Home » Tế Bào Gốc
TẾ BÀO GỐC VÀ LIÊN HỆ ĐẠO ĐỨC
18:03 |
TẾ BÀO GỐC VÀ LIÊN HỆ ĐẠO ĐỨC
Đỗ Trân Duy
(Những danh xưng về tế bào bằng Việt ngữ xin tạm đặt để chỉ dùng trong giới hạn của bài này)
Năm 1998 bác sĩ James
Thomson (Đại Học Wisconsin) loan tin thành công trong việc nuôi tế bào
gốc (stem-cell) của người. Cả thế giới chấn động. Sau đó cuộc nghiên
cứu tế bào gốc trở thành một phong trào và là một biến cố thời sự có
tầm mức quốc tế. Tuy nhiên hướng đi của cuộc nghiên cứu đã vượt quá
ranh giới của ngành khoa học. Nó đã xâm phạm đến những vấn đề lớn về xã
hội, chính trị, và tôn giáo. Câu hỏi được đặt ra là cuộc nghiên cứu
này có chính đáng hay không? Vấn đề nghiêm trọng đến mức Bộ Giáo Lý Đức
Tin đã phổ biến nhiều huấn thị để bày tỏ lập trường của Giáo Hội. Gần
đây nhất là văn kiện Dignitas Personae (Phẩm Giá Con Người) vào tháng 12
năm 2008. Để vấn đề có thể hình dung một cách cụ thể, xin phép lấy
nước Mỹ làm bối cảnh cho sự trình bày. Trong vòng 5 năm qua, Hội Đồng
Giám Mục Mỹ và hai Giáo Hoàng đều liên tiếp lên tiếng can thiệp với các
tổng thống Bush và Obama xin hủy cuộc nghiên cứu tế bào gốc trên phôi
bào.
Con Người Thành Hình Từ Những Tế Bào Gốc
Tế bào gốc là gì? Khi tinh trùng của người nam phối hợp với trứng của người nữ, chúng tạo nên một phôi bào (embryo). Bên trong phôi bào này, khởi đầu chỉ có một tế bào, nhưng nó có tiềm năng tạo nên một con người. Trong phôi bào, tế bào đầu tiên phát triển bằng cách tự phân thành 2 tế bào giống hệt nhau. Rồi hai tế bào này, mỗi cái lại tự phân đôi, tổng cộng thành 4 tế bào giống hệt nhau. Diễn tiến tiếp tục như vậy cho tới khi phôi bào có tới 64 tế bào thì phép lạ xảy ra. Tuy mỗi tế bào giống hệt nhau và tự nó có tiềm năng tạo nên toàn thể một con người, nhưng đột nhiên mỗi tế bào chỉ phụ trách một việc. Có tế bào chỉ sản xuất ra tóc, có tế bào chỉ sản xuất ra da, có tế bào chỉ sản xuất ra xương,v.v. Những tế bào này được gọi là những tế bào gốc vì chúng là gốc tạo ra sự sản xuất. Mỗi hướng sản xuất được gọi là một đường dây (line). Có hằng trăm đường dây tế bào khác nhau để cấu tạo nên một con người. Kỳ diệu ở chỗ các đường dây sản xuất phối hợp với nhau rất mạch lạc. Tóc không mọc ở lưng, tai không gắn vào đầu gối, tay không lòi ra từ rốn… Khoa học gia khám phá ra chính những mã số (cách xếp đặt các gene) trong DNA (Acid deoxyribonucleic) đã đặt ra chương trình cấu trúc con người cho các đường dây. Đồng thời họ cũng trực giác nhận ra các đường dây sản xuất này sẽ là những nguồn lợi vô cùng phong phú cho y khoa.
Tế bào gốc là gì? Khi tinh trùng của người nam phối hợp với trứng của người nữ, chúng tạo nên một phôi bào (embryo). Bên trong phôi bào này, khởi đầu chỉ có một tế bào, nhưng nó có tiềm năng tạo nên một con người. Trong phôi bào, tế bào đầu tiên phát triển bằng cách tự phân thành 2 tế bào giống hệt nhau. Rồi hai tế bào này, mỗi cái lại tự phân đôi, tổng cộng thành 4 tế bào giống hệt nhau. Diễn tiến tiếp tục như vậy cho tới khi phôi bào có tới 64 tế bào thì phép lạ xảy ra. Tuy mỗi tế bào giống hệt nhau và tự nó có tiềm năng tạo nên toàn thể một con người, nhưng đột nhiên mỗi tế bào chỉ phụ trách một việc. Có tế bào chỉ sản xuất ra tóc, có tế bào chỉ sản xuất ra da, có tế bào chỉ sản xuất ra xương,v.v. Những tế bào này được gọi là những tế bào gốc vì chúng là gốc tạo ra sự sản xuất. Mỗi hướng sản xuất được gọi là một đường dây (line). Có hằng trăm đường dây tế bào khác nhau để cấu tạo nên một con người. Kỳ diệu ở chỗ các đường dây sản xuất phối hợp với nhau rất mạch lạc. Tóc không mọc ở lưng, tai không gắn vào đầu gối, tay không lòi ra từ rốn… Khoa học gia khám phá ra chính những mã số (cách xếp đặt các gene) trong DNA (Acid deoxyribonucleic) đã đặt ra chương trình cấu trúc con người cho các đường dây. Đồng thời họ cũng trực giác nhận ra các đường dây sản xuất này sẽ là những nguồn lợi vô cùng phong phú cho y khoa.
Mục tiêu của các nhà
nghiên cứu là: tách biệt các đường dây sản xuất để chúng tự hoạt động
độc lập như những xưởng sản xuất cơ phận. Chẳng hạn tách biệt tế bào
gốc của tim để dùng nó nó tạo ra quả tim tốt thay cho quả tim hư của
bệnh nhân. Tham vọng này đưa tới những chương trình khảo cứu không thể
tránh. Tuy nhiên khi cắt xé phôi bào ra từng đường dây như vậy, họ đã
hủy bỏ chương trình tạo nên một đời sống. Nói trắng ra là họ đã giết
một thai nhi. Do đó vấn đề đạo đức phải đặt ra cũng là việc không thể
tránh.
Có Hai Loại Tế Bào Gốc
Ngày nay người ta biết có 2 loại tế bào gốc.
Ngày nay người ta biết có 2 loại tế bào gốc.
- Loại đa nguyên (totipotent). Loại đa nguyên là những tế bào gốc nguyên thủy nằm trong phôi bào (embryonis stem cells, gọi tắt là ES). Mỗi tế bào này, tự chính nó, có tiềm năng tạo nên toàn thể một con người. Gọi là đa nguyên vì nó có khả năng tạo nên bất cứ bộ phận nào của cơ thể mà nó muốn.
- Loại đa năng (pluripotent). Loại đa năng còn gọi là tế bào gốc trưởng thành (adult stem cells, gọi tắt là AS). Chúng là những tế bào gốc đã thoát ly khỏi phôi bào và đã trưởng thành trong một chức vụ nào đó. Chẳng hạn tế bào tạo ra da.
Tế bào gốc trưởng thành
(AS) là gì? Y học nhận ra rằng nhiều tế bào trong cơ thể đã được tái
tạo. Chẳng hạn tế bào máu có một đời sống rất ngắn. Tế bào ở vách bên
trong thành bao tử chỉ sống được 3 ngày là bị acid tiêu hóa hủy hoại.
Như vậy chúng phải có tế bào gốc ở đâu đó để sản xuất ra những tế bào
mới thay thế cho những tế bào đã chết. Loại tế bào gốc này được gọi là
những tế bào gốc đã trưởng thành trong chức vụ. AS chỉ có thể tạo ra một
số bộ phận khác nhau (cơ thể con người có hằng 1000 bộ phận khác
nhau).
