KHÔNG CHỈ CHỦ QUYỀN

18:00 |


MANILA, Philippines - Viện dẫn "sự hủy diệt trên diện rộngđa dạng sinh học của khu vực," Philippines tố cáo Trung Quốc trước Liên HiệpQuốc (LHQ) cho việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo trong tranh chấp Biển TâyPhilippines (Biển Đông).

Phó đại diện của Philippines tại Liên Hợp Quốc ở New York, Đạisứ Irene Natividad Susan, cho biết trong một bài phát biểu công bố vào thứ Ba, mùng3 tháng 3, "cải tạo lớn là một mối đe dọa trực tiếp đến các quốc gia cótuyên bố chủ quyền khác và Philippines và cần được coi là một mối quan tâm lớncho tất cả các quốc gia khi nó đe dọa đến an ninh và hòa bình chung và ổn địnhtrong khu vực. "

"Hơn nữa, việc xây dựng khổng lồ đó gây ra sự tàn phátrên diện rộng đa dạng sinh học của khu vực cũng sẽ gây tổn hại không thể sửachữa toàn bộ cân bằng sinh thái ở Biển Tây Philippines và biển Nam Trung Quốc(biển Đông VN). Thiệt hại không thể tái sinh như vậy sẽ có ảnh hưởng lâu dài đốivới tất cả các dân tộc băng qua các biên giới địa - chính trị, những người đãphụ thuộc vào biển để sinh kế của họ trải qua các thế hệ, "Natividad giảithích tại cuộc tranh cãi mở tại Hội đồng Bảo an LHQ.

Bộ Ngoại giao của Philippines (DFA) cho biết các cuộc tranhluận của Liên Hợp Quốc diễn ra vào ngày 23 tháng 2.

DFA cho biết Trung Quốc đã triệu tập các cuộc tranh luận vìnó là chủ tịch của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc trong tháng Hai. Bộ trưởng Ngoạigiao Trung Quốc Wang Yi là một trong số những người tham dự sự kiện này.

Báo cáo gần đây của Philippines xuất hiện khi đảo nhân tạo củaTrung Quốc đã thu hút sự chú ý của phương tiện truyền thông một lần nữa.

Ngày 26 Tháng Hai, Rappler công bố hình ảnh chi tiết của cáchoạt động khai hoang ở Biển Tây Philippines. Phó Đô đốc Alexander Lopez cho biếtquân đội đang theo dõi "sự phát triển tích cực của các rạn san hô đảo vàcác đặc điểm" trong các vùng biển tranh chấp.

Gây nguy hiểm cho cuộc sống
 
Trong bài phát biểu của mình, Natividad cũng cho biết các hoạtđộng của Trung Quốc ảnh hưởng đến không chỉ các hệ sinh thái mà còn ngư dân.

Bà kêu gọi các nước khác để bảo vệ những người "đã đượchòa bình, bền vững và hợp pháp đảm bảo đời sống của ngư dân" trong cácvùng biển tranh chấp.

"Những hành động đó gây nguy hiểm cho cuộc sống của nhữngngười dân và những người không chú ý đến lời kêu gọi kiềm chế là không thật lòngvới sự nghiệp hòa bình chung", Đại sứ nói.

Philippines đã nhiều lần cảnh báo thế giới về các động tháicủa Trung Quốc.

Vào ngày 28 tháng 1, DFA cho rằng, theo Ngoại trưởngPhilippines Albert del Rosario, hòn đảo nhân tạo của Trung Quốc đe dọa các Hiệphội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) là "một vấn đề quan trọng trong sânsau của chính chúng ta."
Cùng ngày, Ngoại trưởng các nước ASEAN lo ngại về cải tạo đấtcủa Trung Quốc ở Biển Đông.

Trong năm 2014, Philippines phơi bày việc xây dựng đảo nhântạo của Trung quốc ở Biển Tây Philippines. Các quốc gia Đông Nam Á cho biếtTrung Quốc đã xây dựng các cấu trúc "cho mục đích quân sự."

Bằng việc đổ cát vào khu vực mà ban đầu không có gì, TrungQuốc đang phá vỡ nguyên trạng ở Biển Tây Philippines, theo Philippines.
Philippines lập luận rằng việc "mở rộng bồi đắp"phá vỡ bản tuyên bố khu vực trọng điểm được ký bởi Philippines và Trung Quốc,và các thành viên-các quốc gia ASEAN khác, vào năm 2002.

Đây là bản Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông,trong đó nêu: "Các bên cam kết kiềm chế trong việc tiến hành các hoạt độngcó thể làm phức tạp hoặc gia tăng tranh chấp và ảnh hưởng đến hòa bình và ổn địnhbao gồm, giữa những điều đó, với việc hạn chế hoạt động cư trú trên các đảokhông có người ở hiện nay, các rạn san hô, bãi cát ngầm, cồn, và các đặc điểmkhác, và để xử lý những khác biệt giữa các bên trên tinh thần xây dựng "-.Rappler.com
Xem thêm…

Phán quyết của Tòa án Quốc tế: Đường “lưỡi bò” của TQ là vô giá trị

21:00 |
 
Bài viết được thực hiện dựa vào nguồn thông tin từ trang Manila Live Wire, một trang tin tức của Philippines.
PHẠM KHÁNH (Lược dịch) 

Hôm 9/3, tờ Manila Live Wire của Philippines đưa tin, Tòa án Trọng tài (PCA) tại The Hague, Hà Lan đã ra phán quyết tuyên bố đường “9 đoạn” mà Trung Quốc tự vẽ ra là vô giá trị.
Phán quyết trên có vai trò vô cùng quan trọng, cung cấp cho các nước láng giềng Trung Quốc một nền tảng pháp lý quan trọng trước những hành động hung hăng của Trung Quốc trên các đảo, rạn san hô và các vùng nước lân cận đang có tranh chấp trên Biển Đông.
Tòa án Quốc tế được thiết lập tại Hội nghị Hague năm 1899 để giải quyết tranh chấp quốc tế bằng hòa bình. Trong hình là 5 thẩm phán thụ lý vụ Philippines kiện Trung Quốc.
Phán quyết cũng chứng minh những động thái của Trung Quốc trong các tranh chấp với láng giềng ở Biển Đông là bất hợp pháp.
Nếu Trung Quốc không tuân thủ phán quyết này, danh tiếng của Bắc Kinh trong khu vực và trên thế giới sẽ bị ảnh hưởng nhiêm trọng. Bằng việc phớt lờ phán quyết, Trung Quốc sẽ tự "bôi nhọ" lời hứa hẹn “trỗi dậy một cách hòa bình”. Điều đó không chỉ ảnh hưởng đến nền kinh tế của Trung Quốc mà còn ảnh hưởng đến hình ảnh mà Trung Quốc đang muốn gây dựng là một cường quốc có trách nhiệm.
Chưa kể đến việc cộng đồng người Trung Quốc trên khắp thế giới sẽ bị ảnh hưởng xấu nếu Bắc Kinh tiếp tục hành động như một quốc gia hiếu chiến khi Tòa án Quốc tế của Liên Hợp Quốc đã tuyên bố rằng hành động của Trung Quốc vi phạm luật pháp quốc tế.
Phán quyết của Tòa án Quốc tế về việc đường “9 đoạn” vô nghĩa cũng có nghĩa rằng giờ đây các nước láng giềng đã có cơ sở pháp lý rõ ràng để đối đầu với những hành động hung hăng của Trung Quốc khi theo đuổi và bảo vệ các lợi ích chính đáng của mình ở Biển Đông. Phán quyết cũng đã giúp vạch ra cách thức các nước trong khu vực tiến hành các hoạt động thương mại ở vùng biển rộng lớn và quan trọng này.
Xem thêm…

Gs Ngô Vĩnh Long: Việt Nam để mở cơ hội kiện Trung Quốc về Biển Đông

05:26 |
 

Ngày 11/12/2014, Bộ ngoại giao Việt Nam chính thức cho biết là đã thông báo cho Toà án Trọng tài Liên Hiệp Quốc về lập trường của Việt Nam về Biển Đông, trong lúc Toà xem xét đơn kiện của Philippines. Theo nhận định của Giáo sư Ngô Vĩnh Long, chuyên gia kỳ cựu về Biển Đông tại trường Đại học Maine (Hoa Kỳ), có thể xem đây là một động thái cần thiết của Việt Nam nhằm tạo cơ sở cho việc kiện Trung Quốc trong tương lai.
Trả lời câu hỏi của RFI qua thư điện tử, Giáo sư Ngô Vĩnh Long phân tích :
« Câu trả lời của ông Lê Hải Bình về vụ kiện Trọng tài Biển Đông của Philippines cho thấy có lẽ Việt Nam đã nộp cái gọi là đề xuất của phía “bạn của tòa” (amicus curiae submission). Việc nầy rất cần thiết để phát biểu lập trường và quan điểm của Việt Nam trong việc ủng hộ vụ kiện cũng như bảo vệ “các quyền và lợi ích pháp lý” của Việt Nam như đã tuyên bố.
Thêm vào đó nó cũng giúp cho Việt Nam để mở cơ hội kiện Trung Quốc trong tương lai. Nếu Việt Nam đã không làm như thế thì sau nầy Việt Nam khó có thể vận động sự ủng hộ của thế giới khi đi đến quyết định kiện Trung Quốc. »
Theo Giáo sư Long, Việt Nam đã lên tiếng kịp lúc để duy trì khả năng bảo vệ quyền lợi của mình trong tư cách là nước bị đường lưỡi bò Trung Quốc tác hại nặng nhất :
« Có lẽ là để gián tiếp ủng hộ vụ kiện của Philippines, ngày 05/12/2014, Bộ Ngoại Giao Mỹ đã chính thức công bố một nghiên cứu của Bureau Oceans and International Environmental and Scientific Affairs trong đó phân tích rõ ràng các đòi hỏi của Trung Quốc ở Biển Đông là phi lý và phi pháp.
Hai ngày sau (ngày 07/12), chính phủ Trung Quốc đã đưa ra một công bố chính thức về vụ kiện của Philippines và bác bỏ một cách rất ương ngạnh vụ kiện ấy.
Việt Nam là nước bị thiệt hại nhất vì “đường lưỡi bò” (mà vụ kiện của Philippines chủ yếu là về đòi hỏi phi lý và phi pháp này của Trung Quốc) cũng như những hành động xâm chiếm khác của Trung Quốc.
Do đó, nếu Việt Nam đã không lên tiếng khẳng định quyền lợi của mình sau khi Trung Quốc đưa ra công bố chính thức về vụ kiện của Philippines, cũng như trước thời hạn hết được nộp ý kiến, thì Việt Nam đã bỏ đi một cơ hội rất lớn để bảo vệ quyền lợi của chính mình. »
Xem thêm…

Biển Đông: Việt Nam chính thức nhờ Trọng tài quốc tế bảo vệ quyền lợi

05:24 |

Trong một tuyên bố ngắn gọn vào hôm qua, 11/12/2014, Việt Nam xác nhận là đã yêu cầu Tòa án trọng tài quốc tế chú ý đến « quyền và lợi ích » pháp lý của Việt Nam ở Biển Đông.
Tuy không hẳn là một quyết định kiện các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc như Philippines đã làm, nhưng quyết định của Việt Nam gián tiếp bác bỏ các luận điểm của Bắc Kinh về Biển Đông.
 

