Home » Phẩm giá con người
ĐẦU TIÊN LÀ CỪU, RỒI ĐẾN CON NGƯỜI CHĂNG?
21:22 |ĐẦU TIÊN LÀ CỪU, RỒI ĐẾN CON NGƯỜI CHĂNG?
Những Suy Tư Thần Học và Đạo Đức về việc Sử Dụng Kỹ Thuật Gien
Eberhard Schockenhoff
Tiến bộ về kỹ thuật gien hiện đại khiến cho con người có thể vượt lên
trên những giới hạn trước kia. Bao lâu lăng kính hoạt động khoa học và
kỹ thuật của con người trên thiên nhiên bị giới hạn bởi chính thiên
nhiên, vấn đề hợp pháp cho những can thiệp kiểu đó (kỹ thuật gien) không
nảy sinh gay gắt như lúc này. Chúng ta phải tìm hiểu về ý nghĩa nhân
bản của những giới hạn đã từng bị thiên nhiên áp đặt, và trong tôn giáo,
đạo đức và pháp lý phải tìm kiếm những nền tảng vững chắc để thiết lập
những giới hạn mới. Điều mà kỹ thuật có thể làm được, không đương nhiên
thỏa mãn tiêu chuẩn về trách nhiệm đạo đức và điều đáng ước mong cho con
người.
Niềm tin vào việc tạo dựng kể trong Kinh Thánh nhắc nhủ con người về
nhiệm vụ thống trị và về tư thế đặc biệt mà nhiệm vụ đó đem lại cho con
người giữa mọi tạo vật, và cũng nhắc nhở về trách nhiệm không thể chuyển
nhượng của họ là lo cho mọi tạo vật được lành mạnh, điều đó lại càng
trở nên nặng nề cho con người vì đó chính là hậu quả của việc nâng cao
vai trò con người như những người đại diện và quản lý của Thiên Chúa.
Nhiệm vụ của con người trong việc định hướng cho tạo vật và chỗ đứng của
con người đó giữa các tạo vật gắn chặt với nhau: vì mọi tạo vật đều có
nguồn gốc thần thiêng của mình tức là đều được Đấng Tạo Hóa dựng nên,
nên thiên nhiên cũng có phần trong việc tôn kính mà con người cảm nhận
đối với Đấng Tạo Hóa siêu việt của họ. Vì thiên nhiên không chỉ phản ảnh
vẻ đẹp và vinh quang của Thiên Chúa Ba Ngôi và sự sống dư tràn của
Người, nhưng đồng thời còn bị méo mó đi như hậu quả của việc bất tín do
phạm tội, trong tình trạng đó, thiên nhiên không hoàn toàn đồng hóa
với ý muốn của Thiên Chúa khi Ngài lập công trình tạo dựng.
Theo Kinh Thánh, nếu nguồn gốc sự dữ không được tìm kiếm trong nguyên lý
tiêu cực của thế giới hay trong những khía cạnh đen tối của thần tính,
mà phải tìm trong tình trạng bất tất của tự do vốn có ngay từ lúc bắt
đầu lịch sử loài người, thì những hậu quả của sự dữ lại cụ thể trong
những cấu trúc của tạo vật sa ngã. Chúng hiển hiện nơi những sức mạnh
phá hoại và những khuynh hướng tháo thứ đe dọa cả đời sống con người và
động vật lẫn thiên nhiên vô hồn dưới hình thức bệnh tật, tai nạn và
thiên tai. Vì tạo vật cũng luôn luôn là nơi xảy ra sự dữ và không bao
giờ chỉ hiện hữu trong suy tư vững chắc về nguồn gốc thần thiêng của nó,
chiếu theo lối hiểu của Kinh thánh, nên ,theo nguyên tắc, con người
được phép can thiệp để giữ gìn thiên nhiên và làm cho nó thành hữu dụng;
về mặt thần học, những can thiệp đó phải được hiểu như sự cộng tác với
hành động của Thiên Chúa trong việc tạo dựng. Vì các giới hạn của những
can thiệp đó trong một hình ảnh năng động tiến hóa của thế giới không
thể được đọc ra từ những quy định sẵn có của thiên nhiên, nên chúng cần
phải được khám phá lại và được thừa nhận nhờ lý trí con người. Sở dĩ có
những giới hạn đó là vì con người thì hữu hạn và có những hạn chế nơi cơ
cấu của mình. Tuy nhiên, trước kia khả năng can thiệp của khoa học và
kỹ thuật không thể biết được những giới hạn đó đi tới đâu. Đúng ra, cần
phải có suy tư phê bình về những điều kiện và kết quả của hành động
con người đang điều tra xem kỹ thuật có thể làm được điều gì (vào bất cứ
lúc nào) dựa trên nền tảng điều gì hữu lý cho con người. Như vậy, cần
kêu gọi đến việc tự kềm chế của khoa học và việc suy tư đạo đức để xác
định lại một lần nữa những giới hạn mà trong đó khoa học và nghiên cứu, y
học và kỹ thuật gien phụng sự cho sự lành mạnh của loài người.
Tiêu chuẩn về phẩm giá con người, sự tôn trọng đời sống của những người
khác, và việc ngăn cấm sát nhân, cho chúng ta tiêu chuẩn quan trọng để
tạo nên những phán đoán đạo đức hầu có thể xác định những giới hạn đầu
tiên trong những tình huống có tranh chấp trong lãnh vực đạo đức sinh
học. Điều thường thấy ở tất cả những tiêu chuẩn đó là chúng mới chỉ tạo
nên một hạn chế tiêu cực, mà chưa đưa ra được bất cứ một mục đích bao
quát nào. Chúng miêu tả những điều kiện hạn chế hành vi nhân linh nơi
ranh giới giữa sự sống và cái chết.
Dưới cấp độ mà yêu sách của ngôi vị được diễn tả trong những nghĩa vụ
tiêu cực liên quan đến những gì không được làm, chúng ta cần có những
tiêu chuẩn đánh giá đạo đức sâu xa hơn để có thể đánh giá những dự án
nghiên cứu đặc thù trong kỹ thuật gien và những tiến trình được sử dụng ở
đó. Ở đây trên hết, chúng ta phải tìm ra cách biện minh cho những mục
tiêu và trách nhiệm đối với những hiệu quả; điều này phải đi trước hoặc
đồng hành với những dự án nghiên cứu cá nhân. Gắn liền với những khả
năng hiện nay trong việc sử dụng kỹ thuật gien trên con người, ở đây
chúng ta sẽ nghiên cứu những thuận lợi cho việc làm nên một phán đoán
đạo đức qua hai ví dụ. Trước hết,trong trường hợp chẩn định về gien, thì
suy tư đạo đức hướng đến việc nhìn lại quá khứ và đồng hành cùng với
những tiến bộ khoa học, thứ đến, trong trường hợp nhân bản vô tính, lại
cần phải nhìn trước hiệu quả mà nó có thể gây ra trong tương lai.
II. Được quyền không biết
Trên nguyên tắc, phán đoán phải có về những phương pháp chẩn định tiền
sản không khác với phán đoán về những tiến trình nghiên cứu y học từng
được biết từ lâu. Những vấn đề đạo đức theo đó không bị giới hạn ở mối
hiểm nguy về một thất bại hoặc tai hại cho phôi gắn liền với việc tạo
nên tế bào, mặc dù mối hiểm nguy này gắn liền với sự can thiệp thì cũng
phải bao gồm trong việc đánh giá và trong việc tư vấn cho các bậc cha
mẹ, vì trong những tiến trình ngày càng lan rộng mà ngày nay thường áp
dụng, mối nguy cơ thất bại gần bằng với mối nguy trong sự chẩn đoán về
việc phá vỡ các nhiễm sắc thể (trong chọc hút màng ối là từ 0,5 – 1%,
trong sinh thiết màng đệm là từ 2 – 4%). Trong những tiến trình chẩn
định tiền sản, vấn đề thực sự nằm trong những hậu quả thực tế khi áp
dụng chúng. Mục đích y học của việc chẩn đoán tiền sản là biết được sớm
nhất việc gây nên tai hại với một dự đoán cái nhiên hoặc chắc chắn, cốt
để xua đi mọi âu lo của các cha mẹ và mưu cầu một chăm sóc y tế tốt nhất
cho cả người mẹ lẫn đứa con chưa sinh ra. Trong hơn 97% các trường hợp,
việc chẩn đoán tiền sản dẫn tới sự khám phá tiêu cực; bởi đó trong
nhiều vụ mang thai có kèm theo mối hiểm nguy, điều đó có thể giúp người
ta dễ đón nhận đứa trẻ hơn và do đó ngăn cản việc chấm dứt mang thai bởi
một nỗi sợ vu vơ về sự tai hại nhiễm sắc thể có thể có.
Tình trạng tiến thoái lưỡng nan về đạo đức mà việc sử dụng những tiến
trình chẩn đoán tiền sản có thể dẫn đến, đã trở thành hiển nhiên trong
những trường hợp tương đối hiếm hoi trong đó việc xét nghiệm tiền sản
tiên báo một bất thường về gien nơi đứa trẻ. Bao lâu mới chỉ có một ít
liệu pháp y học được thiết lập và những kỹ thuật giải phẫu còn ở thời kỳ
thực nghiệm sơ khai, việc chẩn đoán là có nguy cơ tai hại về gien sẽ
đặt các bậc cha mẹ trước áp lực những kỳ vọng trong một tâm trạng hầu
như chỉ nghĩ đến việc sẩy thai, một áp lực mà chỉ có một ít người có can
đảm đương đầu. Mong muốn hợp pháp về mặt đạo đức để có một đứa con mạnh
khỏe và mục đích y học của việc khu trừ những suy yếu di truyền hẳn dẫn
tới quyết định là phá thai như một hiệu quả tất nhiên dựa trên bối cảnh
y học, và bắt nguồn từ một bản danh mục những hình thức giả định về sự
tai hại cho phôi thai.
Theo một quan điểm phổ biến ngày nay, việc chăm sóc và sống với một đứa
trẻ khuyết tật đòi hỏi sự sẵn sàng và hy sinh cá nhân nhiều hơn là luật
lệ và luân lý có thể đòi hỏi ở một cá nhân. Giả thiết này, được ủng hộ
bởi một sự nhất trí "ngầm" (chưa được điều tra) trong xã hội, là bằng
chứng về một mâu thuẫn nội tại sâu sắc nằm ẩn dưới những khả năng của
việc chẩn đoán tiền sản và việc tư vấn về gien cho các gia đình. Đang
khi đó từ một viễn tượng y học, mục đích của việc tư vấn này là có thể
nhận biết và điều trị những tật bệnh trong thai nhi sớm nhất có thể, xã
hội hy vọng là ngày càng xóa bỏ việc sinh ra những đứa trẻ khuyết tật
trong tương lai với sự trợ giúp của những kỹ thuật chẩn đoán về sinh học
tế bào. Nếu việc chẩn đoán tiền sản có thể mở rộng đến việc tìm ra
nhiều các bệnh tật hoặc ngay cả đến những đặc tính về gien chỉ với một
yếu tố bệnh tật nhỏ thôi, thì điều này cũng khuyến khích mở rộng hơn nữa
những khuynh hướng ưu sinh trong dân số. Ngay cả bây giờ, trong lúc
điều tra về vấn đề này, có hơn 40% những người được hỏi cho rằng họ coi
xu hướng phát phì theo gien như một chỉ dẫn đầy đủ để có thể phá thai
mang tính dự phòng.
Thói quen sử dụng những tiến trình kiểm tra tổng quát có thể dẫn tới một
thay đổi tâm thức dân chúng trong việc đánh giá khuyết tật và yếu đuối,
và đưa đến một khuynh hướng coi bất cứ thứ gì đi chệch khỏi ‘tính cách
bình thường’ đều là mặt hạn chế không thể chịu được. Tùy theo mức độ
người ta mong đợi y học đem lại niềm hy vọng sinh ra một đứa trẻ mạnh
khỏe, và những tiến trình chẩn đoán về sinh học phân tử được hiểu là
‘những bảo đảm’ chắc chắn cho điều đó, thì phản ứng của xã hội và lối
đối xử kỳ thị người khuyết tật sẽ tăng lên. Dĩ nhiên là người ta ít sẵn
sàng để chấp nhận những đứa trẻ khuyết tật và coi chúng như một mục tiêu
suốt đời có thể đem lại không những là các mặt giới hạn và gánh nặng
song cũng còn là sự làm phong phú cho một đời người.
Vì những giới hạn sức khỏe của một người không thể được đánh giá trước
một cách chắc chắn, và mức độ người ta có thể chịu đựng được những gánh
nặng thì tùy thuộc rất nhiều vào thái độ riêng tư củà các bậc cha mẹ
trước cả khi những đứa con của họ được sinh ra. Việc biết sớm một mối
nguy cơ tật bệnh sẽ làm suy giảm khả năng chấp nhận một đứa trẻ khuyết
tật trong cùng một cách thức với một đứa trẻ khỏe mạnh mà thoạt đầu xem
ra làm thỏa mãn những ước mơ của cha mẹ hơn. Hơn nữa, chuyện không có
khả năng mường tượng việc sống với một đứa trẻ khuyết tật,vốn là một
gánh nặng rõ ràng trong cuộc sống hàng ngày, như một khả năng chọn lựa
nghiêm chỉnh, càng trở nên nặng nề hơn bởi những lo âu về những phản ứng
của xã hội. E rằng sớm muộn gì thì một người cũng sẽ phải biện minh cho
mình trước xã hội chỉ nguyên bởi chuyện có một đứa con khuyết tật, để
bản thân người đó và cộng đoàn có thể chấp nhận nó. Đang khi trước đây,
sau khi sinh ra một đứa trẻ khuyết tật, những bậc cha mẹ vẫn còn tin
tưởng được vào sự đồng cảm của những người chung quanh, các bạn hữu và
thân thuộc, thì trong tương lai họ chỉ còn chống lại việc kém hiểu biết
và việc loại bỏ đó, bằng cách tự ý quyết định chấp nhận một đứa trẻ
không nên sinh ra.
Một khi những nguy hiểm của việc bạc đãi như vậy, vốn rất khó kiểm soát
được, không loại bỏ việc chẩn đoán tiền sản, thì chúng cũng không thể bị
việc dự phòng xã hội phá hủy. Dựa trên viễn tượng đạo đức, cần phải
tuân thủ chặt chẽ ba giới hạn có nguy cơ bị bỏ quên trong lúc sử dụng vô
tội vạ những kỹ thuật khám phá dựa trên nền sinh học phân tử. Trên
nguyên tắc, việc chẩn đoán tiền sản có thể chỉ được sử dụng trong hệ
thống những vấn đề y học: việc khám phá những đặc điểm tổng quát như là
giới tính, những đặc điểm thần kinh hoặc ngay cả những khuynh hướng tâm
lý, miễn là có được một sự chẩn đoán khá chắc chắn, thì không bị cấm
đoán về mặt đạo đức. Ngay cả khi những xét nghiệm gien học được đề nghị
cho mọi bậc cha mẹ, họ cũng không bị bó buộc phải sử dụng xét nghiệm đó.
Hơn nữa, việc sử dụng việc chẩn đoán tiền sản xét về mặt y học cần có
sự đồng ý của cha mẹ, vốn chỉ được diễn ra sau khi đã giải thích cặn kẽ
về những nguy cơ làm thiệt hại cho đứa trẻ, và nếu có tranh chấp về luân
lý, thì cũng phải làm thế nào cho nó thành tích cực. Ngay cả việc từ
chối sử dụng chẩn đoán tiền sản cũng được bảo vệ về mặt đạo đức. Thực ra
nó kêu gọi sự tôn trọng đặc biệt và đề cao, ở những nơi không hề có dấu
hiệu rõ ràng về một khuyết tật di truyền trong gia đình. Tiên vàn, giá
trị đạo đức đặc biệt của một thái độ như vậy nằm trong việc đối kháng
lại chuyện đặt định giả tạo những nghĩa vụ của y học hiện đại, và tiếp
theo là ở việc sẵn sàng thừa nhận đời sống con người không chút dè dặt,
không bắt nó phải gánh chịu một lối đánh giá kỳ thị.
III. Quyền được sinh nở tự nhiên và cơ may về gien
Nếu những can thiệp của con người vào thiên nhiên là hợp pháp trên
nguyên tắc, thì việc nhân bản vô tính những loài động vật không thể bị
phản đối nguyên bởi việc nó vượt trên những giới hạn được áp dụng từ
lâu. Và một tiến trình mới mẻ cũng không làm nền tảng cho việc cấm đoán
tuyệt đối. Tuy nhiên, vì cần phải duy trì tính đa bội của các loài vật
và tôn trọng giá trị nội tại của những động vật, nên việc nhân bản vô
tính dù được phép trên nguyên tắc, vẫn không được hiểu như một sự cho
phép vô giới hạn khiến người ta có thể sử dụng những động vật được nhân
bản vô tính cho bất cứ mục tiêu nào đáng mong ước từ viễn tượng của nhân
loại. Những kỹ thuật tách rời các phôi được thí nghiệm gần đây, hay
việc chuyển nhân tế bào vào những tế bào phôi thai đã bị lấy mất nhân,
có nghĩa là tư liệu gien đã bị lấy mất, những điều đó chỉ có thể được
biện minh trong sự cân bằng giữa những phúc lợi và những lợi ích riêng
của động vật mà ở đó xét theo viễn tượng nhân loại có thể nói rằng những
mục tiêu của việc nghiên cứu là quan trọng và những lợi ích về sức khỏe
là đặc biệt khẩn trương.
Trong số những lãnh vực mà việc nhân bản vô tính dự đoán có thể sử dụng
được trong tương lai và ở đó con người có thể sử dụng một cách thật ý
nghĩa những con vật được nhân bản vô tính, cần phải có những phán quyết
khác nhau về mặt đạo đức tùy thuộc từng mục tiêu riêng biệt. Điều duy
nhất mà con người cần quan tâm, đó là biện minh cho điều mệnh danh là
‘kỹ nghệ gien’, được coi là bảo đảm một phẩm chất ổn định của thuốc men
và những dược chất quan trọng, và biện minh cho việc ghép những cơ quan
của động vật vào con người, hơn là cho việc mở rộng vô giới hạn số lượng
sản phẩm thịt cao cấp. Vì những động vật mà con người sử dụng tới cũng
có giá trị của riêng nó xét về mặt tạo vật vượt lên trên những chức năng
mà chúng thể hiện, và trong tương lai nữa, chúng cần được bảo vệ trong
tính cách đa bội về gien và không bị thu hẹp vào chức năng của những
giống loài cao sản được nhân bản vô tính, những phản ứng sinh học vốn có
thể được tái diễn tùy ý và thay thế cho những cỗ máy dược học.
