Home » GS NVTuấn
“6200 người nhập viện vì đánh nhau là bình thường”: một nhận xét bất bình thường
18:29 |
Nguyễn Văn Tuấn
![]() |
| GS Nguyễn Văn Tuấn |
Đó
là nhận định của Bộ Y tế về con số hơn 6200 người bị nhập viện vì ẩu đả nhau
trong 9 ngày nghỉ Tết (1). Chưa nói đến ngôn ngữ chính trị (vốn rất dở), chỉ cần
xem qua dữ liệu tôi thấy đây là một nhận định rất sai. Không thể xem hàng ngàn
trường hợp đánh nhau đến nhập viện là bình thường được. Trong cái note này tôi
sẽ chỉ ra rằng đó là một “hiện tượng” bất bình thường bằng cách dùng chính con
số của của Bộ Y tế.
Cách
mà Bộ Y tế lí giải con số đó là “bình thường” có thể xem là một cách ngụy biện
thống kê. Họ lí giải như sau: "Nếu
chia cụ thể con số gần 100 trường hợp trong 9 ngày thì trung bình mỗi
ngày mỗi địa phương chỉ xảy ra khoảng 11 trường hợp nhập viện vì đánh
nhau. Con số này không có gì bất thường" (1).
Có
cái gì đó buồn cười trong lí giải trên! Con số 11 trên là họ lấy 6207 trường hợp
ẩu đả chia cho 63 [tỉnh thành], rồi chia cho 9 ngày [thời gian nghỉ Tết]. Tức
là mỗi tỉnh chỉ có 11 ca nhập viện mỗi ngày. Có lẽ các bạn tự hỏi sao họ không
chia cho 24 giờ để con số trung bình chỉ còn 0.46, tức là mỗi giờ [trong thời
gian nghỉ Tết] ở mỗi tỉnh thành chỉ có 0.46 người nhập viện vì đánh nhau! Muốn
làm cho sự kiện lớn thì tính trên mỗi ngày cho cả nước; muốn làm cho sự kiện nhỏ
thì chia cho số giờ, thậm chí phút! Cách minh họa đó cho thấy “nói dóc bằng thống
kê” nó trơ trẽn và vô duyên như thế nào. Thật ra đó là một ngụy biện mà giới
khoa học gọi là “fallacy of average”, khi nào có dịp tôi sẽ quay lại khái niệm
này. Nhưng cách dùng con số thống kê của Bộ Y tế làm tôi nhớ đến câu nói nổi tiếng của Nhà thơ Andrew Lang "Some individuals use statistics as a drunk man uses lamp posts - for support rather than for illumination"
(tạm dịch "Vài người dùng con số thống kê như là một gã say rượu dùng
cái đèn đường -- họ dùng để tìm điểm tựa hơn là để soi sáng vấn đề).
Quay
lại nhận xét “bình thường”, câu hỏi đặt
ra là thế nào là bình thường? Xin chú
ý chữ “bình thường” tôi để trong ngoặc kép (bởi vì theo chuẩn mực đạo đức, đánh
nhau đến nhập viện là không bình thường). Cách hợp lí nhất là so sánh số ca nhập
viện trung bình mỗi ngày trong thời gian nghỉ Tết với thời gian ngoài Tết.
Tính
trung bình mỗi ngày trong thời gian nghỉ Tết vừa qua có ~690 người nhập viện vì
đánh nhau. Nhưng chúng ta không biết trong thời gian ngoài Tết, có bao nhiêu ca
nhập viện mỗi ngày vì đánh nhau. Do đó, tôi nghĩ đến 2 cách để so sánh: thứ nhất
là so số ca nhập viện vì ẩu đả với số ca tai nạn giao thông ngày thường. Thứ
hai là so sánh với cùng thời gian những ngày nghỉ Tết các năm trước. Hai so
sánh này sẽ giúp chúng ta có một nhận xét đúng đắn và có bằng chứng hơn.
So với số ca tai nạn giao thông
Tuy
nhiên, chúng ta biết rằng trong năm 2013 có 32266 người bị thương tích vì tai nạn
giao thông (2). Tính trung bình mỗi ngày có 88 người bị thương vì tai nạn giao
thông. Nếu tính cả 9805 người chết vì tai nạn giao thông, thì mỗi ngày có 115
người bị thương và tử vong do tai nạn giao thông.
Nhưng
trong thời gian nghỉ Tết, mỗi ngày có đến 690 người nhập viện vì ẩu đả nhau.
Như vậy, tính trung bình tỉ suất nhập viện vì ẩu đả trong ngày Tết tăng gấp 6 lần
so với tỉ suất thương vong vì tai nạn giao thông. Xin nhắc lại: cao gấp 6 lần.
Có thể xem sự chênh lệch đó là “bình thường” không? Tôi nghĩ chỉ có người có
suy nghĩ bất bình thường mới nói đó là “bình thường”.
So với kì nghỉ Tết năm 2012 và 2013
Một
cách khác để đánh giá bình thường hay không là so sánh tỉ suất năm 2014 với các
năm trước. Bài báo trên Vietnamnet cho biết số ca nhập viện vì đánh nhau trong
ngày Tết qua các năm như sau:
Năm
2014: 6702 ca
Năm 2013: 4737 ca
Năm 2012: 3995 ca
Năm 2013: 4737 ca
Năm 2012: 3995 ca
Như
vậy, so với năm 2012, số ca ẩu đả và nhập viện năm 2014 tăng đến 55%! Rõ ràng
có sự gia tăng về số ca ẩu đả đến nỗi phải nhập viện. Nhưng so sánh đó chưa
công bằng vì chúng ta phải tính đến dân số, mà dân số thì tăng trưởng mỗi năm.