Trả lời báo chí vào hôm qua về lập trường của Việt Nam liên quan đến diễn biến mới trong vụ Philippines kiện đường lưỡi bò Trung Quốc tại Biển Đông trước Tòa án Trong tài Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình xác nhận rằng Việt Nam đã chính thức bày tỏ quan điểm của mình, đồng thời yêu cầu Tòa Trọng tài quan tâm đến quyền lợi của Việt Nam tại Biển Đông :
« Để bảo vệ các quyền và lợi ích pháp lý của mình ở Biển Đông có thể bị ảnh hưởng bởi vụ kiện Trọng tài Biển Đông, Việt Nam đã bày tỏ với Tòa trọng tài lập trường, quan điểm của mình đối với vụ kiện và đề nghị Tòa trọng tài quan tâm đến các quyền và lợi ích pháp lý đó của Việt Nam ».
Trước đó ông Lê Hải Bình đã lên tiếng cực lực phản đối việc Bắc Kinh mới đây đã tái khẳng định chủ quyền của họ trên hầu như toàn bộ Biển Đông trong bản Tuyên bố lập trường của Trung Quốc về vụ kiện của Philippines :
« Lập trường nhất quán của Việt Nam là kiên quyết bác bỏ yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và vùng nước phụ cận cũng như yêu sách “các quyền lịch sử” của Trung Quốc đối với vùng nước, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển bên trong “đường đứt đoạn” do Trung Quốc đơn phương đưa ra ».
Bắc Kinh đòi Hà Nội « thiết thực » tôn trọng chủ quyền Trung Quốc ở Biển Đông
Đúng với dự đoán, ngay sau các tuyên bố từ phía Hà Nội, Bắc Kinh đã phản ứng gay gắt. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi đã bác bỏ các tuyên bố của Việt Nam và yêu cầu Hà Nội thiết thực tôn trọng chủ quyền lãnh thổ và quyền lợi trên biển của Trung Quốc.
Theo Tân Hoa Xã, ông Hồng Lỗi còn nhắc lại yêu cầu Việt Nam cùng với Trung Quốc giải quyết tranh chấp bằng đàm phán song phương « trên cơ sở tôn trọng sự thật lịch sử và Luật quốc tế ».
Điểm cần ghi nhận trong tuyên bố này là Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói đến đàm phán về Nam Sa (tức (Trường Sa) chứ không nói gì đến đàm phán về Tây Sa (tức Hoàng Sa), mà Trung Quốc đã mặc nhiên coi là lãnh thổ của họ, không phải là đối tượng đàm phán.
Theo các chuyên gia phân tích, dù việc Việt Nam quyết định cầu viện đến Tòa án Trong tài Liên Hiệp Quốc trên hồ sơ Biển Đông không hẳn là một đơn kiện Trung Quốc như Philippines đã làm, nhưng động thái này là một động thái theo chiều hướng vận động công luận quốc tế chống lại yêu sách chủ quyền quá trớn của Trung Quốc tại Biển Đông.
Xem thêm…

Giá trị pháp lý công hàm Phạm Văn Đồng theo luật pháp quốc tế và cơ hội ngàn vàng để Việt Nam xác quyết chủ quyền trên hai nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa

07:03 |

TMSS: Cám ơn luật sư Nguyễn Lê Hà đã cho độc giả cái nhìn khách quan và đầy hy vọng. Dòng máu Việt vẫn không ngừng tuôn chảy trong huyết quản của người Việt năm châu. Ước mong lãnh đạo Việt Nam thấy mà hành xử sao cho đúng!

---------------------------------------------------------

Giá trị pháp lý công hàm Phạm Văn Đồng theo luật pháp quốc tế và cơ hội ngàn vàng để Việt Nam xác quyết chủ quyền trên hai nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Theo BVN

 