Kiến Thức Cập Nhật Về Tế Bào Gốc
Lúc đầu người ta tưởng rằng AS chỉ có ở những nơi mà tế bào có đời sống ngắn ngủi như ở tủy xương và ở bao tử. Năm 1992 viện nghiên cứu của University of Calgary, Canada, tìm ra AS trong não bộ của chuột. Viện nghiên cứu Osiris Therapeutics, ở Maryland, tìm ra AS ở tủy có khả năng không những tạo ra tủy mà còn tạo ra tế bào xương và mỡ. Những khám phá này mở màn cho những cuộc tìm tòi đầy hứng khởi. Các khoa học gia tin rằng AS có thể tìm thấy ở nhiều nơi khác trong cơ thể.
Lúc đầu người ta tưởng rằng AS chỉ có ở những nơi mà tế bào có đời sống ngắn ngủi như ở tủy xương và ở bao tử. Năm 1992 viện nghiên cứu của University of Calgary, Canada, tìm ra AS trong não bộ của chuột. Viện nghiên cứu Osiris Therapeutics, ở Maryland, tìm ra AS ở tủy có khả năng không những tạo ra tủy mà còn tạo ra tế bào xương và mỡ. Những khám phá này mở màn cho những cuộc tìm tòi đầy hứng khởi. Các khoa học gia tin rằng AS có thể tìm thấy ở nhiều nơi khác trong cơ thể.
Cùng lúc ấy tế bào gốc
đa nguyên (ES) cũng được nghiên cứu. Năm 1996 viện nghiên cứu của
Indiana University thành công trong việc kích thích một ES trở thành
tế bào tạo ra tim (thí nghiệm trên chuột). Tế bào gốc của người được
thu thập đầu tiên vào năm 1998 do công trình của bs James Thomson (Đại
Học Wisconsin) và bs John Gearhart (Đại Học Hopkins). Thomson tách ES
ra khỏi phôi bào có 5 ngày tuổi. Mẫu thí nghiệm của ông là những phôi
bào dư thừa của những vụ thụ thai nhân tạo trong ống nghiệm. Trong khi
đó Gearhart tách AS ra khỏi thai nhi có khoảng 2 tháng đến 4 tháng
tuổi. Những thai nhi này đã bị vứt bỏ qua những vụ phá thai. Cả hai đều
thành công trong việc nuôi dưỡng những tế bào gốc trong ống nghiệm.
Thành quả của Thomson và Gearhart được truyền bá khắp thế giới và thực
sự mở màn cho kỷ nguyên “stem cells”. Các quốc gia và các trường đại học
đổ xô vào nghiên cứu tế bào gốc.
Trước áp lực của vấn nạn
đạo đức, một nhóm khoa học gia đặt kỳ vọng vào loại AS. Mục đích của
họ là lấy AS gốc từ một nơi nào đó để chữa bộ phận bị hư trong cùng một
cơ thể. Nghiên cứu của Tufts University cho biết tủy xương có khả năng
cung cấp rất nhiều loại tế bào AS có năng lực giống như tế bào gốc đa
nguyên. Một số nhà sinh vật học đã thành công biến tế bào máu, lấy từ
tủy xương, thành tế bào gốc của hệ thần kinh. Lạc quan về sự phong phú
của tủy xương, bs Douglas W. Losordo, Trung Tâm Nghiên Cứu Y Học
Elizabeth, Boston gọi tủy xương là “xưởng sửa chữa”. Ông nói, “Tôi nghĩ
hình ảnh ES sẽ mờ dần trong kính chiếu hậu của AS.”
Dự phóng này rất quan
trọng, vì nếu họ thành công sẽ không còn phôi thai bị hủy. Mặc cảm đạo
đức sẽ chấm dứt. Tuy nhiên vấn đề không đơn giản vì AS rất khó tìm và
rất khó nhận diện. Nó rất hiếm có, lại không có hình dáng hay màu sắc
cá biệt, và sống lẫn lộn với những tế bào khác. Trên thực tế không ai
biết nó nằm ở đâu. Khi hài nhi thành hình nó có khoảng 20 tỷ tế bào. Khi
lớn lên con người tăng trưởng với tỷ tỷ tỷ tế bào trong đủ mọi thể
loại. Mỗi loại lại gồm nhiều thể phụ, thí dụ tế bào máu có tới 5 thể
phụ khác nhau. Trong rừng tế bào ấy sự tìm kiếm AS vô cùng gian nan.
Nhóm nghiên cứu của ông Irving Weissman, thuộc, Stanford University,
khảo sát về chuột, tìm thấy 1 AS lẫn trong 100,000 tế bào tủy xương. Vì
sự khó khăn trong việc tìm kiếm AS gốc, nên thời gian và tiền bạc trở
thành vấn đề quyết định cuộc nghiên cứu.
Một vấn nạn khác là khi lưu trữ AS quá lâu (trên 2 năm), khả tính tác tạo của nó bị yếu đi. Trong khi đó ES có thể sinh tồn năm này qua năm khác, bằng cách tự tái tạo, và tự thích nghi với môi trường sống mới (từ ống nghiệm qua cơ thể). Người ta băn khoăn chưa xác định nên hướng nghiên cứu về hướng nào. Đương thời một khuynh hướng có vẻ chiếm ưu thế cho rằng ES và AS là hai loại khác nhau, bổn phận của khoa học là phải nghiên cứu cả hai. Họ bào chữa rằng ích lợi cho nhân loại phải được đặt ra khỏi mặc cảm đạo đức.
Một vấn nạn khác là khi lưu trữ AS quá lâu (trên 2 năm), khả tính tác tạo của nó bị yếu đi. Trong khi đó ES có thể sinh tồn năm này qua năm khác, bằng cách tự tái tạo, và tự thích nghi với môi trường sống mới (từ ống nghiệm qua cơ thể). Người ta băn khoăn chưa xác định nên hướng nghiên cứu về hướng nào. Đương thời một khuynh hướng có vẻ chiếm ưu thế cho rằng ES và AS là hai loại khác nhau, bổn phận của khoa học là phải nghiên cứu cả hai. Họ bào chữa rằng ích lợi cho nhân loại phải được đặt ra khỏi mặc cảm đạo đức.
Tuy nhiên ES cũng không
phải không có vấn đề. Hiện nay ES chỉ dùng để nghiên cứu trong phòng
thí nghiệm. Chúng chưa thật sự giúp ích cho con người. Theo bs Josep
Panno khi một ES được cấy vào cơ thể con người, hệ thống chống nhiễm
(Immune system) của cơ thể coi ES ấy như một vật lạ xâm lược, cần phải
tiêu diệt. Để tránh tình trạng này, người ta bắt buộc phải dùng những ES
thân thuộc với cơ thể bệnh nhân. Diễn tiến đẩy xa tới khuynh hướng
clonning (nhân bản vô tính). Họ tạo ra một phó bản người phôi bào chỉ
dùng để lấy vật liệu chữa bệnh cho người chính gốc. Cho đến nay mục
tiêu dùng ES bệnh vẫn chỉ còn là một giấc mộng của y học. Đáng tiếc
giấc mộng ấy đã hủy diệt rất nhiều sinh mạng của phôi thai người.
Năm 2006, cánh của bí
mật tế bào gốc mở tung bởi một khoa học gia Nhật Shinya Yamanka.
Yamanka loan báo thành công trong việc nhân tạo ES. Như chúng ta đã biết
bên trong nhân tế bào ES có chứa đựng thể DNA. DNA là một chuỗi những
gene (mã số di truyền). Phương pháp của Yamanka là xếp đặt lại
(reprogramming) cấu trúc gene DNA của một tế bào nào đó để nó đồng dạng
với DNA của một ES. Yamanka đã lấy một tế bào da bình thường. Ông thay
đổi vài gene trong thể DNA của nó. Nó biến dạng thành ES. Điều này có
nghĩa là người ta không cần phải xé nát phôi bào để có ES. Như vậy vấn
đề đạo đức được giải quyết vì không còn phôi bào bị giết. Năm 2007 bs
James Thomson (Đại Học Wisconsin) cũng thành công tạo ra AS như vậy.
Vấn đề còn lại là nghiên
cứu bệnh lý. Tại điểm này người ta vẫn còn cần phôi bào để học hỏi.
Những mầm bệnh như tiểu đường hay Parkinson phát xuất từ những gene hư
hỏng khi con người còn trong dạng phôi bào. Đàng khác thành quả của
nhân tạo ES không cản được những người muốn nghiên cứu ES từ phôi bào
và AS từ thai nhi.
