Home » Kiện Trung Quốc
KHÔNG CHỈ CHỦ QUYỀN
18:00 |
MANILA, Philippines - Viện dẫn "sự hủy diệt trên diện rộngđa dạng
sinh học của khu vực," Philippines tố cáo Trung Quốc trước Liên HiệpQuốc
(LHQ) cho việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo trong tranh chấp Biển
TâyPhilippines (Biển Đông).
Phó đại diện của
Philippines tại Liên Hợp Quốc ở New York, Đạisứ Irene Natividad Susan,
cho biết trong một bài phát biểu công bố vào thứ Ba, mùng3 tháng 3, "cải
tạo lớn là một mối đe dọa trực tiếp đến các quốc gia cótuyên bố chủ
quyền khác và Philippines và cần được coi là một mối quan tâm lớncho tất
cả các quốc gia khi nó đe dọa đến an ninh và hòa bình chung và ổn
địnhtrong khu vực. "
"Hơn nữa, việc xây dựng khổng lồ
đó gây ra sự tàn phátrên diện rộng đa dạng sinh học của khu vực cũng sẽ
gây tổn hại không thể sửachữa toàn bộ cân bằng sinh thái ở Biển Tây
Philippines và biển Nam Trung Quốc(biển Đông VN). Thiệt hại không thể
tái sinh như vậy sẽ có ảnh hưởng lâu dài đốivới tất cả các dân tộc băng
qua các biên giới địa - chính trị, những người đãphụ thuộc vào biển để
sinh kế của họ trải qua các thế hệ, "Natividad giảithích tại cuộc tranh
cãi mở tại Hội đồng Bảo an LHQ.
Bộ Ngoại giao của Philippines (DFA) cho biết các cuộc tranhluận của Liên Hợp Quốc diễn ra vào ngày 23 tháng 2.
DFA
cho biết Trung Quốc đã triệu tập các cuộc tranh luận vìnó là chủ tịch
của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc trong tháng Hai. Bộ trưởng Ngoạigiao
Trung Quốc Wang Yi là một trong số những người tham dự sự kiện này.
Báo
cáo gần đây của Philippines xuất hiện khi đảo nhân tạo củaTrung Quốc đã
thu hút sự chú ý của phương tiện truyền thông một lần nữa.
Ngày
26 Tháng Hai, Rappler công bố hình ảnh chi tiết của cáchoạt động khai
hoang ở Biển Tây Philippines. Phó Đô đốc Alexander Lopez cho biếtquân
đội đang theo dõi "sự phát triển tích cực của các rạn san hô đảo vàcác
đặc điểm" trong các vùng biển tranh chấp.
Gây nguy hiểm cho cuộc sống

Trong
bài phát biểu của mình, Natividad cũng cho biết các hoạtđộng của Trung
Quốc ảnh hưởng đến không chỉ các hệ sinh thái mà còn ngư dân.
Bà
kêu gọi các nước khác để bảo vệ những người "đã đượchòa bình, bền vững
và hợp pháp đảm bảo đời sống của ngư dân" trong cácvùng biển tranh chấp.
"Những
hành động đó gây nguy hiểm cho cuộc sống của nhữngngười dân và những
người không chú ý đến lời kêu gọi kiềm chế là không thật lòngvới sự
nghiệp hòa bình chung", Đại sứ nói.
Philippines đã nhiều lần cảnh báo thế giới về các động tháicủa Trung Quốc.
Vào
ngày 28 tháng 1, DFA cho rằng, theo Ngoại trưởngPhilippines Albert del
Rosario, hòn đảo nhân tạo của Trung Quốc đe dọa các Hiệphội các quốc gia
Đông Nam Á (ASEAN) là "một vấn đề quan trọng trong sânsau của chính
chúng ta."
Cùng ngày, Ngoại trưởng các nước ASEAN lo ngại về cải tạo đấtcủa Trung Quốc ở Biển Đông.
Trong
năm 2014, Philippines phơi bày việc xây dựng đảo nhântạo của Trung quốc
ở Biển Tây Philippines. Các quốc gia Đông Nam Á cho biếtTrung Quốc đã
xây dựng các cấu trúc "cho mục đích quân sự."
Bằng việc đổ
cát vào khu vực mà ban đầu không có gì, TrungQuốc đang phá vỡ nguyên
trạng ở Biển Tây Philippines, theo Philippines.
Philippines lập
luận rằng việc "mở rộng bồi đắp"phá vỡ bản tuyên bố khu vực trọng điểm
được ký bởi Philippines và Trung Quốc,và các thành viên-các quốc gia
ASEAN khác, vào năm 2002.
Đây là bản Tuyên bố về
cách ứng xử của các bên ở Biển Đông,trong đó nêu: "Các bên cam kết kiềm
chế trong việc tiến hành các hoạt độngcó thể làm phức tạp hoặc gia tăng
tranh chấp và ảnh hưởng đến hòa bình và ổn địnhbao gồm, giữa những điều
đó, với việc hạn chế hoạt động cư trú trên các đảokhông có người ở hiện
nay, các rạn san hô, bãi cát ngầm, cồn, và các đặc điểmkhác, và để xử lý
những khác biệt giữa các bên trên tinh thần xây dựng "-.Rappler.com
Phán quyết của Tòa án Quốc tế: Đường “lưỡi bò” của TQ là vô giá trị
21:00 |
Bài viết được thực hiện dựa vào nguồn thông tin từ trang Manila Live Wire, một trang tin tức của Philippines.
PHẠM KHÁNH (Lược dịch)
Hôm 9/3, tờ Manila Live Wire của Philippines đưa
tin, Tòa án Trọng tài (PCA) tại The Hague, Hà Lan đã ra phán quyết
tuyên bố đường “9 đoạn” mà Trung Quốc tự vẽ ra là vô giá trị.
Phán quyết trên có vai trò vô cùng quan trọng, cung cấp cho các nước
láng giềng Trung Quốc một nền tảng pháp lý quan trọng trước những hành
động hung hăng của Trung Quốc trên các đảo, rạn san hô và các vùng nước
lân cận đang có tranh chấp trên Biển Đông.
| Tòa án Quốc tế được thiết lập tại Hội nghị Hague năm 1899 để giải quyết tranh chấp quốc tế bằng hòa bình. Trong hình là 5 thẩm phán thụ lý vụ Philippines kiện Trung Quốc. |
Phán quyết cũng chứng minh những động thái của Trung Quốc trong các tranh chấp với láng giềng ở Biển Đông là bất hợp pháp.
Nếu Trung Quốc không tuân thủ phán quyết này, danh tiếng của Bắc Kinh
trong khu vực và trên thế giới sẽ bị ảnh hưởng nhiêm trọng. Bằng việc
phớt lờ phán quyết, Trung Quốc sẽ tự "bôi nhọ" lời hứa hẹn “trỗi dậy một
cách hòa bình”. Điều đó không chỉ ảnh hưởng đến nền kinh tế của Trung
Quốc mà còn ảnh hưởng đến hình ảnh mà Trung Quốc đang muốn gây dựng là
một cường quốc có trách nhiệm.
Chưa kể đến việc cộng đồng người Trung Quốc trên khắp thế giới sẽ bị
ảnh hưởng xấu nếu Bắc Kinh tiếp tục hành động như một quốc gia hiếu
chiến khi Tòa án Quốc tế của Liên Hợp Quốc đã tuyên bố rằng hành động
của Trung Quốc vi phạm luật pháp quốc tế.
Phán quyết của Tòa án Quốc tế về việc đường “9 đoạn” vô nghĩa cũng có
nghĩa rằng giờ đây các nước láng giềng đã có cơ sở pháp lý rõ ràng để
đối đầu với những hành động hung hăng của Trung Quốc khi theo đuổi và
bảo vệ các lợi ích chính đáng của mình ở Biển Đông. Phán quyết cũng đã
giúp vạch ra cách thức các nước trong khu vực tiến hành các hoạt động
thương mại ở vùng biển rộng lớn và quan trọng này.
Gs Ngô Vĩnh Long: Việt Nam để mở cơ hội kiện Trung Quốc về Biển Đông
05:26 |
Trọng Nghĩa
Ngày 11/12/2014, Bộ ngoại giao Việt Nam chính thức
cho biết là đã thông báo cho Toà án Trọng tài Liên Hiệp Quốc về lập
trường của Việt Nam về Biển Đông, trong lúc Toà xem xét đơn kiện của
Philippines. Theo nhận định của Giáo sư Ngô Vĩnh Long, chuyên gia kỳ cựu
về Biển Đông tại trường Đại học Maine (Hoa Kỳ), có thể xem đây là một
động thái cần thiết của Việt Nam nhằm tạo cơ sở cho việc kiện Trung Quốc
trong tương lai.
Trả lời câu hỏi của RFI qua thư điện tử, Giáo sư Ngô Vĩnh Long phân tích :
« Câu trả lời của ông Lê Hải Bình về vụ kiện Trọng tài Biển Đông của Philippines cho thấy có lẽ Việt Nam đã nộp cái gọi là đề xuất của phía “bạn của tòa” (amicus curiae submission). Việc nầy rất cần thiết để phát biểu lập trường và quan điểm của Việt Nam trong việc ủng hộ vụ kiện cũng như bảo vệ “các quyền và lợi ích pháp lý” của Việt Nam như đã tuyên bố.
Thêm vào đó nó cũng giúp cho Việt Nam để mở cơ hội kiện Trung Quốc trong tương lai. Nếu Việt Nam đã không làm như thế thì sau nầy Việt Nam khó có thể vận động sự ủng hộ của thế giới khi đi đến quyết định kiện Trung Quốc. »
Theo Giáo sư Long, Việt Nam đã lên tiếng kịp lúc để duy trì khả năng bảo vệ quyền lợi của mình trong tư cách là nước bị đường lưỡi bò Trung Quốc tác hại nặng nhất :
« Có lẽ là để gián tiếp ủng hộ vụ kiện của Philippines, ngày 05/12/2014, Bộ Ngoại Giao Mỹ đã chính thức công bố một nghiên cứu của Bureau Oceans and International Environmental and Scientific Affairs trong đó phân tích rõ ràng các đòi hỏi của Trung Quốc ở Biển Đông là phi lý và phi pháp.