Luật sư NGUYEN LE-HA
Từ nhiều tuần nay, các học giả, nhà nghiên cứu, chính trị gia, luật gia nói viết nhiều về công điện Phạm Văn Đồng ký và gửi ngày 14/9/1958 cho Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai liên quan tới lời tuyên bố của Trung Quốc ngày 4/9/1958 về bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc nới rộng là 12 hải lý bao gồm lãnh thổ trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan và quần đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Xisha tức Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Nansha tức Trường Sa).
Điều tuyên bố trên của Trung Quốc về việc nới rộng biển đảo ra 12 hải lý hoàn toàn phù hợp với đề nghị của Hội Nghị Quốc Tế về luật biển họp tại Genève từ ngày 24-2 đến 29-4-1958.
Bức công điện Thủ tướng Phạm Văn Đồng có nội dung như sau:
Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc trên mặt bể.
Chính công điện hay công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng này đã gây nên những tranh cãi bất tận và đối nghịch nhau đưa đến những giải thích và kết luận có nhiều điểm hoàn toàn trái với luật thông lệ quốc tế, công pháp quốc tế và luật quốc tế về hiệp ước.
Chúng tôi nhận thấy có sự nhầm lẫn căn bản là: sự lẫn lộn Luật quốc nội (droit interne) và Luật công pháp quốc tế (droit publique international), và Luật quốc tế về hiệp ước (droit international des traités), đặt biệt Công Ước Vienne về Hiệp Ước (Convention de Vienne sur le droit des traités).
Chúng tôi sẽ giải thích sự lầm lẫn trên có thể đưa đến các kết luận tai hại qua việc đánh giá không chính xác công điện Phạm Văn Đồng đồng thời với những lời giải thích này hy vọng sẽ soi sáng các quyết định của các nhà lãnh đạo Chính quyền Việt Nam can đảm nắm bắt cơ may bằng cách sử dụng cơ quan tài phán quốc tế thích hợp để Việt Nam chiến thắng trên trường quốc tế liên quan tới Hoàng Sa và Trường Sa (1).
I- TÌM HIỂU NỘI DUNG CÔNG ĐIỆN VÀ Ý ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG
1)- Đọc lại từng câu, từng chữ Công điện, chúng tôi nhận thấy mạch lạc rõ ràng (sans équivoque): “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố…, quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Đoạn tiếp: Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định… hải phận 12 hải lý và còn nhấn mạnh ba chữ cuối câu trên mặt bể.
2)- Công điện Phạm Văn Đồng không hề nhắc đến, hay ám chỉ các đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền và quản lý của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà (Việt Nam Cộng Hòa), một quốc gia độc lập (indépendance) có chủ quyền (souveraineté) và được quốc tế thừa nhận tương tự như Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (VNDCCH) với thủ đô là Hà Nội.
Sự giải thích trên đúng với qui định căn cứ theo điều 29 Công Ước Vienne về Hiệp Ứơc: thoả ước chỉ áp dụng trên toàn lãnh thổ của bên kết ước (2).
3)- Nhìn kỹ lại lời tuyên bố của Trung Quốc 4/9/1958, trong thời điểm Hội Nghị Quốc Tế về luật biển họp tại Genève, chỉ cốt yếu về việc nới rộng biển đảo ra 12 hải lý, không phải là lời tuyên bố vể chủ quyền các đảo mặc dù lời tuyên bố có chồng chéo lên chủ quyền các đảo thuộc các nước khác như Việt Nam Cộng Hoà (Hoàng Sa và Trường Sa) và các nước Philippines, Malaysia, Brunei, Đài Loan (Trường Sa).
Đằng khác, Công Pháp Quốc tế cũng chỉ cho phép tuyên bố đơn phương một đối tượng duy nhất chỉ định rõ ràng như như việc việc nới rộng biển đảo ra 12 hải lý của Trung Quốc.
Chính vì lý do đó, các quốc gia này đã không thấy cần thiết phải lên tiếng về lời tuyên bố của Trung Quốc ngoại trừ Thủ tướng Phạm Văn Đồng của Chính Phủ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà là một quốc gia độc lập với Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà (theo Hiệp Định Genève 1954 phân định) lên tiếng ủng hộ thông qua Công điện nói trên.
Điều 31 Công Ước Vienne về hiệp ước cho biết việc giải thích thỏa ước phải thiện ý theo ý nghĩa bình thường trong bối cảnh thoả ước phát sinh và theo đối tượng và mục đích rõ ràng trong thỏa ước.
Như vậy Công điện Phạm Văn Đồng được phát sinh gửi đi trong bối cảnh Trung Quốc tuyên bố nới rộng biển đảo ra 12 hải lý vào thời điểm Hội Nghị Quốc Tế về luật biển họp tại Genève từ ngày 24-2 đến 29-4-1958.
Đàng khác, đối tượng và mục đích rõ ràng ghi trong Công điện chỉ rõ việc thừa nhận 12 hải lý mở rộng, không có một chữ, một câu nào trực tiếp hay gián tiếp thừa nhận chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc.
Điều 32 Công Ước Vienne cũng qui định, trong trường hợp văn kiện mù mờ, không rõ ràng, có nguy cơ đưa tới kết luận kỳ quái (absurde) vô lý thì phải xem xét những công việc sửa soạn trước đó và những tình huống đưa tới việc ký kết văn kiện.
Thực vậy cho đến nay, trước thời điểm ký văn kiện, cũng như từ ngày Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký gửi công điện 14/9/1958 tán thành việc nới rộng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, cho đến khi mất đã không hề tìm thấy một tài liệu nào công nhận hay mặc nhiên công nhận các đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc.
Đàng khác, chúng tôi cũng không thấy có một sự kiện nào, bằng các cuộc thảo luận thương thuyết hay văn bản trao đổi giữa Trong Quốc và Việt Nam liên quan tới Hoàng Sa và Trường Sa trước và sau công điện do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ngày 14/9/1958.
Trái lại, thực tế cho thấy:
- Ngay khi Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ ngày 30/4/1975, quân đội của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam tiếp quản đảo Trường Sa rối giao lại cho Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà khi thống nhất đất nước 1976.
- Trận hải chiến ngày 19/1/1974 do Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa thuộc chủ quyền và quản lý của Việt Nam Cộng Hoà đã làm thiệt mạng 75 quân nhân Việt Nam Cộng Hòa anh dũng chiến đấu. Ngay tức thì, ngày 19/1/1974, Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa ra tuyên cáo phản đối hành vi xâm lược của Trung Quốc. Tương tự, Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam cũng đã phản đối hành động của Trung Quốc, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa.
- Ngày 14/3/1988, Trung Quốc đem quân xâm chiếm các bãi đá Gạc Ma, Colin và Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam và giết hại 64 hải quân Việt Nam ra bảo vệ.
Các sự kiện nêu trên, sau khi Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa không tồn tại, các Chính quyền kế tiếp từ Chính quyền Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam đến Chính quyền Dân Chủ Cộng Hoà và nay là Chính quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không có một sự nhượng bộ hay thỏa ước nào được biết đến cho tới nay liên quan tới các đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tất cả các giải thích trên cho thấy, Công điện hay Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký gửi ngày 14/9/1958 cho Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyến bố về lãnh hải 12 hải lý, chỉ là một sự tuyên bố ngoại giao không giá trị pháp lý, không có tác dụng công nhận chủ quyền liên quan tới đảo Hoàng Sa (Xisha) và Trường Sa (Nansha) của Việt Nam.
Theo chúng tôi, Công điện này chỉ có ý nghĩa lịch sử, đánh dấu một thời kỳ thắm thiết “môi hở răng lạnh giữ hai nước anh em đồng chí cùng chung một giường” và dưới ảnh hưởng nặng nề của Trung Quốc đồng thời chứng tỏ người lãnh đạo đất nước thiếu cảnh giác và không có tầm nhìn xa.
II- NHỮNG LẦM LẪN TAI HẠI
Sai lầm: lẫn lộn về tư cách pháp lý trong hiệp ước quốc tế và cách giải thích Công điện Phạm Văn Đồng tùy tiện theo cảm tính hay theo lăng kính chính trị không căn cứ vào căn bản pháp luật.
Chúng ta đều biết Hiến Pháp quốc gia là luật quốc nội thường ghi nhận và bảo đảm những quyền căn bản của công dân đồng thời qui định cách tổ chức và điều hành quốc gia làm sao phát triển bền vững và mang phúc lợi tối đa cho mỗi người dân.
Trong Hiến Pháp, có những điều khoản qui định về về tư cách pháp lý (qualité juridique) của người dân, của viên chức chính quyền hay của các tổ chức dân sự hay thương mại, được gọi là pháp nhân (personne juridique).
Trong Công Pháp Quốc Tế, cũng có những điều khoản qui định về người đại diện quốc gia hay người có thẩm quyền, không nói người có tư cách pháp lý bởi vì nó thuộc luật quốc nội qui định các điều kiện khác nhau tùy theo mỗi quốc gia.
Bởi vậy không thể áp dụng tư cách pháp lý (luật quốc nội) vào các hiệp ước quốc tế để yêu cầu hủy bỏ thỏa ước đã ký do ngươi ký không có tư cách pháp lý hay vựợt quyền (ultra vires) theo luật quốc nội như trường hợp nêu ra bởi một số học giả và luật gia liên quan tới câu hỏi làm sao giải thoát hoặc vô hiệu hóa Công Hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký.
Có người lại còn yêu cầu Quốc Hội Việt Nam ra nghị quyết hủy bỏ Công Hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký cách đây 56 năm, hoăc xa hơn đòi xoá bỏ chính thể hiện nay và lập lại Việt Nam Cộng Hòa. Thật là ngộ nghĩnh tức cười.
Luận cứ của họ cho rằng công hàm Thủ tướng Phạm Văn Đồng thực sự công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên các đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam tương tự lập luận của Trung Quốc nhưng, theo họ, là vô giá trị vì những lý do sau đây:
- Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có tư cách pháp lý để ký công hàm; hoặc
- Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã vượt quyền hạn (ultra vires); hoặc
- Công hàm ký bởi Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã không đưa ra Quốc Hội Việt Nam phê chuẩn, nên thiếu sự đồng thuận (vice de consentement), hoặc vi hiến.
Các lập luận trên hoàn toàn trái với Thông Tục Quốc Tế, đặc biệt các qui định của Luật Quốc tế về hiệp ước.
Thật vậy, nếu đã coi Công hàm ký bởi Thủ tướng Phạm Văn Đồng là một văn bản (hiệp ước) công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên các đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam thì giải pháp vô hiệu hóa Công Hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký của các học giả và luật gia trên hoàn toàn lầm lạc bởi các lý do sau đây:
- Điều 27 và 46 Công Ước Vienne về hiệp ước không cho phép viện dẫn luật quốc nội như là tì vết (vice) của sự thỏa thuận (consentement) để hủy hiệp ước đã ký, hay không muốn thi hành viện dẫn lý do Công Hàm Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã không được đưa ra Quốc Hội Việt Nam phê chuẩn.
- Điều 7 Công Ước trên ghi rất rõ những ai là đại diện của quốc gia kết ước có đầy đủ quyền lực (pleins pouvoirs) ký, chuẩn nhận, đồng ý một hiệp ước và quốc gia đó bị trói buộc vào hiệp ước.
- Điều 7.2.a): chỉ rõ người đứng đầu quốc gia, người đứng đầu chính phủ, bộ trưởng ngoại giao là những người đại diện quốc gia.
- Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký Công Hàm là người đứng đầu chính phủ Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà có đầy đủ quyền lực ký và nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà phải bị ràng buộc.
- Nói khác đi, Nhà Nước Việt Nam phải tôn trọng và thi hành hiệp ước được ký bởi người đại diện là Thủ tướng Phạm Văn Đồng.
Giả sử nội vụ được đưa ra Tòa Án Công Lý Quốc Tế với những dữ kiện và lập luận sai lầm trên, kết quả sẽ hết sức tai hại mà độc giả đã thấy trước.
III- CƠ HỘI NGÀN VÀNG ĐỂ VIỆT NAM XÁC QUYẾT CHỦ QUYỀN TRÊN HAI NHÓM ĐẢO HOÀNG SA và TRƯỜNG SA
1- Cơ hội ngàn vàng
Từ ngày Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký Công Hàm đã 56 năm, môt số không nhỏ các nhà lãnh đạo đất nước vẫn còn mê mẩn với các khẩu hiệu loè bịp như “các nước xã hội chủ nghiã đều là anh em”, rồi “16 chữ vàng và 4 tốt” do Trung Quốc ban tặng, mặc dù chính họ đã kinh qua nhiều trận chiến tàn phá khủng khiếp 6 tỉnh biên giới Việt-Trung năm 1979, xâm chiếm biển đảo Hoàng Sa năm 1974 và đảo đá Gạc Ma thuộc Trường Sa năm 1988.
Sự việc giàn khoan Hải Dương 981 Trung Quốc đặt trái phép vào thềm lục địa Việt Nam từ hai tháng nay cùng kéo theo hơn 100 các tàu đủ loại, đủ cỡ để bảo vệ các hoạt động của họ cộng với thái độ ngang ngược bất nhân đối với các tàu kiểm ngư và tàu cá của Việt Nam đã là một giọt nước làm tràn ly.
Sự kiện này có lẽ đang thức tỉnh một số quan chức còn mơ màng chỉ nhìn thấy Tàu lạ mà không thấy TÀU thiệt đã và đang giết hại ngư dân Việt từ nhiều năm nay.
Trong khi đó nhân dân cả nước đã tỉnh ngộ từ lâu, họ biết tàu lạ là ai. Đức Giám Mục Nguyễn Thái Hợp, Chủ tịch Ủy Ban Công Lý Hoà Bình thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, đã quả quyết rằng: “Tàu lớn, tàu nhỏ, tàu lạ, tất cả đều là TÀU cả”.
Ngày nay phải bổ túc câu nói trên: “… tàu lặn, tàu ngầm, tàu bay, tất cả đều là TÀU cả”.
Ý dân là Ý Trời: các cuộc xuống đường hàng chục ngàn người, các cuộc hội thảo công khai về biển đảo, các kiến nghị của trí thức, các hội đoàn đủ mọi tầng lớp trong xã hội tố cáo Trung Quốc chiếm đoạt và vi phạm biển đảo Việt Nam dâng cao chưa từng có phải chăng là dấu chỉ báo trước cơn đại địa chấn Tsumani?
Trên bình diện quốc tế, Trung Quốc đang bị kết án không tuân theo luật lệ quốc tế và muốn dùng vũ lực thay đổi đơn phương nguyên trạng tại biển Hoa Đông và Biển Đông.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và vài vị lãnh đạo cao cấp mới đây, đã tố cáo đích danh Trung Quốc vi phạm lãnh hải Việt Nam và đe doạ đưa vụ việc ra Toà Án Quốc Tế giải quyết.
Đó là tín hiệu đáng mừng! Nhưng quan trọng là phải hành động ngay! Không phải truyền lại trách nghiệm cho các thế hệ con cháu 1000 năm sau mới đòi lại như tuyên bố của một quan chức quyền thế.
Theo thiển ý, chúng tôi nghĩ rằng Chính quyền Việt Nam không còn chọn lựa nào khác hơn là khiếu kiện Trung Quốc ra Toà Án Công Lý Quốc Tế La Haye thay vì Toà Án Trọng Tài Quốc Tế như Philippines đang tiến hành.
Việc đưa các tranh chấp ra Tòa Án Quốc Tế là một phương cách giải quyết hòa bình, bình đẳngkhách quan. Các quốc gia văn minh dân chủ coi đó là cách giải quyết rất bình thường giữa các quốc gia khi có bất đồng tranh chấp và không hề làm suy giảm tình hữu nghị.
Hiến Chương Liên Hiệp Quốc tại Điều 73 khuyến nghị các thành viên Liên Hiệp Quốc sử dụng Tòa Án Công Lý Quốc Tế giải quyết các tranh phương chấp như là biện pháp hoà bình.
2- Tòa Án Công Lý QuốcTế La Haye
Chúng tôi đề nghị vụ khiếu kiện Trung Quốc ra Tòa Án Công Lý QuốcTế La Haye và nội dung khiếu kiện phải bao gồm các tranh chấp liên quan tới các nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa bởi các lý do sau đây:
a)- Toà Án Trọng Tài Quốc Tế đang thụ lý vụ Chính quyền Philippines khiếu nại đường lưỡi bò 9 đoạn do Trung Quốc tự nhận chủ quyền chiếm đến 90% toàn bộ Biển Đông, vi phạm quyền, chủ quyền và quyền tài phán các biển đảo của họ đang chiếm giữ.
- Mục đích và đối tượng khiếu tố của họ đơn giảndễ dàng giải quyết: Trung Quốc chỉ cần có chút thiện chí công nhận các quyền đó bằng một thỏa ước riêng rẽ giữa hai nước và được phê chuẩn bởi Toà Án Trọng Tài Quốc Tế đang thụ lý mà không tổn hại nhiều tới đường lưỡi bò 9 đoạn của họ.
Chúng tôi cũng cần lưu ý quý độc giả rằng, nếu thỏa ước đó thành hình thì nó chỉ có giá trị giữa hai nước ký kết mà không ảnh hưởng gì tới các nước khác về đường lưỡi bò 9 đoạn của Trung Quốc.
- Toà Án Trọng Tài Quốc Tế, như tên gọi, cốt yếu nhằm giảng hoà, tìm đồng thuận giữa các bên để đạt tới một thỏa hiệp (compromis) mà không bắt buộc phải căn cứ vào các luật lệ quốc tế. Án lệ quốc tế đã nhiều lần minh tỏ điều đó.
Giải pháp đó gọi là ex aequo et bono (công bình và hữu ích).
Bởi vậy, Chính quyền Việt Nam, nếu muốn giải quyết toàn bộ và dứt khoát các tranh chấp liên quan tới các nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nên khiếu tố trước Tòa Án Công Lý QuốcTế La Haye, theo chúng tôi là chọn lựa thích hợp và tốt nhất bởi các lý do trình bày dưới đây.
b)- Tòa Án Công Lý QuốcTế La Haye
- Vụ việc tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc liên quan tới Hoàng Sa và Trường Sa phức tạp hơn nhiều vì theo chúng tôi hiểu, thứ nhất là cả hai nước đều đòi chủ quyền trên toàn thể hai nhóm đảo này và thứ hai là các chủ quyền đòi hỏi chồng chéo nhau liên quan tới nhiều quốc gia như: Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Đài Loan, Malaysia, Brunei đối quần đảo Trường Sa và Việt Nam, Trung Quốc đối với nhóm đảo Hoàng Sa.
- Tòa Án Công Lý Quốc Tế (3) là cơ quan cơ quan tài phán chính yếu của Liên Hiệp Quốc có thẩm quyền bao quát các tranh chấp quốc tế tương tự như các Toà Án Trên (Cour Supérieure), còn được gọi là Toà Án Luật Chung (tribunal de droit comun) tại các nước có truyền thống pháp quyền.
- Tòa Án Công Lý Quốc Tế, qua thủ tục có thể giúp Việt Nam thông đạt tới tất cả các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc, các luận cứ và chứng cứ liên quan tới Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Đây là một phương cách hữu hiệu nhất để các nước trên toàn thế giới biết quyền lợi chính đáng về biển đảo của Việt Nam.
- Tòa Án Công Lý Quốc Tế, cũng có thể cho mở điều tra hay lấy ý kiến chuyên môn của các cá nhân, tổ chức, cơ quan khi thấy cần thiết do Tòa chỉ định.
- Tòa Án cũng có thể ra án lệnh yêu cầu các bên cung cấp tài liệu cần thiết (pertinents) nhằm giải quyết vụ việc.
Đó là tính cách đặc thù về thẩm quyền bao quát (globale, universelle) của Tòa Án Công Lý Quốc Tế La Haye.
- Hơn nữa, trong vụ khiếu kiện trước Tòa Án Công Lý Quốc Tế các nước có chủ quyền chồng chéo có thể tham dự với tư cách quốc gia đệ tam (intervenant) một khi phán quyết của Toà Án có thể tổn hại tới chủ quyển của họ, như trường hợp quần đảo Trường Sa nói ở trên giữa Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Đài Loan, Malaysia, Brunei.
Một khi đã tham dự thì phán quyết có giá trị cho tất cả.
Hy vọng những trình bày các sự kiện và giải thích (4) trên giúp độc giả có cái nhìn đứng đắn về một vấn đề cực kỳ quan trọng có nguy cơ tổn hại đến sự toàn vẹn lãnh thổ biển đảo và chủ quyền độc lập Việt Nam.
N. L. H.
Tác giả gửi BVN.
GHI CHÚ
(1): Theo đánh giá các chứng cứ hiện có của Trung Quốc và Việt Nam, theo chúng tôi, khả năng thắng kiện gần như chắc chắn. Tuy nhiên vấn đề còn tuỳ thuộc cách trình bày vấn đề, chọn lựa các chứng cứ (pertinents), toà án thụ lý, chiến thuật trình bày vấn đề, để làm sao bắt buộc Trung Quốc có nhiệm vụ phải chứng minh các chứng cứ về chủ quyền (charges de preuves) không phải phía Việt Nam vì các hành vi xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc đối với Việt Nam, v.v. Các chứng cứ về lịch sử, chiếm hữu thực sự hòa bình, liên tục của Việt Nam rất rõ ràng, điều mà Trung Quốc không có, nên luận cứ chính của họ là Công Hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngày 14/9/1958 mặc nhiên công nhận chủ quyền của họ trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
Chiến thuật hiện nay của họ là thương thảo đơn phương, không chấp nhận phân xử của Toà Án Quốc Tế, và từ từ tạo ra các chứng cứ mới qui định bởi Công Ứơc Quốc Tế về luật biển 1982, bằng cách ru ngủ các nhà lãnh đạo Việt Nam bất động trong một thời gian dài với mỹ từ “chuyện trong gia đình, đời sau sẽ đòi, ngàn năm sau sẽ đòi…”.
(2): Công Ước Vienne về Hiệp Ước (Convention de Vienne sur le droit des traités) thông qua ngày 23/5/1969 và có hiệu lực ngày 27/01/1980.
(3): Tòa Án Công Lý Quốc Tế được thông qua ngày 26/6/1945 và có hiệu lực ngày 24/10/1946.
(4): Chúng tôi chỉ đưa ra vài sự kiện với lời giải thích ngắn gọn nhằm giúp độc giả dễ hiểu một điểm pháp lý quan trọng về Công điện hay Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ngày 14/9/1958. Đàng khác, ý thức được tầm quan trọng này, chúng tôi để đồng bào, các cơ quan truyền thông (medias) trong và ngoài nước Việt Nam tùy ý sử dụng, chỉ với một điều kiện duy nhất là không được thay đổi, cắt xén thêm bớt nội dung.
Là một luật sư chuyên nghiệp, có ba con luật sư, hai trong ba hiện với hơn 12 năm kinh nghiệm các hồ sơ quốc tế và các toà án quốc tế, hiện một con làm việc với tư cách luật sư cố vấn, luật sư biện hộ (co-counsel, defense lawyer) tại Tòa Án Quốc Tế tại La Haye, mong đóng góp phần chuyên môn liên quan tới Hoàng Sa và Trường Sa. Trân trọng.
Xem thêm…