Trái lại, việc nhân bản vô tính những con người, diều có thể thành công,
lại không tương thích với khái niệm về phẩm giá ngôi vị và mục đích
riêng biệt của mỗi con người. Những lối áp dụng mà người ta vẫn kỳ vọng
từ việc đưa những kỹ thuật nhân bản vô tính vào con người – chẳng hạn
hiện nay người ta đã nghĩ đến những phương pháp hiệu nghiệm để chữa bệnh
vô sinh, tránh những tật bệnh do di truyền về gien mà các gia đình gặp
phải, và khả năng nhân bội thứ nguyên liệu cấy ghép tốt nhất để có thể
hiến tặng bộ phận tùy ý thích – nếu đó là những lợi ích nghiên cứu y học
thật quan trọng, thì có thể theo đuổi chúng hợp pháp về mặt đạo đức.
Tuy nhiên, trong những trường hợp khác thì các mục tiêu đề ra không thể
biện minh được, cũng không phải là những hiệu quả tương ứng được mong
đợi. Điều này đặc biệt đúng với trường hợp những suy nghĩ lạ lùng về
việc phục sinh vô tận những thiên tài đã chết hoặc tái tạo những con
người được coi là ngoại hạng để nhân bội vào nhiều thời điểm khác nhau,
hoặc là gia tăng việc sản xuất những phôi trong chương trình nghiên cứu
về phôi.
Nếu không có vấn đề tìm hiểu xem những áp dụng nêu trên có thể trở thành
hợp pháp ở mức độ những mục tiêu, việc nhân bản vô tính một con người
cần phải được coi là đáng bị khiển trách. Một cá nhân được sinh ra theo
kiểu đó thì không được chờ đợi vì chính nó; nó chỉ được sản sinh như một
phương tiện cho một mục đích xa lạ. Cưỡng bức sự giống y chang về mặt
gien học của một người lên một ngôi vị và muốn nhân bội một ai đó vì lẽ
những phong phú, những khả năng hoặc những cá tính mà hệ gien của người
đó đem lại cho họ, chuyện đó rõ ràng là có thể thừa nhận về mặt công cụ
hóa nhưng lại không phù hợp với phẩm giá con người và với ý niệm con
người là mục đích nơi chính mình. Một con người được đưa vào cuộc sống
chỉ cốt để hiến bộ phận thích hợp về mặt gien học, chỉ như việc thay thế
cho một người chồng hoặc một người vợ sớm qua đời, hoặc như việc nhân
đôi một đứa con duy nhất được bố mẹ chờ đợi thiết tha, thì người đó
không thể hiện hữu như một mục đích nơi chính mình : một ngôi vị như vậy
chỉ được khẳng định cho những mục tiêu bên ngoài những lợi ích của họ
và được những người chung quanh chấp nhận chỉ như những đặc điểm gien
học được phục vụ cho một mục đích riêng tư. Vì quyết định sản sinh ra
một nhân vị như thế chỉ là dành cho một mục đích xa lạ hoặc hoàn thành
mục tiêu của thành phần thứ ba, nên ngay từ lúc đầu của cuộc hiện sinh,
người đó đã bị tước đoạt cái khả năng dẫn dắt cuộc đời mà trước đây chưa
được sống và không được tôn trọng trong một căn tính đúng ra không chịu
ai kiểm soát, và trong ý nghĩa này thì hoàn toàn là “ngẫu nhiên”. Tương
tự với quyền được không biết mà con người có, họ không thể bị bó buộc
phải biết đến những hiểm nguy cho đời sống gắn liền trong bản chất gien
học và sinh học của mình, trong viễn tượng những khả năng về những chuỗi
tăng bội thể gien con người, một quyền cho sự ngẫu nhiên nơi cá nhân
cần phải được đề ra để bảo vệ con người khỏi sự can thiệp có kế hoạch
của những ai tạo ra nó.
Ở đây, điểm quyết liệt nhất không phải là chuyện con người kiểm soát
được thể gien của người khác, hoặc là con số những cá nhân đều chia sẻ
cùng một bản chất về gien. Tính cách cá biệt của ngôi vị và tính độc
nhất không thể tương nhượng của con người không chấm dứt nơi chuyện
hoạch định về gien của họ : đúng ra, việc khai triển căn tính của ngôi
vị phải có chỗ trong tiến trình của việc trao đổi mở rộng giữa cấu trúc
tự nhiên với môi trường, điều này mới chỉ được xác định phần nào bởi
chương trình gien học nền tảng. Do đó thể gien của con người không thể
bị coi như chiếc xe đặc biệt vận chuyển căn tính ngôi vị của con người.
Tuy nhiên, bản chất gien nền tảng làm nên bộ khung tự nhiên cho việc
phát triển căn tính ngôi vị tương lai của con người. Cùng với những yếu
tố xác định khác trong cuộc sống thể lý của chúng ta, thể gien cá nhân
đòi hỏi một tự do luân lý về mặt sinh học, mà dựa trên nền tảng của tính
thống nhất tâm thể nơi ngôi vị, thì đó là tiền đề cho ý tưởng về phẩm
giá con người và vì có khả năng cơ bản đưa ra một hoạch định có trách
nhiệm về đời sống, nên nó phải được kể vào những điều cần được bảo vệ.
Trong những tài liệu của huấn quyền Giáo hội, đã thấy yêu cầu rằng con
người có quyền có được nguồn gốc hiện hữu ngẫu nhiên từ tiến trình sinh
sản tự nhiên mà trong đó phải có sự tham gia của hai người cha mẹ về mặt
sinh học, quyền này không phải là hậu quả của phẩm giá riêng biệt của
tiến trình sinh sản mà tự nó đã có phẩm cách về luân lý và không thể bị
vi phạm. Quyền cho ngôi vị con người được sản sinh bởi cha mẹ mình theo
đường lối tự nhiên, tức là nguyên việc tổng hợp ngẫu nhiên hai tế bào
nhân để tạo nên một thể gien cá nhân con người mới đã đòi phải bảo vệ
chống lại chuyện trở thành đối tượng cho việc hành xử gien học và việc
xác định tính cách đặc dị bởi một thành phần bên ngoài. Vấn nạn cho rằng
những cha mẹ sinh học cũng giống y các ông bà về mặt gien học đã mất đi
điểm quyết liệt, vì trong tiến trình sinh sản, các cha mẹ tác động như
những hữu thể tự nhiên vốn không có ảnh hưởng hữu ý trên việc cấu thành
căn tính gien của con cái mình. Cũng không thể qui chiếu sự cố sinh đôi
của một hợp tử trong tự nhiên để coi đó như một vấn nạn vững chắc cho
thứ luận cứ từng được đẩy tới. Không như việc nhân bản vô tính con
người, những anh chị em sinh đôi không hoàn toàn đồng nhất theo ý nghĩa
là mọi thông tin về di truyền của chúng đều được xác định bởi một cá
nhân xa lạ. Hẳn nhiên chúng có thừa kế thể gien chung với nhau, song
điều này không xuất xứ từ việc sao chép một gien độc nhất nhưng là từ
hai người cha mẹ sinh học, mà do bản chất ngẫu nhiên của tiến trình sinh
sản, nên không bao giờ sản xuất lại được một thể gien hoàn toàn có
cùng một bản chất. Hơn nữa, tiến trình nhân bản vô tính lại có thể lặp
lại vô cùng, nên theo đường lối này thì bất cứ bao nhiêu vật mẫu giống
nhau của một thể gien nguyên thủy đều có thể được sản xuất, và điều này
không hề có trong thiên nhiên.
Tuy nhiên, quan trọng hơn hết là những cặp song sinh từ một hợp tử thì
khác biệt với thứ được nhân bản vô tính bởi vì chúng hiện hữu cùng thời
với nhau. Chúng cùng đi vào hiện hữu, và cả hai đều có tương lai đằng
trước hoàn toàn biệt lập khỏi nhau, đang khi những thứ gì được nhân bản
vô tính lại luôn luôn bị áp đặt bởi những kỳ vọng và những dự báo vốn đã
xảy ra trong đời của những người đi trước chúng. Ở đây, cùng với Hans
Jonas, chúng ta phải ghi nhớ rằng con người chỉ có thể được tự do thực
sự nếu họ không biết đến tương lai và số phận của mình, đang khi những
gì nhân bản vô tính được diễn ra trong thời gian và kế tục nhau, đến độ
mà trong thí nghiệm có giả thiết, chúng ta có thể đặt mình vào những
hoàn cảnh của các hữu thể đó, bị kết án phải sống một cuộc hiện sinh
quái dị mà không chút phẩm chất tự nhiên cũng như tính tự phát.
K’Bao
Chuyển dịch theo nguyên tác
First Sheep, then Human Beings?
Theological and Ethical Reflections on
the Use of Gene Technology
Eberhard Schockenhoff
HỎI ĐÁP VỀ HUẤN THỊ “Dignitas Personae: Về một số vấn đề Đạo đức Sinh học”
21:02 |
HỎI ĐÁP VỀ HUẤN THỊ
“Dignitas Personae: Về một số vấn đề Đạo đức Sinh học”
Đây là một “huấn
thị” của cơ quan cao nhất của Giáo hội Công Giáo về giáo thuyết, Bộ Giáo Lý Đức
Tin của Tòa Thánh
Vatican.
Huấn thị nhằm áp dụng những nguyên tắc luân lý ngàn đời vào những vấn đề và
hoàn cảnh mới phát sinh từ lãnh vực công nghệ sinh học. Huấn thị không tự tuyên
bố như là một tín điều mới có tính bất khả ngộ, nhưng đã được Đức giáo hoàng
Bênêđictô XVI chuẩn nhận và có thẩm quyền của ngài. Như hầu hết các tài liệu
giáo huấn của Giáo hội, những phán quyết luân lý của Huấn thị này thuộc về
“Quyền Giáo huấn thông thường phổ quát” của Giáo hội. Những người Công giáo
được mời gọi học hỏi với “lòng vâng phục kính cẩn” để tâm thức được thấm nhuần
bởi những giáo huấn như thế (GLHTCG, 892).
2. Tựa đề của Huấn thị có nghĩa gì?
Tựa đề tiếng la
tinh Dignitas Personae có nghĩa là “phẩm giá của con người”. Mọi kết luận của
tài liệu đều dựa trên phẩm giá vốn có của mọi người và của từng người, kể từ
lúc thụ thai cho đến lúc chết với cái chết tự nhiên, và trên nhu cầu phẩm giá
đó phải được người ta kính trọng từ phía mọi thứ công nghệ và mọi hoạt động con
người. Đang khi Giáo hội phải nêu lên những phán định tiêu cực về một số lạm
dụng của kỹ thuật công nghệ, Huấn thị giải thích rằng “đằng sau mỗi tiếng
“không” từ chối chính là một tiếng “vâng” tuyệt vời nhìn nhận phẩm giá và giá
trị bất khả nhượng của mỗi hữu thể nhân
linh, độc đáo và duy nhất, được kêu gọi đi vào hiện hữu” (Dignitas Personae,
37).
3. Giáo huấn có từng được nói tới trong các
tài liệu trước đây của Giáo hội không?
Có. Huấn thị này
là một tiếp nối của “Donum Vitae: huấn thị về Tôn trọng Sự Sống con người từ
Cội nguồn và về Phẩm giá của việc Truyền sinh”. Huấn thị Donum Vitae (Tặng phẩm
Sự Sống) được Bộ Giáo Lý Đức Tin ban hành năm 1987 nói về sự thụ tinh con người
“trong ống nghiệm” và về những lạm dụng cũng như những can thiệp tùy tiện trên
sự sống con người trong các giai đoạn đầu tiên mà công nghệ này có thể tiến
hành. Những phán quyết khác trong tài liệu – như về kỹ thuật nhân bản trên con
người (human cloning), nghiên cứu tế bào gốc từ phôi và tế bào gốc từ người
lớn, công nghệ di truyền, các dược phẩm và dụng cụ ngăn cản sự đậu thai, v.v… –
đã xác nhận và nêu lên những gì đã được tuyên bố trong các diễn văn hay trong
các tài liệu khác của Đức giáo hoàng Gioan-Phaolô II hoặc của Đức giáo hoàng
Bênêđictô XVI, hoặc trong những tham luận của Tòa Thánh tại những diễn đàn quốc
tế như Liên Hiệp Quốc. Những năm gần đây các đề tài này cũng là chủ đề của các
hội thảo và các tài liệu của Viện Hàn Lâm Giáo Hoàng về Sự Sống, một hội đồng
cố vấn.
4. Tại sao Giáo Hội Công Giáo chống các kỹ
thuật sinh sản như loại thụ tinh “trong ống nghiệm”?
Đứa bé được cưu
mang trong sinh sản con người là một nhân vị, bình đẳng về phẩm giá với cha mẹ
nó. Bởi thế em xứng đáng để được chào đời qua một hành vi của tình yêu vợ chồng
đúng nghĩa và dấn thân. Những kỹ thuật nào trợ giúp các đôi vợ chồng kết hợp để
sinh con thì tôn trọng phẩm giá đặc biệt đó của nhân vị. Những kỹ thuật nào
thay thế việc đó bằng một tiến trình của kỹ thuật viên trong phòng thí nghiệm
thì không tôn trọng phẩm giá ấy. Vấn đề luân lý càng trở nên nghiêm trọng khi
người ta cố gắng đưa vào những giao tử (tinh trùng hoặc trứng) lấy từ những
người ngoài cuộc (hôn nhân), khi nhờ đến một người phụ nữ khác mang thai, hoặc
khi người ta thực hành “kiểm tra chất lượng” trên em bé như một sản phẩm đồ
vật. Kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm như được tiến hành ngày nay tạo ra một
tỷ lệ các phôi tử vong rất cao, và mở đường cho những lạm dụng xa hơn nữa như
kỹ thuật bảo quản phôi đông lạnh và những thí nghiệm gây ra sự sống bị hủy diệt
hàng loạt.
5. Những chủ đề nào trong tài liệu này chưa
được đặc biệt nói đến trong các tài liệu trước đây?
Một số chủ đề
rất mới được thảo luận ở đây lần đầu tiên. Một số đề nghị những phương pháp
thay đổi kỹ thuật cho việc nhân bản con người sao cho để nó tạo ra những tế bào
gốc từ phôi mà không phải là một phôi (ví dụ như “thay đổi nhân”). Điều đó về
mặt đạo đức đòi phải được nghiên cứu kỹ hơn và rõ ràng hơn trước khi có thể
được đem áp dụng trên con người, vì người ta buộc phải bảo đảm luôn luôn trong
tiến trình là đã không tạo ra một con người mới và rồi lại đi hủy diệt nó.
(Không cần phải thận trọng như thế nếu áp dụng cho một kỹ thuật mới hơn, sử
dụng những nhân tố di truyền hay hóa học, để tái lập trình trực tiếp cho những
tế bào người lớn bình thường đưa trở thành những “tế bào gốc có nhiều năng lực”
với khả năng linh hoạt cao như các tế bào gốc từ phôi. Việc này dĩ nhiên không
dùng đến một trứng hoặc tạo ra một phôi, và như thế không gây sự phản đối từ
phía giới thần học Công giáo.) Những ý kiến về việc “nhận con nuôi” đối với
những phôi đông lạnh bị bỏ rơi cũng tạo ra vấn đề, bởi lẽ Giáo hội chống việc
sử dụng những giao tử hay phần thân thể của người khác ngoài giao ước hôn nhân
để áp dụng cho sinh sản. Huấn thị nêu lên những điều cần phải cẩn trọng hay
những vấn đề phát sinh từ những sáng kiến mới đó, nhưng không chính thức đưa ra
những phán quyết dứt khoát chống lại chúng. Tài liệu của Tòa Thánh cũng đi sâu
vào chi tiết hơn các tài liệu trước đây bằng cách nêu lên những quan ngại về
luân lý về việc sử dụng công nghệ di truyền trên “các tế bào mầm” đối với con
người, để chữa bệnh và nhất là để “mở rộng” hay sửa đổi những đặc tính di truyền
của con người.
6. Những nhắc nhở hay phán quyết tiêu cực
về những tiến triển như thế có cho thấy một thái độ ngờ vực đối với khoa công
nghệ sinh học hiện đại hay không?
Ngược lại là
đàng khác. Tài liệu nói rằng khi sử dụng những sức mạnh kỹ thuật mới đó con
người “tham dự vào sức mạnh sáng tạo của Thiên Chúa” và con người hành động như
“kẻ phục vụ các giá trị và cái đẹp bên trong của tạo thành”. Chính vì sức mạnh
này mang trong mình một trách nhiệm rất lớn mà chúng ta phải không bao giờ được
để xảy ra những lạm dụng kỹ thuật mà hạ thấp phẩm giá con người, nhưng trái lại
phải luôn luôn phục vụ giá trị và phẩm giá của mỗi con người không loại trừ ai.
Việc lạm dụng công nghệ di truyền có thể tạo ra những hình thức kỳ thị mới, kẻ
yếu bị áp chế bởi người mạnh, tạo ra tình huống một số người lại điều khiển vận
mệnh cuối cùng của những người khác, chẳng hạn như tạo ra rồi lại hủy đi những
con người vì cái được cho là lợi ích của những người khác, tự tiện thao túng
trên số phận con người để tạo ra những con người “ưu tuyển” hơn, hoặc từ chối
những sinh linh ấy các quyền con người cơ bản nhất vì các em bé đã không thỏa
mãn tiêu chuẩn cho một con người hoàn hảo của một ai đó. Bởi vì khoa học và kỹ
thuật có một sức mạnh rất lớn để làm cả điều thiện lẫn điều ác, chúng phải được
hướng dẫn bởi một nền đạo đức học đặt cơ sở trên phẩm giá con người.
Tháng
12 / 2008
Lm.