Hai ngày sau (ngày 07/12), chính phủ Trung Quốc đã đưa ra một công bố chính thức về vụ kiện của Philippines và bác bỏ một cách rất ương ngạnh vụ kiện ấy.
Việt Nam là nước bị thiệt hại nhất vì “đường lưỡi bò” (mà vụ kiện của Philippines chủ yếu là về đòi hỏi phi lý và phi pháp này của Trung Quốc) cũng như những hành động xâm chiếm khác của Trung Quốc.
Do đó, nếu Việt Nam đã không lên tiếng khẳng định quyền lợi của mình sau khi Trung Quốc đưa ra công bố chính thức về vụ kiện của Philippines, cũng như trước thời hạn hết được nộp ý kiến, thì Việt Nam đã bỏ đi một cơ hội rất lớn để bảo vệ quyền lợi của chính mình. »
« Câu trả lời của ông Lê Hải Bình về vụ kiện Trọng tài Biển Đông của Philippines cho thấy có lẽ Việt Nam đã nộp cái gọi là đề xuất của phía “bạn của tòa” (amicus curiae submission). Việc nầy rất cần thiết để phát biểu lập trường và quan điểm của Việt Nam trong việc ủng hộ vụ kiện cũng như bảo vệ “các quyền và lợi ích pháp lý” của Việt Nam như đã tuyên bố.
Thêm vào đó nó cũng giúp cho Việt Nam để mở cơ hội kiện Trung Quốc trong tương lai. Nếu Việt Nam đã không làm như thế thì sau nầy Việt Nam khó có thể vận động sự ủng hộ của thế giới khi đi đến quyết định kiện Trung Quốc. »
Theo Giáo sư Long, Việt Nam đã lên tiếng kịp lúc để duy trì khả năng bảo vệ quyền lợi của mình trong tư cách là nước bị đường lưỡi bò Trung Quốc tác hại nặng nhất :
« Có lẽ là để gián tiếp ủng hộ vụ kiện của Philippines, ngày 05/12/2014, Bộ Ngoại Giao Mỹ đã chính thức công bố một nghiên cứu của Bureau Oceans and International Environmental and Scientific Affairs trong đó phân tích rõ ràng các đòi hỏi của Trung Quốc ở Biển Đông là phi lý và phi pháp.
Hai ngày sau (ngày 07/12), chính phủ Trung Quốc đã đưa ra một công bố chính thức về vụ kiện của Philippines và bác bỏ một cách rất ương ngạnh vụ kiện ấy.
Việt Nam là nước bị thiệt hại nhất vì “đường lưỡi bò” (mà vụ kiện của Philippines chủ yếu là về đòi hỏi phi lý và phi pháp này của Trung Quốc) cũng như những hành động xâm chiếm khác của Trung Quốc.
Do đó, nếu Việt Nam đã không lên tiếng khẳng định quyền lợi của mình sau khi Trung Quốc đưa ra công bố chính thức về vụ kiện của Philippines, cũng như trước thời hạn hết được nộp ý kiến, thì Việt Nam đã bỏ đi một cơ hội rất lớn để bảo vệ quyền lợi của chính mình. »
Biển Đông: Việt Nam chính thức nhờ Trọng tài quốc tế bảo vệ quyền lợi
05:24 |
Trọng Nghĩa
Trong một tuyên bố ngắn gọn vào hôm qua, 11/12/2014, Việt Nam xác nhận là đã yêu cầu Tòa án trọng tài quốc tế chú ý đến « quyền và lợi ích » pháp lý của Việt Nam ở Biển Đông.
Tuy không hẳn là một quyết định kiện các yêu sách chủ quyền của Trung
Quốc như Philippines đã làm, nhưng quyết định của Việt Nam gián tiếp
bác bỏ các luận điểm của Bắc Kinh về Biển Đông.
Tuy không hẳn là một quyết định kiện các yêu sách chủ quyền của Trung
Quốc như Philippines đã làm, nhưng quyết định của Việt Nam gián tiếp
bác bỏ các luận điểm của Bắc Kinh về Biển Đông.
Trả lời báo chí vào hôm qua về
lập trường của Việt Nam liên quan đến diễn biến mới trong vụ Philippines
kiện đường lưỡi bò Trung Quốc tại Biển Đông trước Tòa án Trong tài Liên
Hiệp Quốc về Luật Biển, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải
Bình xác nhận rằng Việt Nam đã chính thức bày tỏ quan điểm của mình,
đồng thời yêu cầu Tòa Trọng tài quan tâm đến quyền lợi của Việt Nam tại
Biển Đông :
« Để bảo vệ các quyền và lợi ích pháp lý của mình ở Biển Đông có thể bị ảnh hưởng bởi vụ kiện Trọng tài Biển Đông, Việt Nam đã bày tỏ với Tòa trọng tài lập trường, quan điểm của mình đối với vụ kiện và đề nghị Tòa trọng tài quan tâm đến các quyền và lợi ích pháp lý đó của Việt Nam ».
Trước đó ông Lê Hải Bình đã lên tiếng cực lực phản đối việc Bắc Kinh mới đây đã tái khẳng định chủ quyền của họ trên hầu như toàn bộ Biển Đông trong bản Tuyên bố lập trường của Trung Quốc về vụ kiện của Philippines :
« Lập trường nhất quán của Việt Nam là kiên quyết bác bỏ yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và vùng nước phụ cận cũng như yêu sách “các quyền lịch sử” của Trung Quốc đối với vùng nước, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển bên trong “đường đứt đoạn” do Trung Quốc đơn phương đưa ra ».
Bắc Kinh đòi Hà Nội « thiết thực » tôn trọng chủ quyền Trung Quốc ở Biển Đông
Đúng với dự đoán, ngay sau các tuyên bố từ phía Hà Nội, Bắc Kinh đã phản ứng gay gắt. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi đã bác bỏ các tuyên bố của Việt Nam và yêu cầu Hà Nội thiết thực tôn trọng chủ quyền lãnh thổ và quyền lợi trên biển của Trung Quốc.
Theo Tân Hoa Xã, ông Hồng Lỗi còn nhắc lại yêu cầu Việt Nam cùng với Trung Quốc giải quyết tranh chấp bằng đàm phán song phương « trên cơ sở tôn trọng sự thật lịch sử và Luật quốc tế ».
Điểm cần ghi nhận trong tuyên bố này là Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói đến đàm phán về Nam Sa (tức (Trường Sa) chứ không nói gì đến đàm phán về Tây Sa (tức Hoàng Sa), mà Trung Quốc đã mặc nhiên coi là lãnh thổ của họ, không phải là đối tượng đàm phán.
Theo các chuyên gia phân tích, dù việc Việt Nam quyết định cầu viện đến Tòa án Trong tài Liên Hiệp Quốc trên hồ sơ Biển Đông không hẳn là một đơn kiện Trung Quốc như Philippines đã làm, nhưng động thái này là một động thái theo chiều hướng vận động công luận quốc tế chống lại yêu sách chủ quyền quá trớn của Trung Quốc tại Biển Đông.
« Để bảo vệ các quyền và lợi ích pháp lý của mình ở Biển Đông có thể bị ảnh hưởng bởi vụ kiện Trọng tài Biển Đông, Việt Nam đã bày tỏ với Tòa trọng tài lập trường, quan điểm của mình đối với vụ kiện và đề nghị Tòa trọng tài quan tâm đến các quyền và lợi ích pháp lý đó của Việt Nam ».
Trước đó ông Lê Hải Bình đã lên tiếng cực lực phản đối việc Bắc Kinh mới đây đã tái khẳng định chủ quyền của họ trên hầu như toàn bộ Biển Đông trong bản Tuyên bố lập trường của Trung Quốc về vụ kiện của Philippines :
« Lập trường nhất quán của Việt Nam là kiên quyết bác bỏ yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và vùng nước phụ cận cũng như yêu sách “các quyền lịch sử” của Trung Quốc đối với vùng nước, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển bên trong “đường đứt đoạn” do Trung Quốc đơn phương đưa ra ».
Bắc Kinh đòi Hà Nội « thiết thực » tôn trọng chủ quyền Trung Quốc ở Biển Đông
Đúng với dự đoán, ngay sau các tuyên bố từ phía Hà Nội, Bắc Kinh đã phản ứng gay gắt. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi đã bác bỏ các tuyên bố của Việt Nam và yêu cầu Hà Nội thiết thực tôn trọng chủ quyền lãnh thổ và quyền lợi trên biển của Trung Quốc.
Theo Tân Hoa Xã, ông Hồng Lỗi còn nhắc lại yêu cầu Việt Nam cùng với Trung Quốc giải quyết tranh chấp bằng đàm phán song phương « trên cơ sở tôn trọng sự thật lịch sử và Luật quốc tế ».
Điểm cần ghi nhận trong tuyên bố này là Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói đến đàm phán về Nam Sa (tức (Trường Sa) chứ không nói gì đến đàm phán về Tây Sa (tức Hoàng Sa), mà Trung Quốc đã mặc nhiên coi là lãnh thổ của họ, không phải là đối tượng đàm phán.
Theo các chuyên gia phân tích, dù việc Việt Nam quyết định cầu viện đến Tòa án Trong tài Liên Hiệp Quốc trên hồ sơ Biển Đông không hẳn là một đơn kiện Trung Quốc như Philippines đã làm, nhưng động thái này là một động thái theo chiều hướng vận động công luận quốc tế chống lại yêu sách chủ quyền quá trớn của Trung Quốc tại Biển Đông.
Giá trị pháp lý công hàm Phạm Văn Đồng theo luật pháp quốc tế và cơ hội ngàn vàng để Việt Nam xác quyết chủ quyền trên hai nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa
07:03 |TMSS: Cám ơn luật sư Nguyễn Lê Hà đã cho độc giả cái nhìn khách quan và đầy hy vọng. Dòng máu Việt vẫn không ngừng tuôn chảy trong huyết quản của người Việt năm châu. Ước mong lãnh đạo Việt Nam thấy mà hành xử sao cho đúng!