Dân số của VN qua 2012-2014 là như sau:
Năm
2014: 92.55 triệu người
Năm 2013: 89.71 triệu người
Năm 2012: 88.77 triệu người
Năm 2013: 89.71 triệu người
Năm 2012: 88.77 triệu người
Vấn
đề đặt ra là sự gia tăng số ca nhập viện là do dao động thống kê hay là do yếu
tố nào khác? Chúng ta phải kiểm định giả thuyết đàng hoàng. Gọi tỉ suất nhập viện
vì ẩu đả trong thời gian nghỉ Tết năm 2012, 2013 và 2014 lần lượt là L12, L13,
và L14. Dùng số liệu trên, chúng ta có thể ước tính L(t) cho từng năm như sau:
Năm
2014: L14 = 6702 / (92.55*9) = 8.046 trên 1 triệu;
Năm 2013: L13 = 4737 / (89.71*9) = 5.867 trên 1 triệu;
Năm 2012: L12 = 3995 / (88.77*9) = 5.000 trên 1 triệu;
Năm 2013: L13 = 4737 / (89.71*9) = 5.867 trên 1 triệu;
Năm 2012: L12 = 3995 / (88.77*9) = 5.000 trên 1 triệu;
Nếu
phát biểu của Bộ Y tế là đúng (tức “bình thường”) thì chúng ta kì vọng rằng L14
= L13 = L12, hoặc có khác nhau chút ít do dao động thống kê. Nhưng kết quả tính
toán trên cho thấy hình như giả thuyết này không đúng. Tuy nhiên, vẫn chưa thể
kết luận được rằng L14 khác với L13 hay L12, vì chúng ta chưa xem xét đến yếu tố
dao động ngẫu nhiên qua các năm.
Chúng
ta cần phải tính xác suất dữ liệu xảy ra nếu L14=L13 là bao nhiêu. Nói cách
khác, gọi dữ liệu là D, và giả thuyết bình thường là H0: L14=L13, chúng ta cần
tính P(D | H0). Nếu xác suất này là thấp, thì chúng ta có thể bác bỏ giả thuyết
“bình thường”, và kết luận rằng sự gia tăng số ca nhập viện trong dịp Tết vừa
qua là không “bình thường”.
Nhưng
làm sao tính xác suất đó? Phương pháp thống kê đơn giản nhất và thích hợp nhất
để so sánh 2 tỉ suất là phương pháp kiểm định Poisson (3). Giả định rằng tỉ suất
L14, L13 và L12 tuân theo luật phân bố Poisson. Theo luật phân bố Poisson,
phương sai của số ca nhập viện cũng chính là L. Điều này dẫn đến một phương
pháp kiểm định giả thuyết rất đơn giản, dựa trên khác biệt giữa 2 thời gian.
Dùng ngôn ngữ R, tôi tính được xác suất như sau:
So
sánh tỉ suất năm 2014 và 2013:
>
poisson.test(c(6207, 4737), c(9*92.55, 9*89.71),
alternative=c("two.sided"))
P-value
< 2.2e-16
rate ratio: 1.27 (95 percent confidence interval: 1.22, 1.32)
rate ratio: 1.27 (95 percent confidence interval: 1.22, 1.32)
Nói
cách khác, tỉ suất nhập viện vì đánh nhau năm 2014 cao hơn năm 2013 là 27%, và
khoảng tin cậy 95% dao động từ 22% đến 32%. Trị số P rất nhỏ (2.2e-16).
Tương
tự, so sánh tỉ suất năm 2014 và 2012:
>
poisson.test(c(6207, 3995), c(9*92.55, 9*88.77),
alternative=c("two.sided"))
P-value
< 2.2e-16
rate ratio: 1.49 (95 percent confidence interval: 1.43, 1.55)
rate ratio: 1.49 (95 percent confidence interval: 1.43, 1.55)
Tỉ
suất nhập viện vì đánh nhau năm 2014 cao hơn năm 2012 đến 1,49 lần, và khoảng
tin cậy 95% dao động từ 1.43 đến 1.55 lần. Một lần nữa, trị số P cũng rất thấp.
Nói
tóm lại, nếu giả thuyết “bình thường” là đúng thì xác suất mà chúng ta quan sát
tỉ suất năm 2014 so với các năm trước là rất rất thấp. Nói cách khác, số liệu
thực tế cho thấy sự khác biệt về tỉ suất số ca nhập viện vì ẩu đả nhau trong thời
gian 2012-2014 là không phải do yếu tố dao động thống kê, mà có sự khác biệt thật
sự. Do đó, giả thuyết “bình thường” bị loại bỏ.
Để kết
luận, xét trên 2 tiêu chí (so sánh theo thời gian và so sánh với số ca tai nạn
giao thông) đều cho thấy số ca nhập viện vì ẩu đả nhau trong thời gian nghỉ Tết
vừa qua là quá cao. Trong 3 năm liên tiếp, số ca nhập viện vì ẩu đả liên tục
gia tăng. Do đó, nhận định “6.200 người
nhập viện vì đánh nhau là bình thường” chẳng những rất sai lầm mà còn rất …
bất bình thường. Một Bộ chuyên lo quản lí sức khỏe của một nước mà có thể thốt
lên rằng 6000 ca nhập viện vì ẩu đả là "bình thường" thì quả thật người
dân cũng có lí do để quan tâm đến cảm xúc (empathy) của Bộ đó. Có lẽ Gs Trần Ngọc
Thêm nói đúng, “Bởi vì hiện nay, theo cảm nhận của nhiều người có kinh nghiệm,
sự sa đọa của những phẩm chất con người, của văn hóa đã xuống chạm đáy rồi,” nên một sự kiện kinh hoàng đối với thế giới thì lại bình thường
ở VN.
====
(3)
Gọi biến phản ảnh số ca nhập viện là X, và x là số ca nhập viện, luật phân bố
Poisson phát biểu rằng P(X = x) = e^(-m)*m^x / x! Có thể dùng rpois(n, lambda)
trong R để mô phỏng số ca nhập viện rất dễ dàng.
Sống với tỉ số thiền
06:51 |
Nguyễn Văn Tuấn
Sáng nay có người gửi
tôi một bài viết mà đọc một vài dòng đầu tôi mới biết là của mình! Bài này viết
cho báo Tết cũng đã 2 hay 3 năm rồi, và vì website bị đánh sập nên tôi mất
luôn. Lúc đó tôi đọc được một cuốn sách cực kì hay có tựa đề là "Born to
be good" của Dacher Keltner, một nhà tâm lí học. Sách có đề cập đến khái
niệm "Zen ratio" rất thú vị, và cuốn sách làm tôi thức gần nửa chuyến
bay Los Angeles về Sydney. Về đến nhà, vội vàng viết lại bài này. Nay bắt gặp
những suy nghĩ đầu năm của mình lúc đó thấy cũng có lí và còn tính thời sự nên
mới post lại ở đây.