Người lạc quan cho rằng,
một ngày nào đó tế bào gốc sẽ thay thế cho mọi thứ thuốc men. trái lại
nhiều khoa học gia hàng đầu như Gordon Keller (giám đốc Hội Nghiên Cứu
Stem Cell, New York), Irving Weissman (Nhà sinh lý học tại Đại Học
Stanford, California), Divid Shaywitz (Viện nghiên Cứu Stem Cell
Harvard)… đều nghi ngờ. Hiện tại thành quả về chữa bệnh rất thấp. Điển
hình là vào năm 1999, nhóm San Raffael, ở Milan Ý Đại Lợi, cho biết họ
dùng AS ở tuỷ xương sống để tạo ra tế bào máu. Nhóm của Weissman, lập
lại thí nghiệm để kiểm chứng thì chẳng thấy một kết quả nào. Năm 2002
nhóm Verfaillie, Đại Học Minnesota, cho biết họ tìm ra vài loại tế bào
gốc hiếm trong tủy sống có thể trở thành đủ loại AS. Sau đó chính nhóm
này đã thất bại khi nuôi những AS ấy trong ống nghiệm. Gần đây có lẽ ai
cũng biết cuộc thất bại thảm thiết nhất của gs Hwang Woo-suk, (Đại Học
Quốc Gia Hán Thành). Năm 2005, Hawang tuyên bố đã có thể dùng tế bào
gốc để chữa bệnh. Sau đó người ta khám phá ra ông đã đưa ra những dữ
kiện sai. Vụ sai lầm này khiến ông phải từ chức giáo sư và Hàn Quốc cảm
thấy bị mất mặt.
Về bệnh Alzheimer (mất
ký ức) lúc đầu người ta tin là ES có thể chữa được. Sau đó người ta thú
nhận rằng cấu tạo của não quá phức tạp với hằng 100 tỷ tế bào thần
kinh. “Chúng tôi không biết phải bắt đầu ở chỗ nào” (bs Lawrence
Goldstein, Đại Học San Diego, California).
Diễn Tiến Tại Mỹ
Câu truyện bắt đầu từ khi tổng thống Ronald Reagan bị bệnh Alzheimer (mất ký ức), phong trào đòi hỏi quĩ bảo trợ nghiên cứu tế bào gốc, với cổ động viên Nancy Reagan, các tài tử Michael J. Fox và Christopher Reeve, có động lực bộc phát mạnh. Các khoa học gia cho rằng họ có thể theo dõi sự phát trển của tế bào gốc để tìm hiểu tại sao chúng lại sản xuất ra những bộ phận hư hỏng như bệnh liệt rung (parkinson), bệnh mất ký ức v.v. Mặc dù có vấn đề trong việc phá hủy phôi bào, nhưng nhóm ủng hộ cho rằng những mẫu thử nghiệm là những phôi bào dư thừa của phép thụ thai trong ống nghiệm bị loại bỏ. Những phôi bào dư này đàng nào cũng phải hủy đi. Tại sao không dùng để cứu những người bị đau khổ vì tật nguyền hay bệnh hoạn. Đa số các tiểu bang ủng hộ cuộc nghiên cứu tế bào gốc và đồng ý chi tiền cho viện nghiên cứu. Vấn đề còn lại là liên bang có tiếp tay hay không. Tổng thống Bill Clinton ủng hộ dự án này.
Câu truyện bắt đầu từ khi tổng thống Ronald Reagan bị bệnh Alzheimer (mất ký ức), phong trào đòi hỏi quĩ bảo trợ nghiên cứu tế bào gốc, với cổ động viên Nancy Reagan, các tài tử Michael J. Fox và Christopher Reeve, có động lực bộc phát mạnh. Các khoa học gia cho rằng họ có thể theo dõi sự phát trển của tế bào gốc để tìm hiểu tại sao chúng lại sản xuất ra những bộ phận hư hỏng như bệnh liệt rung (parkinson), bệnh mất ký ức v.v. Mặc dù có vấn đề trong việc phá hủy phôi bào, nhưng nhóm ủng hộ cho rằng những mẫu thử nghiệm là những phôi bào dư thừa của phép thụ thai trong ống nghiệm bị loại bỏ. Những phôi bào dư này đàng nào cũng phải hủy đi. Tại sao không dùng để cứu những người bị đau khổ vì tật nguyền hay bệnh hoạn. Đa số các tiểu bang ủng hộ cuộc nghiên cứu tế bào gốc và đồng ý chi tiền cho viện nghiên cứu. Vấn đề còn lại là liên bang có tiếp tay hay không. Tổng thống Bill Clinton ủng hộ dự án này.
Luật pháp Mỹ không cấm
việc nghiên cứu tế bào gốc. Tuy nhiên chính phủ có quyền không tài trợ
cuộc nghiên cứu. Dưới thời tổng thống Bush, năm 2001 Tổng Giám Mục
Josep A Fiorenza, nhân danh Hội Đồng Giám Mục Mỹ gửi cho Tổng Thống
George W. Bush văn thư ngăn cản việc thử nghiệm tế bào gốc. Đức Gioan
Phaolô II cũng có lời yêu cầu tương tự trong buổi gặp riêng tổng thống
Bush vào ngày 23 tháng 7, 2001. Tuy đồng ý với luân lý Thiên Chúa giáo,
nhưng kẹt trong thế chính trị, tổng thống Bush xử thế một cách dè dặt.
Ông không chấp nhận những cuộc nghiên cứu sau tháng 8, 2001, nhưng cho
tiếp tục chương trình nghiên cứu vốn đã có sẵn trước năm 2001 (xảy ra
vào thời Clinton). Vào lúc đó người ta đã tách ES ra được 20 đường dây.
Trong kho dự trữ có 400,000 phôi bào đông lạnh. Quyết định của ông
Bush chia ý kiến quần chúng thành hai phe: chống và thuận. Tháng 7,
2006 vần đề đưa tới lưỡng viện liên bang. Cả 2 viện đều đồng ý cho phép
tiếp tục nghiên cứu các đường dây tế bào gốc trên phôi bào. Ngay khi
nhận được bản dự luật, ông Bush phủ quyết tức thì (ngày 19-7-2006). Ông
cho rằng “Nó (dự luật) vượt quá ranh giới đạo đức mà một xã hội lành
mạnh phải tôn trọng.” Trong khi việc nghiên cứu tế bào gốc được đa số
công chúng và những nhân vật nổi danh ủng hộ, quyết định của Bush là
một hành vi đạo đức đáng phục.
Tuy nhiên dù Bush thắng
quốc hội, vấn đề vẫn chưa giải quyết tận gốc. Ông chỉ có thể kiểm soát
kinh phí liên bang, nhưng không thể ngăn cấm tiểu bang và những viện
nghiên cứu tư nhân không cần chính phủ liên bang trợ giúp. Năm 2004,
Douglas Melton (Đại Học Hardvard) phân ra được 70 đường dây tế bào gốc
ES.
Tháng giêng, năm 2009,
tổng thống tân cử Barack Obama, cùng đảng Dân Chủ với Clinton, hủy bỏ
lệnh cấm tài trợ cuộc nghiên cứu tế bào gốc và ủng hộ nghiên cứu phôi
bào. Phe chủ trương nghiên cứu ES cho rằng phôi bào chỉ một nhóm tế
bào. Nó không phải là người vì nó chưa có hệ thần kinh.