---------------------------------------------------------
Giá trị pháp lý công hàm Phạm Văn Đồng theo luật pháp quốc tế và cơ hội ngàn vàng để Việt Nam xác quyết chủ quyền trên hai nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Theo BVN
Luật sư NGUYEN LE-HA
Từ
nhiều tuần nay, các học giả, nhà nghiên cứu, chính trị gia, luật gia
nói viết nhiều về công điện Phạm Văn Đồng ký và gửi ngày 14/9/1958 cho
Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai liên quan tới lời tuyên bố của Trung
Quốc ngày 4/9/1958 về bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung
Quốc nới rộng là 12 hải lý bao gồm lãnh thổ trên đất liền và các hải đảo
ngoài khơi, Đài Loan và quần đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo
Tây Sa (Xisha tức Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Nansha
tức Trường Sa).
Điều tuyên bố trên của Trung
Quốc về việc nới rộng biển đảo ra 12 hải lý hoàn toàn phù hợp với đề
nghị của Hội Nghị Quốc Tế về luật biển họp tại Genève từ ngày 24-2 đến
29-4-1958.
Bức công điện Thủ tướng Phạm Văn Đồng có nội dung như sau:
“Chính
phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố
ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc,
quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính
phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ
thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc trên mặt bể.”
Chính
công điện hay công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng này đã gây nên những
tranh cãi bất tận và đối nghịch nhau đưa đến những giải thích và kết
luận có nhiều điểm hoàn toàn trái với luật thông lệ quốc tế, công pháp
quốc tế và luật quốc tế về hiệp ước.
Chúng tôi nhận thấy có sự nhầm lẫn căn bản là: sự lẫn lộn Luật quốc nội (droit interne) và Luật công pháp quốc tế (droit publique international), và Luật quốc tế về hiệp ước (droit international des traités), đặt biệt Công Ước Vienne về Hiệp Ước (Convention de Vienne sur le droit des traités).
Chúng
tôi sẽ giải thích sự lầm lẫn trên có thể đưa đến các kết luận tai hại
qua việc đánh giá không chính xác công điện Phạm Văn Đồng đồng thời với
những lời giải thích này hy vọng sẽ soi sáng các quyết định của các nhà
lãnh đạo Chính quyền Việt Nam can đảm nắm bắt cơ may bằng cách sử dụng
cơ quan tài phán quốc tế thích hợp để Việt Nam chiến thắng trên trường
quốc tế liên quan tới Hoàng Sa và Trường Sa (1).
I- TÌM HIỂU NỘI DUNG CÔNG ĐIỆN VÀ Ý ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG
1)- Đọc lại từng câu, từng chữ Công điện, chúng tôi nhận thấy mạch lạc rõ ràng (sans équivoque): “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố…, quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Đoạn tiếp: “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định… hải phận 12 hải lý” và còn nhấn mạnh ba chữ cuối câu “trên mặt bể.”
2)- Công
điện Phạm Văn Đồng không hề nhắc đến, hay ám chỉ các đảo Hoàng Sa và
Trường Sa thuộc chủ quyền và quản lý của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà
(Việt Nam Cộng Hòa), một quốc gia độc lập (indépendance) có chủ quyền
(souveraineté) và được quốc tế thừa nhận tương tự như Chính Phủ Việt Nam
Dân Chủ Cộng Hoà (VNDCCH) với thủ đô là Hà Nội.
Sự
giải thích trên đúng với qui định căn cứ theo điều 29 Công Ước Vienne
về Hiệp Ứơc: thoả ước chỉ áp dụng trên toàn lãnh thổ của bên kết ước
(2).
3)- Nhìn kỹ lại lời tuyên bố của Trung Quốc 4/9/1958, trong thời điểm Hội Nghị Quốc Tế về luật biển họp tại Genève, chỉ cốt yếu về việc nới rộng biển đảo ra 12 hải lý, không phải là lời tuyên bố vể chủ quyền các đảo
mặc dù lời tuyên bố có chồng chéo lên chủ quyền các đảo thuộc các nước
khác như Việt Nam Cộng Hoà (Hoàng Sa và Trường Sa) và các nước
Philippines, Malaysia, Brunei, Đài Loan (Trường Sa).
Đằng khác, Công Pháp Quốc tế cũng chỉ cho phép tuyên bố đơn phương một đối tượng duy nhất chỉ định rõ ràng như như việc việc nới rộng biển đảo ra 12 hải lý của Trung Quốc.
Chính
vì lý do đó, các quốc gia này đã không thấy cần thiết phải lên tiếng về
lời tuyên bố của Trung Quốc ngoại trừ Thủ tướng Phạm Văn Đồng của Chính
Phủ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà là một quốc gia độc lập với Chính Phủ
Việt Nam Cộng Hoà (theo Hiệp Định Genève 1954 phân định) lên tiếng ủng
hộ thông qua Công điện nói trên.
Điều 31 Công
Ước Vienne về hiệp ước cho biết việc giải thích thỏa ước phải thiện ý
theo ý nghĩa bình thường trong bối cảnh thoả ước phát sinh và theo đối
tượng và mục đích rõ ràng trong thỏa ước.
Như
vậy Công điện Phạm Văn Đồng được phát sinh gửi đi trong bối cảnh Trung
Quốc tuyên bố nới rộng biển đảo ra 12 hải lý vào thời điểm Hội Nghị Quốc
Tế về luật biển họp tại Genève từ ngày 24-2 đến 29-4-1958.
Đàng
khác, đối tượng và mục đích rõ ràng ghi trong Công điện chỉ rõ việc
thừa nhận 12 hải lý mở rộng, không có một chữ, một câu nào trực tiếp hay
gián tiếp thừa nhận chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc.
Điều
32 Công Ước Vienne cũng qui định, trong trường hợp văn kiện mù mờ,
không rõ ràng, có nguy cơ đưa tới kết luận kỳ quái (absurde) vô lý thì
phải xem xét những công việc sửa soạn trước đó và những tình huống đưa
tới việc ký kết văn kiện.
Thực vậy cho đến nay,
trước thời điểm ký văn kiện, cũng như từ ngày Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký
gửi công điện 14/9/1958 tán thành việc nới rộng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc,
cho đến khi mất đã không hề tìm thấy một tài liệu nào công nhận hay mặc
nhiên công nhận các đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc.
Đàng
khác, chúng tôi cũng không thấy có một sự kiện nào, bằng các cuộc thảo
luận thương thuyết hay văn bản trao đổi giữa Trong Quốc và Việt Nam liên
quan tới Hoàng Sa và Trường Sa trước và sau công điện do Thủ tướng Phạm
Văn Đồng ký ngày 14/9/1958.
Trái lại, thực tế cho thấy:
- Ngay
khi Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ ngày 30/4/1975, quân đội của
Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam tiếp quản đảo
Trường Sa rối giao lại cho Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà khi thống
nhất đất nước 1976.
- Trận hải chiến ngày
19/1/1974 do Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa thuộc chủ quyền và quản lý của
Việt Nam Cộng Hoà đã làm thiệt mạng 75 quân nhân Việt Nam Cộng Hòa anh
dũng chiến đấu. Ngay tức thì, ngày 19/1/1974, Bộ Ngoại Giao Việt Nam
Cộng Hòa ra tuyên cáo phản đối hành vi xâm lược của Trung Quốc. Tương
tự, Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam cũng đã phản
đối hành động của Trung Quốc, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với
quần đảo Hoàng Sa.
- Ngày 14/3/1988, Trung Quốc
đem quân xâm chiếm các bãi đá Gạc Ma, Colin và Len Đao thuộc quần đảo
Trường Sa của Việt Nam và giết hại 64 hải quân Việt Nam ra bảo vệ.
Các
sự kiện nêu trên, sau khi Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa không tồn tại,
các Chính quyền kế tiếp từ Chính quyền Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền
Nam Việt Nam đến Chính quyền Dân Chủ Cộng Hoà và nay là Chính quyền Xã
Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không có một sự nhượng bộ hay thỏa ước nào được
biết đến cho tới nay liên quan tới các đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tất
cả các giải thích trên cho thấy, Công điện hay Công hàm của Thủ tướng
Phạm Văn Đồng ký gửi ngày 14/9/1958 cho Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai
tuyến bố về lãnh hải 12 hải lý, chỉ là một sự tuyên bố ngoại giao không giá trị pháp lý, không có tác dụng công nhận chủ quyền liên quan tới đảo Hoàng Sa (Xisha) và Trường Sa (Nansha) của Việt Nam.
Theo
chúng tôi, Công điện này chỉ có ý nghĩa lịch sử, đánh dấu một thời kỳ
thắm thiết “môi hở răng lạnh giữ hai nước anh em đồng chí cùng chung một
giường” và dưới ảnh hưởng nặng nề của Trung Quốc đồng thời chứng tỏ
người lãnh đạo đất nước thiếu cảnh giác và không có tầm nhìn xa.
II- NHỮNG LẦM LẪN TAI HẠI
Sai lầm:
lẫn lộn về tư cách pháp lý trong hiệp ước quốc tế và cách giải thích
Công điện Phạm Văn Đồng tùy tiện theo cảm tính hay theo lăng kính chính
trị không căn cứ vào căn bản pháp luật.
Chúng ta đều biết Hiến Pháp quốc gia là luật quốc nội
thường ghi nhận và bảo đảm những quyền căn bản của công dân đồng thời
qui định cách tổ chức và điều hành quốc gia làm sao phát triển bền vững
và mang phúc lợi tối đa cho mỗi người dân.
Trong
Hiến Pháp, có những điều khoản qui định về về tư cách pháp lý (qualité
juridique) của người dân, của viên chức chính quyền hay của các tổ chức
dân sự hay thương mại, được gọi là pháp nhân (personne juridique).
Trong Công Pháp Quốc Tế, cũng có những điều khoản qui định về người đại diện quốc gia hay người có thẩm quyền, không nói người có tư cách pháp lý bởi vì nó thuộc luật quốc nội qui định các điều kiện khác nhau tùy theo mỗi quốc gia.
Bởi
vậy không thể áp dụng tư cách pháp lý (luật quốc nội) vào các hiệp ước
quốc tế để yêu cầu hủy bỏ thỏa ước đã ký do ngươi ký không có tư cách
pháp lý hay vựợt quyền (ultra vires) theo luật quốc nội như trường hợp
nêu ra bởi một số học giả và luật gia liên quan tới câu hỏi làm sao giải
thoát hoặc vô hiệu hóa Công Hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký.