Sự học lúc nào cũng
làm cho chúng ta khiêm tốn hơn. Khi mới tốt nghiệp tú tài II (bây giờ là trung
học phổ thông), tôi nghĩ mình đã thấu hiểu kim cổ, nhưng khi lên đại học chỉ
qua vài bài giảng tôi mới thấy mình chẳng biết gì sâu sắc cả. Khi tốt nghiệp đại
học, tôi nghĩ mình đã là một người có hiểu biết hay “trí thức”, nhưng thầy tôi
bảo tốt nghiệp đại học chỉ mới đánh dấu một giai đoạn “trưởng thành”. Đến khi
vào học tiến sĩ tôi hăm hở sẽ chinh phục và giải quyết vấn đề của thế giới,
nhưng sau bốn năm rèn luyện và tốt nghiệp, tôi càng thấy mình rối rắm, nếu
không muốn nói là mụ mị hơn! Thế mới nghiệm ra một chân lí rằng bể học rất mênh
mông, càng học càng thấy mình chưa đến bờ bến. Nhưng cái lợi ích rất hay của việc
học hành (và giáo dục nói chung) không phải chỉ là trang bị kiến thức mới, mà
là làm cho chúng ta nhận thức ra những thiếu sót và yếu kém của mình.
Thế nhưng trong thực
tế, ít ai nhận ra yếu kém của mình. Ngược lại, người có học thường tự đánh giá
mình quá cao. Họ thường tự xem mình là trung tâm của thế giới, là tài giỏi hơn
mọi người chung quanh. Vì quá bận tâm với cái tôi, đến những sở thích, mong muốn
cá nhân, và có khi tự huyễn hoặc mình, họ trở thành những người vị kỉ, thậm chí
narcissistic. Nhưng cuộc sống là một hàm số khổng lồ mà trong đó mọi cá nhân phải
phụ thuộc vào nhau và với nhau để tồn tại, nên tự huyễn hoặc mình quan trọng
hơn người khác là một điều rất hoang tưởng. Theo tôi, vấn đề không phải là ai
quan trọng hơn ai, nhưng là mình có thể đóng góp gì cho xã hội, có thể đem lại
phúc lợi gì cho cộng đồng để cuộc cuộc sống có ý nghĩa hơn và chất lượng sống
cao hơn.
Tôi muốn đề nghị rằng
ý nghĩa của cuộc sống và chất lượng sống qua lăng kính của tỉ số thiền hay còn
gọi là "Zen ratio". Thiền là một ý tưởng chủ đạo trong giáo huấn của
Khổng Tử, đề cập đến những lòng nhân đạo và điều tốt lành làm nền tảng của những
mối liên hệ giữa các cá nhân trong xã hội. Theo Khổng Tử, người thiền là người
không chỉ muốn thiết lập chí khí cho riêng mình, nhưng cũng thiết lập chí khí
cho người khác. Hiểu theo nguyên lí này, người thiền là người mang phúc lợi cho
người khác và không làm điều gì gây tổn hại đến người khác. Từ đó, tỉ số thiền
có thể định nghĩa là tỉ số của những phúc lợi trên những tác động tiêu cực
trong mỗi việc làm của chúng ta. Tử số của tỉ số thiền là những việc làm đem lại
tác động tích cực, và mẫu số là những tác động không tích cực, thậm chí tác hại
đến người khác.
Có thể xem tỉ số
thiền như là một tiêu chí để chúng ta quyết định hành động mỗi ngày. Câu hỏi
“tôi có nên viết bài báo này hay không” có thể trả lời bằng tác động tích cực
và tiêu cực của bài báo. Tác động tích cực có thể là những lời khuyên cho các bạn
đọc sống tử tế hơn, nhưng tác động tiêu cực có thể là bài báo sẽ làm cho một số
bạn đọc không hài lòng, thậm chí tức giận. Nhưng bất cứ việc làm nào cũng có
hai mặt: tích cực và tiêu cực, nên không khi nào chúng ta có thể đạt tỉ số thiền
bằng 0. Nhưng nếu tỉ số thiền của bài báo trên 10 thì tôi nghĩ việc làm của tôi
có ý nghĩa. Nhiều nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng mỗi tuần một cá nhân làm được
5 việc với tỉ số thiền trên 10 thì người đó sẽ là một người hạnh phúc và cuộc sống
có ý nghĩa hơn.
Cuộc sống có ý
nghĩa không hẳn là nhờ vào tiền. Một nghiên cứu ở Mĩ cho thấy 74% sinh viên cho
biết động cơ chính để theo học đại học là vì lí do kinh tế. Nhưng tiền bạc có
thật sự làm cho chúng ta hạnh phúc thì vẫn là một câu hỏi khó có câu trả lời. Đối
với người nghèo thì câu trả lời là “có”, vì vật chất giúp họ vượt qua khỏi hoàn
cảnh khốn khó. Đối với người trung lưu hay giàu có, thì câu trả lời là “không”,
vì những gì họ quan tâm là tình trạng bất an, bệnh tật, và có khi cái chết. Những
nghiên cứu này cho thấy một cách nhất quán rằng tiền bạc và địa vị không phải
là yếu tố làm cho chúng ta hạnh phúc; chính những mối liên hệ tình cảm lành mạnh
giữa người với người và sức khỏe mới là yếu tố định hình tính hạnh phúc. Nói
cách khác, chính tỉ số thiền là yếu tố xác định chúng ta hạnh phúc hay không hạnh
phúc.