Tuyên bố số 1 của Hội nhà báo độc lập Việt Nam

00:50 |
TMSS: Kẻ đáng lẽ phải lên tiếng thì bặt tăm để cho giới bị kẻ phải lênt tiếng quy chụp phản động lên tiếng đây! Ai yêu nước thương dân, cứ nhìn và ngẫm sẽ tường thôi! Cảm ơn
Hội nhà báo độc lập Việt Nam
Xem thêm…

Kiện Trung Quốc, "chúng ta sẽ đập nát sự tự tin của họ"

03:38 |

Kiện Trung Quốc, "chúng ta sẽ đập nát sự tự tin của họ"



Là nhà nghiên cứu sâu về luật quốc tế, GS-TS Nguyễn Vân Nam rất nặng lòng với thời sự nóng bỏng ở biển Đông. Theo ông, cần phải kiện ra tòa án quốc tế để Trung Quốc phải thay đổi chiến lược.

GS-TS Nguyễn Vân Nam
 Ông Nam nhấn mạnh:

- Trung Quốc chỉ muốn giải quyết tranh chấp song phương, không chịu đa phương. Nhưng thỏa thuận song phương với Trung Quốc rất nguy hiểm. Họ có thể dùng nó để loại trừ các nghĩa vụ quốc tế của mình. Bởi nguyên tắc tối cao của công pháp quốc tế là tôn trọng chủ quyền quốc gia, tôn trọng sự thỏa thuận giữa các nước, nên những thỏa thuận song phương như vậy có khả năng và hiệu lực loại trừ nghĩa vụ quốc tế mà một trong hai nước đã ký kết. 

Tức là với một thỏa thuận song phương, Trung Quốc có thể loại trừ được những điều mà họ muốn loại trừ, nhưng không thể hoặc chưa kịp loại trừ khi ký kết các thỏa thuận quốc tế. Ngoài ra, họ còn có thể ép chúng ta thực hiện những điều cam kết song phương với họ. Nhưng chính họ lại có thể không thực hiện, bởi trong quan hệ giữa ta và Trung Quốc có những loại thỏa thuận song phương không có hiệu lực quốc tế, và vì vậy họ không sợ bị phán xử. Điều này cực kỳ nguy hiểm. Chính vì vậy, việc cần làm ngay là phải đưa Trung Quốc vào cơ chế giải quyết tranh chấp đa phương trong công pháp quốc tế.

4 cách khởi kiện Trung Quốc

"Với việc khởi kiện, chúng ta sẽ đập nát sự tự tin của họ, buộc họ phải bị động thay đổi chiến lược chứ không thể hoàn toàn hành động ngang ngược, trâng tráo theo ý mình"
GS-TS NGUYỄN VÂN NAM
* Trung Quốc luôn khăng khăng không chấp nhận thẩm quyền tài phán của tòa án quốc tế. Với trường hợp kiện của Philippines cho thấy Trung Quốc không đồng ý ra tòa mà còn gia tăng áp lực song phương.

- Điều 287 khoản 1 Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) quy định khi tranh chấp, các nước thành viên có thể chọn bốn khả năng: thứ nhất là tòa án quốc tế ở Hà Lan, thứ hai là Tòa án quốc tế về luật biển ở Đức, thứ ba là tòa trọng tài theo phụ lục 7 của UNCLOS, thứ tư là tòa trọng tài theo phụ lục 8 cho những tranh chấp đặc biệt. Mới nghe thì rất dễ, nhưng không đơn giản. Ví dụ tòa án quốc tế ở Hà Lan có quy định tòa chỉ có thẩm quyền xét xử nếu được cả hai bên cùng công nhận thẩm quyền. Về nguyên tắc, các nước ký UNCLOS đều chịu phán quyết của tòa án biển quốc tế, nhưng mỗi nước khi ký đều có quyền tuyên bố bảo lưu, không chấp nhận thẩm quyền phán xử của tòa án quốc tế trong lĩnh vực nào. Trung Quốc đã có tuyên bố hợp lệ loại trừ quyền tài phán của tòa án biển quốc tế đối với toàn bộ tranh chấp về chủ quyền liên quan đến đảo.

* Ngày 25-8-2006, Trung Quốc gửi Liên Hiệp Quốc các tuyên bố bảo lưu theo điều 298 của UNCLOS, sau đó đẩy căng thẳng biển Đông lên cấp độ ngày càng nóng hơn. Theo ông, chúng ta nên chọn giải pháp nào để đấu tranh hiệu quả trên mặt trận pháp lý với Trung Quốc?

- Tôi thấy có gì đó rất nguy hiểm. Tại sao Trung Quốc lại đưa giàn khoan vào đúng lúc mọi người bất ngờ nhất? Theo tôi, nó là phép thử đầu tiên xem phản ứng của Việt Nam và công luận quốc tế để họ thu thập và đánh giá đầy đủ thông tin cần thiết cho những bước nghiêm trọng hơn. Cho nên mục tiêu của chúng ta không thể chỉ là đuổi giàn khoan xâm phạm chủ quyền vùng biển Việt Nam. Đây là cơ hội để ta đạt được các mục tiêu lớn hơn, buộc Trung Quốc vào một cơ chế giải quyết tranh chấp đa phương. Đó là mục tiêu quan trọng đầu tiên. Mục tiêu thứ hai là bẻ gãy sự tự tin ngạo mạn kiểu Trung Quốc, khiến họ phải thay đổi chiến lược ở biển Đông. Mục tiêu thứ ba là phòng vệ chủ động: khi Trung Quốc bị buộc phải tham gia cơ chế giải quyết tranh chấp của tòa án quốc tế, họ sẽ không thể nào dùng vũ lực được nữa. Theo Hiến chương Liên Hiệp Quốc và UNCLOS, trong khi tòa án giải quyết các tranh chấp như thế, các bên có nghĩa vụ không được làm tình hình nghiêm trọng hơn. Nghĩa là với đơn kiện như vậy, Trung Quốc bị buộc không được dùng vũ lực hoặc các mưu mô khác có khả năng làm hiện trạng tồi tệ thêm.

Có thể khởi kiện Trung Quốc sử dụng vũ lực

* Giới luật gia quốc tế cho rằng Trung Quốc tính già hóa non trên biển Đông. Họ cũng đang lộ ra nhiều điểm sai trái và kẽ hở?

- Trung Quốc đã rào trước đón sau rất kỹ. Kế sách của họ đưa ra tuyên bố bảo lưu theo điều 298 của UNCLOS loại trừ cả bốn cách quốc tế giải quyết tranh chấp theo luật biển, đặc biệt là tòa án quốc tế giải quyết tranh chấp liên quan đến chủ quyền đảo... Chúng ta phải nghĩ ra toàn bộ hướng khởi kiện, nghiên cứu sâu các hướng đó để đánh giá hướng nào có khả năng nhất. Vì vậy, trước tiên đơn kiện của chúng ta phải không lọt vào vùng loại trừ của Trung Quốc. Thứ hai, đơn kiện này phải được một cơ quan tài phán quốc tế chấp nhận. Đây là cái khó, nhưng có giải pháp. Chúng ta kiện vào cái mà Trung Quốc buộc phải thực thi, một nghĩa vụ căn bản của thành viên Liên Hiệp Quốc mà Trung Quốc không thể loại trừ. Đó chính là khoản 3 điều 2 Hiến chương Liên Hiệp Quốc và điều 279 UNCLOS đều quy định các nước thành viên có nghĩa vụ giải quyết tranh chấp bằng con đường hòa bình, không được sử dụng vũ lực, và nghĩa vụ này không bị loại trừ bởi bất kỳ tuyên bố nào.

Thế nào là sử dụng vũ lực thì có thể còn tranh cãi. Và bởi vì còn tranh cãi nên cần phải có cơ quan tài phán độc lập. Đó chính là thuận lợi cho mình. Các hành vi sử dụng vũ lực này là dùng tàu hải giám, hải cảnh, tuần ngư... thuộc sở hữu nhà nước Trung Quốc phá hỏng tàu Việt Nam. Nghiêm trọng hơn là tàu của nhà nước Trung Quốc đã có gây thương tích cho người Việt Nam. Như vậy, chúng ta có thể khởi kiện Trung Quốc sử dụng vũ lực vi phạm khoản 3 điều 2 Hiến chương Liên Hiệp Quốc và điều 279 UNCLOS ra Tòa án quốc tế về luật biển. Nội dung kiện này không nằm trong vùng loại trừ của Trung Quốc. Họ có thể không đồng ý. Nhưng theo quy định của UNCLOS, nếu một bên không đồng ý thì phải chuyển qua tòa trọng tài theo phụ lục 7. Tòa trọng tài này sẽ không thể tuyên là việc sử dụng vũ lực không thuộc thẩm quyền, bởi đó là nghĩa vụ căn bản mà Trung Quốc không thể loại trừ.

* Ngoài hướng kiện này, chúng ta còn có thể kiện theo nội dung nào khác?