Có
người lại còn yêu cầu Quốc Hội Việt Nam ra nghị quyết hủy bỏ Công Hàm
của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký cách đây 56 năm, hoăc xa hơn đòi xoá
bỏ chính thể hiện nay và lập lại Việt Nam Cộng Hòa. Thật là ngộ nghĩnh
tức cười.
Luận cứ của họ cho rằng công hàm Thủ
tướng Phạm Văn Đồng thực sự công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên các
đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam tương tự lập luận của Trung Quốc
nhưng, theo họ, là vô giá trị vì những lý do sau đây:
- Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có tư cách pháp lý để ký công hàm; hoặc
- Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã vượt quyền hạn (ultra vires); hoặc
-
Công hàm ký bởi Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã không đưa ra Quốc Hội Việt
Nam phê chuẩn, nên thiếu sự đồng thuận (vice de consentement), hoặc vi
hiến.
Các lập luận trên hoàn toàn trái với Thông Tục Quốc Tế, đặc biệt các qui định của Luật Quốc tế về hiệp ước.
Thật
vậy, nếu đã coi Công hàm ký bởi Thủ tướng Phạm Văn Đồng là một văn bản
(hiệp ước) công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên các đảo Hoàng Sa và
Trường Sa của Việt Nam thì giải pháp vô hiệu hóa Công Hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký của các học giả và luật gia trên hoàn toàn lầm lạc bởi các lý do sau đây:
-
Điều 27 và 46 Công Ước Vienne về hiệp ước không cho phép viện dẫn luật
quốc nội như là tì vết (vice) của sự thỏa thuận (consentement) để hủy
hiệp ước đã ký, hay không muốn thi hành viện dẫn lý do Công Hàm Thủ
tướng Phạm Văn Đồng đã không được đưa ra Quốc Hội Việt Nam phê chuẩn.
-
Điều 7 Công Ước trên ghi rất rõ những ai là đại diện của quốc gia kết
ước có đầy đủ quyền lực (pleins pouvoirs) ký, chuẩn nhận, đồng ý một
hiệp ước và quốc gia đó bị trói buộc vào hiệp ước.
- Điều 7.2.a): chỉ rõ người đứng đầu quốc gia, người đứng đầu chính phủ, bộ trưởng ngoại giao là những người đại diện quốc gia.
-
Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký Công Hàm là người đứng đầu chính phủ Chính
Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà có đầy đủ quyền lực ký và nhà nước Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hoà phải bị ràng buộc.
- Nói khác đi, Nhà Nước Việt Nam phải tôn trọng và thi hành hiệp ước được ký bởi người đại diện là Thủ tướng Phạm Văn Đồng.
Giả
sử nội vụ được đưa ra Tòa Án Công Lý Quốc Tế với những dữ kiện và lập
luận sai lầm trên, kết quả sẽ hết sức tai hại mà độc giả đã thấy trước.
III- CƠ HỘI NGÀN VÀNG ĐỂ VIỆT NAM XÁC QUYẾT CHỦ QUYỀN TRÊN HAI NHÓM ĐẢO HOÀNG SA và TRƯỜNG SA
1- Cơ hội ngàn vàng
Từ
ngày Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký Công Hàm đã 56 năm, môt số không nhỏ
các nhà lãnh đạo đất nước vẫn còn mê mẩn với các khẩu hiệu loè bịp như
“các nước xã hội chủ nghiã đều là anh em”, rồi “16 chữ vàng và 4 tốt” do
Trung Quốc ban tặng, mặc dù chính họ đã kinh qua nhiều trận chiến tàn
phá khủng khiếp 6 tỉnh biên giới Việt-Trung năm 1979, xâm chiếm biển đảo
Hoàng Sa năm 1974 và đảo đá Gạc Ma thuộc Trường Sa năm 1988.
Sự
việc giàn khoan Hải Dương 981 Trung Quốc đặt trái phép vào thềm lục địa
Việt Nam từ hai tháng nay cùng kéo theo hơn 100 các tàu đủ loại, đủ cỡ
để bảo vệ các hoạt động của họ cộng với thái độ ngang ngược bất nhân đối
với các tàu kiểm ngư và tàu cá của Việt Nam đã là một giọt nước làm
tràn ly.
Sự kiện này có lẽ đang thức tỉnh một số quan chức còn mơ màng chỉ nhìn thấy Tàu lạ mà không thấy TÀU thiệt đã và đang giết hại ngư dân Việt từ nhiều năm nay.
Trong
khi đó nhân dân cả nước đã tỉnh ngộ từ lâu, họ biết tàu lạ là ai. Đức
Giám Mục Nguyễn Thái Hợp, Chủ tịch Ủy Ban Công Lý Hoà Bình thuộc Hội
Đồng Giám Mục Việt Nam, đã quả quyết rằng: “Tàu lớn, tàu nhỏ, tàu lạ, tất cả đều là TÀU cả”.
Ngày nay phải bổ túc câu nói trên: “… tàu lặn, tàu ngầm, tàu bay, tất cả đều là TÀU cả”.
Ý
dân là Ý Trời: các cuộc xuống đường hàng chục ngàn người, các cuộc hội
thảo công khai về biển đảo, các kiến nghị của trí thức, các hội đoàn đủ
mọi tầng lớp trong xã hội tố cáo Trung Quốc chiếm đoạt và vi phạm biển
đảo Việt Nam dâng cao chưa từng có phải chăng là dấu chỉ báo trước cơn
đại địa chấn Tsumani?
Trên bình diện quốc tế,
Trung Quốc đang bị kết án không tuân theo luật lệ quốc tế và muốn dùng
vũ lực thay đổi đơn phương nguyên trạng tại biển Hoa Đông và Biển Đông.
Thủ
tướng Nguyễn Tấn Dũng và vài vị lãnh đạo cao cấp mới đây, đã tố cáo
đích danh Trung Quốc vi phạm lãnh hải Việt Nam và đe doạ đưa vụ việc ra
Toà Án Quốc Tế giải quyết.
Đó là tín hiệu đáng
mừng! Nhưng quan trọng là phải hành động ngay! Không phải truyền lại
trách nghiệm cho các thế hệ con cháu 1000 năm sau mới đòi lại như tuyên
bố của một quan chức quyền thế.
Theo thiển ý,
chúng tôi nghĩ rằng Chính quyền Việt Nam không còn chọn lựa nào khác hơn
là khiếu kiện Trung Quốc ra Toà Án Công Lý Quốc Tế La Haye thay vì Toà
Án Trọng Tài Quốc Tế như Philippines đang tiến hành.
Việc đưa các tranh chấp ra Tòa Án Quốc Tế là một phương cách giải quyết hòa bình, bình đẳng và khách quan. Các quốc gia văn minh dân chủ coi đó là cách giải quyết rất bình thường giữa các quốc gia khi có bất đồng tranh chấp và không hề làm suy giảm tình hữu nghị.
Hiến Chương Liên Hiệp Quốc tại Điều 73 khuyến nghị các thành viên Liên Hiệp Quốc sử dụng Tòa Án Công Lý Quốc Tế giải quyết các tranh phương chấp như là biện pháp hoà bình.
2- Tòa Án Công Lý QuốcTế La Haye
Chúng tôi đề nghị vụ khiếu kiện Trung Quốc ra Tòa Án Công Lý QuốcTế La Haye và nội dung khiếu kiện phải bao gồm các tranh chấp liên quan tới các nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa bởi các lý do sau đây:
a)- Toà Án Trọng Tài Quốc Tế
đang thụ lý vụ Chính quyền Philippines khiếu nại đường lưỡi bò 9 đoạn
do Trung Quốc tự nhận chủ quyền chiếm đến 90% toàn bộ Biển Đông, vi phạm
quyền, chủ quyền và quyền tài phán các biển đảo của họ đang chiếm giữ.
- Mục đích và đối tượng khiếu tố của họ đơn giản và dễ dàng giải quyết:
Trung Quốc chỉ cần có chút thiện chí công nhận các quyền đó bằng một
thỏa ước riêng rẽ giữa hai nước và được phê chuẩn bởi Toà Án Trọng Tài
Quốc Tế đang thụ lý mà không tổn hại nhiều tới đường lưỡi bò 9 đoạn của
họ.
Chúng tôi cũng cần lưu ý quý độc giả rằng,
nếu thỏa ước đó thành hình thì nó chỉ có giá trị giữa hai nước ký kết mà
không ảnh hưởng gì tới các nước khác về đường lưỡi bò 9 đoạn của Trung
Quốc.
- Toà Án Trọng Tài Quốc Tế, như tên gọi,
cốt yếu nhằm giảng hoà, tìm đồng thuận giữa các bên để đạt tới một thỏa
hiệp (compromis) mà không bắt buộc phải căn cứ vào các luật lệ quốc tế.
Án lệ quốc tế đã nhiều lần minh tỏ điều đó.
Giải pháp đó gọi là ex aequo et bono (công bình và hữu ích).
Bởi
vậy, Chính quyền Việt Nam, nếu muốn giải quyết toàn bộ và dứt khoát các
tranh chấp liên quan tới các nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nên khiếu
tố trước Tòa Án Công Lý QuốcTế La Haye, theo chúng tôi là chọn lựa thích hợp và tốt nhất bởi các lý do trình bày dưới đây.
b)- Tòa Án Công Lý QuốcTế La Haye
-
Vụ việc tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc liên quan tới Hoàng Sa
và Trường Sa phức tạp hơn nhiều vì theo chúng tôi hiểu, thứ nhất là cả
hai nước đều đòi chủ quyền trên toàn thể hai nhóm đảo này và thứ hai là các chủ quyền đòi hỏi chồng chéo nhau
liên quan tới nhiều quốc gia như: Việt Nam, Trung Quốc, Philippines,
Đài Loan, Malaysia, Brunei đối quần đảo Trường Sa và Việt Nam, Trung
Quốc đối với nhóm đảo Hoàng Sa.
- Tòa Án Công Lý
Quốc Tế (3) là cơ quan cơ quan tài phán chính yếu của Liên Hiệp Quốc có
thẩm quyền bao quát các tranh chấp quốc tế tương tự như các Toà Án Trên
(Cour Supérieure), còn được gọi là Toà Án Luật Chung (tribunal de droit
comun) tại các nước có truyền thống pháp quyền.