Tỉ số thiền không
chỉ là một tiêu chí cho hành động mà còn là thái độ và hành vi. Trong tiếng
Anh, cũng như tiếng Việt, có nhiều từ để mô tả cảm xúc tiêu cực hơn là từ tích
cực. Điều này có thể hiểu được, bởi vì những xúc cảm tiêu cực là bản chất tự
nhiên của con người và là một “đơn vị” trong cuộc sống hàng ngày. Một nụ cười,
một biểu hiện thông cảm qua ánh mắt, hay một cử động thân mật, v.v. cũng có thể
gây tác động tích cực và làm gia tăng tỉ số thiền.
Trong cuộc sống đa
chiều có những mối liên hệ chằng chịt và phức tạp, không có cá nhân nào làm nên
tất cả. Mỗi chúng ta đều phải phụ thuộc vào người khác để tồn tại. Trong khoa học,
mỗi nhà khoa học phải đứng trên vai của người đi trước để có được sự nghiệp
ngày hôm nay. Thật là ngây thơ nếu tự huyễn hoặc mình là quan trọng nhất, vì đó
là yếu tố dẫn đến sự thất bại. Để thành công trong cuộc sống, tôi nghĩ nên sử dụng
tỉ số thiền như là một kim chỉ nam hay một tiêu chí. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có
một câu nói đơn giản nhưng nói lên tất cả triết lí của tỉ số thiền. Trả lời
Khánh Ly về ý nghĩa của cuộc sống, Trịnh Công Sơn nói “Sống giữa đời sống cũng cần có một tấm lòng”. Đó là tấm lòng tử tế
với nhau. Tôi diễn giải câu đó như là một tối ưu hóa tỉ số thiền để làm cho cuộc
sống có chất lượng cao hơn.
Một vài kỉ niệm nhân Ngày nhà giáo
06:04 |TMSS: Ngày nhà giáo đã qua. Song, đọc bài này của GS Nguyễn Văn Tuấn thấy ý nghĩa và gọi lại hình ảnh thân thương của những thầy cô giáo mình năm xưa. Xin phép được đưa về đây như một kỷ niệm để đôi khi đọc lại và gẫm suy về thời thế và cuộc đời!
-----------------
Tản mạn: Một vài kỉ niệm nhân Ngày nhà giáo
Tính đi tính lại,
Việt Nam có nhiều "Ngày" vinh danh. Nào là Ngày Phụ Nữ, Ngày Thầy Thuốc,
Ngày Nhà Giáo, v.v. Ở nước ngoài, như Úc chẳng hạn, tôi không thấy người ta kỉ
niệm những ngày này. Nhưng sau khi tìm hiểu, tôi mới biết hầu hết những ngày
vinh danh như vừa đề cập đều có xuất xứ từ các nước xã hội chủ nghĩa cũ hoặc từ
Việt Nam.
Đa số các nước trên
thế giới (trên 100 nước) lấy ngày ngày 5/10 để làm Ngày Nhà Giáo Thế Giới
(World Teachers' Day). Tổ chức UNESCO của Liên Hiệp Quốc cũng chấp nhận lấy
ngày 5/10 làm Ngày Nhà Giáo (1). UNESCO xem Ngày Nhà Giáo như là một cách làm
cho công chúng hiểu được và ghi nhận sự đóng góp quan trọng của các nhà giáo đến
việc phát triển nền giáo dục. Không có cái thông điệp chính trị gì trong Ngày
Nhà Giáo.
Thế thì tại sao VN
lấy ngày 20/11 làm Ngày Nhà Giáo? Hoá ra, ngày này xuất phát từ thế giới XHCN
cũ, và nó có cái ý nghĩa chính trị. Năm 1957, một số nhóm nhà giáo thuộc các nước
XHCN cũ nhóm họp ở Ba Lan để xây dựng nền giáo dục XHCN, nằm "bảo vệ những
quyền lợi của nghề dạy học và nhà giáo" và đấu tranh chống lại "nền
giáo dục tư sản, phong kiến" (2). Do đó, ngày này chỉ có các nước theo
XHCN kỉ niệm thôi, chứ đa số các nước khác trên thế giới lấy ngày 5/10 làm Ngày
Nhà Giáo. Nói như thế để thấy rằng VN tuy nói là đang hội nhập quốc tế, nhưng
trng thực tế vẫn còn lưu luyến một số "kỉ niệm" và biểu tượng thời
XHCN.
Tôi không dạy học một
cách chính thức, nhưng tôi nhận được rất nhiều chúc mừng nhân ngày Nhà Giáo
20/11. Dù xuất xứ của cái ngày này không được hay ho mấy (ví mang màu sắc chính
trị) nhưng thú thật tôi vẫn thấy nó có ý nghĩa tích cực. Tích cực không phải hiểu
theo nghĩa thầy cô được tặng bao thư đâu (vì đó là hối lộ rồi), mà theo ý nghĩa
nhắc nhở công chúng nhớ đến sự đóng góp hết sức quan trọng của người thầy trong
quá trình trưởng thành của một con người.
Trong đời người, ai
cũng có một người thầy hay một người cô đáng nhớ. Thời tôi còn học tiểu học, xã
hội ví von rằng thầy cô là cha mẹ thứ hai. Lớn lên mới thấy ví von đó rất đúng,
bởi vì thầy cô chính là những người thay cha mẹ dạy dỗ mình, chẳng những dạy chữ,
chuyển giao kiến thức, mà còn cách cư xử ở ngoài đời. Ở Úc này, tôi thấy nhiều
khi học trò nghe lời cô giáo còn hơn là nghe lời cha mẹ. Cứ mỗi lần cha mẹ người
Việt nói gì đó chưa hợp với văn hoá địa phương là bị con cái chỉnh sửa ngay: cô
giáo con dạy là như vầy, chứ không phải vậy!
Trong đời tôi thì
dĩ nhiên có nhiều thầy cô, kể ra khó hết được. Nhưng hai người để lại ấn tượng
nhất trong tôi là Thầy Phát (hiệu trưởng trường tiểu học dưới quê) và anh Hai
tôi. Tôi từng ghi lại những cảm nhận và kỉ niệm về hai người thầy đặc biệt này
(3). Mấy ngày gần đây khi nghe người ta bàn tán về môn văn, tôi chợt nhớ đến một
người thầy tên là Thầy B. Nhớ một cách day dứt, vì thầy là người gieo cái đẹp của
văn chương và đam mê viết văn cho tôi.