- Ngoài kiện kết tội, chúng ta có thể khởi kiện yêu cầu xác định hành vi. Đó là yêu cầu Tòa án quốc tế về luật biển khẳng định hành vi tàu Trung Quốc đâm vào làm hư hỏng tàu Việt Nam, gây thương tích người Việt Nam là hành vi sử dụng vũ lực. Trong đó, đặc biệt là yếu tố gây tổn thương đến con người. Đây là trường hợp Tòa án quốc tế về luật biển có thẩm quyền lý giải và áp dụng UNCLOS. Ở nước ngoài, kiểu kiện yêu cầu tòa án khẳng định một sự việc này rất phổ biến (kiện không có bị đơn). Để giải quyết, tòa sẽ phải mời Trung Quốc nhưng không phải trong tư cách bị đơn. Và như thế, họ vẫn bị buộc phải tham gia cơ chế giải quyết tranh chấp đa phương. Đây là giải pháp khởi kiện tốt vì khả năng thắng lợi rất cao. Sau khi tòa ra phán quyết hành vi vũ lực của Trung Quốc, chúng ta có thể sẽ tiếp tục kiện kết tội họ.

* Liệu có khả năng dù tòa phán quyết thế nào, Trung Quốc vẫn cậy thế nước lớn, không chấp nhận và cứ làm theo ý chí của mình?

- Đó là thực tế. Nhưng với việc khởi kiện, chúng ta sẽ đập nát sự tự tin của họ, buộc họ phải bị động thay đổi chiến lược chứ không thể hoàn toàn hành động ngang ngược, trâng tráo theo ý mình. Trung Quốc khó có thể còn lu loa nói càn như “rất ngạc nhiên, sửng sốt”. Họ sẽ chùn tay trong hành động làm tình hình tồi tệ thêm.

Ngư dân có thể kiện

* Ngoài hướng kiện của Nhà nước Việt Nam đối với nhà nước Trung Quốc, ông có cho rằng chính ngư dân chúng ta cũng có thể tìm công lý từ luật pháp quốc tế, mà cụ thể là UNCLOS?

- UNCLOS bảo vệ rất chặt chẽ quyền đánh cá. Khoản 2 điều 20 quy chế Tòa án quốc tế về luật biển ghi rõ đây là tòa án quốc tế duy nhất cho phép các chủ thể không phải là nhà nước có thể khởi kiện đối với các tranh chấp liên quan đến cách hiểu và áp dụng UNCLOS. Một thuận lợi lớn mà chúng ta chưa vận dụng. Chính các thành viên Tòa án quốc tế về luật biển cũng khuyến khích hướng kiện này từ người dân.

* Với sự “phòng thủ” kín kẽ luật pháp của Trung Quốc, ngư dân Việt Nam có thể kiện theo hướng nào để có thể thực thi mà không bị rơi vào vùng loại trừ trong tuyên bố bảo lưu của Trung Quốc?

- Trung Quốc đang cản trở tự do đánh bắt, gây thiệt hại đến tài sản và tính mạng ngư dân. Nếu dựa vào UNCLOS thì Trung Quốc có rất nhiều vi phạm. Nhưng điều chủ yếu ở đây phải xem xét kỹ là với những hành vi sử dụng vũ lực đó, ngư dân Việt Nam đã có thể khởi kiện được Trung Quốc chưa? Cá nhân ngư dân hoặc qua các hiệp hội, tổ chức nghề cá đều có thể khởi kiện được. Tuy nhiên, dù là cá nhân hay tổ chức nghề cá thì khi ra Tòa án quốc tế về luật biển họ cũng như là một nhà nước khởi kiện. Họ cũng gặp nhiều khó khăn lẫn thuận lợi như nhà nước tiến hành kiện. Nhưng nếu biết lập luận, có thể họ sẽ không rơi vào những trường hợp tuyên bố loại trừ của Trung Quốc.

* Ngư dân cần được hỗ trợ, chuẩn bị những gì để tự tin bước vào mặt trận tìm kiếm công lý quốc tế?

- Theo tôi, khó khăn lớn nhất ở đây với ngư dân là quá trình thu thập chứng cứ. Ngư dân đi đánh cá bị tàu Trung Quốc đâm hư hỏng, phun vòi rồng nước, bắn cháy, cướp tài sản và hải sản... thì phải thu thập được chứng cứ. Đặc biệt, những chứng cứ đó phải được lấy theo chuẩn mực quốc tế như chụp ảnh, quay phim... Nhà nước, các hội đoàn và nhân dân cả nước có thể hỗ trợ ngư dân bằng kinh phí, trang bị máy móc đủ điều kiện để thu thập chứng cứ, bản thân ngư dân rất khó tự thân xoay xở. Chính Trung Quốc cũng hiểu rõ điều này. Ngoài các tàu nhà nước, nhiều lần họ sử dụng tàu ngụy trang tàu cá để che đậy hành động tấn công ngư dân Việt Nam.
Quốc Việt thực hiện
Xem thêm…

MỸ HỖ TRỢ VIỆT NAM KIỆN TRUNG QUỐC RA TÒA ÁN QUỐC TẾ

18:36 |
MỸ HỖ TRỢ VIỆT NAM KIỆN TRUNG QUỐC RA TÒA ÁN QUỐC TẾ - CHÀO ĐÓN HIỆP ƯỚC AN NINH QUÂN SỰ VỚI VIỆT NAM.

 Theo FB Nguyễn Thùy Trang 


Tòa bạch ốc cho biết là sẽ hỗ trợ hành động pháp lý để giải quyết Trung Quốc, tranh chấp Việt Nam

Hôm thứ Năm vừa qua, Mỹ thông báo là sẽ hỗ trợ Việt Nam sử dụng các hành động pháp lý đối với Trung Quốc để giải quyết tranh chấp sau khi TQ triển khai một giàn khoan dầu tại vùng biển Đông của Việt Nam.

Phát ngôn viên Nhà Trắng Patrick Ventrell cho biết:

"Hoa Kỳ ủng hộ việc sử dụng các biện pháp hòa bình và ngoại giao khác để giải quyết sự bất đồng , bao gồm cả việc sử dụng trọng tài hoặc các cơ chế pháp lý quốc tế khác."

Ý kiến của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, đã đề nghị Việt Nam sẽ có biện pháp pháp lý, đã làm cho TQ phản ứng rất giận dữ, nhưng TQ luôn cho rằng các giàn khoan trong vùng biển chủ quyền của mình.

Trung Quốc còn cáo buộc Việt Nam đã làm tăng thêm căng thẳng trong khu vực.

Đô đốc Samuel Locklear đồng thời kêu gọi các quốc gia Đông Nam Á và Trung Quốc đẩy nhanh việc soạn thảo một "bộ quy tắc ứng xử" Biển Đông, ràng buộc pháp lý để ngăn chặn các cuộc xung đột vũ trang có thể xảy ra, đe dọa khu vực biển Đông.

Nhà ngoại giao Đông Nam Á cũng đã cáo buộc Trung Quốc trì hoãn việc bắt đầu đàm phán cho một hiệp ước bất tương xâm như vậy trong khi nó cố gắng để củng cố sự kiểm soát của mình tại các vùng lãnh thổ tranh chấp.

Đô Đốc Locklear đã nói chuyện với các phóng viên bên lề Diễn đàn Kinh tế Thế giới về Đông Á, nơi ông tham gia một cuộc thảo luận về các mối đe dọa an ninh trong khu vực. Tranh chấp lãnh thổ đã bùng lên đưa đến các quốc gia phải đối mặt với sự cạnh tranh gắt gao hơn khi kiểm soát các nguồn lực, ông nói.

Với những tiến bộ kinh tế, khu vực châu Á Thái Bình Dương đã trở thành khu vực quân sự hóa lớn nhất trên thế giới, với một số các lực lượng quân đội và hải quân lớn nhất , ông cho biết thêm.

Trung Quốc tuyên bố gần như toàn bộ Biển Đông, đưa đến các cuộc xung đột với các quốc gia nhỏ hơn như Việt Nam, Philippines... Bắc Kinh cũng có một tranh chấp lãnh thổ với Nhật Bản về một cụm đảo ở Biển Hoa Đông.

Locklear nói rằng ông lo ngại về một bế tắc trong 3 tuần qua giữa Trung Quốc và Việt Nam đang tranh chấp ở gần quần đảo Hoàng Sa, Biển Đông và kêu gọi họ giải quyết các cuộc xung đột lãnh thổ dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế.

"Tôi có mối quan tâm nghiêm trọng", Locklear nói với các phóng. "Nguy cơ tính toán sai lầm, tôi nghĩ, là rất cao và chúng tôi khuyến khích cả hai bên kiềm chế. "

Năm ngoái , Philippines đã đệ đơn khiếu nại chống lại Bắc Kinh trước một tòa án quốc tế tại The Hague thách thức tính hợp pháp của yêu sách Trung Quốc đưa ra. 

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tham dự diễn đàn kinh tế tại Manila, nói với Associated Press bằng văn bản hôm thứ Năm rằng " như tất cả các nước , Việt Nam đang xem xét các lựa chọn phòng thủ khác nhau, bao gồm cả hành động pháp lý theo quy định của luật pháp quốc tế." Tuy nhiên, ông cho biết Việt Nam SẼ TỰ VỆ NẾU BỊ TẤN CÔNG.

Giới phân tích cho rằng các quốc gia phải đối mặt với Trung Quốc trong vùng biển tranh chấp, như Việt Nam, nên tìm kiếm một liên minh với Washington.

Khi được phóng viên hỏi về khả năng , Locklear cho biết Washington đã chuẩn bị mối quan hệ nầy và sẽ chào đón mối quan hệ chiến lược với Hà Nội. 

" Chúng tôi mong muốn tìm kiếm cơ hội để mở rộng quan hệ đối tác của chúng tôi với các quốc gia như Việt Nam. "

Theo AP và Reuters 

Nguyễn Thùy Trang
Xem thêm…

Việt Nam làm gì bây giờ?

03:50 |

 

Việt Nam làm gì bây giờ? 

Theo Danquyen 

TMSS: Bài viết đáng để đọc và nên đọc, nhất là trong tình hình đất nước hiện nay!

Góp ý của Tạ Văn Tài , luật sư tại Mỹ và nguyên giảng viên và đương kim nhân viên nghiên cứu Harvard Law School.



Trước khi đi vào chi tiết các biện pháp Việt Nam có thể sử dụng như đối sách, mà chúng tôi liệt kê dưới đề mục 2 câu hỏi sau, thì cần ôn lại những lợi ích hay quyền lợi gì mà Công Ưóc Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (United Nations Convention on the Law of the Sea UNCLOS) dành cho các quốc gia hôị viên , như Việt Nam.