-
Tòa Án Công Lý Quốc Tế, qua thủ tục có thể giúp Việt Nam thông đạt tới
tất cả các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc, các luận cứ và chứng cứ
liên quan tới Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Đây là một
phương cách hữu hiệu nhất để các nước trên toàn thế giới biết quyền lợi
chính đáng về biển đảo của Việt Nam.
- Tòa Án
Công Lý Quốc Tế, cũng có thể cho mở điều tra hay lấy ý kiến chuyên môn
của các cá nhân, tổ chức, cơ quan khi thấy cần thiết do Tòa chỉ định.
- Tòa Án cũng có thể ra án lệnh yêu cầu các bên cung cấp tài liệu cần thiết (pertinents) nhằm giải quyết vụ việc.
Đó là tính cách đặc thù về thẩm quyền bao quát (globale, universelle) của Tòa Án Công Lý Quốc Tế La Haye.
- Hơn nữa, trong vụ khiếu kiện trước Tòa Án Công Lý Quốc Tế các nước có chủ quyền chồng chéo có thể tham dự với tư cách quốc gia đệ tam (intervenant)
một khi phán quyết của Toà Án có thể tổn hại tới chủ quyển của họ, như
trường hợp quần đảo Trường Sa nói ở trên giữa Việt Nam, Trung Quốc,
Philippines, Đài Loan, Malaysia, Brunei.
Một khi đã tham dự thì phán quyết có giá trị cho tất cả.
Hy
vọng những trình bày các sự kiện và giải thích (4) trên giúp độc giả có
cái nhìn đứng đắn về một vấn đề cực kỳ quan trọng có nguy cơ tổn hại
đến sự toàn vẹn lãnh thổ biển đảo và chủ quyền độc lập Việt Nam.
N. L. H.
Tác giả gửi BVN.
GHI CHÚ
(1): Theo
đánh giá các chứng cứ hiện có của Trung Quốc và Việt Nam, theo chúng
tôi, khả năng thắng kiện gần như chắc chắn. Tuy nhiên vấn đề còn tuỳ
thuộc cách trình bày vấn đề, chọn lựa các chứng cứ (pertinents), toà án
thụ lý, chiến thuật trình bày vấn đề, để làm sao bắt buộc Trung Quốc có
nhiệm vụ phải chứng minh các chứng cứ về chủ quyền (charges de preuves)
không phải phía Việt Nam vì các hành vi xâm phạm chủ quyền của Trung
Quốc đối với Việt Nam, v.v. Các chứng cứ về lịch sử, chiếm hữu thực sự
hòa bình, liên tục của Việt Nam rất rõ ràng, điều mà Trung Quốc không
có, nên luận cứ chính của họ là Công Hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng
ngày 14/9/1958 mặc nhiên công nhận chủ quyền của họ trên hai quần đảo
Trường Sa và Hoàng Sa.
Chiến thuật hiện nay của
họ là thương thảo đơn phương, không chấp nhận phân xử của Toà Án Quốc
Tế, và từ từ tạo ra các chứng cứ mới qui định bởi Công Ứơc Quốc Tế về
luật biển 1982, bằng cách ru ngủ các nhà lãnh đạo Việt Nam bất động
trong một thời gian dài với mỹ từ “chuyện trong gia đình, đời sau sẽ
đòi, ngàn năm sau sẽ đòi…”.
(2): Công Ước
Vienne về Hiệp Ước (Convention de Vienne sur le droit des traités) thông
qua ngày 23/5/1969 và có hiệu lực ngày 27/01/1980.
(3): Tòa Án Công Lý Quốc Tế được thông qua ngày 26/6/1945 và có hiệu lực ngày 24/10/1946.
(4):
Chúng tôi chỉ đưa ra vài sự kiện với lời giải thích ngắn gọn nhằm giúp
độc giả dễ hiểu một điểm pháp lý quan trọng về Công điện hay Công hàm
của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ngày 14/9/1958. Đàng khác, ý thức được
tầm quan trọng này, chúng tôi để đồng bào, các cơ quan truyền thông
(medias) trong và ngoài nước Việt Nam tùy ý sử dụng, chỉ với một điều
kiện duy nhất là không được thay đổi, cắt xén thêm bớt nội dung.
Là
một luật sư chuyên nghiệp, có ba con luật sư, hai trong ba hiện với hơn
12 năm kinh nghiệm các hồ sơ quốc tế và các toà án quốc tế, hiện một
con làm việc với tư cách luật sư cố vấn, luật sư biện hộ (co-counsel,
defense lawyer) tại Tòa Án Quốc Tế tại La Haye, mong đóng góp phần
chuyên môn liên quan tới Hoàng Sa và Trường Sa. Trân trọng.
Tuyên bố số 1 của Hội nhà báo độc lập Việt Nam
00:50 |
TMSS: Kẻ đáng lẽ phải lên tiếng thì bặt tăm để cho giới bị kẻ phải lênt tiếng quy chụp phản động lên tiếng đây! Ai yêu nước thương dân, cứ nhìn và ngẫm sẽ tường thôi! Cảm ơn
Hội nhà báo độc lập Việt Nam
Hội nhà báo độc lập Việt Nam
Kiện Trung Quốc, "chúng ta sẽ đập nát sự tự tin của họ"
03:38 |Kiện Trung Quốc, "chúng ta sẽ đập nát sự tự tin của họ"
Là nhà nghiên cứu sâu về luật quốc tế, GS-TS Nguyễn Vân Nam rất nặng
lòng với thời sự nóng bỏng ở biển Đông. Theo ông, cần phải kiện ra tòa
án quốc tế để Trung Quốc phải thay đổi chiến lược.
![]() |
| GS-TS Nguyễn Vân Nam |
Ông Nam nhấn mạnh:
- Trung Quốc chỉ muốn giải quyết tranh chấp song
phương, không chịu đa phương. Nhưng thỏa thuận song phương với Trung
Quốc rất nguy hiểm. Họ có thể dùng nó để loại trừ các nghĩa vụ quốc tế
của mình. Bởi nguyên tắc tối cao của công pháp quốc tế là tôn trọng chủ
quyền quốc gia, tôn trọng sự thỏa thuận giữa các nước, nên những thỏa
thuận song phương như vậy có khả năng và hiệu lực loại trừ nghĩa vụ quốc
tế mà một trong hai nước đã ký kết.
Tức là với một thỏa thuận song phương, Trung Quốc có
thể loại trừ được những điều mà họ muốn loại trừ, nhưng không thể hoặc
chưa kịp loại trừ khi ký kết các thỏa thuận quốc tế. Ngoài ra, họ còn có
thể ép chúng ta thực hiện những điều cam kết song phương với họ. Nhưng
chính họ lại có thể không thực hiện, bởi trong quan hệ giữa ta và Trung
Quốc có những loại thỏa thuận song phương không có hiệu lực quốc tế, và
vì vậy họ không sợ bị phán xử. Điều này cực kỳ nguy hiểm. Chính vì vậy,
việc cần làm ngay là phải đưa Trung Quốc vào cơ chế giải quyết tranh
chấp đa phương trong công pháp quốc tế.
4 cách khởi kiện Trung Quốc
"Với việc khởi kiện, chúng ta sẽ đập nát sự tự
tin của họ, buộc họ phải bị động thay đổi chiến lược chứ không thể hoàn
toàn hành động ngang ngược, trâng tráo theo ý mình"
GS-TS NGUYỄN VÂN NAM
|
* Trung Quốc luôn khăng khăng không chấp nhận thẩm
quyền tài phán của tòa án quốc tế. Với trường hợp kiện của Philippines
cho thấy Trung Quốc không đồng ý ra tòa mà còn gia tăng áp lực song
phương.
- Điều 287 khoản 1 Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển
(UNCLOS) quy định khi tranh chấp, các nước thành viên có thể chọn bốn
khả năng: thứ nhất là tòa án quốc tế ở Hà Lan, thứ hai là Tòa án quốc tế
về luật biển ở Đức, thứ ba là tòa trọng tài theo phụ lục 7 của UNCLOS,
thứ tư là tòa trọng tài theo phụ lục 8 cho những tranh chấp đặc biệt.
Mới nghe thì rất dễ, nhưng không đơn giản. Ví dụ tòa án quốc tế ở Hà Lan
có quy định tòa chỉ có thẩm quyền xét xử nếu được cả hai bên cùng công
nhận thẩm quyền. Về nguyên tắc, các nước ký UNCLOS đều chịu phán quyết
của tòa án biển quốc tế, nhưng mỗi nước khi ký đều có quyền tuyên bố bảo
lưu, không chấp nhận thẩm quyền phán xử của tòa án quốc tế trong lĩnh
vực nào. Trung Quốc đã có tuyên bố hợp lệ loại trừ quyền tài phán của
tòa án biển quốc tế đối với toàn bộ tranh chấp về chủ quyền liên quan
đến đảo.
* Ngày 25-8-2006, Trung Quốc gửi Liên Hiệp Quốc các
tuyên bố bảo lưu theo điều 298 của UNCLOS, sau đó đẩy căng thẳng biển
Đông lên cấp độ ngày càng nóng hơn. Theo ông, chúng ta nên chọn giải
pháp nào để đấu tranh hiệu quả trên mặt trận pháp lý với Trung Quốc?
- Tôi thấy có gì đó rất nguy hiểm. Tại sao Trung Quốc
lại đưa giàn khoan vào đúng lúc mọi người bất ngờ nhất? Theo tôi, nó là
phép thử đầu tiên xem phản ứng của Việt Nam và công luận quốc tế để họ
thu thập và đánh giá đầy đủ thông tin cần thiết cho những bước nghiêm
trọng hơn. Cho nên mục tiêu của chúng ta không thể chỉ là đuổi giàn
khoan xâm phạm chủ quyền vùng biển Việt Nam. Đây là cơ hội để ta đạt
được các mục tiêu lớn hơn, buộc Trung Quốc vào một cơ chế giải quyết
tranh chấp đa phương. Đó là mục tiêu quan trọng đầu tiên. Mục tiêu thứ
hai là bẻ gãy sự tự tin ngạo mạn kiểu Trung Quốc, khiến họ phải thay đổi
chiến lược ở biển Đông. Mục tiêu thứ ba là phòng vệ chủ động: khi Trung
Quốc bị buộc phải tham gia cơ chế giải quyết tranh chấp của tòa án quốc
tế, họ sẽ không thể nào dùng vũ lực được nữa. Theo Hiến chương Liên
Hiệp Quốc và UNCLOS, trong khi tòa án giải quyết các tranh chấp như thế,
các bên có nghĩa vụ không được làm tình hình nghiêm trọng hơn. Nghĩa là
với đơn kiện như vậy, Trung Quốc bị buộc không được dùng vũ lực hoặc
các mưu mô khác có khả năng làm hiện trạng tồi tệ thêm.