Thầy B dạy văn
chương cho tôi năm đệ ngũ. Nghe nói Thầy được biệt phái hay giải ngũ từ quân đội.
Thầy B người thấp, không đẹp trai mấy nhưng không xấu tướng, ăn nói rất hoạt
bát, miệng lúc nào cũng cười, áo chemise trong quần tây, đầu tóc chải chuốc
láng cóng. Nói chung, thầy toát lên cái air của người phong lưu, lịch thiệp. Thật
ra, thời đó, các thầy đều ăn mặc như thế. Thầy B khác các thầy khác là thầy có
chiếc vespa rất oách (thuở đó, chỉ có thầy B và thầy hiệu trưởng có vespa). Thầy
dạy văn tuyệt vời. Tôi phục lăn trí nhớ về văn thơ của thầy. Thầy có thể đọc
hàng chục bài thơ của Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Huy Cận, Thế Lữ, Thâm Tâm, v.v.
mà không sai chữ nào, và thầy có vẻ tự hào về trí nhớ đó. Chẳng những thế, thầy
có cách dạy văn rất tuyệt ở chỗ là mỗi một đoạn văn đều được kèm theo giải
thích về điển tích (như "sơn khê" có nghĩa là gì chẳng hạn) làm đám học
trò chúng tôi há hốc ra nhìn thầy giảng. Tôi có cảm giác là những lần thầy giảng
là những lần thầy độc thoại và hùng biện thì đúng hơn, vì chúng tôi rất ít khi
nào chất vấn gì cả.
Nhưng nói đến thầy
B, tôi phải nhắc đến cô H, dạy toán. Hình như lúc đó, Cô chỉ mới tốt nghiệp đại
học sư phạm vài năm thôi. Lúc đó, dù còn nhỏ nhưng đám học trò chúng tôi đã cảm
nhận được cô H đẹp lộng lẫy, y như câu nói "mặt hoa da phấn". Tôi vẫn
còn nhớ như in rằng Cô thường đến trường tên chiếc xe Honda Dame màu trắng, áo
dài bông, tóc dài ngang lưng, đeo kính mát đen (thời trang thời đó), và mặt lúc
nào cũng tươi như hoa. Dù xinh đẹp như thế, nhưnng mặt cô toát lên cái air rất
nghiêm trang, làm cho học trò gặp cô là … hơi ngán. Cô dạy toán cực kì thú vị
và hay. Tôi phải thú nhận rằng tôi ham mê toán thời đó cũng một phần là từ cách
dạy của cô. Sau này tôi vẫn sử dụng cách dạy đại số của Cô là phải làm từng bước
một, hay dấu = phải ngay hàng thẳng lối, hay dấu phân số phải nằm giữa dấu =, dấu
căn số phải viết đâu ra đó, vân vân. Đứa nào viết phương trình toán không đẹp
là bị khẻ tay ngay. Tôi là học trò cưng của cả thầy B và cô H, vì nói cho ngay,
lúc đó tôi học cũng khá và ngoan hiền, nên được nhiều thầy cô quí mến lắm.
Chuyện thầy B và cô
H xảy ra chung quanh hai lớp đối diện. Các phòng học của trường được thiết kế
theo kiểu bốn dãy phòng hình thành theo mô hình hình vuông, chính giữa là một
sân cỏ rộng. Chẳng hiểu ngẫu nhiên hay có sắp xếp, cứ đến giờ học của cô H thì
phòng đối diện là giờ của thầy B. Những khi có giờ của cô H, thầy B cho mở cửa
toang, dạy rất hăng và … hay. Thầy giảng thao thao bất tuyệt. Sau này, nghĩ lại
tôi mới biết là những lời giảng của Thầy đều nhắm vào cô như là một cách tỏ
tình. Thật ra, lúc đó thầy B thương cô H (còn Cô có thương Thầy B hay không thì
chẳng ai biết, vì phụ nữ nhiều khi rất khó hiểu). Thầy oang oang giảng bài thơ
nổi tiếng của Nguyễn Bính: Nhà nàng ở cạnh
nhà tôi / cách nhau cái dậu mồng tơi xanh dờn / Hai người sống giữa cô đơn /
Hình như nàng có nỗi buồn giống tôi … Thỉnh thoảng còn đem thơ Xuân Diệu ra
đọc: Làm sao cắt nghĩa được tình yêu / Có
nghĩa gì đâu một buồi chiều / Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt / Bằng mây nhè nhẹ
gió hiu hiu. Tôi thuộc lòng bài thơ này từ hồi nào chẳng hay.
Có vài lần thầy nhờ
tôi trao thư cho cô H. Thư thường được gửi bằng bao thư màu hồng, kẹp trong một
cuốn sách. Thầy B chỉ đơn giản nói với tôi là "đến giờ toán, em giao thư
này cho cô H dùm thầy nhé". Thú thật, lúc đó tôi chưa biết điều đó có ý
nghĩa gì, nhưng được Thầy giao cho “trọng trách” như thế là hãnh diện lắm rồi!
Còn phần cô, tôi nhớ chỉ có 2 lần cô nhờ tôi trao thư cho Thầy B.
Bẵng đi một thời
gian dài cũng trên 10 năm gì đó, đến đầu năm 1981, tôi tình cờ gặp lại Thầy và
Cô, lúc này đã là vợ chồng. Cả Thầy và Cô đều … “mất dạy”. Nhìn Thầy da xậm nắng,
dáng dấp phong trần, tôi hỏi qua Thầy làm nghề gì. Thầy cho biết sau 1975 đi học
cải tạo 2 năm, ra khỏi trại không còn dạy học, làm đủ thứ nghề khuân vác, đạp
xe lôi, buôn bán để sống qua ngày. Nay thì Thầy có việc làm tương đối ổn định
hơn: bán vé xe đò! Còn Cô thì tôi không biết làm gì. Tôi hỏi dạo này người ta
vượt biên nhiều quá, sao Thầy Cô còn ở đây, thì Thầy méo miệng cười buồn nói:
tiền đâu, nghèo rớt mồng tơi mà. Nhìn hai người, tôi chợt ngậm ngùi cho khó
khăn mà hai người phải trải qua. Tôi không còn nhận ra một Thầy B sang trọng
ngày nào, không còn nhận ra cô H thướt tha, đài các của ngày xưa. Ôi, thời thế
làm cho Thầy và Cô tôi nghèo khó và tiều tụy như bây giờ. Thế nhưng Thầy vẫn
tươi cười, thậm chí còn mời tôi đi uống cà phê! Hôm đó là ngày tôi gặp hai Thầy
Cô lần cuối, vì chỉ vài tháng sau là tôi rời Việt Nam.