Lập Trường Của Công Giáo
Từ xưa Công Giáo vẫn tin con người đã đầy đủ tư cách là người và thần tính ngay từ giây phút thụ tinh (conception). Phôi bào hiển nhiên đã vượt xa giai đoạn gọi là giây phút thụ tinh. Giáo hội Công Giáo không phản đối khoa học, những phản đối hành vi tội lỗi nhân danh khoa học. Một thí dụ điển hình là một tháng sau khi tổng thống Obama ký văn kiện ủng hộ cuộc nghiên cứu tế bào gốc, đài CBS đưa tin người ta có thể thay đổi màu tóc, màu mắt và giống phái cho thai nhi. Có phải một vài người muốn đóng vai Thương Đế? Vấn đề này sẽ dẫn tới rất nhiều bàn cãi, nhưng sự sai lầm về tình yêu đã rõ rệt đến không thể bàn cãi. Rõ ràng là cha mẹ đối với con cái không có một tình yêu thuần khiết vô điều kiện. Cha mẹ chỉ muốn con với điều kiện nó phải có màu tóc, màu mắt và giống phái nào đó. Bác sĩ sẽ thực hiện điều ấy theo đơn đặt hàng.
Từ xưa Công Giáo vẫn tin con người đã đầy đủ tư cách là người và thần tính ngay từ giây phút thụ tinh (conception). Phôi bào hiển nhiên đã vượt xa giai đoạn gọi là giây phút thụ tinh. Giáo hội Công Giáo không phản đối khoa học, những phản đối hành vi tội lỗi nhân danh khoa học. Một thí dụ điển hình là một tháng sau khi tổng thống Obama ký văn kiện ủng hộ cuộc nghiên cứu tế bào gốc, đài CBS đưa tin người ta có thể thay đổi màu tóc, màu mắt và giống phái cho thai nhi. Có phải một vài người muốn đóng vai Thương Đế? Vấn đề này sẽ dẫn tới rất nhiều bàn cãi, nhưng sự sai lầm về tình yêu đã rõ rệt đến không thể bàn cãi. Rõ ràng là cha mẹ đối với con cái không có một tình yêu thuần khiết vô điều kiện. Cha mẹ chỉ muốn con với điều kiện nó phải có màu tóc, màu mắt và giống phái nào đó. Bác sĩ sẽ thực hiện điều ấy theo đơn đặt hàng.
Giáo hội chống nghiên
cứu ES, nhưng không chống nghiên cứu AS. Tiêu chuẩn thẩm định giá trị
đạo đức có thể rút ra từ những văn kiện của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin
(Congregation for the Doctrine of the Faith). Những văn kiện căn bản
là: “Chỉ Đạo Về Sự Tôn Trọng Đời Sống Con Người Trong Dạng Nguyên Thể
và Nhân Phẩm Trong Dạng Phôi Sinh” (Intruction on Request for Human Life
in its Origin and on the Dignity of Procreation) năm 1987, và văn kiện
“Phẩm Giá Con Người” (Dignitas Personae) năm 2008. Giáo hội khảng định
phôi bào phải được công nhận là người chứ không là một vật. Phôi bào
phải được yêu thương như chi thể của cộng đồng nhân loại. Xúc phạm nhân
phẩm phôi bào là tội ác xâm phạm nhân phẩm của một hài nhi đã được
sinh ra. Hơn nữa dù Giáo hội chông chấp nhận việc thụ thai trong ống
nghiệm, nhưng khi sự việc đã xảy ra, phôi bào trong ống nghiệm cũng
phải được tôn trong. Năm 1995, trong tông huấn “Tin Mừng Về Đời Sống”
(The Gospel of Life), Giáo Hoàng Gioan Phaolô II xác nhận: “Phôi bào
trong ống nghiệm là con người và là chủ thể của nhân quyền. Nhân phẩm và
quyền sống của chúng phải được tôn trọng ngay từ phút đầu của sự hiện
hữu. Sản xuất phôi bào để khai thác như vật liệu phế thải của sinh vật
là vô luân.”
Hội Đồng Giám Mục Mỹ
phát biểu: “Trợ giúp chi phí cho sự tạo tác và hủy diệt phôi bào, nhân
danh nghiên cứu khoa học, là vô luơng tâm.” Các giám mục Mỹ tùy hoàn
cảnh đều mạnh mẽ tranh đấu với chính quyền địa phương. Chẳng hạn khi
chính phủ tiểu bang New Jersey chấp nhận quĩ nghiên cứu tế bào gốc, hội
đồng giám mục New Jersey gửi văn thư cho thống đốc Richard J. Codey,
“Chúng tôi cho rằng, đây là lúc quan trọng hơn bao giờ hết, chính phủ
không được đối xử con người như là loại vật liệu, chỉ vì lợi ích của
người khác.” Cha Tadeusz Pacholczyk, giám đốc National Carholic
Bioethics, ở Philadelphia, cho rằng câu truyện tế bào gốc là “câu
truyện thần tiên tân thời của thế tục. Người thời nay tin rằng khoa tế
bào gốc của họ có thể đẩy lui thần chết.” Song song với những phản
kháng, các giám mục Mỹ phổ biến rộng rãi sự kiện AS gốc đang được dùng
để chữa hàng tá bệnh mà không phải giết hại phôi bào, để giáo dục tín
hữu.
Thần học nhận định rằng
sự phát triển của phôi bào là một tiến trình liên tục. Nó không rõ ràng
qua từng bước một và cũng không phân chia theo thứ tự tầng lớp. Không
ai có thể khảng định con người bắt đầu từ lúc nào. Do đó áp đặt một
phán quyết phủ nhận giá trị nhân bản của phôi bào là kỳ thị và sai lầm.
Nếu chấp nhận sự hủy diệt thành hình của phôi bào vì cho rằng nó chưa
phải là người thì cũng phải chấp nhận phá thai là đúng. Sự thật, phá
hủy phôi bào dù với bất cứ mục đích nào đều là sát nhân. Phôi bào là
một kẻ yếu đuối không tiếng nói. Luân lý không cho phép những thế lực
mạnh đàn áp kẻ yếu với ngụy tín cho rằng mục đích tốt có thể biện minh
cho phương tiện. Trường hợp đi cứu người này bằng cách đi giết người
kia là phản công lý và luân lý, nhất là khi những người xử dụng quyền
hành này để thu về những lợi nhuận tiền bạc. Theo giáo sư Polkinghorne,
“Thành quả tiến bộ vĩ đại nhất của nhân loại, kể từ thời khai thiên
lập địa, không phải là kỹ thuật khoa học mà là ý thức tôn kính sự sống.
Nhờ tôn kính sự sống mà con người nhận diện được lương tâm của mình và
trở nên hiểu chính mình.”
______________
Tài liệu tham khảo
Alan Marzilli. 2007. Stem Cell Research and Clonning. Infobase Publishing. New York, New York.
Alan Marzilli. 2007. Stem Cell Research and Clonning. Infobase Publishing. New York, New York.
Alice Park. 2009. “The Quest Resumes”. Time magazine vol. 173, số 5 ngày Feb. 9, 2009.
Jacqueline Langwith
chủ biên. 2007. Stem Cell (tuyển tập bài viết của nhiều tác giả).
Greenhaven Press. Farmington Hills, Michigan.
Joseph Panno, Ph.D. 2005. Stem Cell Research. Facts On File, Inc. New York, New York.
Offices of the
Congregation for the Doctrine of the Faith (Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin).
Dignitas Personae. 8 September 2008. Rome
Roman Espejo chủ
biên. 2000. Human Embryo Experimentation (tuyển tập bài viết của nhiều
tác giả). The Gale Group. San Diego, California.
Tế bào gốc và lập trường Giáo Hội Công Giáo trước các khám phá mới
17:26 |Tế bào gốc và lập trường Giáo Hội Công Giáo trước các khám phá mới
Linh Mục Tiến Sĩ Trần Mạnh Hùng, STD
|
||||||||
|
DẪN NHẬP:
Gần đây, giới truyền thông đại chúng và báo chí đã cho đăng tải và
phổ biến cách rộng rãi về những kết quả nghiên cứu của tế bào gốc (Stem
Cells), đặc biệt là các ứng dụng và hiệu quả của việc sử dụng các tế bào
gốc trong các phương pháp trị liệu. Có thể nói đây là một bước tiến
nhảy vọt trong nghành y-sinh học vào đầu thế kỷ thứ 21. Nếu quả thực
đúng như những dự đoán và tiên liệu của các chuyên gia nghiên cứu, thì
đây là một khám phá hết sức mới mẻ và cực kỳ quan trọng đối với nền văn
minh của con người, cụ thể nhất là trong lãnh vực nghành y.