Có hai loại lợi ích hay quyền lợi quốc gia của Việt Nam tại Biển Đông: (a) chủ quyền đất đai (territorial sovereignty) trên nhiều đảo và đá tại hai vùng quần đảo Hòang Sa và Trường Sa, mà Việt Nam tuyên bố và thực thi với sự chiếm hữu và quản lý trong quá khứ, theo đúng luật quốc tế truyền thống đã có mấy trăm năm; và (b) lợi ích hay quyền đối với những vùng nước và đáy biển dưới mặt nước tại Biển Đông, chiếu theo Công Ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (United Nations Convention on the Law of the Sea, UNCLOS) năm 1982, gồm có quyền chủ tể (sovereign rights) khai thác tài nguyên sinh vật như cá biển và không phải sinh vật như quặng mỏ, kim loại hay dầu khí ở đáy biển, trong một vùng dưới mặt nước gọi là Vùng Đặc quyền Kinh tế (Exclusive Economic Zone, EEZ) rộng 200 hải lý tính từ mực nước thuỷ triều thấp nhất (gọi là đường cơ sỏ) chạy ra ngòai biển tới 200 hải lý (điều 56 và 57 UNCLOS), và trong Vùng Thềm Lục Địa (Continenal Shelf) tức mặt đáy biển và đất dưới đáy biển đi ra tới bờ của lục địa (continental margin) hay tới khỏang cách 200 hải lý tính từ đường cơ sở, khi bờ lục địa không xa tới mức đó (điều 76 và 77 UNCLOS); hơn nữa, cần nhấn mạnh là theo UNCLOS,các quyền chủ tể trên trong vùng EEZ và Thềm Lục địa của Việt Nam là chuyên độc (exclusive) của quốc gia cận duyên, cho nên Việt Nam trong vùng EEZ,có chủ quyền xây các kiến trúc nhân tạo trên các đá thành những đảo nhân tạo, nghiên cứu biển, quy định bảo vệ môi sinh, miễn là tôn trọng quyền các quốc gia khác về tự do lưu thông hàng hải, và đặt giây cáp và ống dẫn dầu khí của các nước khác (điều 56,58),và trong Thềm Lục Địa, Việt nam cũng đương nhiên có quyền chuyên độc khai thác tài nguyên thiên nhiên mà không cần tuyên bố hay chiếm hữu, và các quốc gia khác không thể có các hoạt động khai thác tài nguyên mà không có sự minh thị đồng ý của Việt Nam (điều 77).Khi bàn luận về tranh chấp với Trung quốc, ta nên nhớ luật quốc tế đã nói chắc chắn về các quyền của Việt Nam như đinh đóng cột.
Khi đem gìan khoan dến vị trí giữa hai lô dầu 142 và 143 trong vùng Đặc quyền Kinh tế Việt Nam (EEZVN) , như ghi trong bản đồ trên, thì trái với sự bàn luận cuộc một số người, Trung quốc không dùng cái Đường Lượi Bò hay Chín Đọan (Nine-dotted Line), vốn không có thể biện hộ được và bị tất cả các nước và học gỉa chất vấn, làm căn bản cho sự xâm lấn.
a) Bộ Ngọai giao Trung quốc đã nham hiểm mà tránh viện dẫn cái dường Lưỡi Bò vô duyên đó, mà dùng đến căn bản vùng EEZ của Trung quốc, để nói là gìan khoan “đặt hòan tòan trong vùng nước của các đảo Paracels của Trung quốc” (placed completely within the waters of China's Paracels”) ám chỉ trong vòng 200 hải lý của EEZ và thềm lục địa của Paracels, do Trung quốc quản lý (nhưng Việt Nam vẫn liên tục đòi) , mà UNCLOS sẽ công nhận cho Paracels nếu hội đủ diền kiện. Điền kiện mà Trung quốc gỉa định đã có rồi, là có đảo nào đó trong Paracels, như Tri Tôn cách giàn khoan 17 miles, hay đảo Phú Lâm (Woody hay Yongxing), đã có điều kiện quy định trong UNCLOS cho tính cách môt hòn dảo (island) là con người sinh sống với nền kinh tế tự túc (nước ngọt và thực phẩm trồng tại chỗ) khi mỏm dất hay đá đó còn trong trạng thái thiên nhiên [Còn nếu không có mỏm đất hay dá nào trong Paracels đủ điền kiện là đảo , thì chúng chỉ là đá (reef) theo UNCLOS và chúng chỉ có 12 hải lý của lãnh hải/territorial sea.] Việc của Phi kiện Tàu, sau khi chịu đựng thương lưọng với Tàu 17 năm, về việc Tàu chiếm đá ngầm rất xa Trung quốc trong vùng Kinh tế dặc quyền / EEZ của Phi, thì dễ hơn vụ cuả VN, khó hơn, vì VN phải làm việc kiện Tàu đã vô trong vùng EEZ VN, mà vùng này trùng lấp với vùng EEZ của Tàu, hay ít ra là vùng hải phận territorial sea của Hòang sa mà nay Tàu nói đang thuộc quyền quản lý của họ.
b) Trung quốc cũng ám chỉ là gìan khoan cách đảo Hải Nam 180 hải lý về phiá nam (cách dảo Ly Sơn của Viêt Nam chứng 120 hải lý vế phiá đông).

Những nhận định và đề nghị nêu ra sau đây hầu hết là dựa trên căn bản luật pháp, tức là khí giới của kẻ yếu, nhưng là “lạt mềm buộc chặt”, chứ còn võ lực chống Tàu thì nó có cớ dánh lớn, tàn phá VN và chiếm thêm hải đảo hay đất (trừ cách làm du kích, quấy rầy việc tiếp liệu giàn khoan, hay phá họai gián tiếp khác, làm cho nó khó tiến hành được, có thể làm đến đâu, thì bàn sau )

    1) Câu hỏi đầu tiên được nêu ra là Việt Nam có thể kiện trước tòa án quốc tế nào không?
    a) Luận cứ (a) của Trung quốc, dùng Paracels mà đòi quyền khai thác cho giàn khoan phải dược bác khước bằng hai vụ kiện trong đó Việt Nam phải trình hồ sơ vế hai điểm : (i) Paracels không phải của Trung quốc mà của Việt Nam: (ii) Paracels không có mỏm đá nào, kể cả Woody/Yongxing , xứng dáng gọi là đảo/island, tức có người sống trong nền kinh tế tự túc được trong trạng thái nguyên thuỷ sơ khai, mà tòan là đá/reef.
    Vụ kiện về chủ quyến đất đai (territorial sovereignty) trên Paracels là thuộc luật quốc tế cổ truyến (traditional international law), theo đó VN phải minh chứng theo nguyên tắc luật quôc tế là một chính quyền muốn xác nhận chủ quyền phải có sự liên tục hành sử chủ quyền trong hòa bình, nói rõ ý định làm chủ, và nếu bị cưỡng chiếm thì phải phản đối chính quyền mới cướp bằng võ lực đất của mình để ngăn cản chính quyền mới này thủ đắc chủ quyền bằng sự hành sử chủ quyền liên tục.
    Xét các bằng chứng lịch sử về chủ quyền của Việt Nam theo luật quốc tế này, thì Việt Nam đã xác nhận và hành sử chủ quyền trên Hoàng sa và Trường Sa (tuy phạm vi hành sử ở Trường sa thì chưa xác định tới bao nhiêu đảo); và khi Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng võ lực năm 1974 và Việt Nam Cộng Hòa phản đối, sau đó Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (nay là Cộng Hoà Xã Hội Việt Nam) – kế quyền của Việt Nam Cộng Hòa theo nguyên tắc thừa kế quốc gia (succession of state)cũng phản đối vụ Trung Quốc dùng võ lực chiếm Hoàng Sa và rồi phản đối nhiều lần việc Trung Quốc dùng võ lực chiếm một số đảo ở Trường Sa năm 1988 (gây thương vong cho nhiều lính hải quân Việt Nam) và các năm sau đó, thì chủ quyền Việt Nam trên Hoàng Sa và Trường Sa không thể bị coi là đã sói mòn vì thiếu sự tuyên bố và hành sử chủ quyền.
    Chúng tôi không đủ trang giấy trong bài ngắn này để trình bày hết các bằng chứng lịch sử VN xác lập chủ quyền đất đai trên các đảo Paracels và Spratleys ở đây.
    Trong một video trên Internet và báo không chính thức như Hoàn Cầu của Trung quốc để biện minh cho vị trí giàn khoan, nguời Tàu cũng viện đến công hàm Phạm văn Đồng 1958 mà họ cho là đã nhường Paracels và Spratleys cho Trung quốc. Chúng tôi có đủ luận cứ quốc tê công pháp bác khước điểm này, ghi trong phần phụ lục ở cuối. Phải dùng luận cứ này trong dư luận quốc tế và trong vụ kiện về chủ quyền đất đai (territorial sovereignty) trên Paracels tại tòa án có thẩm quyến về việc này là Tòa Án Công Lý Quốc Tế (International Court of Justice, ICJ).
    Rất tiếc là trong hiện trạng luật quốc tế, không thể lôi Trung quốc ra tòa ICJ được (việc kiện đó chắc phải đợi sự đồng ý của một chế độ mới ở Trung quốc) như một số kiến nghị của các nhà trí thức và họat dộng ở VN yêu cầu chính phủ, cũng như có sự trả lời là “đang suy nghĩ” của luật sư của Bộ Ngoại Giao hay Học Viện Ngọai giao, vì chắc chắng là Tàu sẽ không đồng ý ra tòa , theo nguyên tắc optional clause là một quốc gia có đồng ý ra tòa mới phải ra tòa.
    b) Chúng tôi nghĩ là trước Tòa án Trọng Tài Luât Biển,VN có thể bác khước cả luận cứ (b) về khỏang cách đảo Hải Nam tới giàn khoan chỉ có 180 miles , cùng với một phần của luận cứ (a) vế tư cách đảo /island của Paracels—trước Tòa án Trọng Tài Luât Biển, là tòa mà VN có thể lôi Trung quốc ra , theo thủ tục bó buộc trong UNCLOS.
Mục 2
CÁC THỦ TỤC BẮT BUỘC
DẪN TỚI CÁC QUYẾT ĐỊNH BẮT BUỘC
ĐIỀU 286. Phạm vi áp dụng mục này
Với điều kiện tuân thủ Mục 3, mọi tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước khi không được giải quyết bằng cách áp dụng Mục 1, theo yêu cầu của một bên tranh chấp, đều được đưa ra trước tòa án có thẩm quyền theo mục này.

ĐIỀU 288. Thẩm quyền
1. Một tòa án đã nêu ở Điều 287 có thẩm quyền xét xử bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước đã được đưa ra cho mình theo đúng phần này.
2. Một tòa án nói ở Điều 287 cũng có thẩm quyền xét xử bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến việc giải thích hay áp dụng một điều ước quốc tế có liên quan đến các mục đích của Công ước và đã được đưa ra cho mình theo đúng điều ước này.
Chúng tôi nghĩ rằng VN có thể lôi Trung quốc ra Tòa án Trọng Tài luật Biển , mà Trung quốc không thể dùng sự bảo lưu (reservation) khi ký Công Ước, là không nhận thủ tực bó buộc cho các tranh luận việc trùng lấp của các vùng EEZ giữa VN và Trung quốc, như nói ở điểm (b) , giàn khoan ở chỗ trùng đè của hai ÊEZ tình từ bờ biển VN và từ Hải Nam, vì rằng Việt Nam cũng có thể xin Toà Trọng Tài xử về sea boundary mặc dầu Tàu có bảo lưu/reservation khi gia nhập Công Ước về vấn dề biên giới biển/sea boundary hay vịnh lịch sử/historical bays, chiếu điều 298 đọan 4 dành quyến cho quôc gia duyên hải/coastal state, có thể đối lập “4. Nếu một quốc gia thành viên đã ra một tuyên bố theo khoản 1, điểm a, thì bất kỳ quốc gia thành viên nào khác cũng có thể đưa ra mọi tranh chấp giữa quốc gia đó với quốc gia đã ra tuyên bố và nằm trong một loại tranh chấp đã bị loại trừ, ra giải quyết theo thủ tục được định rõ trong tuyên bố này. “.
Bây giờ nói về điểm (b), vị trí giàn khoan ở nơi trùng lấp giữa EEZVN và EEZ Trung quốc tính từ Hài nam: cà hai phía bờ biển VN và Trung quốc dều có thể phát sinh 2 EEZ và 2 Thềm Lục Địa. Nói cho VN, chúng tôi có thể biện luận theo luật là : vị trí giàn khoan ở trong Thềm Lục Địa nới rộng của VN, và hơn nữa, ở hẳn sang phía VN nếu cần phải thương lượng theo Công Ươc để tìm ra một đưòng trung tuyến (median line) giũa hai Thềm Lục Địa—như vẽ trong hình trên. Có thể thương lượng không xong, thì biện minh cho VN như vậy khi xin Tòa Trọng Tài gỉải thích Công ước.
Trước Toà Trọng Tài, mục đích quan trọng nhất là xin một bản án gỉai thích (declaratory judgement) gỉai thích và áp dụng Công Ước về vấn đề không có mỏm đá, đât nào trong Paracels, kể cả Woody/Yongxing , xứng đáng là đảo (island) mà người ở dược trong một nền kinh tế tự túc, trong trạng thái thiên nhiên trước khi Trung quốc xây các tòa nhà ở được, phi trường, cảng, để tiếp tế, và nhà mày lọc nước ngọt.
Cũng xin Tòa gỉai thích việc Trung quốc, một quốc gia duyên hải /coastal state, đã đơn phương ngăn chặn tự do lưu thông ,với vòng vây rộng lớn các tầu chiến và hải giám quanh giàn khoan, chiều điều 297 đọan 1a :
1. Các vụ tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước về việc thi hành các quyền thuộc chủ quyền hay quyền tài phán của quốc gia ven biển như đã được trù định trong Công ước, phải được xét theo các thủ tục giải quyết đã được trù định ở Mục 2 trong các trường hợp sau đây:
a) Khi thấy rằng quốc gia ven biển đã không tuân theo Công ước liên quan đến tự do và quyền hàng hải, hàng không hoặc tự do và quyền đặt các dây cáp và ống dẫn ngầm, cũng như đến việc sử dụng biển vào các mục đích khác mà quốc tế thừa nhận là chính đã nêu ở Điều 58;
Trong khi chờ đợi các cơ quan tài phán gỉai quyết, VN chỉ giới hạn họat động vào các lô 118 và 119, thì Trung quốc—đáng lẽ phải theo đọan 3 các điều 74 và 83, về các bước đi thương lượng gỉai quyết bất đồng với VN về EEZ và thềm lục địa, phải tự chế trong tinh thần hiểu biết và cộng tác (understanding and cooperation) kèm theo những biện pháp tạm thời (provisional measures) để không hại đến thỏa ước sau cùng--- thì Trung quốc lấn lưót, hung hăng. Hàng động Trung quốc cũng là vi phạm Tuyên Bố Ứng xử của ASEAN.
Trong việc kiện Trung quốc, VN có thể theo gương Phi luật Tân, nhờ các văn phòng luật sư quốc té giỏi, như Cotvington & Burling, khi xưa đã giúp VN thời hủ tướng Võ Văn Kiệt, cũng trong vấn đề Biển Đông (chúng tôi có thể liên lạc qua một luật sư của họ là LS Thomas Johnson có đi dự Hội nghị 2012 về dầu khí ở Houston và chủ tọa phiên họp về boundary dispute—gs Nguyễn Hồng Thao, đại diện VN, có trả lởi một câu ông hỏi về joint development.)