Lu-y Nguyễn Anh Tuấn,
TTMV Tgp.Tp Hcm, chuyển ngữ
KHOA LUÂN LÝ SINH HỌC
06:00 |
KHOA LUÂN LÝ SINH HỌC
(Thời sự Thần học - Số 15 - Tháng 3/1999, tr. 7-12)
Bình Hòa
Một
trong những hệ luận của “luân lý sinh học” là một từ ngữ mà chúng tôi tạm dịch
từ bioéthique (pháp) hoặc bioethics (anh). Danh từ này được ghép bởi hai tiếng
hy lạp: bios (sự sống) và ethos (luân lý). Đây là một trong những lãnh vực có
liên quan đến đời sống hiện đại, vì sự tiến bộ của khoa học hiện đại về sự
sống.
Bài này
gồm ba phần:
- Lịch sử;
- Những nguyên tắc;
- Sự đóng góp của Giáo hội Công giáo.
I. Lịch sử
Danh từ “bioethics” xuất hiện vào năm 1970 khi Van Rensselaer Potter
xuất bản quyển sách mang tựa đề Bioethics: The Science of Survival (=
Luân lý sinh học, khoa học của sự tồn vong). Vào năm sau (1971), tác giả
cho ra đời một tác phẩm khác với tựa đề Bioethics: Brigde to the Future
(= Luân lý sinh học, cây cầu của tương lai). Potter đã phát biểu mối
quan tâm trước viễn tượng sống còn của tương lai nhân loại do hậu quả
của những khám phá mới của ngành sinh học (biology) mà ông gọi là “quả
bom sinh học”. Khoa sinh học sẽ trở thành trái bom đe dọa tương lai của
nhân loại thay vì mang lại sự thăng tiến phẩm chất của đời sống, nếu
khoa sinh học không biết đối thoại với các ngành khoa học nhân văn. Các
cuộc nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cần được hướng dẫn bởi những quan
điểm về giá trị luân lý.
Các tác phẩm của Potter ra đời vào lúc mà các đại học y khoa bên Hoa Kỳ
bắt đầu du nhập môn nhân văn và luân lý dành cho các bác sĩ tương lai.
Vào thập niên 60, dư luận Hoa Kỳ xôn xao trước những nguồn tin về những
sự lạm dụng trong việc thí nghiệm trên cơ thể con người, việc khám thai,
việc xác định lúc nào thì một người coi như đã chết. Năm 1967, Viện Y
tế quốc gia (National Institute of Health) của Hoa Kỳ đã thiết lập một
Ủy ban để kiểm soát những cuộc thí nghiệm trên cơ thể con người. Với đà
ấy, hai trung tâm nghiên cứu đã được khai sinh: “The Institute of
Society, Ethics and the Life Sciences” tại Hastings Center, New York
(1969) và Kennedy Institute of Ethics, thuộc Đại học Georgetown, ở
Washington D.C. (1971), với mục tiêu là bắt cầu giữa khoa sinh học và
các khoa nhân văn. Nên biết là các người khởi xướng môn luân lý sinh học
hoàn toàn đứng bên ngoài ảnh hưởng của các tôn giáo. Những kết quả của
họ đã gây âm hưởng sâu rộng, không những tại Hoa Kỳ mà dần dần lan sang
cả bên Âu châu. Từ đó, ngành luân lý sinh học trở thành một môn học được
dạy ở các Đại học Y khoa. Hơn thế nữa, nhiều quốc gia còn thành lập một
Ủy ban Luân lý sinh học, để cố vấn cho Quốc hội và Chính phủ trong
những vấn đề luân lý và pháp luật mà việc khảo cứu sinh học, y khoa và y
tế đặt lên.
Khi mới ra đời, môn luân lý sinh học xem ra chỉ liên quan tới một số
chuyên viên về y học và sinh học. Nhưng dần dần dư luận cũng chú ý tới,
và đã mở rộng biên giới cho môn này: nó không còn phải là luân lý của
môn sinh học nữa, nhưng trở thành “luân lý của sự sống” có ảnh hưởng tới
hết mọi người. Thực vậy, bất cứ người nào cũng phải chạm trán với các
vấn đề: sinh, bệnh, lão, tử. Ta phải có thái độ như thế nào khi đương
đầu với chúng? Một cách cụ thể, những vấn đề thường được đặt ra là:
SINH :
thụ thai nhân tạo,
thụ thai trong ống nghiệm,
phá thai,
khám thai,
thí nghiệm trên bào thai,
ưu sinh (eugénisme).
BỆNH :
ghép bộ phận;
chuyển phái tính;
triệt sản,
chính sách y tế, cách riêng với người tàn tật;
LÃO và TỬ :
việc hồi sinh,
chết êm dịu,
tự tử,
quyền được chết;
việc thông báo cho bệnh nhân biết sắp chết;
việc sử dụng thi hài.
Trước những vấn đề ấy, ai có quyền quyết định: chính bác sĩ? người công
dân? nhà nước? Làm sao để tránh những quyết định độc đoán nếu không dựa
vào luân lý?
Thế nhưng khi nói về luân lý thì ta lại gặp một vấn nạn khác, đó là trên
đời này có nhiều nền luân lý khác nhau, tùy thuộc vào những môi trường
văn hóa khác nhau (luân lý Đông phương, Tây phương), hoặc tùy theo tôn
giáo (Kitô giáo, Phật giáo), triết thuyết (hiện sinh, mác xít, tiện ích,
v.v...). Không phải lúc nào các quan niệm ấy cũng đưa ra một giải đáp
đồng nhất trước một vấn đề cụ thể. Thế thì làm sao xây dựng một nền luân
lý khách quan có thể được hết mọi người chấp nhận, bất luận họ thuộc về
tôn giáo, chính kiến nào đi nữa?
II. Những nguyên tắc.
Đứng trước vấn nạn đó, nhiều học giả cho rằng không thể khởi hành từ một
nền luân lý đã có sẵn, nhưng nên bắt đầu bằng một vài nguyên tắc
(principes) dễ được hết mọi người chấp nhận, rồi dần dần sẽ tiếp tục
công cuộc thảo luận suy tư. Có hai nguyên tắc xem ra khá hiển nhiên
trong lãnh vực này:
- Tôn trọng sự sống,
- Tôn trọng sự tự quyết của nhân vị.
Thế nhưng đến lúc phải rút ra những hệ luận cụ thể thì người ta thấy có
rất nhiều khuynh hướng khác nhau để giải thích hai nguyên tắc vừa nói.
A. Tôn trọng sự tự quyết của mỗi cá nhân.
Nguyên tắc căn bản nhất trong lãnh vực y khoa là sự thỏa thuận của đương
sự: các bác sĩ chỉ được phép can thiệp khi có sự đồng ý của đương sự.
Nhưng trên thực tế, nhiều bệnh nhân được chở tới nhà thương khi mà đầu
óc của họ không còn tỉnh táo, hay là những nhi đồng: thế thì ai phải
quyết định? Hơn thế nữa, rất nhiều lần các bệnh nhân tỉnh táo và sáng
suốt cũng không lường trước hậu quả của những cuộc thí nghiệm hoặc chữa
trị mà các bác sĩ đề nghị: đương sự được hỏi ý kiến cho có lệ, chứ chẳng
có giá trị quyết định gi hết.
B. Tôn trọng sự sống.
Hình như các tôn giáo trên thế giới cũng như các dân tộc đều chấp nhận
nguyên tắc về việc phải tôn trọng sự sống, ít là trong cách thức phát
biểu tiêu cực: “cấm giết người”. Thế nhưng, lịch sử cho thấy rằng có
nhiều lý thuyết khác nhau phải giải thích lý do tại sao phải tôn trọng
mạng sống; đó là chưa kể những trường hợp được phép cắt đứt sự sống.
1) Một số tôn giáo và triết học chủ trương rằng phải tôn trọng mạng sống
vì tính cách thánh thiêng (sacré) của nó. Còn những nhà khoa học không
muốn đụng tới tín ngưỡng thì nói tới sự sống như là một giá trị
(valeur), mà họ có trách nhiệm phải nâng cao “phẩm chất” (qualité). Tuy
nhiên, hạn từ “phẩm chất” không tránh được tính chất hàm hồ của nó. Có
người hiểu “phẩm chất” theo nghĩa hoàn toàn duy vật, để rồi tự tiện khai
trừ những thành phần tật nguyền vì họ chỉ làm gánh nặng cho xã hội chứ
không góp phần vào việc sản xuất. Có người hiểu “phẩm chất” theo nghĩa
là thăng tiến điều kiện sống, sao cho cuộc đời cảm thấy thoải mái sung
sướng. Có người hiểu “phẩm chất” theo chiều kích tinh thần khiến cho
cuộc sống của con người khác biệt với sự sống của loài thực vật và động
vật.
2) Trước những cuộc tranh luận bất tận về ý nghĩa và giá trị của sự
sống, người ta muốn tìm về một giải pháp đơn giản hơn. Xưa nay hầu hết
các bác sĩ trên thế giới trước khi ra trường đều phải giơ tay đọc “lời
thề của Hyppocrate” (y sĩ người Hy lạp, khoảng 460-377 trước công lịch);
tại sao không dựa vào đó để làm nền tảng cho luân lý sinh học?
(déontologie médicale; bởi tiếng hy lạp “deontos": bổn phận).
Một vài tác giả đã diễn tả lời thề cổ truyền ra ba nguyên tắc sau:
a/ nguyên tắc làm tốt (beneficentia), với hai cách thức phát biểu:
“không được làm hại” (non nocere: do not harm), và “hãy cố gắng tìm giải
pháp tốt nhất để làm ích cho bệnh nhân;
b/ nguyên tắc lòng tốt (benevolentia): phải tận tâm săn sóc bệnh nhân;
c/ nguyên tắc tín nhiệm (confidentialité): không bao giờ được tiết lộ những bí mật về đời tư của bệnh nhân.
III. Sự đóng góp của Giáo hội công giáo.
Như đã nói trên đây, môn luân lý sinh học đã ra đời ở ngoài khuôn khổ
của các tôn giáo. Đây là một dấu chỉ tích cực, nói lên sự cần thiết của
khoa học hiện đại muốn đi tìm những quy tắc luân lý để hướng dẫn các
cuộc khảo cứu của mình. Thực vậy, khoa học mà thiếu lương tâm thì sẽ đưa
nhân loại tới chỗ diệt vong. Thần học công giáo mong được đóng góp phần
của mình vào khoa luân lý sinh học dựa trên kinh nghiệm cổ truyền và sự
đối thoại với các môn nhân văn (triết học, tâm lý, xã hội, v.v...).
Thực vậy, trong các đại học công giáo và các chủng viện, môn luân lý y
khoa (Éthique médicale) đã được giảng dạy từ lâu đời. Cách riêng, đức
Piô XII đã bắt đầu lên tiếng về những vấn đề mà khoa học đặt ra cho sự
sống, thí dụ: sự thụ thai nhân tạo; sự ưu sinh, sự chết êm, v.v... Giáo
huấn của Giáo hội được kiện toàn dần dần, không những khi phải đương đầu
với từng vấn đề cụ thể được nêu lên, nhưng còn phải tìm hiểu những
nguyên tắc nền tảng của luân lý dựa trên phẩm giá của con người.
Trong những văn kiện của Bộ giáo lý đức tin, chúng ta có thể kể tới:
Tuyên ngôn về việc phá thai (18-11-1974), Tuyên ngôn về Chết êm
(5-5-1980); Huấn thị Donum vitae về sự tôn trọng sự sống mới chớm và về
phẩm giá của sự truyền sinh (22-2-1987).
Sách Giáo Lý Hội thánh Công giáo cũng đã dành nhiều đoạn cho những vấn đề luân lý sự sống. Thí dụ: số 2270 - 2274
(phá thai, khám thai, thử nghiệm trên bào thai); 2276-2279 (chết êm);
2288-291 (tôn trọng sức khoẻ); 2292-2296 (thí nghiệm trên thân thể; ghép
cơ thể); 2375-2378 (thụ thai nhân tạo)
Vào tháng 11 năm 1994, Hội đồng Tòa thánh đặc trách Mục Vụ cho các nhân
viên y tế đã xuất bản một văn kiện mang tựa đề Hiến chương của các nhân
viên y tế (Carta degli operatori sanitari), nhằm trình bày cách mạch lạc
giáo huấn của Giáo hội trong lãnh vực luân lý sinh học.
HUẤN THỊ DIGNITAS PERSONAE (PHẨM GIÁ CON NGƯỜI)
10:00 |Huấn thị DIGNITAS PERSONAE (Phẩm giá con người) về một số vấn đề đạo đức sinh học
Xem thêm…
BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN
HUẤN THỊ
DIGNITAS PERSONAE
(PHẨM GIÁ CON NGƯỜI)
VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐẠO ĐỨC SINH HỌC
Bản dịch của Ủy ban Giáo lý Đức tin – Hội đồng Giám mục Việt Nam
--------------------------------
GIỚI THIỆU
1.
Phẩm giá nhân vị phải được công nhận nơi mọi hữu thể nhân linh từ khi
thụ thai cho tới lúc chết. Nguyên tắc nền tảng này nói lên thái độ hết
sức kính trọng đối với sự sống con người và nguyên tắc ấy phải chiếm vị
trí trung tâm trong suy tư đạo đức về nghiên cứu y-sinh học, vốn có vai
trò ngày càng quan trọng hơn trong thế giới ngày nay. Huấn quyền của Hội Thánh đã nhiều lần can thiệp để lám sáng tỏ và giải quyết những vấn đề luân lí có liên hệ. Về vấn đề này, Huấn thị Donum Vitae (1)
chiếm một tầm quan trọng đặc biệt. Nhưng đã hai mươi năm kể từ khi
được công bố, nay đã đến lúc tài liệu ấy cần được cập nhật hóa.
Giáo huấn của Donum Vitae
vẫn được bảo toàn nguyên vẹn giá trị, cả về các nguyên tắc nó dựa vào
cũng như những đánh giá luân lí diễn tả nơi huấn thị đó. Thế nhưng,
những công nghệ y-sinh học mới hiện nay được đem vào áp dụng trong lãnh
vực tế nhị của sự sống con người và của gia đình, đang khơi lên những
vấn đề xa hơn, nhất là trong lãnh vực nghiên cứu các phôi thai người,
việc sử dụng các tế bào gốc cho những mục đích chữa trị cũng như trong
những lãnh vực y học thực nghiệm khác. Những vấn đề mới mẻ này đòi hỏi
phải có câu trả lời thích đáng. Sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học cùng
với sự lan rộng của nó nhờ các phương tiện truyền thông xã hội tạo ra
những mong đợi và những băn khoăn nơi công luận ngày càng rộng khắp. Để
quy định pháp lí cho những vấn đề này, các Quốc Hội (cơ quan lập pháp)
thường được thôi thúc phải đưa ra những quyết định và họ đôi khi có tham
khảo rộng rãi trong dân chúng.
Những lí do này đã khiến Bộ Giáo Lý Đức Tin soạn thảo một Huấn thị mới có tính giáo thuyết, để đối diện với một số vấn đề gần đây, dưới ánh sáng của các tiêu chuẩn đã được Huấn thị Donum Vitae loan báo. Huấn thị này cũng xét lại một số đề tài khác dẫu đã được bàn đến rồi, nhưng cần làm sáng tỏ hơn nữa.
2.
Trong khi nghiên cúu những vấn đề này, Bộ Giáo lý Đức tin luôn quan tâm
đến những khía cạnh khoa học của chúng, bằng cách dùng tới những phân
tích của Hàn Lâm Viện Giáo Hoàng Vì Sự Sống và nhờ đến sự cộng tác của
một số lớn các chuyên gia. Tất cả điều đó được lượng giá dưới ánh sáng
của các nguyên tắc nhân học kitô giáo. Các thông điệp Veritatis splendor (2) và Evangelium Vitae
(3) của Đức Gioan Phaolô II và những tham luận khác của Huấn Quyền cho
những chỉ dẫn rõ ràng về phương pháp và nội dung để xem xét những vấn đề
này.
Trong
toàn cảnh có nhiều thứ triết học và khoa học như hiện nay, người ta có
thể thấy một số lớn các nhà khoa học và triết học, trong tinh thần của lời thề Hippocrate,
xem y khoa như một sự phục vụ con người mỏng giòn, nhằm chữa trị các
bệnh tật, xoa dịu những đau đớn cũng như mở rộng chăm sóc cần thiết cho
tất cả mọi người trong sự bình đẳng. Thế nhưng, cũng có một số người
trong giới triết học và khoa học này xem những tiến bộ của công nghệ
y-sinh học theo một thứ quan điểm có bản chất là ưu sinh (essentially
eugenic perspective).
3.
Trong khi đưa ra những nguyên tắc và những đánh giá luân lí cho nghiên
cứu y-sinh học về sự sống con người, Giáo Hội Công Giáo đón lấy ánh sáng của cả lí trí lẫn đức tin,
và như thế góp phần đề xuất một tầm nhìn toàn diện về con người và ơn
gọi của nó. Cái nhìn đó có khả năng tiếp nhận tất cả những gì tốt đẹp
đến từ những công trình của con người và từ những truyền thống văn hóa
và tôn giáo khác nhau, vốn thường tỏ ra có một thái độ rất kính trọng
đối với sự sống.
Huấn Quyền cũng muốn bày tỏ sự khích lệ tin tưởng đối với viễn tượng văn hóa trong đó người ta xem khoa học như một việc phục vụ cao quý cho thiện ích toàn diện của sự sống và cho phẩm giá của mỗi con người.
Vì thế, Giáo Hội quan tâm đến việc nghiên cứu khoa học với niềm hy
vọng, và mong muốn có nhiều kitô hữu hiến mình cho sự tiến bộ của y-sinh
học để làm chứng cho đức tin của mình trong lãnh vực đó. Hơn nữa, Giáo
Hội ước muốn những kết quả của việc nghiên cứu này phải làm sao sẵn sàng
được đem phục vụ ở những nơi nghèo khổ và có nhiều bệnh tật trên thế
giới, làm sao để những người đau khổ nhất nhận được sự trợ giúp nhân
đạo. Sau cùng, Giáo Hội muốn hiện diện bên cạnh tất cả những người đau
khổ, nơi thể xác và tâm hồn, để không chỉ an ủi, nhưng còn mang lại cho
họ ánh sáng và niềm hy vọng. Nhờ đó, con người có thể tìm lại một ý
nghĩa của bệnh tật và kinh nghiệm về cái chết, thật ra vốn là thành phần
của sự sống con người và có mặt trong lịch sử của mỗi người, khai mở nó
ra với mầu nhiệm Phục Sinh. Quả thật, cái nhìn của Giáo Hội luôn đầy sự
tin tưởng bởi lẽ “sự sống sẽ chiến thắng: đối với chúng ta, đây là một
niềm hy vọng chắc chắn. Vâng, sự sống sẽ chiến thắng, vì chân lí, sự
thiện, niềm vui, sự tiến bộ đích thực đều thuộc về phía sự sống. Thiên
Chúa, Đấng yêu mến sự sống và ban sự sống cách quảng đại, đứng về phía
sự sống” (4).
