớn như cái mâm, bên cạnh sườn cũng như cái bàn - đó là do thủy ấm tức là do uống nước tích lại mà gây thầnh bệnh) phải dùng Chỉ truật thang chữa chứng bệnh ấy (chỉ thực, bạch truật)
  • "Thương hàn luận" Ngũ linh tán (chư linh, bạch truật, phục linh, trạch tả, quế chi) trị bệnh đổ mô hôi ở sau thái dương, ra mồ hôi mạch phù, tiểu tiện không lợi, hơi nóng, tiêu khát, rồi đến phù thũng các chứng.

Bạch truật chủ trị biểu hư tự hãn

Thương truật chủ trị đêm mù không trông thấy gì

  • Bạch truật ích khí, kiện tỳ, giữ mà không chạy. Cho nên cầm được mồ hôi.
  • Như "Đan khê tâm pháp" Ngọc bình phong tán (hoàng kỳ, bạch truật, phòng phong) trị biểu hư tự hãn.
  • "Toàn ấu tâm giảm" trị lão nhi hư hãn, dùng bạch truật, tiểu mạch, hoàng kỳ.
  • Thương truật còn hay làm sáng mắt. Trị được các chứng mắt sáp, cứng, mờ, đến như mù đặc.

Bạch truật chủ trị hoàng đảm

Thương truật chủ trị ôn dịch

Bạch truật thực tỳ, táo thấp, trị hoàng đản.
  • Như “Kim quỹ yếu lược” Nhân trần ngũ linh tán. (nhân trần, trạch tả, chư linh, phục linh, bạch truật, quế tâm) trị thấp nhiệt hoàng đảm, tiểu tiện bất lợi, thiên về thấp.
  • “Y học tâm ngộ” Nhân trần, truật phụ thang (nhân trần, trích thảo, bạch truật, phụ tử, can khương, quế nhục) trị âm hoàng, mình mấy và mắt đều vàng, thân thể lạnh, không khát nước, tiểu tiện không lợi, mạch trầm tế.
Thương truật hóa thấp, tán tà, dùng chữa chứng ôn dịch.
  • Như "Cục phương” Thần truật tán (cảo bản, thương tmật, hương bạch chỉ, tế tân, khương hoạt, xuyên khung, ôn dịch, đầu váng, đằng sau gáy cứng sống nóng, sợ lạnh, toàn thân đau nhức.
  • "Tạp bệnh nguyên lưu tê chức” Thương truật bạch hổ thang (thương truật, thạch cao, chi mẫu, cam thảo, gạo nếp) trị mùa thu phát hàn dịch, đến chứng thấp ôn, đái trong, chân sưng, đi lại khó khãn.

Đặc thù sử dụng khác nhau

  • Trọng dụng bạch truật trị tiện bí "Lấy từ Sùng thổ hóa thấp, lấy vải bọc lấy nước, dùng lấy công dụng kiện vận tỳ khí, trợ lực cho đại tràng, nâng đỡ cho lực". “ Trung y tạp chí” 1988
  • Hiện đại dược lý nghiên cứu, dùng bạch truật căn sắc thang từ thời gian đầu huyết ngưng cho đến cả thời gian huyết ngưng diễn ra rõ ràng khá dài
  • "Phổ tế phương" Hương truật hoàn (bạch truật, nhu mễ ngâm, tẩm 3 ngày, sao đen, nghiền nhỏ) một cân, can địa hoàng nửa cân (rửa sạch, cho vào nồi đất chưng cho nhừ nhuyễn, rồi tán nhỏ) làm viên bằng hột ngô - mỗi lần uống 15 viên lúc đói với nước cháo - gia thêm đến 20 viên trị chứng tràng phong trĩ lậu, thoát giang, tả huyết. "Động thiên áo chỉ" Hóa nhâm thang (nhân sâm, hoàng kỳ, nhẫn đông đằng, đương quy mỗi thứ một lạng, bạch truật 2 lạng, tây thảo căn, bạch giới tử mỗi thứ 2 đồng cân, phục linh 3 đồng sắc nước uống - Trị chứng nhũ nhâm, mọc lên rất nhiều miệng ở mụn sang (nhọt có nhiều miệng) giống như ống sáo mà không phải ống sáo như lậu mà không phải lậu, hỉnh thái giống như tổ ong, bên ngoài thì mọc thịt.
  • "Biện chứng lục" Thuần nhất hoàn (bạch truật, sơn dược, khiếm thực, ý dĩ, nhục quế, sa nhân) trị nâm tử béo, đàm thấp quá thịnh, không dễ gì sinh con "Biện chứng lục" Hòa mộc thang (bạch truật 2 lạng, phụ tử, nhục quế, sài hồ mỗi thứ 1 đồng, đỗ nhược căn 1 lạng) sắc thang uống - giữ không ra mồ hôi. Trị bệnh mộc thận, mới thấy hòn dái đau (cao hoàn: hòn dái), sau dần không đau nữa.
 