Tuy nhiên, vấn đề nêu trên còn là một sự kiện tương đối quá mới mẻ so
với đại chúng. Hầu hết giới bình dân, nếu có được nghe qua thì cũng
không thể nắm bắt và thông hiểu tường tận. Điều này có nhiều nguyên nhân
gây ra.
Trước tiên, việc nghiên cứu tế bào gốc chỉ được bắt đầu từ năm 1998,
điều này bắt nguồn từ sự hiểu biết về chức năng của các tế bào gốc hiện
diện ở phôi bào (blastocyst – là phôi đã được hình thành khoảng từ 5-7
ngày, sau khi trứng thụ tinh), trước khi chúng biệt-phân, và do đó có
tiềm năng để trở thành bất kỳ loại tế bào nào trong cơ thể con người,
gồm khoảng 220 loại tế bào. Sự hiểu biết sâu sắc ấy đã dẫn đưa các
chuyên gia ra sức nghiên cứu để làm sao có thể tách biệt các tế bào gốc
này ra khỏi phôi bào nhằm cô lập chúng và để nuôi dưỡng chúng trong các
môi trường thuận lợi, để các tế bào gốc ấy có thể gia tăng sinh sản thêm
nhiều các tế bào giống như vậy. Sau đó các chuyên gia nghiên cứu sẽ vận
dụng y-thuật, tỷ dụ như việc kích thích các tế bào, để các tế bào này
tự nó sẽ phát triển và biến thành các mô (tissues) riêng biệt, chẳng hạn
như các cơ trong bắp thịt, dây thần kinh, hoặc các tế bào tuỵ.
Những tế bào chuyên biệt này, sau đó được đem cấy với mục đích nhằm
chữa trị hoặc thay thế các mô đã bị hỏng. Các chuyên gia nghiên cứu đã
dùng tế bào gốc của loài động vật để thử nghiệm, đặc biệt là của loài
chuột, và nay họ đang thí nghiệm trên con người.
Như đã được đề cập ở trên, việc nghiên cứu trong cách thức sử dụng
các tế bào gốc cho các phương pháp trị liệu những căn bệnh nan y mà từ
xưa đến nay, hầu hết các y sĩ đều bó tay chịu trận, thì nay đã có khả
năng và rất hy vọng nó sẽ trở thành một hiện thực, tuy còn nhiều thử
thách. Tuy nhiên, điều ấy theo như ước đoán của các nhà chuyên môn thì
có rất nhiều tiềm năng và việc ấy được coi như là khả thể.
Nguyên nhân khó khăn thứ hai, hệ tại ở chỗ, đó là việc sử dụng các thuật ngữ chuyên môn để mô tả hoặc giải thích về những đề tài này còn xa lạ đối với đại đa số quần chúng. Nhất là khi phải chuyển dịch chúng sang ngôn ngữ Việt, vì hầu hết các tài liệu hiện nay đề cập đến vấn đề tế bào gốc, đều được viết bằng ngoại ngữ. Đây cũng là một công việc nhiều cam go và không mấy đơn giản. Tôi xin mạn phép được đơn cử một tỷ dụ để làm sáng tỏ vấn đề. Hiện nay, vấn đề "Human Cloning", mà tôi tạm gọi là “nhân bản vô tính” đang được bàn thảo và tranh luận thật sôi nổi tại nhiều quốc gia trên thế giới, giữa các chuyên gia gồm đủ moị thành phần, đủ các khoa ngành, thuộc phạm vi xã hội cũng như tôn giáo. Riêng ở khía cạnh ngữ-nghĩa, thì ở Việt Nam ta, nội chỉ nguyên có một từ “Cloning” mà ta đã cảm thấy thật khó khăn khi chuyển ngữ sang tiếng Việt.
Điều đáng chú ý nhất là cách đây khoảng gần 8 năm, một công ty tư
nhân, gọi là “Advanced Cell Technology – Kỹ thuật tiên tiến về tế bào”
(ACT), có trụ sở tại tiểu bang Massachusetts – Hoa Kỳ, ngày 25 tháng 11
năm 2001, đã tuyên bố trên màn ảnh truyền hình, là họ mới thực hiện
thành công "Cloning" một phôi người đầu tiên (the first human embryo).
Điều này đã gây một chấn động trên thế giới, gồm cả đời lẫn đạo. Ngay
lập tức, Tòa Thánh Vaticanô, và Đức cố Thánh Cha Gioan Phalô II đã lên
tiếng chỉ trích và cảnh báo việc làm thiếu tính cách đạo đức của công ty
nói trên. Tất cả các văn bản và sứ điệp trên được ghi lại đầy đủ trong
bản tin của Zenith News (phát hành hôm 26 tháng 11, 2001 – số ZE01112602
và ZE01112606).
Và cách đây khoảng hơn 5 năm, vào ngày 12 tháng 2 năm 2004, chuyên
gia nghiên cứu Woo Suk Hwang và các bạn đồng nghiệp, thuộc Đại học Quốc
Gia Seoul tại Nam Triều Tiên đã tiêm chất liệu di truyền học lấy từ các
tế bào trưởng thành vào các noãn mà cấu tử di truyền cơ bản của nó đã
được lấy ra khỏi. Như thế các phôi được tạo thành do kỹ thuật này, đều
có chung một cấu tử di truyền cơ bản giống y hệt như người đã hiến tặng
tế bào, và như thế là họ thành công nhân bản phôi vô tính. Sau đó các
nhà nghiên cứu sẽ thâu hoạch tế bào gốc từ các phôi này.
Thế nhưng cũng chính các chuyên gia nghiên cứu ấy lại lên tiếng kêu
gọi cộng đồng thế giới nghiêm cấm việc sinh sản người bằng phương pháp
vô tính (human cloning). Họ cho rằng kỹ thuật mà họ đã sử dụng để nhân
bản phôi người vô tính, thì không bao giờ nên sử dụng để tạo ra các em
bé. Song song với những cuộc bàn luận sôi nổi đó đây, các hội nghị
chuyên đề đã được tổ chức và nhóm họp thường xuyên trong thời gian vừa
qua, nhất là tại các quốc gia vùng Âu Châu, và các nước thuộc Bắc Mỹ.
Như đã được đề cập trong phần dẫn nhập, là hiện nay đang có những
cuộc bàn thảo và tranh luận rất sôi nổi giữa các giới chuyên gia, đặc
biệt là các khoa học gia nghành y-sinh học và các nhà luân lý sinh-học.
Việc tổng thống Mỹ, George W. Bush bằng lòng thỏa thuận cho phép sử dụng
ngân quỹ liên bang để tài trợ cho việc nghiên cứu khoảng 64 kiểu tế bào
gốc khác nhau đã được thâu hoạch từ các phôi (embryos), do phương pháp
thụ tinh trong ống nghiệm (In Vitro Fetilization – IVF). Mục đích nguyên
thủy của các chuyên gia khi tạo nên các phôi này, là nhằm để cấy cho
các cặp vợ chồng hiếm muộn hoặc vô sinh muốn có con, nhưng vì con số
phôi sản xuất quá nhiều nên đã trở thành thặng dư, và đã được đông lạnh
trong một thời gian lâu dài, do đó, đã được các chuyên gia nơi phòng thí
nghiệm quyết định sử dụng để lấy các tế bào gốc, thuộc nhiều loại khác
nhau.
Việc làm của tổng thống Bush đã gây nên một sự bất bình trầm trọng
giữa Giáo Hội Công Giáo (GHCG) Hoa Kỳ và vị nguyên thủ quốc gia, được
các cử tri Công Giáo phần đông ủng hộ trước đi đắc cử. Đại diện cho GHCG
Hoa Kỳ, Đức giám mục Joseph Fiorenza, thuộc tổng địa phận
Galveston-Houston, cựu chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đã phát biểu
như sau:
"Lần đầu tiên trong lịch sử của đất nước Hoa Kỳ, chính phủ liên
bang đồng ý ủng hộ việc nghiên cứu, mà hệ quả của nó là việc hủy diệt
những con người vô phương kháng cự, nhằm mục đích đem lại lợi ích cho kẻ
khác… Quyết định này cho phép các công ty, các dịch vụ nghiên cứu tư
nhân tại quốc gia của chúng ta, gia tăng phát triển sự bất kính đối với
sự sống con người. Cho nên, chúng tôi cầu nguyện và hy vọng rằng tổng
thống Bush sẽ trở về lại với nguyên tắc chính trực, nhằm chống lại những
cách thức hành-xử coi sự sống con người không hơn gì những vật thể, có
thể được tận dụng cho các mục đích nghiên cứu và sau đó thì bị hủy
diệt."