Huấn
thị này nói với các tín hữu Công giáo và tất cả những ai tìm kiếm chân
lí (5). Huấn thị gồm ba phần: phần thứ nhất nhắc lại một số khía cạnh
rất quan trọng về phương diện nhân học, thần học và đạo đức học; phần
thứ hai đề cập đến những vấn đề mới mẻ liên hệ với việc sinh sản; phần
thứ ba xem xét một số ý kiến trị liệu mới mẻ bao hàm việc cải biến phôi
và gia sản di truyền của con người.
PHẦN THỨ NHẤT
NHỮNG KHÍA CẠNH NHÂN HỌC, THẦN HỌC, VÀ ĐẠO ĐỨC HỌC
VỀ SỰ SỐNG CON NGƯỜI VÀ SỰ TRUYỀN SINH
4.
Trong những thập niên vừa qua, các ngành y khoa đã có những bước tiến
bộ đáng kể trong sự hiểu biết về sự sống con người ở những giai đoan đầu
tiên của nó. Người ta đã đã đạt đến mức biết rõ hơn những cấu trúc sinh
học của con người và tiến trình sinh sản của nó. Những tiến bộ này chắc
chắn là tích cực, xứng đáng để được ủng hộ nếu như chúng được dùng để
thắng vượt hay chữa trị các bệnh lí và khi chúng đóng góp vào việc tái
lập sự hoạt động bình thường của tiến trình sinh sản. Trái lại, chúng là
tiêu cực, và do đó không thể được tán thành, khi chúng kéo theo việc
tiêu hủy sự sống con người hay khi chúng dùng những phương tiện làm hại
đến phẩm giá của con người, hoặc khi chúng được sử dụng nhằm những mục
đích trái với thiện ích toàn diện của con người.
Thân
xác của một con người, từ những giai đoạn đầu tiên của cuộc sống của
nó, không bao giờ được giản lược chỉ còn xem như một tổng thể các tế
bào. Thân xác phôi thai ấy được phát triển dần dần theo một “chương
trình” đã được xác định rõ ràng và theo một cứu cánh riêng được biểu lộ
lúc đứa trẻ ra đời.
Cần nhắc lại ở đây tiêu chuẩn đạo đức nền tảng nói tới trong huấn thị Donum Vitae
để đánh giá tất cả những vấn đề luân lí liên quan đến việc can thiệp
trên phôi người: “Kết quả của sự truyền sinh của con người từ giây phút
hiện hữu đầu tiên, tức là từ khi hợp tử được hình thành, đòi hỏi phải
được tôn trọng vô điều kiện như thái độ luân lí phải có đối với một con
người trong tính toàn vẹn thể xác và thiêng liêng của nó. Con người phải
được tôn trọng và đối xử như là một nhân vị từ lúc thụ thai, nghĩa là
từ giây phút này, người ta cần phải nhìn nhận những quyền của con người
đối với sinh linh đó, trong số đó trước tiên là quyền được sống vốn bất
khả xâm phạm của mọi hữu thể nhân linh vô tội” (6).
5.
Nguyên tắc đạo đức này được chính lí trí nhìn nhận là chân thật và phù
hợp với luật luân lí tự nhiên; nguyên tắc ấy phải là nền tảng của mọi hệ
thống pháp lí (7). Thật vậy, khẳng định ấy được coi như là một chân lí hữu thể học, như huấn thị Donum Vitae đã chứng minh tính liên tục của sự phát triển của một con người, dựa trên chứng cứ khoa học vững chắc.
Dẫu cho Donum Vitae,
để tránh không rơi vào một xác quyết có tính triết học minh nhiên,
không xác định phôi người là một ngôi vị, nhưng văn kiện cũng chỉ cho
thấy có một liên kết nội tại giữa chiều kích hữu thể học và giá trị đặc
thù của mỗi sự sống con người. Dẫu cho người ta không thể chứng minh sự
hiện diện của một linh hồn thiêng liêng từ mọi quan sát dữ kiện thực
nghiệm, nhưng chính những kết luận của khoa học về phôi người đã cho
“một chỉ dẫn quý giá để lí trí phân định sự hiện diện có tính nhân vị từ
sự xuất hiện đầu tiên của một sự sống con người: làm sao một cá thể
người (human individual) mà lại không phải là một nhân vị (human
person)?” (8). Thực vậy, thực tại con người, trong suốt cuộc sống của
nó, cả trước và sau khi sinh, không cho phép ta khẳng định một sự thay
đổi bản tính, cũng không cho phép khẳng định một sự biến thiên dần về
giá trị luân lí, vì nó có một phẩm chất nhân học và luân lí đầy đủ. Bởi thế, phôi người, ngay từ ban đầu, có một phẩm giá riêng của nhân vị.
6.
Người ta phải tôn trọng một phẩm giá như thế đối với mỗi con người, bởi
lẽ nơi mỗi con người phẩm giá và giá trị riêng này được ghi khắc sâu
xa không thể xóa nhòa được. Mặt khác, cội nguồn của sự sống con người ở trong một bối cảnh chân thực của nó là hôn nhân và gia đình,
trong đó nó được sinh hạ nhờ một hành động biểu lộ tình yêu hỗ tương
giữa người nam và người nữ. Sự sinh sản thực sự có trách nhiệm đối với
đứa trẻ sắp sinh ra, đó “phải là hoa trái của hôn nhân” (9).
Trong
mọi thời và nơi mọi nền văn hóa, hôn nhân “là một thiết lập khôn ngoan
và quan phòng của Thiên Chúa Tạo Hóa để thực hiện nơi nhân loại kế hoạch
tình yêu của Ngài. Qua việc hiến thân cho nhau, vốn là chuyện riêng
biệt và độc quyền của vợ chồng, hai người hướng đến sự hiệp thông nên
một để hoàn thiện con người của nhau hầu cộng tác với Thiên Chúa để sinh
ra và giáo dục những sự sống mới” (10). Qua tình yêu phong nhiêu vợ
chồng, người nam và người nữ cho thấy ở cội nguồn của đời sống vợ chồng
của họ có một tiếng “vâng” chân thực được họ công bố và sống thực sự cho
nhau và luôn cởi mở ra với sự sống. […] Luật tự nhiên là cội rễ để
người ta nhìn nhận sự bình đẳng đích thực giữa người với người và giữa
các dân tộc với nhau, luật ấy xứng đáng được nhìn nhận như là nguồn mạch
gợi hứng cho đôi vợ chồng sống với nhau trong trách nhiệm sinh sản
những đứa con mới của họ. Việc thông truyền sự sống (truyền sinh) được
ghi khắc trong tự nhiên và những qui luật của nó vẫn mãi là luật bất
thành văn mà mọi người phải quy chiếu đến” (11).
7. Giáo Hội xác tín rằng những gì là nhân bản thì không những được đón nhận và tôn trọng bởi đức tin,
mà còn được thanh luyện, nâng cao và hướng đến sự hoàn thiện. Sau khi
đã tạo dựng con người theo hình ảnh và giống như Ngài (x. St 1, 26),
Thiên Chúa đã thấy công trình tạo dựng của Ngài «rất tốt đẹp » (St 1,
31), và tiếp đến đảm nhận nó nơi Người Con của Ngài (x. Ga 1, 14). Qua
mầu nhiệm Nhập Thể, Con Thiên Chúa đã xác nhận phẩm giá của thân xác và
linh hồn, là những yếu tố cấu thành con người. Đức Kitô đã không khinh
miệt thân xác; nhưng Người đã mạc khải trọn vẹn ý nghĩa và giá trị của
nó: «quả thật, mầu nhiệm của con người chỉ thực sự được sáng tỏ nơi mầu
nhiệm của Ngôi Lời Nhập Thể » (12).
Khi
trở nên một người trong chúng ta, Người Con chứng thực rằng chúng ta có
thể trở nên «con của Thiên Chúa » (Ga 1, 12), có thể «tham dự vào bản
tính thần linh » (2 Pr 1, 4). Chiều kích mới mẻ này không mâu thuẫn với
phẩm giá của thọ tạo mà nhờ lí trí mọi người có thể nhận biết. Đúng hơn,
nó nâng phẩm giá con người lên đến chân trời sự sống bên kia rộng lớn
hơn của Thiên Chúa, điều đó giúp chúng ta khả năng suy nghĩ cách sâu xa
hơn về sự sống của con người và về những hành vi mang lại sự sống (13).
Nhờ
sự soi sáng của những chân lí đức tin này, người ta càng phải tôn trọng
và tôn trọng nhiều hơn nữa từng cá vị con người, đó là điều lí trí đòi
hỏi. Bởi thế không hề có đối lập giữa khẳng định về phẩm giá và khẳng
định tính linh thánh của sự sống con người. «Những cách thức khác nhau
mà Thiên Chúa dùng để chăm lo cho thế giới và con người trong lịch sử
không những không loại trừ nhau, mà trái lại, còn củng cố và thấm nhập
lẫn nhau. Tất cả đều xuất phát từ và hướng đến kế hoạch khôn ngoan và
yêu thương ngàn đời mà Thiên Chúa tiền định cho con người, nam và nữ,
«nên đồng hình đồng dạng với Con của Ngài » (Rm 8, 29) (14) ».
8. Khởi đi từ hai chiều kích nhân bản và thần linh này, người ta có thể hiểu rõ hơn giá trị bất khả xâm phạm của con người : con người có một ơn gọi vĩnh cửu và được mời gọi tham dự vào tình yêu Ba Ngôi của Thiên Chúa hằng sống.
Giá
trị này thuộc về hết mọi người không phân biệt. Chỉ đơn giản vì đã hiện
hữu, nên mỗi hữu thể nhân linh phải được tôn trọng cách đầy đủ. Người
ta không được phép đưa ra những tiêu chuẩn để kì thị liên quan đến phẩm
giá con người, những tiêu chuẩn đặt cơ sở trên sự phát triển về mặt sinh
học, tâm lí học, văn hóa hay tình trạng sức khỏe. Nơi con người, được
tạo dựng giống hình ảnh của Thiên Chúa, dù ở giai đoạn nào của cuộc sống
của nó, cũng đều phản chiếu «dung nhan của Người Con duy nhất của Ngài
[…]. Tình yêu vô tận và hầu như không thể hiểu thấu này của Thiên Chúa
đối với con người biểu lộ sự cao cả đến mức độ nhân vị tự thân xứng
đáng được yêu mến, không lệ thuộc vào bất cứ một lí do nào khác – dù là
trí thông minh, sắc đẹp, sức khỏe, sự trẻ trung, sự trinh nguyên … Nói
tóm lại, sự sống con người luôn là một điều thiện hảo, vì «đó là môt
biểu lộ của Thiên Chúa trong thế gian, một dấu chỉ của sự hiện diện của
Ngài, một dấu vết của vinh quang của Ngài » (x. Evangelium vitae, n. 34) » (15).
9. Hai chiều kích này của sự sống con người, chiều kích tự nhiên và chiều kích siêu nhiên, giúp ta hiểu rõ hơn ý nghĩa của các hành vi làm cho một con người sinh ra đời và qua đó người nam và người nữ hiến mình cho nhau, là một phản ảnh của tình yêu của Ba Ngôi.
«Thiên Chúa, Đấng là tình yêu và là sự sống, đã ghi khắc nơi người nam
và người nữ ơn gọi tham dự đặc biệt vào mầu nhiệm hiệp thông nhân vị và
vào công trình của Tạo Hóa và của Chúa Cha» (16).
Hôn
nhân kitô giáo «có cội rễ phát xuất từ sự bổ sung tự nhiên vốn có giữa
người nam và người nữ, và được nuôi dưỡng bởi ý muốn cá nhân chia sẻ
toàn thể dự phóng cuộc đời của đôi vợ chồng, tất cả những gì họ có và
tất cả những gì họ là : bởi đó, một sự hiệp thông như thế là hoa trái và
là dấu chỉ của một nhu cầu sâu thẳm của con người. Nhưng trong Chúa
Kitô, Thiên Chúa đã mang lấy nhu cầu này, Ngài xác nhận nó, thanh tẩy nó
và nâng nó lên, làm cho nó hoàn hảo nhờ bí tích hôn nhân : Thánh Thần
được tuôn tràn trong bí tích được cử hành, Ngài thông ban cho các vợ
chồng kitô hữu một hồng ân, đó là sự hiệp thông trong tình yêu mới, là
hình ảnh sống động và thực sự của một sự hiệp nhất hoàn toàn đặc biệt
biến Giáo Hội thành Thân Thể huyền nhiệm bất khả phân ly của Chúa Kitô»
(17).
10.
Khi đưa ra một nhận định đạo đức về những kết quả gần đây của các
nghiên cứu y khoa liên quan đến con người và nguồn gốc của nó, Giáo Hội
không can thiệp vào lãnh vực riêng của y khoa, nhưng muốn nhắc nhở tất
cả mọi người có liên quan về trách nhiệm luân lí và xã hội của các các
việc họ làm. Giáo Hội nhắc họ nhớ rằng giá trị đạo đức của khoa y-sinh
học được đo bằng sự quy hướng đến sự tôn trọng bắt buộc và vô điều kiện
đối với mọi hữu thể nhân linh, trong mọi giai đoạn cuộc sống của nó,
cũng như qui hướng đến việc bảo vệ tính đặc thù của các hành vi nhân vị
truyền thông sự sống. Sự can thiệp của Huấn Quyền là bởi sứ mạng thăng
tiến việc giáo dục lương tâm, bằng cách đưa ra giáo huấn đích thực về
chân lí là chính Chúa Kitô, đồng thời, cũng bằng cách tuyên bố và xác
nhận trong thẩm quyền của mình những nguyên tắc thuộc bình diện luân lí
phát xuất từ chính bản tính của con người (18).
PHẦN THỨ HAI
NHỮNG VẤN ĐỀ MỚI LIÊN QUAN ĐẾN SỰ TRUYỀN SINH
11.
Được soi sáng bởi các nguyên tắc nói trên, giờ đây ta cần phải xét một
số vấn đề liên quan đến sự truyền sinh, những vấn đề đã nổi lên và lộ ra
ngày càng rõ hơn trong những năm theo sau kể từ khi Huấn thị Donum Vitae ra đời.
Những kĩ thuật trợ giúp cho sự sinh sản
12. Về việc chữa trị chứng vô sinh,
các kĩ thuật y khoa mới phải tôn trọng ba thiện ích căn bản sau đây: a)
quyền sống và quyền toàn vẹn thể lí của mọi hữu thể nhân linh từ lúc
thụ thai cho đến cái chết tự nhiên ; b) sự đơn nhất của hôn nhân, trong
đó bao hàm sự tôn trọng quyền của người này trở thành cha hay thành mẹ
chỉ nhờ người kia và ngược lại (19); c) những giá trị tính dục đặc thù
của con người, vốn «đòi hỏi một nhân vị được sinh ra phải như là hoa
trái của hành vi phối ngẫu đặc thù của tình yêu của vợ chồng » (20). Các
kĩ thuật trợ giúp sinh sản «không nên bị loại bỏ bởi vì bị gán cho là
nhân tạo. Những kĩ thuật như thế chứng tỏ những khả năng của nghệ thuật y
khoa. Nhưng chúng cần phải được lượng giá về mặt luân lí qua việc quy
chiếu đến phẩm giá của nhân vị, kẻ được kêu gọi thực hiện ơn gọi thần
linh của mình là trao ban tình yêu và sự sống » (21).
Dưới
ánh sáng của nguyên tắc này, người ta cần phải loại trừ tất cả những kĩ
thuật thụ tinh nhân tạo dị ngẫu (heterologous artificial fertilization)
(22) và những kĩ thuật thụ tinh nhân tạo đồng ngẫu (homologous
artificial fertilization) (23) nào thay thế cho hành vi vợ chồng. Trái
lại, những kĩ thuật nào trợ giúp cho hành vi vợ chồng và cho việc sinh sản của họ thì được phép. Huấn thị Donum Vitae
diễn tả như sau : «Thầy thuốc nhằm phục vụ con người và việc sinh sản
của con người : người ấy không có quyền tùy tiện sử dụng họ cũng không
có quyền quyết định thay cho họ. Những can thiệp y khoa trong phạm vi
này phải tôn trọng phẩm giá của các nhân vị trong khi có ý trợ giúp hành
vi kết hợp vợ chồng, sao cho việc ấy được diễn tiến thuận lợi, và giúp
nó đạt đến mục đích một khi hành vi ấy được thực hiện cách bình thường »
(24). Về việc thụ tinh nhân tạo đồng ngẫu, huấn thị khẳng định : «Không
thể chấp nhận sự thụ tinh nhân tạo đồng ngẫu trong hôn nhân, trừ trường
hợp phương tiện kĩ thuật không thay thế hành vi kết hợp vợ chồng,
nhưng phục vụ như một tiện ích trợ giúp để hành vi này đạt tới mục đích
tự nhiên của nó» (25).
13.
Dĩ nhiên, những kĩ thuật nhằm loại bỏ những trở ngại của việc sinh sản
tự nhiên, chẳng hạn như sự chữa trị vô sinh bằng hoóc-môn có nguồn gốc
từ tuyến sinh dục, chữa trị phẫu thuật bệnh lạc nội mạc tử cung, khai
thông ống dẫn trứng, hay phẫu thuật để khôi phục ống dẫn trứng, tự chúng
là hợp pháp. Tất cả những kĩ thuật này có thể được xem như là những trị liệu pháp đích thực,
vì rằng một khi vấn đề nguồn gốc của sự vô sinh đã được giải quyết, vợ
chồng có thể thực hiện những hành vi vợ chồng trong mục đích sinh sản mà
không có sự can thiệp trực tiếp của bác sĩ. Không có kĩ thuật nào trong
các kĩ thuật này thay thế cho hành vi vợ chồng được, là hành vi xứng
đáng duy nhất của việc sinh sản có trách nhiệm.