 
Xem thêm…

A giao cùng Lộc giác giao

17:10 |

 A giao cùng Lộc giác giao

Công hiệu khác nhau

A Giao

  • A giao và lộc giác giao là những vị thuốc đại bổ và rất có tình cảm với huyết, đều có công dụng tư âm, dưỡng huyết, chỉ huyết. Nhưng a giao ngọt bình, bổ huyết, chỉ huyết lực thắng, kiêm tư phế, an thai, huyết hư ra nhiều thì cố lại.



Cao ban long  hay Lộc giác giao chế bằng cách nấu gạc hươu với nước rồi co đặc lại. Ban là đốm, long là rồng. ý nói là cao rất quí.

  • Lộc giác cao ngọt, mặn, ôn, bổ huyết, chỉ huyết không bằng a giao nhưng mà ích tinh, bổ thận, ôn bổ can thận thì lực thắng, cố tinh, hỏa suy phần nhiều phải dùng nó

Chủ trị khác nhau


A giao chủ huyết hư và nhiều loại hình xuất huyết 
Lộc giác giao lại chủ thận hư, đốc tổn, yêu thống, âm thư

  • A giao bổ huyết, chỉ huyết tác dụng mạnh. Dùng chữa các chứng huyết hư, thổ thuyết, nục huyết, tiện huyết, báng, và các loại hình xuất huyết khác.
  • Như "Thánh tễ tổng lục" A giao thang (a giao 2 lạng, bồ hoàng một lạng, tán mạt, mỗi lần dùng 3 đồng với 1 bát nước cho vào nước sinh địa hoàng 2 hợp, đun sôi bảy phần, bỏ bã) trị chứng ra máu cam lâu không khỏi.
  • "Cổ kim y giám" - Giao ngải tứ vật thang (a giao, ngải diệp, đương quy, xuyên khung, bạch thược, thục địa, sao bồ hoàng, hoàng liên, hoàng cầm, sinh địa, chi tủ, địa du, bạch truật, cam thảo) trị huyết băng.
  • "Thiên kim dực phương"- A giao tán (trích a giao, ô tặc cốt, thược dược, đương quy) trị phụ nhân hạ huyết.
  • Lộc giao giao chẳng những dưỡng huyết, chỉ huyết, mà dùng chữa huyết hư và xuất huyết, ôn bổ can thận, tráng nguyên dương, bổ Đốc mạch, trị thận lao y tịch đau nhức, âm thư.
  • Như "Thánh huệ phương" Lộc giao giao tiên phương (lộc giác giao 3 lạng, sữa bò 1 thăng, đường một hợp, (pho mát) fomage 1 hợp, nước gừng 1 hợp) trị ngũ lao thất thương, thận không được tư bổ, thắt lưng, xương sống đau nhức chân tay mỏi mệt trầm trọng.
  • "Y học chính truyền" Lộc giác giao hoàn (lộc giác giao, lộc giác dương, thục địa hoàng, ngưu tất, phục linh, thỏ ty tử, nhân sâm, đương quy, bạch truật, đỗ trọng, trích hổ linh cốt, trích quy bản) trị huyết khí hư nhược, hai chân mềm yếu, không cử động được.
  • "Ngoại khoa toàn sinh tập" Dương hòa thang (lộc giác giao, thục địa, nhục quế, ma hoàng, bạch giới tử, khương thán, sinh cam thảo, trị hạc tất phong, chiêm cốt thư đến nhật thiết âm thư.