Cho đến nay, hơn 30
năm sau, tôi vẫn chưa gặp lại Thầy B và cô H. Còn thầy Phát dưới quê tôi thì đã
ra người thiên cổ sau khi mất chức hiệu trưởng ngay sau năm 1975. Anh Hai tôi
thì không biết qua đời vào ngày nào, chỉ biết là năm 1981, vì chuyến vượt biển
đó tất cả 21 người trên tàu đều biệt vô âm tín. Nhưng hình bóng của các thầy và
cô vẫn in đậm trong tôi, mãi mãi không thể xóa mờ được. Cho dù tôi có trở thành
chức danh gì trong xã hội phương Tây nhưng những chữ mà các thầy cô đã gieo vào
tôi lúc đầu đời sẽ không bao giờ quên.
Sau này, tôi thỉnh
thoảng trở thành … thầy. Thật ra, nói “thầy” cho oai, chứ tôi ít khi nào lên lớp.
Ấy thế mà lâu lâu tôi nhận vài lá thư chúc mừng nhân ngày Nhà giáo từ những bạn
mà tôi chỉ có dịp giảng một vài bài trong các lớp học ngắn hạn bên VN. Điều
đáng nói là có những bạn tôi chưa từng giảng một bài nào, thậm chí có bạn tôi
còn chưa gặp mặt ngoài đời, nhưng cũng có gửi thư chức mừng, và nghĩa cử đó quả
thật làm tôi xúc động và ấm lòng. Thời đại thực dụng bây giờ và trong bối cảnh
đạo đức xã hội xuống cấp như hiện nay mà còn có người biết tình thầy trò, còn
nhớ đến câu “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, thì chẳng là một niềm an ủi sao.
Xin thành thật cám
ơn các bạn đã có những lời chúc mừng tôi nhân Ngày Nhà giáo. Tôi cũng nhân dịp
này mà chúc các bạn gặt hái được nhiều thành công trong học tập và nhiều may mắn.
=====
Thư của Bộ trưởng Bộ Giáo dục (tưởng tượng) gửi quí vị nhà giáo
05:53 |
GS Nguyễn Văn Tuấn
Hôm qua, nhân dịp đọc
thư của ngài Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo gửi các thầy cô nhân Ngày Nhà
Giáo Việt Nam (1), tôi thấy lấn cấn đôi điều. Lá thư không có nhiều thông tin, thiếu
ý tưởng, mà chỉ lặp lại rất nhiều khẩu hiệu quen thuộc. Ngoài ra, lá thư được
viết với một văn phong rất lạ lùng. Có 2 câu văn, mà mỗi câu trên 110 chữ! Đọc
xong lá thư tôi chẳng hiểu gì cả. Thế là có bạn đọc đề nghị tôi là "thử viết
một lá thư xem". Tôi thấy ý này hay, nên sáng nay tôi pha một li cà phê,
và tưởng tượng mình là Bộ trưởng Bộ Giáo dục viết thư cho các đồng nghiệp giáo
viên. Tôi thảo lá thư dưới đây để gửi đến quí vị nhà giáo. Mỗi lá thư phải có
cái theme chính, và như các bạn sẽ thấy trong lá thư này, tôi nhấn mạnh đến việc
ca ngợi công lao của quí thầy cô trong việc kiến tạo xã hội. Ở phần cuối thư,
tôi muốn tỏ lòng thành (chứ không nói suông) bằng cách yêu cầu mọi người nói lời
"cảm ơn" đến các vị nhà giáo. Nào, bây giờ các bạn góp ý và tôi sẽ chỉnh
sửa. Năm sau sẽ gửi thư này cho bác Phạm bộ trưởng để bác ấy dùng (nếu cần) :-).
------------------------------------
Mến gửi quí thầy
cô,
![]() |
| GS Nguyễn Văn Tuấn |
Nhân
Ngày Nhà Giáo
Việt Nam, tôi xin gửi lời chúc mừng chân thành nhất đến quí thầy cô. Xã
hội ta là một xã hội tôn sư trọng đạo, và Ngày Nhà
Giáo là một trong những ngày đáng nhớ nhất và được quí trọng nhất trong
xã hội
chúng ta, bởi vì các thầy cô lúc nào cũng được kính trọng, trong vai trò
đặc biệt
là người kiến tạo tâm hồn cho thế hệ trẻ. Tôi cũng nhân dịp này để ghi
nhận và vinh danh sự đóng góp cao cả của quí thầy cô cho sự phát triển
của
đất nước và dân tộc trong năm qua.
Ở mức độ cơ bản nhất,
tương lai của đất nước và dân Việt Nam được định hình ở hai nơi: gia đình và
nhà trường. Chính ở nhà trường vai trò của quí thầy cô có thể xem như là những
bậc cha mẹ thứ hai. Quí thầy cô đóng góp vào việc hình thành một thế hệ công
dân tương lai, qua việc gieo cho các em học trò tình yêu quê hương đất nước và
niềm tự hào dân tộc, vun đắp nhân văn, và nâng cao ý thức trách nhiệm xã hội.
Do đó, tiền đồ đất nước và dân tộc, tôi xin nói một lần nữa, là kết quả của những
gì quí thầy cô giảng dạy và hướng dẫn trong trường học.