Để
đáp lại ước muốn của nhiều đôi vợ chồng hiếm muộn muốn có con, cũng nên
khích lệ, thăng tiến và tạo điều kiện dễ dàng - bằng những biện pháp
pháp chế thích hợp - thủ tục nhận nuôi trẻ
mồ côi, còn bao nhiêu em đang cần đến một mái ấm gia đình để được phát
triển thích đáng thành người. Cuối cùng, cũng cần phải khích lệ những
việc nghiên cứu và đầu tư nhằm mục đích ngăn ngừa việc vô sinh.
Thụ thai trong ống nghiệm và việc hủy bỏ các phôi có chủ ý
14. Huấn thị Donum vitae đã lưu ý rằng tiến trình thụ tinh trong ống nghiệm
rất thường bao gồm cả việc loại bỏ cách chủ ý một số phôi nhất định
(26). Một số người nghĩ rằng điều đó là do phần kĩ thuật còn chưa được
hoàn hảo như thế nào đó. Nhưng kinh nghiệm đã cho thấy rằng, trên thực
tế, tất cả các kĩ thuật thụ tinh trong ống nghiệm được tiến hành như thể
phôi người chỉ là một đống tế bào được sử dụng, chọn lọc và loại bỏ.
Đúng
là khoảng một phần ba những phụ nữ nhờ đến phương pháp sinh sản nhân
tạo đã đạt ước nguyện có con. Thế nhưng, phải nhìn nhận rằng khi so sánh
giữa con số toàn thể các phôi được sản sinh và các phôi rốt cuộc đã
thành em bé chào đời, thì con số phôi bị hy sinh vẫn là rất cao
(27). Những phôi bị mất này được các chuyên viên kĩ thuật thụ tinh
trong ống nghiệm chấp nhận như là cái giá phải trả để đạt được những kết
quả tích cực. Thật ra điều đáng lo ngại đó là, trong lãnh vực này, việc
nghiên cứu chủ yếu nhắm tới chỗ đạt được những kết quả tốt nhất xét
theo nghĩa tỉ lệ phần trăm các trẻ sinh ra càng ngày càng cao hơn so với
các phụ nữ bắt đầu việc chữa trị, mà không tỏ ra thực sự quan tâm đối
với quyền sống của mỗi phôi nhi.
15. Người ta thường phản bác lại rằng những tổn thất phôi này trong đa số các trường hợp là không chủ ý hay thậm
chí ngược với ý muốn của các bậc cha mẹ và các y bác sĩ. Họ nói rằng
vấn đề là ở sự rủi ro, một sự rủi ro không khác biệt lắm với sự rủi ro
vốn gắn liền với tiến trình sinh sản tự nhiên; và nếu có ai muốn sinh ra
một sự sống mới mà không chấp nhận rủi ro nào thì thực tế có nghĩa là
người đó tránh truyền lại nó. Dĩ nhiên, tất cả những tổn thất phôi nơi
việc sinh sản trong ống nghiệm không đồng nhất với ý muốn của những
người trong cuộc. Nhưng trong nhiều trường hợp, người ta đã thấy trước
và muốn bỏ đi, hủy diệt hay làm tổn thất phôi.
Các
phôi được sản sinh trong ống nghiệm mà bị khuyết tật đều bị trực tiếp
loại bỏ. Càng ngày càng có nhiều cặp vợ chồng dù không bị vô sinh mà vẫn
nhờ cậy đến kĩ thuật sinh sản nhân tạo với mục đích duy nhất là tiến
hành việc chọn lọc di truyền con cái của họ. Trong nhiều nước hiện nay
có một sự kiện phổ biến, đó là người ta kích thích sự rụng trứng nơi chu
kì người phụ nữ để có được thật nhiều noãn bào mà đem đi thụ tinh. Một
số phôi đạt được mức độ như thế được cấy vào trong tử cung, đang khi
những phôi khác lại được đông lạnh để dùng cho những can thiệp sinh sản
có thể có trong tương lai. Mục đích của việc cấy truyền nhiều như thế là
để bảo đảm tối đa cấy ghép thành công được một phôi. Để đạt đến mục
tiêu này, người ta cấy nhiều phôi hơn đứa con mong đợi, và đang khi đó
đã dự kiến trước một số phôi sẽ bị tổn thất và người ta lại thường tránh
việc mang nhiều thai. Như thế, thực ra kĩ thuật truyền cấy nhiều phôi
này ẩn chứa một thái độ duy lợi đối với các phôi.
Người ta ngạc nhiên khi thấy trong mọi lãnh vực khác của y khoa, cả đạo
đức nghề nghiệp thông thường cũng như các cấp thẩm quyền về y tế sức
khỏe đều không chấp nhận một kĩ thuật lại hàm chứa một tỉ lệ thất bại và
nguy hiểm sinh mạng cao như thế. Thật ra các kĩ thuật thụ tinh trong
ống nghiệm sở dĩ được chấp nhận vì họ giả định rằng ở đây phôi không
xứng đáng để được tôn trọng đầy đủ, và vì nó phải đua tranh với một ước
muốn có con như ý muốn của người ta.
Thực
tế đáng buồn và thường bị người ta lờ đi này là điều hết sức đáng tiếc,
bởi vì «các kĩ thuật sinh sản nhân tạo, xem ra là để phục vụ sự sống và
thường được dùng với ý hướng này, nhưng trên thực tế chúng đã mở ngỏ
cho những tấn công mới nhắm vào sự sống» (28).
16. Hơn nữa, Giáo Hội xem sự tách biệt sinh sản ra khỏi bối cảnh mang tính nhân vị toàn diện của hành vi vợ chồng
là không thể chấp nhận được trên bình diện luân lí (29) : việc sinh sản
của con người là một hành vi có tính nhân vị của cặp vợ chồng không thể
ủy quyền thay thế được. Sự chấp nhận cách vô tư tỉ lệ phá thai rất cao
hàm chứa trong các kĩ thuật thụ tinh trong ống nghiệm chứng minh cách
hùng hồn rằng việc thay thế hành vi vợ chồng bởi một thủ tục kĩ thuật –
ngoài việc không tôn trọng việc sinh sản, vốn không được giản lược thành
chỉ còn là một việc sản xuất – góp phần vào việc làm yếu đi ý thức tôn
trọng phải có đối với mọi hữu thể nhân linh. Ngược lại, thái độ tôn
trọng này được nhìn nhận và phát huy bởi sự thân mật của vợ chồng sống
yêu thương. Giáo Hội nhìn nhận ước muốn có con là hợp pháp, và thông cảm
với những đau khổ của các cặp vợ chồng đang gặp thử thách do những vấn
đề son sẻ. Thế nhưng, ước muốn này không thể được đặt bên trên phẩm giá
của mọi sự sống con người, đến mức như một chúa tể. Ước muốn có một đứa
con không thể biện minh cho «sự sản xuất » ra nó, cũng như ước muốn
không có con không thể biện minh cho việc bỏ đi hay hủy hoại thai nhi.
Thực
ra, người ta có cảm tưởng một số nhà nghiên cứu, vì thiếu hoàn toàn quy
chiếu đạo đức và vì họ biết những tiềm năng của tiến bộ kĩ thuật, nên
đã chịu thua cái lô-gích của ước muốn chủ quan (30) và để mình chịu áp
lực kinh tế, vốn đặc biệt rất mạnh trong lãnh vực này. Đứng trước sự
kiện hữu thể nhân linh ở giai đoạn phôi bị đối xử như dụng cụ, ta cần
phải lặp lại lần nữa rằng «không có kì thị trong tình yêu của Thiên Chúa
giữa một hữu thể nhân linh vừa được thụ thai còn trong dạ mẹ, và em bé
sơ sinh, hay một cô cậu thanh thiếu niên, hay là một người lớn hoặc
người già. Ngài không phân biệt, vì nơi mỗi người trong họ Ngài thấy dấu
ấn của hình ảnh và họa ảnh của Ngài […] Bởi đó Huấn Quyền của Giáo Hội
không ngừng tuyên bố đặc tính linh thánh và bất khả xâm phạm của mỗi sự
sống con người, từ khi thụ thai cho đến lúc kết thúc tự nhiên của sự
sống đó» (31).
Kĩ thuật bơm tinh trùng vào trứng (Intracytoplasmic sperm injection ( ICSI))
17. Kĩ thuật bơm tinh trùng vào trứng (ICSI) là một trong số những kĩ thuật thụ tinh nhân tạo phát triển gần đây đang
dần dần trở nên đặc biệt quan trọng (32). ICSI đã trở nên kĩ thuật
được sử dụng càng ngày càng nhiều, do nó có hiệu quả giúp khắc phục được
những hình thức vô sinh nam khác nhau (33).
Cũng như sự thụ tinh trong ống nghiệm nói chung mà nó là một biến thể, ICSI tự thân là một kĩ thuật bất hợp pháp, vì nó chia cắt hoàn toàn việc sinh sản và hành vi vợ chồng.
Thật vậy, ICSI cũng được «thực hiện bên ngoài cơ thể của đôi vợ chồng,
bởi hành động của đệ tam nhân, là những người có khả năng và kĩ thuật
quyết định sự thành công của việc can thiệp. Như thế nó phó mặc sự sống
và căn tính của phôi cho quyền lực của các y bác sĩ và các nhà sinh học,
và để cho kĩ thuật thống trị trên nguồn gốc và số phận của nhân vị. Một
tương quan thống trị như thế tự nó trái với phẩm giá và sự bình đẳng
chung giữa cha mẹ và con cái. Việc thụ tinh trong ống nghiệm
là kết quả của một hành động kĩ thuật chi phối sự thụ tinh. Sự thụ tinh
đó quả thực không được thực hiện mà cũng không được đôi vợ chồng thực
sự muốn, như là sự diễn tả và là hoa trái của một hành vi đặc thù do vợ
chồng kết hợp» (34).
Kĩ thuật làm đông lạnh phôi (Freezing embryos)
18. Một trong những phương pháp dùng để gia tăng cơ hội thành công cho các kĩ thuật sinh sản trong ống nghiệm
là nhân bội số lần chữa trị liên tiếp. Để không lặp đi lặp lại việc lấy
ra các noãn bào nơi người phụ nữ, người ta lấy nhiều noãn bào một lần
duy nhất, và sau đó giữ đông lạnh một số đáng kể các phôi đã được thụ
tinh trong ống nghiệm (35). Nếu
như lần thử đầu tiên giúp mang thai không thành công, thì tiến hành thủ
tục ấy lần thứ hai, hoặc như trong trường hợp những cha mẹ nào muốn mang
thai thêm một lần khác. Đôi khi, người ta cũng tiến hành làm đông lạnh
cả các phôi định truyền cấy cho lần đầu tiên, bởi vì việc kích thích
trứng rụng bằng hoóc môn trong chu kì nữ giới tạo ra những hiệu quả
khiến ta phải chờ đợi cho đến khi các điều kiện sinh lí được trở lại
bình thường trước khi tiến hành truyền cấy các phôi vào trong dạ mẹ.
Việc bảo quản phôi đông lạnh là hành động thiếu sự tôn trọng cần phải có đối với các phôi người,
bởi nó giả thiết người ta phải sản xuất phôi trong ống nghiệm, và đặt
chúng vào hoàn cảnh nguy tử nghiêm trọng hay làm xâm hại sự toàn vẹn thể
lí của chúng, bởi lẽ số phôi không sống sót sau khi đông lạnh và làm
tan đông lạnh chiếm một tỉ lệ cao. Kĩ thuật này, dẫu ít ra cách tạm
thời, tước bỏ đi sự đón tiếp và ấp ủ của người mẹ thai nghén và đặt sinh
linh bé bỏng ấy trong một hoàn cảnh có nguy cơ bị tổn hại và bị con
người sử dụng tùy tiện về sau (36).
Đa
số các phôi không được sử dụng vẫn là «những trẻ mồ côi ». Cha mẹ chúng
không nhớ đến chúng nữa, và đôi khi người ta làm mất luôn dấu vết của
các cha mẹ này. Đó là lí do tại sao có các ngân hàng với hàng ngàn phôi
đông lạnh trong hầu hết các nước có việc thụ tinh trong ống nghiệm.
19. Đối với rất nhiều phôi đông lạnh đang có,
câu hỏi đặt ra là người ta phải làm gì với chúng. Một số người tự đặt
câu hỏi này mà không hiểu biết bản chất đạo đức của vấn đề, họ chỉ được
thúc đẩy bởi sự đòi hỏi của luật pháp trong một số nước yêu cầu các
trung tâm đông lạnh phôi, sau mỗi một thời kì nào đó, phải thanh lí các
kho lưu trữ phôi, rồi lại chờ đổ đầy chúng một lần nữa. Nhưng một số
khác ý thức được rằng người ta đã phạm phải một sự bất công nghiêm
trọng, và họ băn khoăn tự hỏi làm sao để sửa chữa tốt nhất những bất
công này.
Những ý kiến đề nghị sử dụng các phôi này cho việc nghiên cứu hay cho những mục đích chữa trị
hiển nhiên là không thể chấp nhận được, bởi vì người ta sử dụng chúng
chỉ như là một thứ «vật liệu sinh học », điều này hàm ý hủy hoại chúng.
Sư đề nghị làm tan đông lạnh các phôi này mà không phục hoạt chúng, sử dụng chúng cho việc nghiên cứu như thể đó chỉ là những tử thi, cũng không thể chấp nhận được (37).
Cũng thế, ý kiến đề nghị dùng những phôi này để chữa trị cho các cặp vợ chồng hiếm muộn như là « liệu pháp chữa trị vô sinh » là không
thể chấp nhận về mặt đạo đức cũng bởi chính những lí do đã làm cho việc
sinh sản nhân tạo dị ngẫu và mọi hình thức mang thai thay thế trở nên
bất hợp pháp (38). Hơn nữa, thực hành này còn đưa tới bao nhiêu vấn đề
khác trên bình diện y khoa, tâm lí và pháp lí.
Người
ta cũng đưa ra đề nghị, chỉ nhằm mục đích tạo cơ hội cho các hữu thể
nhân linh được sinh ra thay vì phải bị hủy hoại, một hình thức «nhận con nuôi trước khi sinh» (prenatal adoption).
Giải pháp này đáng được ca ngợi bởi ý hướng tôn trọng và bảo vệ sự sống
con người, tuy nhiên cũng cho có thấy nhiều vấn đề không khác với những
vấn đề đã được nói đến trên đây.
Sau cùng, cần phải công nhận rằng hằng nghìn phôi trong tình trạng bị bỏ rơi thể hiện cả một hoàn cảnh bất công thực tế không thể giải quyết được.
Chính vì thế Đức Gioan Phaolô II đã lên tiếng «kêu gọi lương tâm của
các vị chức trách của thế giới khoa học và cách đặc biệt kêu gọi các bác
sĩ hãy dừng lại việc sản xuất các phôi người, họ cần nhận thấy rằng
không có một giải pháp chính đáng nào về mặt luân lí cho số phận nhân
linh của hàng ngàn phôi «đông lạnh», chúng luôn là và vẫn là những chủ
nhân có những quyền cơ bản, và bởi thế chúng cần phải được bảo vệ về mặt
luật pháp như là những nhân vị» (39).
Kĩ thuật làm đông lạnh các noãn bào (Freezing of oocytes)
20.
Để giải quyết những vấn đề đạo đức nghiêm trọng được đặt ra do việc bảo
quản đông lạnh các phôi, người ta đã đề nghị làm đông lạnh các noãn bào
(tế bào trứng), trong phạm vi các kĩ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (40).
Một khi một số noãn bào thích hợp đã được lấy ra nhằm tiên liệu cho
nhiều vòng sinh sản nhân tạo, người ta chỉ đem đi thụ tinh những noãn
bào nào dự định sẽ được truyền cấy vào cơ thể của người mẹ ; những noãn
bào khác thì được đông lạnh để dành cho sự thụ tinh và truyền cấy trong
tương lai trong trường hợp lần thử đầu bị thất bại.
Về điểm này, cần minh định rằng
việc bảo toàn đông lạnh các noãn bào nhằm tiến hành việc sinh sản nhân
tạo phải được xem là không thể chấp nhận được về mặt luân lí.
Kĩ thuật giảm trừ phôi
21.
Một số kĩ thuật được dùng trong việc sinh sản nhân tạo, nhất là kĩ
thuật truyền nhiều phôi vào trong dạ của người mẹ đã gây ra một sự gia
tăng đáng kể tỉ lệ đa thai. Hoàn cảnh đó khiến người ta nghĩ đến giải
pháp kĩ thuật được gọi là «giảm trừ phôi » (embryo reduction). Đó là một
thủ tục trong đó người ta can thiệp để giảm trừ số phôi hay bào thai
trong dạ người mẹ, bằng cách tiến hành loại chúng trực tiếp. Quyết định
loại bỏ các hữu thể nhân linh như thế, là điều mà trước đó người ta đã
rất khát khao, biểu lộ một nghịch lí, và thường làm cho những người cha
người mẹ ấy phải đau khổ và mang một cảm giác tội lỗi có thể kéo dài
trong nhiều năm.
Từ quan điểm đạo đức, việc giảm trừ phôi là một sự phá thai chủ ý có chọn lọc.
Quả thế, đó là việc loại bỏ có chủ ý và trực tiếp một hay nhiều hữu thể
nhân linh vô tội trong giai đoạn ban đầu của cuộc sống của chúng. Như
thế, nó luôn luôn tạo nên một sự vô trật tự luân lí nghiêm trọng (41).
Những
lí luận được trình bày để biện minh về đạo đức cho việc giảm trừ phôi
thường dựa trên sự loại suy (trường hợp tương tự) từ trường hợp như thảm
họa thiên nhiên hay những hoàn cảnh cấp bách trong đó, dẫu ai cũng muốn
nhưng ta không thể cứu hết tất cả mọi người trong cuộc. Dẫu sao đi nữa,
những loại suy như thế không thể làm cơ sở cho một hành động phá thai
trực tiếp. Trong trường hợp khác, người ta có thể quy chiếu đến những
nguyên tắc luân lí, như nguyên tắc chọn cái ít xấu hơn hay nguyên tắc
song hiệu, nhưng cũng không thể được áp dụng trong trường hợp này. Quả
thật, thực hiện một hành vi bất chính nội tại không bao giờ là chính
đáng cả, cho dẫu để nhắm đến một cứu cánh tốt : mục đích không biện minh cho phương tiện.
Chẩn đoán tiền cấy ghép (Preimplantation diagnosis)
22.