Tuy nhiên, chính Tổng Thống George Bush đã phủ quyết sự chấp thuận
của Quốc Hội Mỹ cho phép các chuyên gia được quyền nới rộng việc nghiên
cứu của họ bằng phương pháp sử dụng các tế bào gốc lấy từ phôi
(embryonic stem cells). Việc làm này đã được hoan nghênh nhiệt liệt của
nhóm phò sự sống và của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ. Ông Richard M.
Doerfinger, đại diện cho giám đốc văn phòng bảo vệ sự sống của Hội Đồng
Giám Mục Hoa Kỳ đã phát biểu tại tòa Bạch Ốc hôm thứ tư, ngày 19 tháng
07 năm 2006, như sau:
“Chúng tôi tán thành việc Tổng Thống Bush đã phủ quyết pháp luật do
Quốc Hội đã chấp thuận cho phép các khoa học gia dùng tế bào gốc lấy từ
phôi để nghiên cứu. Điều này sẽ khuyến khích việc huỷ diệt thêm các phôi
người để thâu hoạch tế bào gốc.”
Tổng Thống George W. Bush phủ quyết dự luật cho phép nghiên cứu tế bào gốc lấy từ phôi.
Thế nên, chúng ta cần phần biệt tỏ tường để tránh sự ngộ nhận là,
hiện nay, khi nói đến về việc nghiên cứu về tế bào gốc, chúng ta cần am
hiểu thấu đáo:
1) Tế bào gốc là gì? 2) Tế bào gốc lấy từ đâu ra? 3) Những lợi ích khả thể trong công trình nghiên cứu tế bào gốc. 4) Lập trường và quan điểm của G.H Công Giáo trước sự việc nghiên cứu này. Cho nên trong bài viết này, tôi cố gắng làm sáng tỏ những vấn đề nêu trên, hầu giúp cho chúng ta hiểu biết một cách tường tận những vấn đề éo le và hóc búa, liên quan đến những gì mà hiện nay đang được bàn cãi, tranh luận cực kỳ sôi nổi, đặc biệt trong lãnh vực luân lý. Tỷ dụ như có được phép, xét về mặt luân lý, sử dụng phôi để thu hoạch tế bào gốc và làm chất liệu để nghiên cứu hay không? Vậy trước tiên, tôi xin phép được đề cập đến.
I. TẾ BÀO GỐC LÀ GÌ?
Tế bào gốc là tế bào có khả năng phân chia vô hạn định, và có khả
năng sinh sản và tạo nên các tế bào khác có những chức năng chuyên biệt,
một khi nó được cấy vào một môi trường thích hợp. Để cho chúng ta có
một khái niệm cụ thể về các chức năng của tế bào gốc, điều tốt nhất là
chúng ta thử khảo-sát chúng trong các tiến trình phát triển nơi con
người được bắt đầu, khi tinh trùng làm cho trứng (noãn) thụ tinh, và sau
đó tạo nên một tế bào duy nhất, gọi là hợp-tử, tế bào này có khả năng
tự tại phát triển thành một cơ thể (organism). Vì thế, trứng thụ tinh
(hợp-tử) còn được coi như là tế bào toàn-năng. Sau khi trứng đã được thụ
tinh, chỉ vài tiếng đồng hồ sau (khoảng 4-6 tiếng), hợp tử sẽ tự động
phân chia thành nhiều tế bào toàn-năng (totipotent cells), đồng chất thể
về mặt di truyền. Vì lý do đó, mà giả thể ta lấy một tế bào toàn-năng
(đã được phân chia sau khi trứng đã thụ tinh khoảng 3 ngày) đem cấy vào
vách tử cung của người phụ nữ (nếu thành công) thì tế bào này có khả
năng phát triển thành bào thai. Từ đó, ta có thể giải thích hiện tượng
sinh đôi, là một trứng sau khi đã thụ tinh, tự phân chia làm 2 tế bào
toàn-năng riêng biệt và rồi sau đó sẽ tự phát triển thành 2 cá thể riêng
rẽ (trong thời hạn 14 ngày, kể từ khi thụ tinh). Do đó, xét về mặt di-
truyền thì trẻ em sinh đôi (cùng một trứng) có cùng chung một gien y hệt
như nhau.
Khoảng 4 ngày, sau khi trứng đã thụ tinh, hợp-tử sẽ trải qua nhiều
chu kỳ phân chia tế bào, gọi là hiện tượng nhân đôi: từ 1 tế bào duy
nhất thành 2, điều này diễn ra khoảng 30 tiếng đồng hồ sau khi trứng đã
thụ tinh. Sau 40-50 giờ, chúng sẽ tự phân chia thành 4 tế bào, và sau 60
tiếng đồng hồ thành 8 tế bào. Khi trứng đã thụ tinh tiến gần đến lối
dẫn vào tử cung, nó phát triển thành 16 tế bào, và người ta gọi nó là
phôi dâu (Morula). Sự kiện này diễn ra vào ngày thứ 4 kể từ khi trứng đã
thụ tinh. Trong giai đoạn này, chưa có sự tiền định của bất cứ một tế
bào nào sẽ trở thành một thực thể (entity) riêng biệt hay là bộ phận của
thực thể. Khoảng chừng ngày thứ 6 hoặc ngày thứ 7, hợp tử (tên gọi của
trứng sau khi đã thụ tinh) sẽ trở thành phôi bào (Blastocyst) và nó di
chuyển đến vách tử cung để bắt đầu tiến trình làm tổ, nếu thành công,
việc thụ thai sẽ diễn ra và phôi bào sẽ tiếp tục phát triển. Ở vào thời
điểm này, ta có thể phân biệt là phôi bào gồm có hai loại tế bào:
1) Loại tế bào thứ nhất trở thành màng bao bọc phôi bào (Trophectodern);
2) Loại thứ hai là các tế bào nội tại (Inner Cell Mass = ICM)
Các tế bào nội tại này sẽ thiết lập hầu hết các mô (tissues) của thân
thể. Mặc dầu các tế bào nội tại có thể tạo thành, dường như, tất cả các
loại tế bào nơi thân thể con người, nhưng chúng lại không có khả năng
để tạo thành một cơ thể (organism). Các tế bào nội tại được coi như là
các tế bào đa-năng, vì chúng có khả năng trợ giúp nhiều loại tế bào khác
nhau. Các tế bào nội tại có tính đa-năng, tuy nhiên, chúng không phải
là các tế bào toàn-năng, vì lý do đó chúng không thể tạo nên một cơ thể,
như các tế bào toàn-năng, tỷ dụ như tế bào hợp-tử.
Những tế bào gốc đa-năng (Pluripotent stem cells) tiếp tục trải qua
nhiều sự phân-hóa để trở thành những tế bào gốc với chiều hướng nhằm yểm
trợ các tế bào mà chúng có những chức-năng hoặc phận-vụ chuyên-biệt. Tỷ
dụ như tế bào gốc của máu (Blood stem cells), thì trợ giúp các hồng
huyết cầu và bạch huyết cầu. Các tế bào gốc của máu hiện diện trong tủy
(của xương – bone marrow) của trẻ em cũng như người lớn, thực vậy, chúng
có thể tìm thấy trong máu hiện đang lưu thông nơi các huyết quản. Tế
bào gốc của máu nắm giữ một vai trò rất quan trọng, trong công việc cung
cấp cho đủ số tế bào máu trong thân thể con người, suốt cả cuộc đời.
Các tế bào máu thì gồm có: hồng huyết cầu và bạch huyết cầu. Chúng ta
không thể sống sót nếu không có các tế bào gốc của máu.