A giao chủ âm hư lao thấu


Lộc giác giao chủ thận hư, thất tinh, dương nuy, nữ tử không có mang


  • A giao nhuận phế, bổ huyết, chỉ huyết, dùng chữa âm hư, lao thấu.
  • Như "Tiểu nhi dược chứng trực quyết" bổ phế a giao tán (a giao, sao ngưu bàng tử, trích cam thảo, mã dâu linh, hạnh nhân, sao nhu mễ) trị âm hư hỏa thịnh, khái thấu, khi suyễn, yết hầu khô táo, ho khan, ít đờm, hoặc trong đờm có máu.
  • "Thanh tễ tổng lục" A giao ẩm ( A giao một lạng, nhân sâm hai lạng, hai vị này dã nát, mỗi lần dùng 3 đồng, đậu thị thang một chén, một ít hành, cùng cho vào đun sôi ba dạo, trị ho lâu.
  • Lộc giác giao điền tinh, tráng dương, ôn bổ can thận, dùng chữa thận hư, tinh quan bất cố, dẫn đến di tinh, hoạt tinh, dương nuy, tảo tiết. Con gái thì tử cung lạnh không thụ thai được.
  • Như “Thánh huệ phương" - Lộc giác giao tán (lộc giác giao, phu bồn tử, sa tiền tử. Trị hư lao mộng tiết.
  • "Thiên kim phương” trị hư lao, niệu tinh. Dùng hộc giác giao 3 lạng tán mạt, rượu 2 thăng hòa vào chia làm 3 lần uống cho đến khỏi.
  • "Cành nhạc toàn thư" Hữu quy hoàn tức là Lộc giác giao phối với thục địa, sơn dược, câu kỷ tử, thỏ ty tử, đỗ trọng, sơn thù du, nhục quế, chế phụ tử. Chữa hư hàn tiết tả, dương nuy, di tinh, con gái không thụ thai.

A giao chủ trị phiền, mất ngủ


Lộc giác giao trị thận hư đới hạ


  • A giao tư âm, bổ huyết, nuôi tinh thần, ổn định tim dùng chữa âm huyết hư không đủ, tâm phiền, mất ngủ.
  • Như "Ôn bệnh điều biện” Hoàng liên a giao thang (hoàng liên, hoàng cầm, a giao, bạch thược, kê tử hoàng)
  • Trị thiếu âm ôn bệnh, chân âm muốn kiệt, tráng hỏa lại thịnh, trong lòng buồn bã, nằm không được, phối hợp với bạch vi, dạ giao đằng, viễn chí, bách hợp, để chữa chứng phiền nhiệt không ngủ.
  • "Lộc giác giao bổ can thận, bổ đốc, kiện đới. Dùng chữa thận hư đới hạ, thanh ly.
  • Như "Thánh huệ phương" Lộc giác giao tán (lộc giác giao, bạch long cốt, quế tâm, đương quy, phu tử, bạch truật). Trị phụ nhân bạch đới không khỏi, sắc mặt vàng, rốn lạnh, đau.

Đặc thù trị liệu khác nhau


  • A giao lợi thủy - Như "bị cấp thiên kim yếu phương" Trị chứng rau thai chuyển động không đi đái được. Dùng a giao 3 lạng, nước 2 thăng, đun cạn lấy 7 hợp, uống ngay. "Thánh tễ tổng lục" trị phụ nữ có mang không đi đái được, bụng dưới trướng đau. Đông qùy tán - dùng đông qùy tử, du bạch bì, hoạt thạch, a giao, mỗi thứ một lạng tán - mỗi lần dùng 2 đồng, uống với nước nóng, không kể thời gian nào.
  • "Dấu môn phương" Trị thang hỏa sang, lấy lộc giác giao đun tan ra, đợi cho nguội thì đổ vào chỗ đau.


Xem thêm…

Copyright ©THT - Được biên soạn và sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau - Ghi rõ nguồn:quatangsusong.blogspot.com/ - Khi phát hành thông tin trên trang này
Gx Đaminh | Namkna | Trung Tâm Học Vấn Đaminh | Kho tài liệu hay |