Việc chẩn đoán tiền cấy ghép là một hình thức chẩn đoán trước khi sinh
ra, liên hệ tới những kĩ thuật thụ tinh nhân tạo. Việc ấy bao gồm sự
chẩn đoán di truyền các phôi được tạo ra trong ống nghiệm trước khi được truyền cấy vào dạ người phụ nữ. Kĩ thuật này được dùng với
mục đích bảo đảm chỉ truyền cho bà mẹ những phôi không có khuyết tật
hay những phôi với một giới tính đã xác định hay có một số phẩm chất đặc
biệt nào đó.
Trong
những hình thức chẩn đoán trước khi sinh khác, giai đoạn chẩn đoán tách
bạch khỏi giai đoạn loại bỏ có thể có về sau và trong khoảng cách thời
gian này, các cặp vợ chồng vẫn còn tự do để quyết định đón nhận đứa con
bệnh tật của mình hay không. Sự chẩn đoán tiền cấy ghép thông thường đi
liền sau đó là việc loại bỏ những phôi «đáng ngờ » bị cho là có những
khuyết tật di truyền hay nơi nhiễm sắc thể, hoặc là phôi mang giới tính
hay có những phẩm chất khác không mong muốn. Sự chẩn đoán này – vốn luôn
gắn liền với việc thụ tinh nhân tạo tự nó đã là bất hợp pháp – thực ra
nhằm chọn lọc phẩm chất và hậu quả của nó là sự hủy hoại các phôi, điều đó trong thực tế không gì khác hơn là một hành động phá thai sớm. Như thế việc chẩn đoán tiền cấy ghép bộc lộ não trạng ưu sinh «chấp
nhận phá thai có chọn lọc để ngăn cản sự ra đời của những đứa trẻ bị
những loại khuyết tật dị thường. Não trạng đó xúc phạm phẩm giá con
người và hoàn toàn đáng chê trách, bởi lẽ nó muốn đo lường giá trị của
mạng sống con người chỉ theo những tham số là «sự bình thường» và sự
khỏe mạnh thể lí, từ đó mở đường cho việc giết trẻ sơ sinh và trợ tử
cách hợp pháp» (42).
Khi đối xử với phôi người như chỉ là một thứ «chất liệu phòng thí nghiệm», người đã làm biến đổi và kì thị ngay cả đối với chính ý niệm phẩm giá con người.
Mỗi hữu thể nhân linh có phẩm giá như nhau và phẩm giá ấy không lệ
thuộc vào kế hoạch của cha mẹ, điều kiện xã hội hay giáo dục văn hóa,
cũng không phụ thuộc mức phát triển thể lí. Nếu như, vào những thời gian
khác của lịch sử, người ta chấp nhận cách chung quan niệm cũng như
những yêu sách về phẩm giá con người, dù thực tế vẫn có kì thị do khác
biệt chủng tộc, tôn giáo hay địa vị xã hội, thì ngày nay, vẫn có sự kì
thị cũng nghiêm trọng và bất công không kém đối với các hữu thể nhân
linh có mang các bênh tật nghiêm trọng hay bị tật nguyền, họ không được
nhìn nhận có một tư cách về đạo đức và pháp lí. Người ta quên rằng những
người bệnh và những người khuyết tật không phải là một giới riêng tách
biệt xã hội; bệnh tật hay tật nguyền thuộc về thân phận con người và
liên quan đến hết mọi người, cả khi người ta không có kinh nghiệm trực
tiếp mang bệnh tật. Thái độ phân biệt như thế là phi luân và bởi đó
không thể chấp nhận được về mặt pháp lí; cũng thế, người ta phải loại
trừ những rào chắn văn hóa, kinh tế và xã hội, chúng xói mòn sự nhìn
nhận trọn vẹn và việc bảo vệ những người khuyết tật và những người bệnh.
Những hình thức ngăn cản mang thai mới : ngăn chặn mang thai (interceptive) và loại bỏ phôi thai (contragestative)
23. Bên
cạnh những phương pháp ngừa thai đúng nghĩa ngăn cản việc thụ thai sau
một hành vi tính dục, còn có những phương tiện kĩ thuật khác can thiệp
sau khi trứng đã thụ tinh, nghĩa là khi phôi đã hình thành trước hay sau
khi phôi đã làm tổ ở thành tử cung. Những kĩ thuật này được gọi là kĩ thuật ngăn chặn mang thai (interceptive) khi chúng can thiệp trước khi phôi làm tổ, và được gọi là kĩ thuật loại bỏ phôi thai (sau khi làm tổ) (contragestative) nếu chúng gây ra việc loại bỏ phôi vừa mới làm tổ.
Để
khuyến khích việc truyền bá các phương tiện ngăn chặn mang thai (43),
đôi khi người ta khẳng định rằng cơ chế hoạt động của chúng có lẽ đã
không được biết đến cách đầy đủ. Hẳn là người ta vẫn chưa hiểu biết đầy
đủ về cơ chế hoạt động của các dược phẩm khác nhau đang được sử dụng.
Nhưng những nghiên cứu khoa học cho thấy rằng hiệu quả việc ngăn chặn phôi làm tổ là có thực,
cho dẫu điều đó không có nghĩa là các phương tiện ngăn chặn mang thai
đó gây ra một việc phá thai mỗi lần chúng được sử dụng, và bởi vì một
quan hệ tính dục không phải lúc nào cũng tạo ra sự thụ thai. Tuy nhiên,
cần lưu ý rằng, ai muốn ngăn chặn việc phôi làm tổ và yêu cầu hay kê toa
những dược phẩm như thế, thì nói chung họ đã có ý hướng phá thai rồi.
Khi
nhận thấy kinh nguyệt bị chậm trễ, thì có khi người ta lại cậy nhờ đến
kĩ thuật loại bỏ phôi thai (44), kĩ thuật thường được dùng trong thời
gian khoảng một đến hai tuần sau khi nhận thấy kinh nguyệt chậm trễ. Mục
tiêu được tuyên bố là tái lập kinh nguyệt bình thường, nhưng thực ra đó
là việc phá phôi thai vừa làm tổ.
Như
chúng ta biết, phá thai là «sự giết người có chủ ý và trực tiếp, dù làm
bằng cách nào đi nữa, giết chết một hữu thể nhân linh trong giai đoạn
đầu, kể từ khi thụ thai cho tới lúc sinh ra, của cuộc sống của nó» (45).
Vì thế, việc sử dụng các phương tiện ngăn chặn mang thai và loại bỏ
phôi thai đều thuộc về tội phá thai và
vẫn là một hành vi phi luân nghiêm trọng. Hơn nữa, khi biết chắc mình
đã gây ra một việc phá thai thì, theo giáo luật, người ta còn chuốc lấy
những hệ quả hình phạt nghiêm trọng (46).
PHẦN THỨ BA
NHỮNG TRỊ LIỆU MỚI LIÊN HỆ TỚI SỰ CẢI BIẾN PHÔI
VÀ GIA SẢN DI TRUYỀN CỦA CON NGƯỜI
24.
Những kiến thức gặt hái được trong những năm qua đã mở ra những viễn
ảnh mới cho cả y học tái tạo (regenerative medecine) lẫn việc chữa trị
các bệnh tật do di truyền. Khác với trường hợp của nghiên cứu trên các tế bào gốc trưởng thành, việc nghiên cứu trên các tế bào gốc phôi thai
và những áp dụng điều trị có thể có trong tương lai, một cách đặc biệt,
đã khơi dậy một sự quan tâm lớn lao, mặc dù cho đến nay những nghiên
cứu ấy chưa tạo ra những kết quả thực tế nào. Kể từ khi một số người cho
rằng những mục tiêu điều trị có thể đạt tới được về sau nhờ những tế
bào gốc phôi thai có thể biện minh cho những hình thức cải biến
(manipulation) và hủy hoại phôi người khác nhau, xuất hiện cả một loạt
những vấn nạn trong lãnh vực liệu pháp gien, từ kĩ thuật nhân bản vô
tính (cloning) cho đến việc sử dụng các tế bào gốc (stem cells), đòi ta
phải có một sự phân định cẩn thận về mặt luân lí.
Liệu pháp gien (Gene therapy)
25. Liệu pháp gien
cách chung muốn nói đến việc ứng dụng trên con người những kĩ thuật của
công nghệ di truyền với mục đích điều trị, tức là nhằm chữa trị các
bệnh di truyền, dù từ ít lâu nay người ta muốn áp dụng liệu pháp gien
trong khuôn khổ của việc chữa trị các bệnh tật không di truyền, và đặc
biệt là bệnh ung thư.
Về
mặt lí thuyết, có thể áp dụng liệu pháp gien ở hai cấp độ : cấp độ của
các tế bào thân (somatic cells) và cấp độ các tế bào mầm (germ line
cells). Liệu pháp gien trên các tế bào thân (somatic cell gene therapy) muốn
loại bỏ hay giảm trừ các khuyết tật di truyền hiện diện ở cấp độ các tế
bào thân, tức là những tế bào không sinh sản, bao gồm các mô và các bộ
phận của thân thể. Đây là trường hợp của những can thiệp nhắm đến cá thể
những tế bào nhất định, với những hệ quả được giới hạn cho chỉ một mình
cá nhân người chữa trị. Trái lại, liệu pháp gien trên các tế bào mầm (germ line cell therapy) nhắm
sửa chữa những khuyết tật di truyền nơi các tế bào mầm, để những hiệu
quả trị liệu đạt được có thể được thông truyền cho con cháu về sau của
mình. Những can thiệp liệu pháp gien trên các tế bào thân cũng như trên
tế bào mầm này có thể được thực hiện trên bào thai trước khi sinh (liệu pháp gien trong tử cung) hay sau khi sinh (trên đứa trẻ hay trên người lớn).
26. Để đánh giá về luân lí người ta cần lưu tâm đến những phân biệt sau đây. Những can thiệp trên tế bào thân chỉ hoàn toàn nhằm mục đích điều trị, về nguyên tắc, là hợp pháp về mặt luân lí.
Những can thiệp này muốn tái tạo cấu hình di truyền bình thường của
bệnh nhân hay đền bù những thiệt hại gây ra bởi những dị thường di
truyền hay do những chứng bệnh khác liên hệ. Vì liệu pháp gien có thể ẩn
chứa những nguy cơ lớn đối với bệnh nhân, nên cần phải tuân thủ nguyên
tắc chung về đạo đức nghề nghiệp, theo nguyên tắc đó để tiến hành một
can thiệp điều trị, cần thiết phải bảo đảm trước rằng bệnh nhân được
điều trị sẽ không gặp những nguy hiểm (cho sức khỏe hay cho sự toàn vẹn
thân thể của mình) thái quá hay nguy cơ mà mức độ không tương xứng với
sự trầm trọng của căn bệnh muốn chữa trị. Cũng đòi hỏi phải có sự ưng
thuận rõ ràng của bệnh nhận hay của người đại diện hợp pháp của người
bệnh.
Trái lại, đánh giá luân lí về liệu pháp gien trên tế bào mầm,
thì khác. Mọi biến đổi gien thực hiện nơi các tế bào mầm của một người
chắc chắn sẽ được truyền lại cho con cháu tương lai của người ấy. Vì
những nguy cơ gắn liền với mọi cải biến di truyền là đáng kể và còn ít
được kiểm soát, nên về mặt luân lí,
trong tình trạng hiện nay của việc nghiên cứu, không thể chấp nhận những
hành động liều lĩnh có thể gây những tổn hại khả dĩ truyền lại cho con
cái. Trong những giả định áp dụng liệu pháp gien cho phôi, cũng
cần phải nói thêm rằng người ta chỉ có thể thực hiện điều đó trong khuôn
khổ kĩ thuật thụ tinh trong ống nghiệm,
đó lại là điều bị phản đối về mặt đạo đức. Vì những lí do đó, cần phải
khẳng định rằng trong tình trạng hiện nay liệu pháp gien trên tế bào mầm
dưới mọi hình thức đều bất hợp pháp về mặt luân lí.
27. Vấn đề sử dụng công nghệ di truyền cho những mục đích khác với việc trị liệu cũng cần phải được xem xét cách
riêng. Một số người nghĩ rằng có thể sử dụng những kĩ thuật của công
nghệ di truyền để thực hiện những cải biến với mục đích cải tiến hay
củng cố vốn di truyền. Một số ý kiến theo hướng này tỏ ra không thỏa
đáng hay thậm chí họ chối bỏ cả giá trị con người như là thụ tạo và là
nhân vị hữu hạn. Ngoài những khó khăn kĩ thuật, với tất cả những nguy cơ
hiện thực và tiềm tàng gắn liền với chúng, rõ ràng những cải biến như
thế còn khuyến khích một não trạng ưu sinh và gián tiếp tạo ra trong xã
hội một thái độ khinh thường đối với những người không có những phẩm
chất nào đó, đang khi lại đề cao những phẩm chất được các nền văn hóa và
xã hội nhất định ưa thích, những phẩm chất ấy lại không phải những phẩm
chất đặc thù của con người. Điều đó trái ngược với chân lí nền tảng mọi
người đều bình đẳng, thường được diễn tả qua nguyên tắc công bằng, mà
nếu nguyên tắc ấy bị vi phạm dần dà, cuối cùng rồi cũng sẽ làm hại đến
sự chung sống hòa bình giữa các cá nhân. Hơn nữa, người ta tự hỏi ai sẽ
là người xác định những can thiệp biến đổi này thì tích cực và những
biến đổi kia thì không, và đâu là giới hạn phải đặt ra đối với các yêu
sách cá nhân muốn cải tiến, bởi vì thực tế người ta không thể đáp ứng
được ước muốn của từng người. Dù sao đi nữa, câu trả lời nào cho những
câu hỏi này cũng đều dựa trên những tiêu chuẩn tùy hứng và không chắc
chắn. Tất cả những điều đó cho phép ta kết luận rằng một viễn tượng can
thiệp như thế, rốt cuộc, sớm hay muộn rồi cũng sẽ làm hại đến công ích,
bởi vì nó làm thỏa mãn ý muốn của một số người mà coi thường tự do của
những người khác. Sau cùng, cũng nên lưu ý rằng, trong ý định muốn tạo
ra một loại người mới, lộ ra một thứ ý thức hệ trong đó con người có tham vọng thay thế Đấng Tạo Hóa của mình.
Khi khẳng định sự tiêu cực về đạo đức của những kiểu can thiệp này vốn hàm ẩn một sự thống trị bất công của con người đối với người,
Giáo Hội cũng nhắc nhở cần thiết phải trở về với viễn ảnh chăm sóc con
người và giáo dục bằng cách đón nhận sự sống con người trong bản tính
hữu hạn lịch sử cụ thể của nó.
Kĩ thuật nhân bản vô tính trên người (human cloning)
28.
Thuật ngữ nhân bản vô tính trên người chỉ việc sinh sản vô tính
(asexual) và vô giao (agametic) toàn thể cơ thể người để sản xuất ra một
hay nhiều «bản sao» về thực chất giống với nguyên bản độc nhất về mặt
di truyền (47).
Nhân bản vô tính được đề nghị với hai mục tiêu căn bản : mục tiêu sinh sản, tức là nhằm sinh ra một đứa con, và mục tiêu kia là điều trị hay
nghiên cứu. Về mặt lí thuyết, sinh sản vô tính có thể đáp ứng một số
yêu cầu đặc biệt như kiểm soát sự tiến hóa của con người, chọn lọc con
người với những phẩm chất siêu đẳng, chọn lọc trước giới tính của đứa
trẻ sắp sinh ra, sản sinh ra một đứa trẻ là «bản sao» của một người
khác, sản sinh ra một đứa con cho đôi vợ chồng bị hiếm muộn không thành
công trong các cách chữa trị khác. Trái lại, việc nhân bản vô tính điều
trị được đề nghị như là phương tiện sản sinh ra những tế bào gốc phôi
thai có một gia sản di truyền được xác định trước, nhằm khắc phục vấn đề
loại bỏ hệ thống miễn dịch; bởi thế, kĩ thuật này gắn liến với vấn đề
sử dụng các tế bào gốc phôi thai.
Những
nỗ lực nhân bản vô tính đã khơi lên mối quan ngại rất lớn trên toàn thế
giới. Nhiều tổ chức cấp quốc gia và quốc tế đã bày tỏ những đánh giá
tiêu cực đối với việc nhân bản vô tính trên con người và, nó đã bị cấm
trong đại đa số các nước.
Nhân
bản vô tính trên con người tự bản chất là bất hợp pháp, vì nó đẩy sự
tiêu cực về đạo đức của kĩ thuật thụ tinh nhân tạo đến cực độ, nó muốn tạo sinh một con người mới mà không có chút liên hệ gì với hành vi trao hiến giữa vợ và chồng, và cực đoan hơn nữa, nó không có liên hệ nào với giới tính. Tình trạng này đưa tới những cải biến và lạm dụng xâm hại nghiêm trọng đến phẩm giá nhân vị (48).
29. Nếu nhân bản vô tính nhằm mục đích sản xuất,
thì chủ thể được tạo thành sẽ bị áp đặt bởi một gia sản di truyền đã
được định trước, thực tế người ta bắt nó phải chịu phục tùng một hình
thức nô lệ sinh học mà nó khó có
thể được giải thoát. Một người mà tự cho mình quyền hạn quyết định cách
tùy tiện những đặc tính di truyền của một người khác, là một sự xúc phạm nghiêm trọng đối với phẩm giá của người ấy và xúc phạm tới sự bình đẳng cơ bản giữa người với người.
Nét
độc đáo của mỗi người xuất phát từ mối tương quan riêng biệt giữa Thiên
Chúa và con người từ những giây phút đầu tiên của cuộc sống của mình.
Điều đó bó buộc người ta phải tôn trọng tính độc đáo và sự toàn vẹn của
người ấy, cả trên bình diện sinh học lẫn di truyền. Mỗi người chúng ta
gặp gỡ nơi người khác một con người chịu ơn tình yêu của Thiên Chúa về
cuộc sống và những đặc tính riêng của mình, và chỉ có tình yêu giữa vợ
và chồng mới là trung gian phù hợp với kế hoạch của Đấng Tạo Hóa và là
Cha trên trời.
30. Cái gọi là nhân bản vô tính nhằm mục đích điều trị
còn nghiêm trọng hơn nữa xét trên bình diện đạo đức. Tạo nên những phôi
thai với ý định sẽ hủy diệt chúng, là hoàn toàn không phù hợp với phẩm
giá nhân vị, cho dầu với ý hướng là trợ giúp những người bệnh, vì điều
đó biến cuộc sống của một con người, dù ở giai đoạn phôi thai, thành
không gì khác hơn một phương tiện để sử dụng và để hủy hoại. Hy sinh mạng sống một con người với mục đích điều trị là một điều hết sức phi luân.