II. TẾ BÀO GỐC LẤY TỪ ĐÂU RA?
Trong khoảng thời gian qua, có 2 phương pháp cơ bản để có thể lấy được các tế bào gốc đa-năng.[1]
• Cách thứ nhất được thực hiện do Dr. James Thomson, thuộc đại học Wisconsin – Hoa Kỳ vào năm 1998.
Các tế bào gốc đa năng được tách rời trực tiếp từ các tế bào nội tại
của phôi trong giai đoạn phôi bào (blastocyst). Sau đó đem cấy chúng vào
một môi trường thích hợp, với những điều kiện thiết yếu cho việc phát
triển, dần dần chúng sẽ sản xuất một loại tế bào gốc đa-năng.
• Cách thứ hai được thực hiện do Dr. Gearhart.
Ông ta tách biệt các tế bào gốc đa-năng từ các mô của bào thai đã
được hủy, vì không muốn tiếp tục cưu mang hoặc vì những lý do khác. Điều
này được thực hiện với sự đồng ý của chủ nhân bào thai và vị bác sĩ có
trách nhiệm. Ông ta chọn những tế bào thuộc các vùng của bào thai mà
biết chắc chắn rằng sau này, chúng sẽ phát triển thành tinh hoàn hoặc
buồng trứng.
Mặc dầu có sự khác biệt về hai nguồn cung cấp chất liệu để tạo nên
các tế bào gốc đa-năng. Tuy nhiên, kết quả của việc hình thành các tế
bào gốc này rất giống nhau.
Một loài tế bào gốc nữa, có tên là "Multipotent Stem Cells", có thể tìm thấy ở một vài loại mô trưởng thành (Adult tissues). Gần đây, có nhiều dấu chỉ khả quan cho thấy, các chuyên gia nghiên cứu có thể tìm thấy thêm nhiều loại tế bào gốc hiện diện trong các mô trưởng thành. Tỷ dụ trước đây, các chuyên gia nghiên cứu nghĩ rằng: các tế bào gốc dường như không có ở trong hệ thống thần kinh não. Nhưng những năm gần đây, họ đã khám phá ra và họ đã làm các cuộc thí nghiệm và cho thấy là họ có thể tách rời các tế bào gốc thuộc thần kinh (Neuronal Stem Cells) ra khỏi hệ thống thần kinh não của các chú chuột. Điều này đã được thực hiện do các khoa học gia thuộc viện Nghiên Cứu Y Học "The Walter and Eliza Hall" ở vùng Parkville, thuộc tiểu bang Victoria, thành phố Melbourne, Úc Đại Lợi. Họ đã tách biệt được tế bào gốc từ một khu vực của óc gọi là khu vực "Periventricular". Từ các tế bào gốc này, không những có thể tạo thành tế bào thần kinh, mà nó còn có thể tạo ra các mô và các cơ mới. Cho nên, với những thành công như vậy chắc chắn sẽ thúc đẩy việc nghiên cứu về tế bào gốc đi xa thêm một bước nữa, và hy vọng nó sẽ góp phần sáng chế ra những thứ thuốc, giúp cho những người bị chấn thương não sẽ tự phục hồi.
Ngược lại, nơi con người, các tế bào gốc loại này, nếu muốn thâu
hoạch, thì hiện nay chỉ có thể lấy từ các mô của bào thai (fetal
tissues). Hẳn nhiên, việc thử nghiệm này đối với con người thì còn rất ư
là hạn chế. Tuy nhiên, điều ấy cho thấy là có những dấu chỉ khả thi
rằng: không bao lâu nữa thì việc này có thể được áp dụng đối với con
người.
III. NHỮNG LỢI ÍCH KHẢ THỂ TRONG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN TẾ BÀO GỐC.
Qua các kết quả của các công trình nghiên cứu về việc sử dụng tế bào
gốc trưởng thành nơi con người cho thấy rằng các "Multipotent Stem
Cells" (tên của một loại tế bào gốc đa-năng), có tiềm năng rất lớn trong
công việc nghiên cứu lẫn việc phát triển phương pháp trị-liệu tế bào
(cell therapies). Một bằng chứng cụ thể, là ta có thể dùng các tế bào
gốc trưởng thành trong việc cấy, ghép. Nếu chúng ta có thể tách biệt
những tế bào gốc từ bệnh nhân, rồi tạo điều kiện thuận tiện để chúng từ
từ phân chia và sinh sản ra các tế bào có những chức năng chuyên-biệt.
Sau đó, chúng ta đem cấy chúng trở lại cho bệnh nhân. Làm như vậy thì sẽ
tránh được tình trạng các tế bào này bị từ chối hay bị phản kháng bởi
cơ thể của bệnh nhân.
Cách thức sử dụng các tế bào gốc trưởng thành cho các phương pháp
trị-liệu, nhằm thay thế các tế bào đã bị thoái hóa hay không còn khả
năng thực hiện các chức năng riêng biệt của chúng nữa, sẽ giảm thiểu
hoặc tránh né được, ngay cả việc sử dụng đến các tế bào gốc lấy được từ
các phôi hoặc các mô từ bào thai người. Điều này đã và đang gây nhiều sự
phản đối, vì những yếu tố về mặt luân lý.
1. Những lợi ích khả thể.
Những lợi ích khả thể mà các chuyên gia nghiên cứu hiện nay đưa ra
thì có lẽ nhiều vô số kể. Trong bài viết về "The Benefits of Human
Cloning." (http://www.humancloning.org/benefits.htm.),
thì tác giả đưa ra một số danh sách các lợi ích thực tiễn về "Human
Cloning". Nói chung hầu như là bá bệnh đều có thể trị được, nếu bằng
lòng áp dụng và cho phép "Cloning". Vì khuôn khổ của bài viết, nên tôi
mạn phép chỉ đề cập đến những gì có tính cách hiện-thực mà cộng-đồng thế
giới đang mong mỏi nơi các chuyên gia nghiên cứu, dựa trên những khám
phá gần đây nhất.
2. Việc sử dụng các tế bào gốc cho phương pháp trị-liệu.
Phần đông các bệnh tật nơi con người là kết quả do việc các tế bào
của chúng ta ngưng hoạt động hay không làm việc, theo đúng như chức năng
của chúng, hoặc do bởi các mô của thân thể bị hủy hoại. Hiện nay, để
thay thế cho các cơ phận hoặc ghép các bộ phận, cũng như mô không còn
hoạt động bình thường, các chuyên viên y khoa đã cần phải sử dụng đến
các bộ phận, tỷ dụ như tim, thận, tủy, mắt v.v.., được hiến tặng. Tuy
nhiên, không may cho chúng ta là số bệnh nhân càng ngày càng gia tăng và
vượt hẳn con số về các bộ phận mà chúng ta có được (do sự hiến tặng của
các ân nhân) để thay thế hay cấy, ghép. Tế bào gốc có thể cung ứng cho
ta một nguồn nguyên-liệu mới phong phú, hầu có thể thay thế các tế bào
và mô đã bị hỏng, nhằm chữa trị các chứng bệnh nan y, tỷ dụ như: bệnh
tim, bệnh ung thư, bệnh Parkinson, bệnh tiểu đường, bệnh mất trí nhớ,
bệnh chấn thương cột sống, cơn đột trụy (stroke), bệnh đau nhức thấp
khớp kinh niên, bị phỏng nặng v.v… Có thể nói hầu như các căn bệnh thông
thường hiện nay, đều có nhiều cơ may được điều trị bởi việc sử dụng các
tế bào gốc mà gần đây các chuyên gia nghiên cứu mới khám phá ra.[2] Ví dụ như bài viết sau đây: “Stem cells used to help cure sight loss.” (Tế Bào Gốc được sử dụng để giúp trị liệu nạn khiếm thị) By Danny Rose – AAP – ngày 28.05.2009
Figure 1. Contact lense có chứa tế bào gốc màng sừng mắt
Tuy nhiên, trước những dấu hiệu khả quan và những thành công rực rỡ
đã và đang gặt hái được nhiều thành quả vượt bực đáng kể trong công việc
điều trị các căn bệnh đương thời. Y học ngay nay vẫn còn gặp phải một
số vấn đề khó khăn trong công việc áp dụng và đưa các khám phá mới mẻ ấy
vào trong công việc thực hành cụ thể nơi các sở y tế. Những khó khăn
này tuy đáng kể, nhưng không phải là chúng ta không có khả năng vượt
qua.