Có thể khởi kiện Trung Quốc sử dụng vũ lực
* Giới luật gia quốc tế cho rằng Trung Quốc tính già hóa non trên biển Đông. Họ cũng đang lộ ra nhiều điểm sai trái và kẽ hở?
- Trung Quốc đã rào trước đón sau rất kỹ. Kế sách của
họ đưa ra tuyên bố bảo lưu theo điều 298 của UNCLOS loại trừ cả bốn cách
quốc tế giải quyết tranh chấp theo luật biển, đặc biệt là tòa án quốc
tế giải quyết tranh chấp liên quan đến chủ quyền đảo... Chúng ta phải
nghĩ ra toàn bộ hướng khởi kiện, nghiên cứu sâu các hướng đó để đánh giá
hướng nào có khả năng nhất. Vì vậy, trước tiên đơn kiện của chúng ta
phải không lọt vào vùng loại trừ của Trung Quốc. Thứ hai, đơn kiện này
phải được một cơ quan tài phán quốc tế chấp nhận. Đây là cái khó, nhưng
có giải pháp. Chúng ta kiện vào cái mà Trung Quốc buộc phải thực thi,
một nghĩa vụ căn bản của thành viên Liên Hiệp Quốc mà Trung Quốc không
thể loại trừ. Đó chính là khoản 3 điều 2 Hiến chương Liên Hiệp Quốc và
điều 279 UNCLOS đều quy định các nước thành viên có nghĩa vụ giải quyết
tranh chấp bằng con đường hòa bình, không được sử dụng vũ lực, và nghĩa
vụ này không bị loại trừ bởi bất kỳ tuyên bố nào.
Thế nào là sử dụng vũ lực thì có thể còn tranh cãi. Và
bởi vì còn tranh cãi nên cần phải có cơ quan tài phán độc lập. Đó chính
là thuận lợi cho mình. Các hành vi sử dụng vũ lực này là dùng tàu hải
giám, hải cảnh, tuần ngư... thuộc sở hữu nhà nước Trung Quốc phá hỏng
tàu Việt Nam. Nghiêm trọng hơn là tàu của nhà nước Trung Quốc đã có gây
thương tích cho người Việt Nam. Như vậy, chúng ta có thể khởi kiện Trung
Quốc sử dụng vũ lực vi phạm khoản 3 điều 2 Hiến chương Liên Hiệp Quốc
và điều 279 UNCLOS ra Tòa án quốc tế về luật biển. Nội dung kiện này
không nằm trong vùng loại trừ của Trung Quốc. Họ có thể không đồng ý.
Nhưng theo quy định của UNCLOS, nếu một bên không đồng ý thì phải chuyển
qua tòa trọng tài theo phụ lục 7. Tòa trọng tài này sẽ không thể tuyên
là việc sử dụng vũ lực không thuộc thẩm quyền, bởi đó là nghĩa vụ căn
bản mà Trung Quốc không thể loại trừ.
* Ngoài hướng kiện này, chúng ta còn có thể kiện theo nội dung nào khác?
- Ngoài kiện kết tội, chúng ta có thể khởi kiện yêu cầu
xác định hành vi. Đó là yêu cầu Tòa án quốc tế về luật biển khẳng định
hành vi tàu Trung Quốc đâm vào làm hư hỏng tàu Việt Nam, gây thương tích
người Việt Nam là hành vi sử dụng vũ lực. Trong đó, đặc biệt là yếu tố
gây tổn thương đến con người. Đây là trường hợp Tòa án quốc tế về luật
biển có thẩm quyền lý giải và áp dụng UNCLOS. Ở nước ngoài, kiểu kiện
yêu cầu tòa án khẳng định một sự việc này rất phổ biến (kiện không có bị
đơn). Để giải quyết, tòa sẽ phải mời Trung Quốc nhưng không phải trong
tư cách bị đơn. Và như thế, họ vẫn bị buộc phải tham gia cơ chế giải
quyết tranh chấp đa phương. Đây là giải pháp khởi kiện tốt vì khả năng
thắng lợi rất cao. Sau khi tòa ra phán quyết hành vi vũ lực của Trung
Quốc, chúng ta có thể sẽ tiếp tục kiện kết tội họ.
* Liệu có khả năng dù tòa phán quyết thế nào, Trung Quốc vẫn cậy thế nước lớn, không chấp nhận và cứ làm theo ý chí của mình?
- Đó là thực tế. Nhưng với việc khởi kiện, chúng ta sẽ
đập nát sự tự tin của họ, buộc họ phải bị động thay đổi chiến lược chứ
không thể hoàn toàn hành động ngang ngược, trâng tráo theo ý mình. Trung
Quốc khó có thể còn lu loa nói càn như “rất ngạc nhiên, sửng sốt”. Họ
sẽ chùn tay trong hành động làm tình hình tồi tệ thêm.
Ngư dân có thể kiện
* Ngoài hướng kiện của Nhà nước Việt Nam đối với
nhà nước Trung Quốc, ông có cho rằng chính ngư dân chúng ta cũng có thể
tìm công lý từ luật pháp quốc tế, mà cụ thể là UNCLOS?
- UNCLOS bảo vệ rất chặt chẽ quyền đánh cá. Khoản 2
điều 20 quy chế Tòa án quốc tế về luật biển ghi rõ đây là tòa án quốc tế
duy nhất cho phép các chủ thể không phải là nhà nước có thể khởi kiện
đối với các tranh chấp liên quan đến cách hiểu và áp dụng UNCLOS. Một
thuận lợi lớn mà chúng ta chưa vận dụng. Chính các thành viên Tòa án
quốc tế về luật biển cũng khuyến khích hướng kiện này từ người dân.
* Với sự “phòng thủ” kín kẽ luật pháp của Trung
Quốc, ngư dân Việt Nam có thể kiện theo hướng nào để có thể thực thi mà
không bị rơi vào vùng loại trừ trong tuyên bố bảo lưu của Trung Quốc?
- Trung Quốc đang cản trở tự do đánh bắt, gây thiệt hại
đến tài sản và tính mạng ngư dân. Nếu dựa vào UNCLOS thì Trung Quốc có
rất nhiều vi phạm. Nhưng điều chủ yếu ở đây phải xem xét kỹ là với những
hành vi sử dụng vũ lực đó, ngư dân Việt Nam đã có thể khởi kiện được
Trung Quốc chưa? Cá nhân ngư dân hoặc qua các hiệp hội, tổ chức nghề cá
đều có thể khởi kiện được. Tuy nhiên, dù là cá nhân hay tổ chức nghề cá
thì khi ra Tòa án quốc tế về luật biển họ cũng như là một nhà nước khởi
kiện. Họ cũng gặp nhiều khó khăn lẫn thuận lợi như nhà nước tiến hành
kiện. Nhưng nếu biết lập luận, có thể họ sẽ không rơi vào những trường
hợp tuyên bố loại trừ của Trung Quốc.
* Ngư dân cần được hỗ trợ, chuẩn bị những gì để tự tin bước vào mặt trận tìm kiếm công lý quốc tế?
- Theo tôi, khó khăn lớn nhất ở đây với ngư dân là quá
trình thu thập chứng cứ. Ngư dân đi đánh cá bị tàu Trung Quốc đâm hư
hỏng, phun vòi rồng nước, bắn cháy, cướp tài sản và hải sản... thì phải
thu thập được chứng cứ. Đặc biệt, những chứng cứ đó phải được lấy theo
chuẩn mực quốc tế như chụp ảnh, quay phim... Nhà nước, các hội đoàn và
nhân dân cả nước có thể hỗ trợ ngư dân bằng kinh phí, trang bị máy móc
đủ điều kiện để thu thập chứng cứ, bản thân ngư dân rất khó tự thân xoay
xở. Chính Trung Quốc cũng hiểu rõ điều này. Ngoài các tàu nhà nước,
nhiều lần họ sử dụng tàu ngụy trang tàu cá để che đậy hành động tấn công
ngư dân Việt Nam.
Quốc Việt thực hiện
MỸ HỖ TRỢ VIỆT NAM KIỆN TRUNG QUỐC RA TÒA ÁN QUỐC TẾ
18:36 |
MỸ HỖ TRỢ VIỆT NAM KIỆN TRUNG QUỐC RA TÒA ÁN QUỐC TẾ - CHÀO ĐÓN HIỆP ƯỚC AN NINH QUÂN SỰ VỚI VIỆT NAM.
Theo FB Nguyễn Thùy Trang
Tòa bạch ốc cho biết là sẽ hỗ trợ hành động pháp lý để giải quyết Trung Quốc, tranh chấp Việt Nam
Hôm thứ Năm vừa qua, Mỹ thông báo là sẽ hỗ trợ Việt Nam sử dụng các hành động pháp lý đối với Trung Quốc để giải quyết tranh chấp sau khi TQ triển khai một giàn khoan dầu tại vùng biển Đông của Việt Nam.
Phát ngôn viên Nhà Trắng Patrick Ventrell cho biết:
"Hoa Kỳ ủng hộ việc sử dụng các biện pháp hòa bình và ngoại giao khác để giải quyết sự bất đồng , bao gồm cả việc sử dụng trọng tài hoặc các cơ chế pháp lý quốc tế khác."
Ý kiến của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, đã đề nghị Việt Nam sẽ có biện pháp pháp lý, đã làm cho TQ phản ứng rất giận dữ, nhưng TQ luôn cho rằng các giàn khoan trong vùng biển chủ quyền của mình.