Do nhiều người ở nhiều lãnh vực chống đối việc nhân bản vô tính để điều trị và chống việc sử dụng phôi người được sản xuất trong ống nghiệm,
một số nhà khoa học đã đề nghị những kĩ thuật mới, được giới thiệu như
là có khả năng sản xuất ra các tế bào gốc kiểu phôi không giả thiết phải
hủy diệt các phôi người thật (49). Những đề nghị này đã khơi lên nhiều
nghi vấn ở cấp độ khoa học và đạo đức học, đặc biệt là những gì liên
quan đến quy chế hữu thể học của «sản phẩm» đạt được bằng cách đó. Bao
lâu những nghi ngại này chưa được làm sáng tỏ, thì người ta cần phải lưu
tâm đến những gì mà thông điệp Evangelium vitae
đã khẳng định : «vấn đề ấy rất là quan trọng vì, từ quan điểm bó buộc
luân lí, chỉ cần có một chút xác suất ta đối diện với một con người thôi
cũng đủ để có một mệnh lệnh cấm đoán rõ ràng cấm mọi sự can thiệp dẫn
đến việc hủy diệt phôi người » (50).
Việc sử dụng các tế bào gốc nhằm điều trị
31.
Các tế bào gốc là những tế bào không biệt hóa có hai đặc điểm căn
bản sau đây: a) khả năng vững bền tự nhân bội mà bản thân vẫn không bị
biệt hóa ; b) khả năng sinh ra những tế bào mẹ chuyển tiếp, từ đó phát
xuất ra những tế bào biệt hóa cao, chẳng hạn như các tế bào thần kinh,
tế bào cơ, tế bào máu.
Từ
khi thực nghiệm chứng minh rằng các tế bào gốc, khi được cấy vào một mô
bị hư hỏng, có khuynh hướng giúp phát triển các tế bào và tái sinh lại
mô này, thì những viễn ảnh mới được mở ra cho khoa y học tái tạo, và từ
đó khơi lên một sự quan tâm lớn lao giữa các nhà nghiên cứu trên toàn
thế giới.
Nơi
con người, những nguồn của các tế bào gốc cho đến nay được xác định
là : phôi ở những giai đoạn phát triển đầu tiên của nó, thai, máu của
dây rốn, những mô khác nhau nơi người trưởng thành (tủy xương, dây rốn,
não, trung mô của các cơ quan …) và nước ối. Lúc đầu, những công trình
nghiên cứu tập trung vào các tế bào gốc từ phôi
vì người ta nghĩ rằng chỉ những tế bào gốc phôi mới có nhiều khả năng
nhân bội và biệt hóa. Thế nhưng, nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy
rằng các tế bào gốc từ người lớn
cũng cho thấy chúng có khả năng linh hoạt lớn. Cho dù những tế bào này
có vẻ không có cùng khả năng làm mới và cùng độ mềm dẻo như các tế bào
gốc lấy từ phôi, nhưng những nghiên cứu và thí nghiệm khoa học sâu xa
hơn cho thấy những tế bào này cho những kết quả tích cực hơn các tế bào
gốc từ phôi. Các hình thức điều trị đang thịnh hành hiện nay dự kiến sử
dụng các tế bào gốc từ người lớn và nhiều hướng nghiên cứu đã được triển
khai mở ra những chân trời mới đầy hứa hẹn.
32. Để lượng giá về mặt đạo đức, ta cần phải xem xét những phương pháp lấy các tế bào gốc cũng như những nguy cơ liên hệ tới việc sử dụng điều trị hay thí nghiệm.
Về
các phương pháp được sử dụng để thu tập các tế bào gốc, người ta cần
phải xét đến nguồn gốc của chúng. Những phương pháp không gây hại nghiêm
trọng cho người được lấy tế bào gốc đều được xem là hợp pháp. Cách
chung, điều kiện này được chứng thực nơi những trường hợp sau : lấy a) mô của một cơ thể trưởng thành; b) máu của dây rốn vào lúc sinh; c)
các mô bào thai đã chết bởi một nguyên nhân tự nhiên. Ngược lại, lấy
các tế bào gốc từ một phôi người còn sống chắc chắn sẽ làm cho nó chết
và bởi thế, điều đó là hết sức bất hợp pháp. Trong trường hợp này, «cho
dù các kết quả có ích lợi điều trị như thế nào, thì việc nghiên cứu
không còn thực sự nhằm phục vụ nhân loại nữa. Quả thật, việc nghiên cứu
này như thế là đã hủy diệt các mạng sống của con người vốn có một phẩm
giá ngang hàng với các nhân vị khác và với chính các nhà nghiên cứu.
Chính lịch sử đã kết án trong quá khứ và sẽ còn kết án trong tương lai
thứ khoa học như thế, không chỉ vì nó thiếu vắng ánh sáng của Thiên
Chúa, nhưng còn vì nó thiếu cả nhân tính nữa» (51).
Việc
sử dụng các tế bào gốc từ phôi hay các tế bào đã biệt hóa phát xuất từ
đó – ngay cả khi chúng được cung cấp bởi các nhà nghiên cứu khác – do sự
hủy diệt phôi hay phôi bị thương mại hóa, đặt ra những vấn đề nghiêm
trọng do cộng tác vào điều ác và gây gương mù (52).
Việc
sử dụng nhằm mục tiêu điều trị các tế bào gốc lấy được từ các phương
thế hợp pháp thì không có gì phải bị phản đối về mặt luân lí. Tuy nhiên,
cần phải tôn trọng các tiêu chuẩn chung của khoa đạo đức y học. Việc sử
dụng này cần phải được tiến hành với độ chính xác khoa học và thận
trọng, làm sao để giảm thiểu tối đa những nguy hiểm có thể xảy ra đối
với bệnh nhân, và bằng cách tạo điều kiện cho các nhà khoa học trao đổi
với nhau và cung cấp thông tin đầy đủ cho đại chúng.
Cần khuyến khích gia tăng và ủng hộ việc nghiên cứu các tế bào gốc trưởng thành, xét vì nó không có những vấn đề đạo đức (53).
Những cố gắng lai tạo
33.
Thời gian gần đây, noãn bào động vật đã được dùng để tái lập trình các
nhân tế bào thân của con người. Phương pháp này, nói chung được gọi là
phương pháp nhân bản lai tạo, có mục đích trích lấy các tế bào gốc kiểu phôi từ các phôi có được mà không cần phải sử dụng các noãn bào người.
Từ quan điểm đạo đức, các phương pháp như thế là một sự xúc phạm đến phẩm giá của con người vì đã pha trộn các yếu tố di truyền người và súc vật, điều đó có thể làm phá vỡ căn tính đặc thù của con người.
Việc sử dụng các tế bào gốc được lấy ra từ những phôi này như thế có
thể bao hàm những nguy cơ nào đó còn chưa được biết đến đối với sức
khỏe, do sự có mặt của chất liệu di truyền súc vật trong tế bào chất của
chúng. Đặt một con người một cách ý thức trước những nguy cơ này là
không thể chấp nhận được xét về mặt luân lí và đạo đức nghề nghiệp.
Việc sử dụng «chất liệu sinh học» người từ nguồn gốc bất hợp pháp
34.
Để phục vụ cho việc nghiên cứu khoa học và sản xuất các vắc-xin hay
những sản phẩm khác, thỉnh thoảng người ta dùng những dòng tế bào mà đó
lại là kết quả thu được từ một can thiệp bất hợp pháp nào đó chống lại
sự sống và sự toàn vẹn thể lí của con người. Sự liên can tới hành vi bất
chính có thể là trực tiếp hay gián tiếp, vì nói chung đó là những tế
bào được sản sinh cách dễ dàng và rất dồi dào. «Chất liệu» này đôi khi
được thương mại hóa hay được phân phối miễn phí ở những trung tâm nghiên
cứu của các tổ chức chính phủ được luật pháp cho phép. Tất cả những
điều đó khơi lên những vấn đề đạo đưc khác nhau liên quan tới sự cộng tác với điều xấu và điều tai tiếng.
Bởi thế, cần phải công bố những nguyên tắc chung nhờ đó những người có
lương tâm ngay thẳng có thể đánh giá và giải quyết trong những hoàn cảnh
mà họ rất có thể bị liên lụy trong hoạt động nghề nghiệp của mình.
Trước
tiên, cần phải nhớ rằng phạm trù phá thai «cũng được áp dụng cho các
hình thức can thiệp gần đây trên phôi người cho dẫu được tiến hành với
những mục đích tự chúng là hợp pháp nhưng hàm chứa việc giết các phôi
thai. Đó là trường hợp các thí nghiệm trên phôi người
mà càng ngày càng thấy phổ biến trong lãnh vực nghiên cứu y sinh học,
và được thừa nhận về mặt pháp lí trong một số quốc gia […]. Việc sử dụng
phôi hay thai người như những đồ vật thí nghiệm là một tội ác chống lại
phẩm giá con người, vì phôi thai người cũng có quyền được tôn trọng
bình đẳng như phải tôn trọng đối với một trẻ em đã sinh ra đời và cũng
như đối với tất cả mọi người » (54). Những hình thức thí nghiệm này luôn
là một sự xáo trộn luân lí nghiêm trọng (55).
35.
Một trường hợp khác cần được lưu ý là khi các nhà nghiên cứu sử dụng
«chất liệu sinh học» có nguồn gốc bất hợp pháp, được sản xuất từ bên
ngoài trung tâm nghiên cứu của họ hay do mua bán đổi chác. Huấn thị Donum Vitae
đã trình bày nguyên tắc chung phải tuân giữ trong trường hợp sau đây :
« Các thây của phôi hay thai người, dẫu có bị phá cách chủ ý hay không,
cũng cần phải được tôn trọng như những thi hài của những con người khác.
Đặc biệt, người ta không được phép cắt xẻo hay mổ xác nếu chưa xác định
được chắc chắn chúng đã chết, và nếu chưa có sự ưng thuận của cha mẹ
hay của người mẹ. Hơn nữa, một đòi hỏi luân lí cần phải được bảo đảm, đó
là không được phép đồng lõa trong việc phá thai chủ ý, cũng như phải
loại trừ mọi nguy cơ gây gương xấu » (56).
Về vấn đề này, tiêu chuẩn độc lập được một số ủy ban đạo đức đưa ra vẫn chưa đủ.
Theo tiêu chuẩn này, việc sử dụng «chất liệu sinh học» có nguồn gốc bất
hợp pháp sẽ được phép về mặt đạo đức với điều kiện là, luôn phải có một
sự tách rời rạch ròi giữa, một bên là những người sản xuất, làm đông
lạnh và cho giết chết các phôi, và bên kia là những nhà nghiên cứu triển
khai các thí nghiệm khoa học. Tiêu chuẩn độc lập không thể tránh được
một sự mâu thuẫn trong thái độ của người nói không chấp thuận sự bất chính do những người khác, nhưng đồng thời lại chấp nhận,
vì công việc của mình, «chất liệu sinh học» do những người kia làm ra
cách bất chính. Khi điều bất hợp pháp lại được luật pháp điều hành hệ
thống y tế và nghiên cứu khoa học thông qua, thì người ta buộc phải tách
ly mình ra khỏi những khía cạnh bất chính của hệ thống này để không gây
cho người khác tưởng lầm mình dung túng tới mức nào đó hay mình ngầm
chấp thuận các hành động tội lỗi nghiêm trọng như thế (57). Mọi vẻ biểu
hiện như chấp nhận hẳn góp phần làm cho ngày càng gia tăng hơn thái độ
dửng dưng, nếu không muốn nói là đồng thuận, đối với những hành vi tội
lỗi như thế trong một số giới y khoa và chính trị.
Đôi
khi người ta phản bác và cho rằng những xét nét trên đây dường như giả
thiết những nhà nghiên cứu có lương tâm ngay lành có nghĩa vụ phải chủ
động đối lập với mọi hành vi bất hợp pháp trong lãnh vực y khoa, như thế
là đã mở rộng thái quá trách nhiệm luân lí của họ. Thực ra, nghĩa vụ
tránh cộng tác vào điều xấu và điều gây cớ vấp phạm liên hệ đến các hoạt
động nghề nghiệp thường ngày của họ, các hoạt động mà họ cần phải định
hướng cách đúng đắn và qua đó họ phải làm chứng cho giá trị của sự sống,
bằng cách chống lại những luật lệ bất công nghiêm trọng. Vì thế, cần
phải nói rõ rằng người ta có nghĩa vụ phải từ chối «chất liệu sinh học»
này, cho dẫu không có một liên hệ gần gũi nào giữa các nhà nghiên cứu
với các nhà kĩ thuật thực hiện việc thụ tinh nhân tạo hay phá thai, và
không có một thỏa thuận nào trước với những trung tâm thụ tinh nhân tạo.
Nghĩa vụ này phát xuất từ nghĩa vụ phải tách ly mình ra, trong phạm vi hoạt động nghiên cứu của mình, khỏi một khuôn khổ pháp chế bất công nghiêm trọng và phải khẳng định cách rõ ràng giá trị của sự sống con người. Do đó, tiêu chuẩn độc lập nói trên là cần thiết, nhưng không đủ theo quan điểm đạo đức.
Dĩ nhiện, trong bối cảnh chung này có những mức độ trách nhiệm khác biệt.
Những lí do nghiêm trọng có thể tương xứng về mặt luân lí để biện minh
cho việc sử dụng «chất liệu sinh học» này. Chẳng hạn, khi đứng trước
nguy cơ đe dọa sức khỏe của con cái, các cha mẹ có thể cho phép sử dụng
một thứ vắc-xin vốn được làm ra từ những dòng tế bào có nguồn gốc bất
hợp pháp, trong khi họ vẫn phải biểu lộ sự bất đồng ý kiến về vấn đề này
và vẫn có bổn phận phải yêu cầu các hệ thống y tế làm ra các loại
vắc-xin khác để sử dụng. Đàng khác, trong những doanh nghiệp sử dụng các
dòng tế bào có nguồn gốc bất hợp pháp, trách nhiệm của những người
quyết định hướng sản xuất và trách nhiệm của những người không có quyền
quyết định không như nhau.
Trong bối cảnh hiện nay với nhu cầu cấp bách động viên các lương tâm ủng hộ sự sống,
cần phải nhắc nhở những người làm công tác y tế rằng «ngày nay, trách
nhiệm của họ càng gia tăng. Trách nhiệm ấy được gợi hứng sâu xa nhất và
tìm được sự ủng hộ mạnh mẽ nhất chính ở nơi chiều kích luân lí vốn nội
tại và không chối bỏ được của nghề nghiệp y tế, là điều đã được nhìn
nhận rồi nơi Lời thề Hippocrate
xưa mà vẫn luôn hiện thực, lời thề đó yêu cầu mọi y sĩ phải cam kết tôn
trọng tuyệt đối sự sống con người và tính chất thánh thiêng của sự sống
ấy» (58).
KẾT LUẬN
36.
Giáo huấn luân lí của Giáo Hội đôi khi đã bị cáo buộc chứa đựng quá
nhiều cấm đoán. Thực ra, giáo huấn ấy được xây dựng trên sự nhìn nhận và
làm tăng trưởng mọi ân huệ mà Đấng Tạo Hóa đã ban cho con người, như sự
sống, tri thức, sự tự do và tình yêu. Vì thế, không chỉ các hoạt động
tri thức của con người mới xứng đáng được quý trọng, nhưng cả những hoạt
động thực tiễn như lao động và hoạt động kĩ thuật nữa. Nhờ những hoạt
động thực tiễn này, con người tham dự vào quyền năng tạo dựng của Thiên
Chúa và được kêu gọi biến đối công trình tạo dựng, bằng cách sắp xếp vô
vàn tài nguyên hướng đến phục vụ cho phẩm giá và phúc lợi của tất cả mọi
người và của toàn thể con người, và như thế con người còn trở nên người
canh giữ giá trị và vẻ đẹp nội tại của tạo thành.
Tuy
nhiên, lịch sử nhân loại cho thấy con người đã và còn tiếp tục lạm dụng
như thế nào các quyền hạn và các khả năng mà Thiên Chúa đã trao cho,
gây nên nhiều hình thức kì thị và áp bức bất công
đối với những người yếu thế nhất và những người không có chút khả năng
tự vệ nào cả. Những tấn công hằng ngày chống lại sự sống con người; cuộc
sống của những vùng nghèo rộng lớn ở đó con người chết vì đói khát và
bệnh tật, không hề biết đến những nguồn tri thức lí thuyết và thực hành
vốn sẵn có dồi dào ở nhiều nước; sự phát triển kĩ thuật công nghệ và
công nghiệp đang gây ra nguy cơ cụ thể có thể làm sụp đổ hệ thống sinh
thái; việc sử dụng các nghiên cứu khoa học trong vật lí, hóa học và sinh
học với mục đích chiến tranh; rất nhiều xung đột vẫn còn tiếp tục chia
rẽ các dân tộc và các nền văn hóa. Tất cả những điều này này, đáng buồn
thay, chỉ mới là một vài trong các dấu chỉ hiển nhiên nhất nói lên một
thực tế là con người đã sử dụng sai trái các khả năng của mình và trở
thành kẻ thù xấu nhất của chính mình, con người đánh mất đi ý thức về ơn
gọi cao cả và đặc biệt của mình như là người cộng tác vào công trình
tạo dựng của Thiên Chúa.
Đồng thời , lịch sử nhân loại cũng cho thấy những tiến bộ thực sự trong sự hiểu biết và nhìn nhận giá trị và phẩm giá của mỗi nhân vị
như là nền tảng của các quyền và những mệnh lệnh đạo đức, nhờ đó xã hội
loài người đã và vẫn còn đang được xây dựng. Do đó chính nhân danh sự
thăng tiến phẩm giá của con người mà những thực hành và thái độ gây hại
phẩm giá đó đã bị cấm. Chẳng hạn, có các biện pháp chính trị và pháp lí –
chứ không chỉ là cấm đoán đạo đức – chống sự kì thị chủng tộc và các
hình thức nộ lệ khác nhau, chống những sự phân biệt bất công và gạt ra
bền lề những người phụ nữ, trẻ em, những người bệnh hay khuyết tật.