Nói tóm lại, chúng ta cần chờ đợi với thời gian để xem coi các phát
minh mới ấy sẽ mang lại những lợi ích cụ thể gì cho nhân loại.
IV. QUAN ĐIỂM VÀ LẬP TRƯỜNG CỦA GÍAO HỘI CÔNG GIÁO.
Đứng trước các phát minh mới mẻ trong ngành y-sinh học, được thực hiện đầu thế kỷ thứ 21 này, cụ thể là việc sử dụng các tế bào gốc trong các phương pháp trị liệu. Giáo Hội Công Giáo luôn luôn tán thưởng và khuyến khích các nổ lực và sự thiện chí của các chuyên gia nghiên cứu. Cách đây vài năm tại Rôma, Giáo Hội Công Giáo đã tổ chức một Hội nghị chuyên đề, vào ngày 13-14, tháng 11, 2001 tại Đại học giáo hoàng Ateneo Pontificio Regina Apostolorum – Rôma. Hội nghị này đã được bảo trợ của 2 Đại học và 1 Học viện danh tiếng trên thế giới: Đại học Francisco de Vitoria (Madrid – Tây Ban Nha), Pontifical Athenaeum Regina Apostolorum (Rôma) và Guilé Foundation (European Institute for Social Studies – Thụy Sĩ), nhằm thảo luận về những vấn đề nan giải và những thiện-ích cho con người trong công trình nghiên cứu tế bào gốc.
Tiến sĩ Esmail D. Zanjani, một trong những chuyên gia đang dẫn đầu về
việc nghiên cứu tế bào gốc, hiện là giảng sư tại Đại học Nevada, Hoa
Kỳ, đã đưa ra những nhận định phù hợp với quan điểm và chiều hướng lập
luận hiện thời của Giáo hội Công Giáo. Ông ta phát biểu rằng: "Hiện nay,
có rất nhiều dữ kiện cho thấy, chúng ta có thể thành công trong viêc sử
dụng các tế bào gốc trưởng thành (Adult Stem Cells) để điều trị các
chứng bệnh về tim, và các mô bị hư hại. Sau nhiều lần thử-nghiệm thì kết
quả cho thấy công việc này đã rất có hiệu nghiệm." (Phỏng theo bài
thuyết trình của Dr. Zanjani tại hội nghị – Thứ tư 14 tháng 11, 2001).
Tiến sĩ Zanjani còn cho biết thêm, theo như kết quả của những cuộc
thử-nghiệm vừa qua thì nó chứng minh cho ta thấy, việc dùng các tế bào
gốc trưởng thành, đạt được những kết quả khả quan như đã tiên đoán.[3]
Cho nên, "Tôi (Dr. Zanjani) thiết nghĩ chúng ta không nhất thiết phải
sử dụng đến các tế bào gốc lấy được từ phôi (Embryonic Stem Cells), vì
điều đó gặp phải nhiều sự chống đối xét về mặt luân lý, mà đồng thời kết
quả thì cũng chưa chắc gì đã trỗi vượt hơn, việc dùng các tế bào gốc
trưởng thành trong các phương pháp trị liệu."
Với một lối suy tư tương tự như thế, bà Monica Lopez Barahona, giảng
sư tại Đại học Francisco de Victoria (Tây Ban Nha), khi được phóng viên
nhà báo phỏng vấn tại Hội nghị đã phát biểu như sau: "Không thể chấp
nhận được sự việc tạo một phôi người, rồi sau đó chỉ lấy các tế bào gốc
rồi thì hủy bỏ nó đi." Bà ta nhấn mạnh, theo quan điểm của các khoa học
gia, thì hiển nhiên đã có sự hiện diện của một “con người” ngay từ lúc
khi trứng được thụ tinh. Vì lý do đó, không thể chấp nhận được xét về
mặt đạo đức, khi sử dụng sự sống con người này (tức là các phôi được sử
dụng để lấy tế bào gốc) để cứu một người khác (để cấy ghép hoặc thay thế
các bộ phận bị hư hỏng). Quan điểm này, chúng ta có thể tìm thấy trong
giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo:
"Con người phải được đối xử như một nhân vị kể từ khi thụ tinh, và
vì vậy cũng từ lúc đó nhân quyền của nó phải được thừa nhận, trước hết
là quyền sống bất khả xâm phạm của một con người vô tội."[4]
|
[1]
. Tuy nhiên với những khám phá mới gần đây cho thấy các khoa học gia có
thể tìm thấy và thâu hoạch tế bào gốc từ các nguồn khác nữa, ví dụ: Tế
bào gốc cũng có thể lấy được từ dây rốn, dịch ối hay nhau thai của trẻ
sơ sinh, đặc biệt là trong tủy xương.
[2] . Nhật Báo The Australian hôm
29 tháng 5 năm 2009 đã loan tin cho biết là các chuyên gia nghiên cứu
tại Đại Học New South Wales, Úc Đại Lợi đã thành công chữa trị 3 bệnh
nhân mù lòa bằng việc sử dụng tế bào gốc trưởng thành. Dẫn đầu nhóm
nghiên cứu này là Dr. Nick Di Girolamo, ông và các cộng sự viên đã thành
công chữa trị cho ba bệnh nhân bị mù lòa vì màng sững mắt của họ không
còn hoạt động. Các chuyên gia này đã sử dụng tế bào gốc lấy từ mắt của
bệnh nhân rồi cho sản sinh ở các dĩa thí nghiệm, sau đó bỏ các tế bào
gốc này vào các “contact lenses” và rồi họ ghép nó vào mắt của các bệnh
nhân này. Khoảng 10-14 ngày sau, các tế bào gốc đã bám vào màng sửng mắt
và bắt đầu thay thế các tế bào đã bị thoái hóa hoặc hư hỏng, nhờ đó họ
đã có nhìn thấy và có thể đọc sách trở lại. Có thể nói đây là một thành
công khá rực rỡ trong việc sử dụng tế bào gốc trưởng thành trong y khoa
trị liệu. Mời qúi vị tham khảo bài viết ấy tại: http
[3]
. Độc gỉa có thể kiểm chứng điều này bằng việc tìm đọc các tài liệu đã
được phổ biến trên các tạp chí khoa học về việc sử dụng Tế Bào Gốc
trưởng thành trong phương pháp trị liệu. Điều này đã mang lại sự thành
công và có hiệu qủa khả quan hơn so với việc sử dụng Tế Bào Gốc phôi.
Luận điểm này đã được khoa học gia Ian Wilmut công nhận trong bài phỏng
vấn dành cho ký gỉa người Pháp – The French interview is at http://www.genethique.org/tribunes_mensuelles/mai_2009.asp. Bài phỏng vấn này cũng được dịch sang tiếng Anh và đăng tại:
Prof. Ian Wilmut là vị đã khai mào công trình nghiên
cứu về lãnh vực nhân bản vô tính và đã thành công trong việc tạo nên chú
cứu Dolly vào năm 1997 bằng phương pháp chuyển nhân.
Quí vị độc gỉa cũng có thể tham khảo thêm ở điạ chỉ
website dưới đây, để nắm rõ chi tiết về sự lợi ích của việc sử dụng tế
bào gốc trưởng thành trong phương thức trị liệu, xin nhấn vào đây: www.stemcellresearch.org. Theo thông tin của Zenit News – Published on Monday 8th June 2009 – http://www.zenit.org/article-26117?l=english
The readers can also go to www.stemcellresearch.org, and see for themselves the dozens of cures that have already been obtained with adult stem cells, and the zero cures with embryonic stem cells - all documented with research articles in scientific journals.
[4] . Xem Huấn Thị "Donum Vitae" (Qùa Tặng Sự Sống) do Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin ban hành ngày 22/02/1987.