Không phải ngẫu
nhiên mà nhà hiền triết Aristotle từng nói rằng những người dạy học đáng được
kính trọng hơn cả những bậc sinh thành. Cha mẹ cho chúng ta chất liệu di truyền để
hình thành một cơ thể độc nhất vô nhị trên hành tinh. Quí thầy cô trang bị cho
cái cơ thể độc đáo đó một nghệ thuật sống tốt và một tâm hồn tốt, giúp cho
chúng ta hoà hợp với mọi người khác trong cộng đồng. Từ một cá thể độc đáo,
chúng ta trở thành một người của mọi người và vì mọi người. Đó là một sự hoán
chuyển kì diệu nhờ công của quí thầy cô. Chúng ta ai cũng dễ dàng nhận ra rằng
tri thức là sức mạnh, nhưng ít ai nhận ra rằng người gieo mầm và vun bồi tri thức
chính là các thầy cô. Nhìn như thế để thấy công lao của quí thầy cô là vĩnh cửu.
Tôi thấy có hai xu
hướng xã hội mà quí thầy cô có thể đóng góp nhiều hơn nữa. Xu hướng thứ nhất là
sự tiến bộ của khoa học và công nghệ quá nhanh chóng, làm cho con người dần dần
trở nên thu mình vào một thế giới rất cá nhân, thậm chí sống vị kỉ. Xu hướng thứ
hai là tình trạng tàn bạo và vi phạm quyền sống của con người càng ngày càng
gia tăng một cách đáng ngại. Quí thầy cô ở một vị thế lí tưởng để góp phần trực tiếp làm thuyên giảm
hai xu hướng đó, và kiến tạo một xã hội đáng sống hơn, mà trong đó con người cư
xử với nhau tử tế hơn. Tôi kêu gọi quí thầy cô ngoài việc vun bồi kiến thức,
nên tranh thủ thời gian để gieo cho các em tình yêu thương đồng loại, tôn vinh tinh thần kính
trọng những người chung quanh, và lòng rộng lượng với đồng loại và loài vật.
Một lần nữa, tôi mến
chúc quí thầy cô dồi dào sức khoẻ, hạnh phúc, và làm việc hăng say vì lợi ích của
sự trường tồn dân tộc. Nhân dịp này, tôi xin mời tất cả công dân Việt Nam nói lời
"cảm ơn" chân thành đến quí thầy cô của chúng ta.
Bác sĩ cần môn nào hơn cả Văn học?
17:46 |Bác sĩ cần môn nào hơn cả Văn học?
Nguyễn Văn Tuấn
Gần đây có ý kiến đề xuất đưa môn văn vào kì thi tuyển sinh trường Y,
với kỳ vọng giúp những người công tác trong ngành (như bác sĩ, y tá)
"nói năng lưu loát, diễn đạt văn bản rõ ràng, đúng ngữ pháp". Tuy nhiên,
theo tìm hiểu của người viết, chưa có chứng cứ khoa học nào để cho rằng
giỏi văn chương giúp bác sĩ nói, viết chuẩn hay trở nên nhân văn hơn.
Y học = Khoa học + Nghệ thuật
Nhiều người ngoài ngành y nghĩ rằng y học là một khoa học, thậm chí khoa học chính xác, thậm chí khoa học xác định (determinism)
Đối tượng của y học là bệnh tật, nhưng "khách hàng" của người thầy thuốc là người bệnh.
Một người sống, theo quan điểm y tế, có giá trị hơn hàng ngàn người
chết. "Nghệ thuật" y, do đó, không chỉ chữa bệnh, mà còn khôi phục và
duy trì sức khoẻ.
Nhìn như thế, y học là khoa học, nhưng thực hành y học thì là một
nghệ thuật. Do đó, một quan điểm khác được nhiều người chấp nhận hơn: y
học là một ngành khoa học, nhưng cũng là một nghệ thuật.
Không chỉ vậy, y học là một bộ môn khoa học ứng dụng. Trong y học,
không có những chân lí vĩnh cửu. Một thuật điều trị được xem là chuẩn
vàng hôm nay có thể xem là điên rồ trong tương lai. Nói cách khác, y học
là một khoa học bất định, và chính yếu tố bất định này dẫn đến khái
niệm y học như là một nghệ thuật: nghệ thuật xử lí sự bất định.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Giỏi văn có thành bác sĩ tốt?
Như vậy, thứ nhất, câu hỏi đặt ra là để trở thành bác sĩ giỏi, nhân văn thì có cần phải giỏi văn học? Chưa có chứng cứ nào cho thấy điều này.
Tuy nhiên, có chứng cứ ở nước ngoài cho thấy điểm thi trung học hay
điểm kiểm định năng khiếu và thái độ (như UMAT, GPA, kể cả môn văn)
không có liên quan cao đến điểm học trong trường y. Một nghiên cứu tại
Úc cho thấy điểm UMAT có tương quan khiêm tốn đến điểm học GPA trong
trường y, chỉ 0,15 / thang điểm 1 (2).
Kết quả trên cũng khá nhất quán với một phân tích chứng minh rằng điểm trung học chỉ giải thích 23% điểm học trong trường y (3)!
Những dữ liệu này hàm ý rằng điểm thi trung học, kể cả điểm môn khoa
học, toán, văn, v.v. không phải là yếu tố quyết định sự thành công trong
việc theo học ở trường y.
Tuy nhiên, tôi nghĩ học sinh hay sinh viên giỏi văn học sẽ là người
"nghệ sĩ y học" theo quan điểm nghệ thuật mà tôi đề cập ở trên. Những
sáng tác văn học giúp cho chúng ta suy nghĩ về thân phận chúng ta và xã
hội, giúp cho chúng ta thưởng thức cái đẹp của ý tưởng và ngôn ngữ.
Nhưng ở đây, văn học liên quan đến việc kiến tạo ra một thế giới cảm
nhận khác, chứ liên quan rất ít đến thực hành y học mang tính nhân văn.
Thực tế cho thấy nhiều bác sĩ trở thành nhà văn, nhưng rất ít nhà văn
trở thành... bác sĩ. Tôi có nhiều bạn trong ngành y sau này là những
nhà văn thành danh. Họ là những cây bút đã có tiếng ngay từ thời còn là
sinh viên, và sau khi ra trường, đối diện với những nỗi đau của bệnh
nhân và những cái chết trong thời chiến, họ trở thành nhà văn và đóng
góp cho đời nhiều tác phẩm giá trị.