Trung Quốc còn cáo buộc Việt Nam đã làm tăng thêm căng thẳng trong khu vực.
Đô đốc Samuel Locklear đồng thời kêu gọi các quốc gia Đông Nam Á và Trung Quốc đẩy nhanh việc soạn thảo một "bộ quy tắc ứng xử" Biển Đông, ràng buộc pháp lý để ngăn chặn các cuộc xung đột vũ trang có thể xảy ra, đe dọa khu vực biển Đông.
Nhà ngoại giao Đông Nam Á cũng đã cáo buộc Trung Quốc trì hoãn việc bắt đầu đàm phán cho một hiệp ước bất tương xâm như vậy trong khi nó cố gắng để củng cố sự kiểm soát của mình tại các vùng lãnh thổ tranh chấp.
Đô Đốc Locklear đã nói chuyện với các phóng viên bên lề Diễn đàn Kinh tế Thế giới về Đông Á, nơi ông tham gia một cuộc thảo luận về các mối đe dọa an ninh trong khu vực. Tranh chấp lãnh thổ đã bùng lên đưa đến các quốc gia phải đối mặt với sự cạnh tranh gắt gao hơn khi kiểm soát các nguồn lực, ông nói.
Với những tiến bộ kinh tế, khu vực châu Á Thái Bình Dương đã trở thành khu vực quân sự hóa lớn nhất trên thế giới, với một số các lực lượng quân đội và hải quân lớn nhất , ông cho biết thêm.
Trung Quốc tuyên bố gần như toàn bộ Biển Đông, đưa đến các cuộc xung đột với các quốc gia nhỏ hơn như Việt Nam, Philippines... Bắc Kinh cũng có một tranh chấp lãnh thổ với Nhật Bản về một cụm đảo ở Biển Hoa Đông.
Locklear nói rằng ông lo ngại về một bế tắc trong 3 tuần qua giữa Trung Quốc và Việt Nam đang tranh chấp ở gần quần đảo Hoàng Sa, Biển Đông và kêu gọi họ giải quyết các cuộc xung đột lãnh thổ dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế.
"Tôi có mối quan tâm nghiêm trọng", Locklear nói với các phóng. "Nguy cơ tính toán sai lầm, tôi nghĩ, là rất cao và chúng tôi khuyến khích cả hai bên kiềm chế. "
Năm ngoái , Philippines đã đệ đơn khiếu nại chống lại Bắc Kinh trước một tòa án quốc tế tại The Hague thách thức tính hợp pháp của yêu sách Trung Quốc đưa ra.
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tham dự diễn đàn kinh tế tại Manila, nói với Associated Press bằng văn bản hôm thứ Năm rằng " như tất cả các nước , Việt Nam đang xem xét các lựa chọn phòng thủ khác nhau, bao gồm cả hành động pháp lý theo quy định của luật pháp quốc tế." Tuy nhiên, ông cho biết Việt Nam SẼ TỰ VỆ NẾU BỊ TẤN CÔNG.
Giới phân tích cho rằng các quốc gia phải đối mặt với Trung Quốc trong vùng biển tranh chấp, như Việt Nam, nên tìm kiếm một liên minh với Washington.
Khi được phóng viên hỏi về khả năng , Locklear cho biết Washington đã chuẩn bị mối quan hệ nầy và sẽ chào đón mối quan hệ chiến lược với Hà Nội.
" Chúng tôi mong muốn tìm kiếm cơ hội để mở rộng quan hệ đối tác của chúng tôi với các quốc gia như Việt Nam. "
Theo AP và Reuters
Nguyễn Thùy Trang
Việt Nam làm gì bây giờ?
03:50 |Việt Nam làm gì bây giờ?
Theo Danquyen
TMSS: Bài viết đáng để đọc và nên đọc, nhất là trong tình hình đất nước hiện nay!
Góp ý của
Tạ Văn Tài , luật sư tại Mỹ và nguyên giảng viên và
đương kim nhân viên nghiên cứu Harvard Law School.
Trước
khi đi vào chi tiết các biện pháp Việt Nam có thể sử
dụng như đối sách, mà chúng tôi liệt kê dưới đề
mục 2 câu hỏi sau, thì cần ôn lại những lợi ích hay
quyền lợi gì mà Công Ưóc Liên Hiệp Quốc về Luật
Biển (United Nations Convention on the Law of the Sea UNCLOS) dành
cho các quốc gia hôị viên , như Việt Nam.
Có hai loại lợi ích
hay quyền lợi quốc gia của Việt Nam tại Biển Đông:
(a) chủ quyền đất đai (territorial sovereignty) trên nhiều
đảo và đá tại hai vùng quần đảo Hòang Sa và Trường
Sa, mà Việt Nam tuyên bố và thực thi với sự chiếm hữu
và quản lý trong quá khứ, theo đúng luật quốc tế
truyền thống đã có mấy trăm năm; và (b) lợi ích hay
quyền đối với những vùng nước và đáy biển dưới
mặt nước tại Biển Đông, chiếu theo Công Ước Liên
Hợp Quốc về Luật Biển (United Nations Convention on the Law
of the Sea, UNCLOS) năm 1982, gồm có quyền chủ tể
(sovereign rights) khai thác tài nguyên sinh vật như cá biển
và không phải sinh vật như quặng mỏ, kim loại hay dầu
khí ở đáy biển, trong một vùng dưới mặt nước gọi
là Vùng Đặc quyền Kinh tế (Exclusive Economic Zone, EEZ)
rộng 200 hải lý tính từ mực nước
thuỷ triều thấp nhất (gọi là đường cơ sỏ) chạy ra
ngòai biển tới 200 hải lý (điều 56 và 57 UNCLOS), và
trong Vùng Thềm Lục Địa (Continenal Shelf) tức mặt đáy
biển và đất dưới đáy biển đi ra tới bờ của lục
địa (continental margin) hay tới khỏang cách 200 hải lý
tính từ đường cơ sở, khi bờ lục địa không xa tới
mức đó (điều 76 và 77 UNCLOS); hơn nữa, cần nhấn mạnh
là theo UNCLOS,các quyền chủ tể trên trong vùng EEZ và
Thềm Lục địa của Việt Nam là chuyên độc (exclusive)
của quốc gia cận duyên, cho nên Việt Nam trong vùng EEZ,có
chủ quyền xây các kiến trúc nhân tạo trên các đá
thành những đảo nhân tạo, nghiên cứu biển, quy định
bảo vệ môi sinh, miễn là tôn trọng quyền các quốc gia
khác về tự do lưu thông hàng hải, và đặt giây cáp và
ống dẫn dầu khí của các nước khác (điều 56,58),và
trong Thềm Lục Địa, Việt nam cũng đương nhiên có quyền
chuyên độc khai thác tài nguyên thiên nhiên mà không cần
tuyên bố hay chiếm hữu, và các quốc gia khác không thể
có các hoạt động khai thác tài nguyên mà không có sự
minh thị đồng ý của Việt Nam (điều 77).Khi bàn luận
về tranh chấp với Trung quốc, ta nên nhớ luật quốc tế
đã nói chắc chắn về các quyền của Việt Nam như đinh
đóng cột.
Khi đem gìan khoan dến
vị trí giữa hai lô dầu 142 và 143 trong vùng Đặc quyền
Kinh tế Việt Nam (EEZVN) , như ghi trong bản đồ trên, thì
trái với sự bàn luận cuộc một số người, Trung quốc
không dùng cái Đường Lượi Bò hay Chín Đọan
(Nine-dotted Line), vốn không có thể biện hộ được và
bị tất cả các nước và học gỉa chất vấn, làm căn
bản cho sự xâm lấn.
a) Bộ Ngọai giao Trung
quốc đã nham hiểm mà tránh viện dẫn cái dường Lưỡi
Bò vô duyên đó, mà dùng đến căn bản vùng EEZ của
Trung quốc, để nói là gìan khoan “đặt hòan tòan trong
vùng nước của các đảo Paracels của Trung quốc”
(placed completely within the waters of China's Paracels”) ám chỉ
trong vòng 200 hải lý của EEZ và thềm lục địa của
Paracels, do Trung quốc quản lý (nhưng Việt Nam vẫn liên
tục đòi) , mà UNCLOS sẽ công nhận cho Paracels nếu hội
đủ diền kiện. Điền kiện mà Trung quốc gỉa định đã
có rồi, là có đảo nào đó trong Paracels, như Tri Tôn
cách giàn khoan 17 miles, hay đảo Phú Lâm (Woody hay
Yongxing), đã có điều kiện quy định trong UNCLOS cho tính
cách môt hòn dảo (island) là con người sinh sống với
nền kinh tế tự túc (nước ngọt và thực phẩm trồng
tại chỗ) khi mỏm dất hay đá đó còn trong trạng thái
thiên nhiên [Còn nếu không có mỏm đất hay dá nào trong
Paracels đủ điền kiện là đảo , thì chúng chỉ là đá
(reef) theo UNCLOS và chúng chỉ có 12 hải lý của lãnh
hải/territorial sea.] Việc của Phi kiện Tàu,
sau khi chịu đựng thương lưọng với Tàu 17 năm, về
việc Tàu chiếm đá ngầm rất xa Trung quốc trong vùng
Kinh tế dặc quyền / EEZ của Phi, thì dễ
hơn vụ cuả VN, khó
hơn, vì VN phải làm việc kiện Tàu
đã vô trong vùng EEZ VN, mà vùng này trùng lấp với vùng
EEZ của Tàu, hay ít ra là vùng hải phận territorial sea của
Hòang sa mà nay Tàu nói đang thuộc quyền quản lý của
họ.
b) Trung quốc cũng
ám chỉ là gìan khoan cách đảo Hải Nam 180 hải lý về
phiá nam (cách dảo Ly Sơn của Viêt Nam chứng 120 hải lý
vế phiá đông).