    2) Nếu tình thề tiếp tục căng thẳng thì VN phải dùng thêm các biện pháp chính tri , ngọai giao và quân sụ. Vai trò cộng đồng quốc tế.
      Công ước luôn đòi hỏi các bên thương nghị và cả hòa gỉai nữa trước khi đem ra các thủ tục bó buộc. Vì thế các cuộc thương nghị ngọai giao song phương, đa phương phải luôn có. Nếu thương nghị song phương mà bá quyền lấn áp, thì phải dùng thương nghị đa phương qua ASEAN và , nhất là nếu các nước nhỏ quá ngại nghênh Trung quốc, cả sự can thiệp của các nước lớn có quyền lợi ở Biển Đông như Nhật, Úc, Nga, Ấn và nhất là Mỹ.
      Một nền ngọai giao đa phương đã có thể làm chùn bớt hành vi hung hăng của Trung quốc, ngay từ khi trong chuyến du hành của Thủ Tướng Việt Nam qua Mỹ năm 2008: lúc đó, Tổng Thống Bush đã cam kết bảo đảm cho sự toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam. Thông cáo chung Mỹ Việt "nhắc lại sự ủng hộ của chính phủ Hoa Kỳ đối với Việt Nam về chủ quyền quốc gia, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ" và nói đến nhu cầu "củng cố đối thoại cấp cao" và ủng hộ "thành lập các cuộc họp hoạch định chính sách về chính trị, quốc phòng để có các trao đổi thường xuyên và sâu hơn về các vấn đề chiến lược và an ninh". Nhưng rồi Việt nam vẫn chậm chạp trong việc xích lại gần Tây Phương. Năm 2010 mới có một sự đột biến quan trọng. Hồi hạ tuần tháng 7 năm 2010, Ngoại trưởng Clinton tuyên bố tại Hà Nội rằng Hoa Kỳ xem Việt Nam “không những thật sự là một quốc gia quan trọng mà còn là một bộ phận của chiến lược nhắm tăng cường cam kết của người Mỹ trong khu vực Á châu Thái bình dương, đặc biệt là trong vùng Đông Nam Á.” Khi phát biểu tại hội nghị của Diễn đàn Khu vực ASEAN ở Hà Nội, bà Clinton còn nói rằng Hoa Kỳ xem việc giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền ở biển Nam Trung Hoa (Việt Nam gọi là Biển Đông) bằng đường lối đa phương, theo luật quốc tế, mà không đe dọa hay dùng võ lực, là một “quyền lợi quốc gia” của Mỹ. Những phát biểu này đã khiến cho giới lãnh đạo Trung Quốc phật lòng. Báo cáo Chính trị cho Đại Hội Đảng Việt Nam 2011 cho ghi rõ mục tiêu tăng cường hợp tác với các nước chung quanh Biển Đông và Thái Bình Dương: "giải quyết các vấn đề còn tồn tại về biên giới, lãnh thổ, việc xác định ranh giới biển và thềm lục địa với các nước liên quan trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và nguyên tắc ứng xử của khu vực; làm tốt công tác quản lý biên giới, xây dựng đường biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác và cùng phát triển. Củng cố, phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị truyền thống với các nước láng giềng có chung biên giới. Chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh, tăng cường quan hệ với các đối tác, tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong các khuôn khổ hợp tác ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương."
      Theo giáo sư Úc Carl Thayer chuyên nghiên cứu về Việt Nam, thì lãnh đạo Việt Nam có hai khuynh hướng: một muốn mở rộng quan hệ quốc tế, liên hệ với nhiều quốc gia; một muốn nể nang, liên hệ chặt chẽ với Trung Quốc hơn nước khác (gọi là nhất biên đảo), nhưng cũng theo GS Thayer, trước khuynh hướng chống Trung Quốc của nhân dân, nhóm thân Trung Quốc này hình như cũng phải đồng ý phải tìm con đuờng quốc phòng khác dựa vào quan hệ đa phương, không thể chỉ dựa hay tin vào Trung Quốc.
      Cơ chế các tổ chức quốc tế hòan vũ (global international organizations) là diên đàn nêu sự bắt nạt củaTrung quốc trước dư luận quốc tế và có thể đi đến những nghị quyết hãm bớt sự hung hăng của Trung quốc. Sự hung hăng đe dọa trong video trên Internet nói về công hàm P V Đồng có nói là: chỉ cần một vài giờ là đánh tan hải quân VN; và có tin mấy hôm này , tháng 5,ngày 20, là Trung quốc dồn quân đến biên giới Việt Trung. Nên đưa vấn đế ra United Nations General Assembly hay ngay cả Security Council(SC) . Một nghị quyết của UN General Assembly/Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc là áp lực công luận quốc tế, có thể làm chùn bước Trung quốc. Tuy ở UN Security Council/Hội Đồng Bảo An , khi lấy quyết định có thể vấp vào phiếu phủ quyêt của Trung quốc, nhưng VN vần cần đưa ra hay nhờ cường quốc dưa ra,, vì đó là thủ tục có thế làm bất cứ khi nào có đe dọa hòa bình và an ninh tuốc tế/threat to international peace and security, như Tàu đem chiến hạm đe dọa và dùng nhiều đòn võ lực với hải giám và dân chài VN, như vậy để tạo dư luận quốc tế có lợi cho VN.

Tuy nhiên chính phủ VN chắc cũng biết là giàn khoan cần tiếp tế thường xuyên, đào giếng dẫu cần nhiếu công ty quốc tế cộng tác trong các vấn đế kỹ thuật, mà Trung quốc không có đủ kỹ thuật cao (thí dụ ngay trong việc thử nghiệm các bùn hút lên thì phải đem về các phòng thí nghiệm cao cấp xem có dầu tốt và đủ để bõ khai thác được , hay không ), cho nên có thể Trung quốc hung hăng muốn dùng giàn khoan để gìanh chủ quyền, nhưng rồi thấy tốn kém vô ích , phải rút đi. Đó là chưa kể nguy cơ bị phá hoại bởi các phần tử quốc tế không ưa Trung quốc, họ chỉ cần có người nhái , hay hành vi cảm tử/ kamikaze khác, phá đổ một trong 4 chân của giàn khoan, thì giàn khoan chìm, và Trung quốc mất cả tỷ Mỹ kim. Chúng tôi là luật sư, chủ trương dùng luật là chính, vả lại ở Mỹ thì phải theo luật Neutrality Act, không cho phép người Mỹ dùng biện pháp quân sự nào đối với một quốc gia có bang giao bình thường với Mỹ, như Trung quốc, nhưng chúng tôi nói lên nguy cơ có thể kẻ phá họai giàn khoan, với tư cách học gỉa ước tính tình hình.