Ở Mĩ, một trong những bác sĩ tài hoa, viết văn nổi tiếng trên thế
giới và cũng là tác gia tâm đắc của tôi là bác sĩ Atul Gawande. Ông là
tác giả của tác phẩm Complications rất nổi tiếng, viết về thân
phận của bệnh nhân và những cách ứng phó với nỗi đau của bệnh nhân, và
những sai sót của bác sĩ (và của chính ông). Gawande từng tốt nghiệp cử
nhân về triết học, kinh tế và chính trị trước khi theo học y khoa.
Từ những góc độ này, theo tôi, chính hoàn cảnh bệnh tật của bệnh nhân
đã tác động, thôi thúc bác sĩ trở thành nhà văn, chứ không phải ngược
lại.
Thứ 2, có quan điểm cho rằng giỏi văn và ngữ văn giúp bác sĩ viết văn hay và diễn giải lưu loát. Tôi hơi nghi ngờ quan điểm này.
Chẳng hạn, ngay cả người nói lưu loát tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ chưa chắc là người viết văn tốt hay diễn đạt ý tưởng mạch lạc.
Trong khi viết bài này, người viết đang bình duyệt một bài báo y khoa
trước khi quyết định cho công bố hay không. Bài báo dài 30 trang, nhưng
có đến hơn 10 sai sót về chính tả và văn phạm! Tác giả là một PGS y
khoa, người Mĩ 100%, với bằng cao nhất trong đại học là MD và PhD.
Và đây không phải là trường hợp cá biệt. Muốn viết trôi chảy, tránh
sai chính tả, nói chuyện lưu loát, đòi hỏi những kĩ năng ngôn ngữ, chứ
không hẳn liên quan đến văn học.
Mặt khác, không hiếm những nhà văn sáng tác truyện rất hay và nổi
tiếng, nhưng khi nói thì lại diễm đạt rề rà, chẳng đâu vào đâu.
Trong khi đó, có những trường hợp như Albert Einstein nổi tiếng viết
sai văn phạm và ngữ vựng tiếng Anh, nhưng ông diễn đạt ý tưởng thì tuyệt
vời. Cựu tổng thống J. F. Kennedy nổi tiếng là một nhà hùng biện hay,
nhưng ít ai biết rằng ông viết sai ngữ vựng tiếng Anh kinh niên!
Bởi vậy, có thể nói, giỏi về kĩ thuật và văn phạm của một ngôn ngữ là
điều kiện cần, chứ chưa đủ để dẫn đến giỏi về khả năng truyền đạt thông
tin.
Cần tiếng Anh, Hi Lạp và Latin
Nếu cần đề xuất, thì tôi cho rằng học sinh trường y cần thi đầu vào tiếng Anh và học các tiếng cổ đại như Latin và Hi Lạp.
Tại sao? Tại vì phần lớn những thuật ngữ y khoa có nguồn gốc từ tiếng
Hi Lạp và Latin. Một nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng sinh viên y từng
học hai ngôn ngữ này có khả năng suy luận logic tốt hơn và điểm học cũng
cao hơn các đồng môn không học Latin và Hi Lạp.
Ngoài ra, về tiếng Anh, thì lí do đơn giản là sách giáo khoa y học
ngày nay chủ yếu viết bằng tiếng Anh. Bài báo khoa học cũng chủ yếu (có
lẽ hơn 95%) viết bằng tiếng Anh. Hội nghị khoa học quốc tế cũng dùng
tiếng Anh. Trong y khoa, đi đâu, làm gì cũng "đụng" tiếng Anh. Trong khi
đó, các chuyên gia VN hoặc không có thì giờ, hoặc chưa đủ trình độ để
viết một bộ sách giáo khoa y học, mà sách dịch thì không thể nào chuyển
tải hết nội dung khoa học của SGK y học.
Kinh nghiệm của tôi cho thấy am hiểu tiếng Anh và giúp cho sinh viên
suy nghĩ tốt hơn là tiếng Việt, bởi vì một khái niệm phức tạp có thể mô
tả bằng chỉ 1 chữ tiếng Anh, nhưng cũng khái niệm đó có thể cần đến một
câu tiếng Việt để mô tả mà ít ai hiểu nổi.
Dù sinh viên y VN ngày nay đã tiến bộ nhiều về tiếng Anh, nhưng vẫn
còn chưa ở trình độ có thể đối thoại một cách tự tin như các đồng nghiệp
Đông Nam Á. Vì thế, nhu cầu tiếng Anh trong y khoa có khi còn quan
trọng hơn nhu cầu môn văn. Mà, quả thật, đã có một nghiên cứu hẳn tại
Iran chỉ ra, sinh viên nào giỏi tiếng Anh thì họ thường học giỏi trong
các trường y (4).
Tóm lại, tôi không thấy có chứng cứ nào để bắt buộc học sinh muốn
theo học y khoa phải thi môn văn. Vấn đề quan trọng hơn là cải cách
phương pháp tuyển chọn học sinh vào trường y chứ không phải môn văn.
Không nên chỉ đơn giản dựa vào điểm thi tuyển mà tuyển sinh viên y, vì
điểm này chẳng có ý nghĩa gì trong sự thành công trong học tập.
Tôi nghiêng về quan điểm xem ngành y là một ngành sau đại học, và
theo đó, sinh viên muốn theo học trường y nên được tuyển từ các sinh
viên đã xong chương trình cử nhân.
----
Đọc thêm: (1) Lakshmipati G. Care of the medical outpatient, 2003. trang vii-vii. Nama publication, Coimbatore, Tamilnadu.
(2)
Wilkinson D, et al. Predictive validity of the Undergraduate Medicine
and Health Sciences Admission Test for medical students' academic
performance. Medical Journal of Australia 2011; 194 (7): 341-344.
(3)
Ferguson E, et al. Factors associated with success in medical school:
systematic review of the literature. BMJ. Apr 20, 2002; 324.
(4)
Sadeghi B, et al. English Language Proficiency as a Predictor of
Academic Achievement among Medical Students in Iran. Theory and Practice
in Language Studies, Vol. 3, No. 12, pp. 2315-2321.