Những cấm đoán ấy là một bằng chứng rõ ràng cho giá trị bất khả nhượng
và phẩm giá nội tại của mỗi con người và là dấu chỉ của một sự tiến bộ
đích thực của lịch sử nhân loại. Nói cách khác, sự hợp pháp của mọi lệnh
cấm đoán được xây dựng trên cơ sở nhu cầu bảo vệ sự thiện luân lí đích
thực.
37.
Nếu sự tiến bộ của con người và xã hội ban đầu được đánh dấu bởi sự
phát triển công nghiệp và sản xuất các hàng hóa tiêu thụ, thì ngày nay
lại được đặc trưng bởi sự phát triển của công nghệ thông tin, của những
nghiên cứu trong lãnh vực về di truyền, y khoa và công nghệ sinh học ứng
dụng cho con người. Đó là những lĩnh vực rất quan trọng cho tương lai
của nhân loại, nhưng ở đó cũng cho thấy có những lạm dụng rõ ràng và
không thể chấp nhận được. «Cách nay một thế kỷ, chính giai cấp công nhân
đã bị áp bức trong các quyền căn bản của mình, và Giáo Hội đã can đảm
bảo vệ họ bằng cách tuyên bố các quyền linh thánh của nhân vị của người
lao động. Cũng thế, ngày nay, khi một nhóm người (phạm trù những nhân
vị) khác bị ức hiếp nơi quyền sống căn bản của mình, Giáo Hội, cũng với
một sự can đảm như thế, cảm thấy mình có bổn phận phải lên tiếng nói
thay cho những người không có tiếng nói. Tiếng nói của Giáo Hội luôn là
một tiếng kêu Tin Mừng bênh vực những người nghèo của thế giới, những
người bị đe dọa, bị khinh thường và những người mà nhân quyền của họ bị
chà đạp» (59).
Do
sứ vụ của mình, vốn thuộc về lãnh vực giáo thuyết và mục vụ của Giáo
Hội, Bộ Giáo Lý Đức Tin cảm thấy có bổn phận phải tái khẳng định phẩm
giá và các quyền căn bản và bất khả nhượng của mỗi cá thể người, ngay từ
những giai đoạn đầu tiên của cuộc sống mình, và làm sáng tỏ những đòi
hỏi, bởi sự nhìn nhận phẩm giá này, mỗi con người dù ở giai đoạn nào của
cuộc sống mình đều cần phải được bảo vệ và tôn trọng.
Thực
thi nhiệm vụ này bao hàm một sự can đảm chống lại mọi thực hành do một
sự kì thị bất công nghiêm trọng đối với các hữu thể nhân linh chưa được
sinh ra, vốn có một phẩm giá nhân vị, cũng được tạo dựng theo hình ảnh
của Thiên Chúa. Trong nỗ lực phân định giữa điều tốt và điều xấu, đằng
sau mỗi tiếng «không» từ chối chính là một tiếng «vâng» tuyệt vời nhìn
nhận phẩm giá và giá trị bất khả nhượng của mỗi hữu thể nhân linh, độc
đáo và duy nhất, được kêu gọi đi vào hiện hữu.
Các
tín hữu sẽ dấn thân mạnh mẽ phát triển một nền văn hóa sự sống mới,
bằng cách đón nhận những nội dung của Huấn thị này với tinh thần đồng
thuận trong đức tin, và nhận biết rằng Thiên Chúa luôn ban ân sủng cần
thiết để ta có thể tuân giữ những giới răn của Người và nơi mọi hữu thể
nhân linh, đặc biệt nơi những người bé nhỏ nhất, họ gặp gỡ chính Chúa
Kitô (x. Mt 25, 40). Tất cả những người thiện chí, nhất là các bác sĩ và
những nhà nghiên cứu có tinh thần cởi mở đối thoại và khao khát tìm
biết chân lí, cũng sẽ hiểu và đón nhận những nguyên tắc và những đánh
giá này, là nhằm bảo vệ thân phận mỏng manh của hữu thể nhân linh trong
những giai đoạn đầu tiên của sự sống và để cổ võ một nền văn minh nhân
bản hơn.
Huấn thị này đã được thông qua trong Khóa họp thường kì của Bộ Giáo Lý Đức Tin
và Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, trong buổi tiếp kiến ngày 20/06/2008
dành cho Đức Hồng Y Bộ Trưởng, người ký tên dưới đây,
đã chấp thuận và truyền cho xuất bản Huấn thị.
Rôma, tại Văn Phòng Bộ Giáo Lý Đức Tin, ngày 8/9/2008, lễ Sinh Nhật Đức Trinh Nữ Maria.
Hồng Y WILLIAM LEVADA
Bộ trưởng
LUIS LADARIA, S.I.
Tổng Giám Mục hiệu tòa Thibica
Tổng Thư ký
Chú thích:
(1) Bộ Giáo Lý Đức Tin, Huấn thị Donum Vitae về việc tôn trọng sự sống con người lúc phôi thai và phẩm giá của việc sinh sản (22/02/1987) : AAS 80 (1988), 70-102.
(2) Gioan-Phaolô II, Thông điệp Veritatis splendor về một vài vấn đề căn bản của giáo huấn luân lí của Giáo Hội (06/08/1993) : AAS 85 (1993), 1133-1228.
(3) Gioan-Phaolô II, Thông điệp Evangelium Vitae về giá trị và tính bất khả xâm phạm của sự sống con người (25/03/1995) : AAS 87 (1995), 401-522.
(4) Gioan-Phaolô II, Diễn từ nói với các tham dự viên Hội Nghị lần thứ VII của Hàn Lâm Viện Giáo Hoàng về Sự Sống (03/03/2001), s.3 : AAS 93 (2001), 446.
(5) X. Gioan-Phaolô II,, Thông điệp Fides et ratio về các mối tương quan giữa đức tin và lí trí (14/09/1998), s.1 : AAS 91 (1999), 5.
(6) Bộ Giáo Lý Đức Tin, Huấn Thị Donum vitae, I, 1: AAS 80 (1988), 79.
(7)
Như Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI nhắc nhớ, nhân quyền, nhất là quyền
sống của mỗi người, «đặt nền tảng trên luật tự nhiên vốn được ghi khắc
nơi tâm hồn con người và có mặt trong các nền văn hóa và văn minh khác
nhau. Tách các quyền con người khỏi bối cảnh này có nghĩa là hạn chế tầm
hoạt động của chúng và nhượng bộ cho một quan niệm tương đối luận, theo
đó ý nghĩa và việc giải thích các quyền này có thể thay đổi và tính phổ
quát của chúng có thể bị phủ nhận nhân danh những bối cảnh văn hóa,
chính trị, xã hội và thậm chí tôn giáo. Có nhiều quan điểm khác nhau
không thể là lí do để quên đi sự kiện rằng không chỉ những quyền con
người là phổ quát, mà còn nhân vị, vốn là chủ thể của những quyền này,
cũng phổ quát» (Diễn văn tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc (18/04/2008) : AAS 100 (2008), 334).
(8) Bộ Giáo Lý Đức Tin, Huấn Thị Donum vitae, I, 1: AAS 80 (1988), 78-79.
(9) Ibid., II, A, 1: l.c., 87.
(10) Phaolô VI, Thông điệp Humanae vitae (25/07/1968), s.8: AAS 60 (1968), 485-486.
(11) Bênêđictô XVI, Diễn
văn nói với các tham dự viên của Hội nghị quốc tế được tổ chức bởi Đại
học Giáo Hoàng Latêranô nhân dịp kỷ niệm 40 năm thông điệp Humanae vitae
(10/05/ 2008) : L’Osservatore Romano, 11/05/2008, tr.1; cf. Gioan XXIII, Thông điệp Mater et magistra (15/05/1961), III: AAS 53 (1961), 447.
(12) CĐ Vatican II, Hiến Chế Mục vụ Gaudium et spes, s.22.
(13) Gioan-Phaolô II, Thông điệp Evangelium vitæ, ss.37-38 : AAS 87 (1995), 442-444.
(14) Gioan-Phaolô II, Thông điệp Veritatis splendor, s.45 : AAS 85 (1993), 1169.
(15) Bênêđictô XVI, Diễn
văn tại Đại Hội của Hàn Lâm Viện Giáo Hoàng về Sự Sống và Hội nghị quốc
tế về «Phôi người trong giai đoạn tiền cấy » (27/02/2006) : AAS 98 (2006), 264.
(16) Bộ Giáo Lý Đức Tin, Huấn Thị Donum vitae, Dẫn nhập, 3 : AAS 80 (1988), 75.
(17) Gioan-Phaolô II, Tông huấn Familiaris consortio về những nhiệm vụ của gia đình kitô hữu trong thế giới ngày nay (22/11/1981), s.19: AAS 74 (1982), 101-102.
(18) X. CĐ Vatican II, Tuyên ngôn Dignitatis humanae, s.14.
(19) X. Bộ Giáo Lý Đức Tin, Huấn thị Donum vitae, II, A, 1 : AAS 80 (1988), 87.
(20) Ibid., II, B, 4: l.c., 92.
(21) Ibid., Dẫn nhập, 3: l.c., 75.
(22) Thụ tinh hay sinh sản nhân tạo dị ngẫu (heterologous artificial fertilization or procreation) được hiểu là «những kĩ thuật nhằm thụ thai con người cách nhân tạo từ những giao tử của ít nhất là một người hiến tặng mà không phải là vợ hay chồng có kết hôn» (ibid., II : l.c., 86).
(23) Thụ tinh hay sinh sản nhân tạo đồng ngẫu (homologous artificial fertilization or procreation), được hiểu là «những kĩ thuật nhằm thụ thai con người cách nhân tạo từ những giao tử của hai vợ chồng đã kết hôn» (ibid.).
(24) Ibid., II, B, 7: l.c., 96 ; x. Piô XII, Diễn văn nói với các tham dự viên Hội nghị quốc tế các bác sĩ Công giáo lần thứ IV (29/09/1949) : AAS 41 (1949), 560.
(25) Bộ Giáo Lý Đức Tin, Huấn thị Donum vitae, II, B, 6 : l.c., 94.
(26) X. Ibid., II : l.c., 86.
(27) Hiện nay, số phôi bị hy sinh ngay cả tại các trung tâm thụ tinh nhân tạo có kĩ thuật tiên tiến nhất có thể xấp xỉ trên 80%.
(28) Gioan-Phaolô II, Thông điệp Evangelium Vitae, s.14 : AAS 87 (1995), 416.
(29) X. Piô XII, Diễn văn nói với các tham dự viên tại Hội nghị thế giới tại Napôli về sinh sản và vô sinh của con người (19/05/1956) : AAS 48 (1956), 470 ; Phaolô VI, Thông điệp Humanae vitae, s.12 : AAS 60 (1968), 488-489 ; Bộ giáo lý đức tin, Huấn thị Donum vitae, II, B, 4-5 : AAS 80 (1988), 90-94.
(30) Càng ngày càng có nhiều người, không có liên hệ hôn nhân, cậy nhờ đến những kĩ thuật thụ tinh nhân tạo để có
con. Những hành động đó làm yếu đi định chế hôn nhân và cho sinh ra
những em bé trong những môi trường không thuận lợi cho chúng tăng trưởng
thành người đầy đủ.
(31) Bênêđictô XVI, Diễn
văn tại Đại Hội của Hàn Lâm Viện Giáo Hoàng về Sự Sống và Hội nghị quốc
tế về «Phôi người trong giai đoạn tiền cấy » (27/02/2006) : AAS 98 (2006), 264.
(32) Kĩ thuật bơm tinh trùng vào trứng (Intracytoplasmic Sperm Injection (ICSI)), hầu như giống với những hình thức thụ tinh trong ống nghiệm
khác, nhưng khác biệt ở điểm này là, sự thụ tinh không xảy ra cách tự
động trong ống nghiệm, nhưng qua việc bơm một tinh trùng duy nhất được
chọn lọc trước vào trong tế bào chất của trứng, hay đôi khi qua việc bơm
các tế bào mầm chưa trưởng thành lấy từ người đàn ông.
(33)
Về vấn đề này, các chuyên gia vẫn còn tranh cãi về một số nguy cơ mà
ICSI có thể bao hàm đối với sức khỏe của đứa con được cưu mang.
(34) Bộ giáo lý đức tin, Huấn thị Donum vitae, II B, 5 : AAS 80 (1988), 93.
(35) Làm đông lạnh phôi (Cryopreservation of embryos) là một kĩ thuật đông lạnh ở nhiệt độ rất thấp nhằm bảo quản lâu dài các phôi.
(36) X. Bộ giáo lý đức tin, Huấn thị Donum vitae, I, 6 : AAS 80 (1988), 84-85.
(37) X. các số 34-35 của Huấn thị này.
(38) X. Bộ giáo lý đức tin, Huấn thị Donum vitae, II, A, 1-3 : l.c., 87-89.
(39) Gioan-Phaolô II, Diễn văn nói với các tham dự viên của Hội thảo chuyên đề về «Evangelium vitae và Luật» và Hội thảo quốc tế về Luật Rôma và Giáo luật lần thứ XI (24/05/1996), n. 6 : AAS 88 (1996), 943-944.
(40)
Việc bảo quản đông lạnh các noãn bào cũng được dự định trong những bối
cảnh khác không được bàn đến ở đây. Thuật ngữ noãn bào (oocyte) chỉ tế
bào mầm của người nữ, chưa được tinh trùng đâm vào.
(41) X. CĐ Vatican II, Hiến Chế Mục vụ Gaudium et spes, s.51; Gioan-Phaolô II, Thông điệp Evangelium Vitae, s.62 : AAS 87 (1995), 472.
(42) Gioan-Phaolô II, Thông điệp Evangelium Vitae, s.63 : AAS 87 (1995), 473.
(43) Các phương tiện ngăn chặn mang thai (interceptive) nổi tiếng nhất là vòng tránh thai (IUD – IntraUterine Device), và cái gọi là «viên thuốc ngày hôm sau».
(44)
Những phương tiện loại bỏ phôi thai (contragestative) chính yếu là viên
thuốc RU-486 hay Mifepristone, prostaglandins và Methotrexate.
(45) Gioan-Phaolô II, Thông điệp Evangelium vitæ, s.58 : AAS 87 (1995), 467.
(46) X. CIC (Giáo luật Giáo hội LaTinh), đ.1398 và CCEO (Giáo Luật Giáo hội Đông Phương) đ.1450 §2 ; cũng nên xem thêm CIC, đ.1323-1324.
Ủy ban Toà Thánh về việc Giải thích Giáo Luật Đích thực tuyên bố rằng
khái niệm phá thai theo nghĩa hình luật được hiểu như là «giết chết một
bào thai dù bằng cách nào và khi nào kể từ lúc thụ thai » (Trả lời cho những hoài nghi của ngày 23/05/1988: AAS 80 [1988], 1818).
(47)
Trong phạm vi hiểu biết của nhân loại cho tới nay, có hai kĩ thuật được
vận dụng để thực hiện nhân bản vô tính trên người, đó là : kĩ thuật
phân đôi (embryo twinning) và kĩ thuật truyền nhân (cell nuclear
transfer). Kĩ thuật phân đôi hệ
tại việc tách rời cách nhân tạo các tế bào đơn hay nhóm tế bào từ một
phôi, trong thời kì đầu tiên của sự phát triển của phôi, và truyền liên
tiếp các tế bào này vào trong tử cung để có được, cách nhân tạo, những
phôi giống y như vậy (gọi là sinh đôi). Kĩ thuật truyền nhân,
hay nhân bản vô tính đúng nghĩa, hệ tại việc đưa nhân lấy từ một tế
bào phôi hay tế bào thân vào trong một noãn bào (hay trứng) đã được rút
bỏ nhân trước, sau đó kích hoạt noãn bào này để đến lượt nó bắt đầu tự
phát triển như là một phôi.
(48) X. Bộ giáo lý đức tin, Huấn thị Donum Vitae, I, 6 : AAS 80 (1988), 84; Gioan-Phaolô II, Diễn văn nói với các thành viên của Ngoại giao đoàn bên cạnh Tòa Thánh (10/01/2005), s.5: AAS
97 (2005), 153.
(49)
Các kĩ thuật mới thuộc thể loại này chẳng hạn như là : sự trinh sản
(parthenogenesis) được áp dụng cho con người, sự truyền một nhân đã được
thay đổi (Altered Nuclear Transfer : ANT) và những kĩ thuật tái lập
trình noãn bào có trợ giúp ( l’OAR -Oocyte Assisted Reprogramming).
(50) Gioan-Phaolô II, Thông điệp Evangelium vitæ, s.60 : AAS
87 (1995), 469.
(51) Bênêđictô XVI, Diễn
văn tại Hội nghị quốc tế về đề tài «Các tế bào gốc: đâu là tương lai
của trị liệu pháp?» được tổ chức bởi Viện Hàn Lâm Giáo hoàng về Sự Sống
(16/09/2006): AAS 98 (2006), 694.
(52)
X. các số 34-35 của Huấn thị này.
(53) Bênêđictô XVI, Diễn
văn tại Hội nghị quốc tế về đề tài «Các tế bào gốc: đâu là tương lai
của trị liệu pháp?» được tổ chức bởi Viện Hàn Lâm Giáo hoàng về Sự Sống
(16/09/2006): AAS 98
(2006), 693-695.
(54) Gioan-Phaolô II, Thông điệp Evangelium vitæ, s.63 : AAS
87 (1995), 472-473.
(55) X. Ibid s.62 : l.c.,
472.
(56) X. Bộ giáo lý đức tin, Huấn thị Donum Vitae, I, 4 : AAS
80 (1988), 83.
(57) X. Gioan-Phaolô II, Thông điệp Evangelium vitæ, s.73 : AAS
87 (1995), 486: «Phá thai và gây cái chết êm dịu là những tội ác mà
không có luật lệ nào của con người có thể đòi hợp pháp hóa được. Lương
tâm không hề bị bó buộc phải tuân theo những luật lệ như thế; trái lại,
lương tâm còn hiển nhiên bị bó buộc phải nghiêm ngặt chống lại các thứ
luật lệ ấy». Quyền phản đối của lương tâm, vốn diễn tả quyền tự do lương
tâm, cần phải được bảo vệ bởi luật pháp.
(58) Gioan-Phaolô II, Thông điệp Evangelium vitæ, s.89 : AAS
87 (1995), 502..
(59) Gioan-Phaolô II, Thư gởi cho tất cả các Giám mục về «Tin Mừng sự sống » (19/05/1991) : AAS
84 (1992), 319.