PHỤ LỤC
Luận cứ của Trung Quốc khi họ viện dẫn Công hàm năm 1958 của ông Phạm Văn Đồng để nói rằng ông Đồng đã ra công hàm ủng hộ tuyên bố của Thủ tướng Trung quốc Chu Ân Lai , do đó công nhận chủ quyền Trung quốc trên các lãnh hải, kể cả lãnh hải tính từ các đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vàN áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.
2-Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung Quốc
3-Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tất cả máy bay nước ngoài và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất cứ tàu bè nước ngoài nào di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều phải tuyên thủ các luật lệ liên hệ của Chính Phủ Cộnsg hòa Nhân dân Trung Hoa.”
Ông Phạm Văn Đồng gửi bức công hàm cho Ông Chu Ân Lai nguyên văn như sau:
“Thưa đồng chí Tổng lý- Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ : Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc.
Nên ghi chú ngay rằng ông Đồng chỉ nói đến hải phận 12 hải lý mà không nói về đảo, đất. Nhưng chúng tôi xin đi vào chi tiết 2 luận cứ pháp lý để bác luận cứ của Trung Quốc về Công hàm Phạm Văn Đồng như sau :
(a) Thứ nhất, và quan trọng nhất, Hiệp Định Geneva trao quyền quản lý hành chánh Hoàng Sa và Trường Sa, đều ở phía nam vĩ tuyến 17, cho chính phủ Miền Nam Việt Nam , tức Việt Nam Cộng Hòa (VHCH), ở phía nam vĩ tuyến đó, cho nên các hành vi xác lập và hành xử chủ quyền về Hoàng Sa và Trường Sa phải thuộc thẩm quyền Việt Nam Cộng Hòa, và chính phủ này cũng như hải quân của họ đã mạnh mẽ xác nhận chủ quyền Việt Nam ở các hải đảo trong và sau biến cố hải chiến 1974, còn ông Đồng, đại diện miền Bắc Việt Nam, tức Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) lúc đó, không có thẩm quyền hay không có ý định tuyên bố gì về chủ quyền đât đai về Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Việt Nam Cộng Hòa vào thời điểm đó, mà chỉ dưa ra lời tuyên bố công nhận hải phận 12 hải lý của Trung quốc.
Tuy nguyện vọng 'dân tộc Việt nam là một, nước Việt Nam là một” là chính đáng, nhưng tình trạng hiện hữu của một quốc gia là một vấn đề sự kiện thực tại (question of fact) trong luật quốc tế, cho nên thực tại có hai nước Việt Nam , VNDCCH và VNCH,trong thời gian 1954-1975, là đúng với luật quốc tế và có lợi về mặt chính trị và pháp luật trong việc bảo vệ chủ quyền đất đai trên HS/TS bởi VNCH trong thời gian đó, mà ngày nay, sau khi thống nhất dất nước năm 1976, thì VNDCCH rồi Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là quốc gia kế quyền (successor state) trong sự bảo vệ chủ quyền đất đai đó. Sự kế quyền trong việc bảo vệ chủ quyền đất đai này đã được chính Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng nói tới.
Vào ngày 25 tháng 11/2011 tại Quốc Hội, Ông Dũng đã có những phát biểu về Hoàng Sa và Trường Sa: Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta đã làm chủ thực sự ít nhất là từ Thế kỷ XVII. Chúng ta làm chủ 2 quần đảo này chưa thuộc bất kỳ một quốc gia nào và chúng ta đã làm chủ trên thực tế và liên tục hòa bình. Nhưng đối với Hoàng Sa, năm 1956 Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các đảo phía Đông của quần đảo Trường Sa. Đến năm 1974 cũng Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của chính quyền Sài Gòn, tức là chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Chính quyền Sài Gòn, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên hợp quốc can thiệp. Lập trường nhất quán của chúng ta là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, chúng ta có đủ căn cứ lịch sử và pháp lý để khẳng định điều này. Năm 1975 giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc thì Hải Quân chúng ta đã tiếp quản 5 hòn đảo tại quần đảo Trường Sa, đó là đảo Trường Sa, đảo Song Tử Tây, đảo Sinh Tồn, đảo Nam Yết và đảo Sơn Ca, năm đảo này do quân đội của chính quyền Sài Gòn, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đang quản lý chúng ta tiếp quản. Sau đó với chủ quyền của chúng ta, chúng ta tiếp tục mở rộng thêm lên 21 đảo, với 33 điểm đóng quân. Ngoài ra chúng ta còn xây dựng thêm, 15 nhà giàn ở khu vực bãi Tư Chính để khẳng định chủ quyền của chúng ta ở vùng biển này, vùng biển trong phạm vi mà 200 hải lý thuộc thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của chúng ta. Trong khi đó ở quần đảo Trường Sa, Trung Quốc cũng đã chiếm 7 bãi đá ngầm, Đài Loan chiếm 1 đảo nổi, Philipine chiếm 9 đảo, Malaixia chiếm 5 đảo, còn Bruney có đòi hỏi chủ quyền trên vùng biển nhưng không có chiếm giữ đảo nào.
Khi một quốc gia đã hội đủ 4 điều kiện sau đây của Hiệp Ước Montevideo 1933 (nó xác lập truyền thống luật quốc tế mấy thế kỷ về tình trạng quốc gia/statehood), thì phải được coi là một quốc gia (state) thành viên trong cộng đồng quốc tế: (a) một dân số ổn định vĩnh cửu ( a permanent population); (b) một lãnh thổ rõ rệt (a defined territory); (c) một chính quyền (a government); và (d)có khả năng giao dịch với quốc gia khác (capacity to enter relations with other states). VNCH là một thực thể có đủ 4 điều kiện này. Còn vấn đề các nước khác nhìn nhận một state có đủ 4 điều kiện trên để lập bang giao thì là một vấn đề chính trị và tiêu chuẩn chính trị thêm vào 4 tiêu chuẩn luật, và chính phủ nào ghét một nước nào mà không nhìn nhận thì cũng không thể xóa bỏ tư cách state của nước đó—đó là trường hợp Cuba bị Mỹ ghét, không nhìn nhận, mà Mỹ đâu có xóa tư cách state của Cuba được. Tòa án Mỹ vào các năm 1920’s công nhận chính phủ Bolshevik của Liên Sô có đặc miễn như chủ thể quốc tế khi có các vụ kiện đòi các tiền ký thác khi xưa trong ngân hàng ở Nga bị Bolsheviks quốc hữu hóa, mặc dù chinh phủ Mỹ hồi đó chưa nhìn nhận nước Liên Sô. Nước VNCH 1954-75 đã được mấy chục nước nhìn nhận ngọai giao, có lúc Trung quốc đã đề nghị cả hai nước VN vaò Liên Hiệp Quốc. Việc có vô Liên Hợp Quốc hay không vô được (thí dụ bị một trong 5 quốc gia hội viển thường trực của Hội Đồng Bảo An phủ quyết) , thì là chuyện chính trị, không phải là tiêu chuẩn về sự khai sinh một nước/state.
Những ai, cứ viện dẫn Hiệp Định Genève nói sẽ có một nước VN sẽ được thành lập với tuyển cử thống nhất hai phần đất tạm thời chia cắt, mà coi nước VNCH như không có trong trời đất, là không hiểu luật quốc tế mấy trăm năm về statehood và lẫn lộn tiêu chuẩn pháp lý về statehood trong luật quốc tế với những sự sắp xếp chính trị của các cường quốc trong một Hiệp Định giữa vài nước mà thôi, đã cố tình quên cái thực tại chính trị là đã có mấy chục nước nhìn nhận sự khai sinh của VNCH, và cũng quên mất luật quốc tế theo nghĩa là một số ít nước ký HĐ Geneve không thể truất cái quyền chuyên độc (sovereign) của mấy chục nước kia đã nhìn nhận VNCH.
Bây giờ ông Thủ Tướng Dũng nói, và trước đây gỉa thử tiền nhiệm của ông là ông Đồng nói một cách minh thị hơn nữa , nói đến 2 nước Việt Nam trong giai đọan 1954-1975, thì cũng không giảm giá trị của sự nghiệp thống nhất đất nước làm vào năm 1975-76, vì trong lịch sử thế giới, đã có nhiều quốc gia chia ra nhiều mảnh rồi lại thống nhất, và cũng có quốc gia chia ra hai, thí dụ Pakistan chia thành hai, nửa kia thành Bengladesh, Sudan trước là một thì nay là hai quốc gia, mà các quốc gia đó vẫn có vị trí được nhìn nhận trong cộng đồng các quốc gia; và các lãnh tụ chính trị đưa hai quốc gia của một dân tộc đến thống nhất, mà biết tôn trọng quyền lợi của cả dân tộc sau khi thống nhất, thì cũng được lịch sử khen ngợi—như Lincoln, sau Chiến tranh Nam Bắc Mỹ, đã nói “Cùng nhau, chúng ta sẽ săn sóc cho cô nhi,quả phụ của cả hai bên”
Vậy xin nhắc lại là ông Đồng, đại diện miền Bắc Việt Nam, tức Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCH) lúc đó, phải được gỉai thích là không có thẩm quyền hay không có ý định tuyên bố gì về chủ quyền đât đai về Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Việt Nam Cộng Hòa , một quốc gia khác, vào thời điểm đó, mà chỉ dưa ra lời tuyên bố công nhận hải phận 12 hải lý của Trung quốc. Có gỉai thích như vậy mới không bị Trung quốc bắt bí, và cứ quy cho Việt Nam cái thế “há miệng mắc quai” vì lối giải thích Công hàm Phạm Văn Đồng của Trung quốc.
(b) Thứ hai,một bản tuyên bố đơn phương (unilateral declaration) như Công Hàm Phạm Văn Đồng không có hiệu lực pháp lý về mặt quốc tế. Trong luật quốc tế, không thể cố áp dụng lý thuyết estoppel, tức là lý thuyết trong luật pháp quốc nội của một số quốc gia có quy định là “Đã nói ra thì không nói ngược lại được”, vì lý thuyết này không áp dụng trong luật quốc tế theo cùng các điều kiễn như trong luật quốc nội, vì có những điều kiện ngặt nghèo, và do đó không thể coi lời nói đơn phương có hiệu lực ràng buộc đương nhiên trong luật quốc tế. Tòa án quốc trong một vụ xử giữa Đức và Đan Mạch/Hà Lan về them lục địa đã nói như vậy.Ngòai ra, theo một án lệ khác, khi xét ý nghĩa của lời tuyên bố đơn phương, tòa án quốc tế phải xét một cách chặt chẽ ý định (intention)của người tuyên bố.
Theo án lệ NUCLEAR TESTS CASE AUSTRALIA& NEW ZEALAND v. FRANCE 1974 I.C.J. 253, thì “dĩ nhiên là không phải hành vi đơn phương nào cũng tạo ra nghĩa vụ; nhưng một quốc gia có thể chọn theo một lập trường về một vấn đề nào đó với ý định sẽ tự ràng buộc—miễn là ý định này phải xét kỹ bằng sự giải thích hành vi đó. Khi các quốc gia đưa ra lời tuyên bố hạn chế tự do hành động của mình, thì phải gỉai thích hạn hẹp..” Tòa án cũng nói là : “chỉ cần xét một vấn đề quan trọng là xem lời văn trong lời tuyên bố có biểu lộ một ý định rõ rệt không ….Tòa án phải tự có quan điểm riêng về ý nghĩa và phạm vi mà tác giả lời tuyên bố đơn phương nào có thể tạo ra một nghĩa vụ pháp lý, và tòa không thể bị ảnh hưởng gì bởi quan điểm của một quốc gia khác vốn không thể là một bên đương sự trong lời tuyên bố đó.” (Of course, not all unilateral acts imply obligation; but a State may choose to take up a certain position in relation to a particular matter with the intention of being bound--the intention is to be ascertained by interpretation of the act. When States make statements by which their freedom of action is to be limited, a restrictive interpretation is called for......The Court further stated in the same case: “... the sole relevant is whether the language employed in any given declaration does reveal a clear intention...”(Ibid., p. 32). Court must however form its own view of the meaning and scope intended by the author of a unilateral declarationwhich may create a legal obligation, and cannot in this respect be bound by the view expressed by another State which is in no way a party to the text.).
Ý định của Thủ tướng Đồng trong cái câu ông nói ở Công hàm 1958 (Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc'') phải được xét trong khuôn khổ quyền hạn thủ tướng chiếu Hiến Pháp 1946, theo đó Chính phủ gồm Chủ tịch nước, Phó chủ tịch và nội các (điều 44), trong nội các đó, có Thủ Tướng (điều 44), và Chủ tịch nước mới là người thay mặt cho nước (điều 49 đọan a) mà ký hiệp ước với nước khác (điếu 49 đọan h ) ràng buộc VN về việc quan trọng, thí dụ chủ quyến đât đai như việc nhượng đất, kèm theo quyết định chuẩn y hiệp ước bởi nghị viện là cơ quan quyền lực cao nhất, thì mới có quyền về nhượng đất (điều 22 và 23). Còn thủ tướng không thể vượt quá quyền, theo học lý luật pháp ultra vires, và công hàm của ông, trong ngôn ngữ dùng, chỉ có ý định ủng hộ ngọai giao cho Trung quốc về một điểm là 12 haỉ lý hải phận mà Trung quốc đang lo lắng tuyên bố để chống sự đe dọa lúc đó của Mỹ từ hai đảo Kim Môn và Mả Tổ quân đội Đài Loan chấn giữ với sự ủng hộ mạnh mẽ của Mỹ và đe dọa lớn hơn của Mỹ từ eo biển Đài Loan với Hạm đội 7. Hơn nữa, ý định của ông Đồng không thể được gỉai thích là liên quan đến nhượng đất, vì Trung quốc yêu sách về tất cả các đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa, trong đó nhiều đảo thuộc quyền chiếm hữu của một số quốc gia Đông Nam Á, mà ông Đồng không là đại diện để nói về chuyện nhượng đất; lời ông Đồng nói, Trung quốc không thể đem đối kháng với các quốc gia Đông Nam Á đó được—kể cả VNCH . Theo án lệ Nuclear Tests case nói trên, Toà án quốc tế không cần nghe giải thích chủ quan, thủ lợi theo ý mình, của Trung quốc.

Xem thêm…

Copyright ©THT - Được biên soạn và sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau - Ghi rõ nguồn:quatangsusong.blogspot.com/ - Khi phát hành thông tin trên trang này
Gx Đaminh | Namkna | Trung Tâm Học Vấn Đaminh | Kho tài liệu hay |