Những nhận định và đề nghị nêu ra
sau đây hầu hết là dựa trên căn bản luật pháp, tức
là khí giới của kẻ yếu, nhưng là “lạt mềm buộc
chặt”, chứ còn võ lực chống Tàu thì nó có cớ dánh
lớn, tàn phá VN và chiếm thêm hải đảo hay đất (trừ
cách làm du kích, quấy rầy việc tiếp liệu giàn khoan,
hay phá họai gián tiếp khác, làm cho nó khó tiến hành
được, có thể làm đến đâu, thì bàn sau )
1)
Câu hỏi đầu tiên được nêu ra là Việt Nam có
thể kiện trước tòa án quốc tế nào không?
a)
Luận cứ (a) của Trung quốc, dùng Paracels mà đòi quyền
khai thác cho giàn khoan phải dược bác khước bằng hai
vụ kiện trong đó Việt Nam phải trình hồ sơ vế hai
điểm : (i) Paracels không phải của Trung quốc mà của
Việt Nam: (ii) Paracels không có mỏm đá nào, kể cả
Woody/Yongxing , xứng dáng gọi là đảo/island, tức có
người sống trong nền kinh tế tự túc được trong trạng
thái nguyên thuỷ sơ khai, mà tòan là đá/reef.
Vụ
kiện về chủ quyến đất đai (territorial sovereignty) trên
Paracels là thuộc luật quốc tế cổ truyến (traditional
international law), theo đó VN phải minh chứng theo nguyên
tắc luật quôc tế là một chính
quyền muốn xác nhận chủ quyền phải có sự liên tục
hành sử chủ quyền trong hòa bình, nói rõ ý định làm
chủ, và nếu bị cưỡng chiếm thì phải phản đối
chính quyền mới cướp bằng võ lực đất của mình để
ngăn cản chính quyền mới này thủ đắc chủ quyền
bằng sự hành sử chủ quyền liên tục.
Xét
các bằng chứng lịch sử về chủ quyền của Việt Nam
theo luật quốc tế này, thì Việt
Nam đã xác nhận và hành sử chủ quyền trên Hoàng sa và
Trường Sa (tuy phạm vi hành
sử ở Trường sa thì chưa xác định tới bao nhiêu đảo);
và khi Trung Quốc chiếm
Hoàng Sa bằng võ lực năm 1974 và Việt
Nam Cộng Hòa phản đối, sau đó Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hoà (nay là Cộng Hoà Xã Hội
Việt Nam) – kế quyền của
Việt Nam Cộng Hòa theo nguyên tắc thừa kế quốc gia
(succession of state) – cũng
phản đối vụ Trung Quốc dùng võ lực chiếm Hoàng Sa và
rồi phản đối nhiều lần việc Trung Quốc dùng võ lực
chiếm một số đảo ở Trường Sa năm 1988
(gây thương vong cho nhiều lính hải quân Việt Nam) và
các năm sau đó, thì chủ quyền Việt Nam trên Hoàng Sa và
Trường Sa không thể bị coi là đã sói mòn vì thiếu sự
tuyên bố và hành sử chủ quyền.
Chúng
tôi không đủ trang giấy trong bài ngắn này để trình
bày hết các bằng chứng lịch sử VN xác lập chủ
quyền đất đai trên các đảo Paracels và Spratleys ở
đây.
Trong
một video trên Internet và báo không chính thức như Hoàn
Cầu của Trung quốc để biện minh cho vị trí giàn
khoan, nguời Tàu cũng viện đến công hàm Phạm văn Đồng
1958 mà họ cho là đã nhường Paracels và Spratleys cho
Trung quốc. Chúng tôi có đủ luận cứ quốc tê công
pháp bác khước điểm này, ghi trong phần phụ lục ở
cuối. Phải dùng luận cứ này trong dư luận quốc tế
và trong
vụ kiện về chủ quyền đất đai (territorial sovereignty)
trên Paracels tại tòa án có thẩm quyến về việc này là
Tòa Án Công Lý Quốc Tế (International Court of Justice,
ICJ).
Rất
tiếc là trong hiện
trạng luật quốc tế, không thể lôi Trung quốc ra tòa
ICJ được (việc
kiện đó chắc phải đợi sự đồng ý của một chế
độ mới ở Trung quốc) như một số kiến nghị của
các nhà trí thức và họat dộng ở VN yêu cầu chính
phủ, cũng như có sự trả lời là “đang suy nghĩ” của
luật sư của Bộ Ngoại Giao hay Học Viện Ngọai giao, vì
chắc chắng là Tàu sẽ không đồng ý ra tòa , theo nguyên
tắc optional clause là một quốc gia có đồng ý ra tòa
mới phải ra tòa.
b)
Chúng tôi nghĩ là
trước Tòa án Trọng Tài Luât Biển,VN
có thể bác
khước cả luận cứ (b) về
khỏang
cách đảo Hải Nam tới giàn khoan chỉ có 180 miles
, cùng
với
một phần của luận cứ (a) vế tư cách đảo
/island của Paracels—trước Tòa án Trọng Tài Luât Biển,
là tòa mà VN
có thể lôi Trung quốc ra
, theo thủ tục bó buộc trong UNCLOS.
Mục
2
CÁC
THỦ TỤC BẮT BUỘC
DẪN
TỚI CÁC QUYẾT ĐỊNH BẮT BUỘC
ĐIỀU
286. Phạm vi áp dụng mục này
Với
điều kiện tuân thủ Mục 3, mọi tranh chấp liên
quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước khi
không được giải quyết bằng cách áp dụng Mục 1, theo
yêu cầu của một bên tranh chấp, đều được đưa ra
trước tòa án có thẩm quyền theo mục này.
ĐIỀU
288. Thẩm quyền
1.
Một tòa án đã nêu ở Điều 287 có thẩm quyền xét xử
bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến việc giải thích
hay áp dụng Công ước đã được đưa ra cho mình theo
đúng phần này.
2.
Một tòa án nói ở Điều 287 cũng có thẩm quyền xét xử
bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến việc giải thích
hay áp dụng một điều ước quốc tế có liên quan đến
các mục đích của Công ước và đã được đưa ra cho
mình theo đúng điều ước này.
Chúng
tôi nghĩ rằng VN có thể lôi Trung quốc
ra Tòa án Trọng Tài luật Biển , mà Trung quốc không thể
dùng sự bảo lưu (reservation) khi ký Công Ước, là không
nhận thủ tực bó buộc cho các tranh luận việc trùng lấp
của các vùng EEZ giữa VN và Trung quốc, như nói
ở điểm (b) , giàn khoan ở chỗ trùng đè của hai ÊEZ
tình từ bờ biển VN và từ Hải Nam, vì rằng Việt
Nam cũng có thể xin Toà Trọng Tài xử về sea boundary mặc
dầu Tàu có bảo lưu/reservation khi gia nhập Công Ước về
vấn dề biên giới biển/sea boundary hay vịnh lịch
sử/historical bays, chiếu điều 298 đọan 4 dành quyến cho
quôc gia duyên hải/coastal state, có thể đối lập “4.
Nếu một quốc gia thành viên đã ra một tuyên bố theo
khoản 1, điểm a, thì bất kỳ quốc gia thành viên nào
khác cũng có thể đưa ra mọi tranh chấp giữa quốc gia
đó với quốc gia đã ra tuyên bố và nằm trong một loại
tranh chấp đã bị loại trừ, ra giải quyết theo thủ tục
được định rõ trong tuyên bố này.
“.
Bây
giờ nói về điểm (b),
vị
trí giàn khoan ở nơi trùng lấp giữa EEZVN và EEZ Trung
quốc tính từ Hài nam: cà hai phía bờ biển VN và Trung
quốc dều có thể phát sinh 2 EEZ và 2 Thềm Lục Địa.
Nói cho VN, chúng tôi có thể biện luận theo luật là :
vị trí giàn khoan ở trong Thềm Lục Địa nới rộng của
VN, và hơn nữa, ở hẳn sang phía VN nếu cần phải thương
lượng theo Công Ươc để tìm ra một đưòng trung tuyến
(median line) giũa hai Thềm Lục Địa—như vẽ trong hình
trên. Có thể thương lượng không xong, thì biện minh cho
VN như vậy khi xin Tòa Trọng Tài gỉải thích Công ước.
Trước
Toà Trọng Tài, mục đích quan trọng nhất là xin một bản
án gỉai thích (declaratory judgement)
gỉai thích và áp dụng Công Ước về vấn đề không có
mỏm đá, đât nào trong Paracels, kể cả Woody/Yongxing ,
xứng đáng là đảo (island) mà người ở dược trong một
nền kinh tế tự túc, trong trạng thái thiên nhiên trước
khi Trung quốc xây các tòa nhà ở được, phi trường,
cảng, để tiếp tế, và nhà mày lọc nước ngọt.
Cũng
xin Tòa gỉai thích việc Trung quốc, một quốc gia duyên
hải /coastal state, đã đơn phương ngăn chặn tự do lưu
thông ,với vòng vây rộng lớn các tầu chiến và hải
giám quanh giàn khoan, chiều điều 297 đọan 1a :
1.
Các vụ tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp
dụng Công ước về việc thi hành các quyền thuộc chủ
quyền hay quyền tài phán của quốc gia ven biển như đã
được trù định trong Công ước, phải
được
xét theo các thủ tục giải quyết đã được trù định
ở Mục 2 trong các trường hợp sau đây:
a)
Khi thấy rằng quốc gia ven biển đã không tuân theo Công
ước liên quan đến tự do và quyền hàng hải, hàng không
hoặc tự do và quyền đặt các dây cáp và ống dẫn
ngầm, cũng như đến việc sử dụng biển vào các mục
đích
khác mà quốc tế thừa nhận là chính đã nêu ở Điều
58;
Trong
khi chờ đợi các cơ quan tài phán gỉai quyết, VN chỉ
giới hạn họat động vào các lô 118 và 119, thì Trung
quốc—đáng lẽ phải theo đọan 3 các điều 74 và 83, về
các bước đi thương lượng gỉai quyết bất đồng với
VN về EEZ và thềm lục địa, phải tự chế trong tinh
thần hiểu biết và cộng tác (understanding and cooperation)
kèm theo những biện pháp tạm thời (provisional measures)
để không hại đến thỏa ước sau cùng--- thì Trung
quốc lấn lưót, hung hăng. Hàng động Trung quốc cũng là
vi phạm Tuyên Bố Ứng xử của ASEAN.
Trong
việc kiện Trung quốc, VN có thể theo gương Phi luật Tân,
nhờ các văn phòng luật sư quốc té giỏi, như Cotvington
& Burling, khi xưa đã giúp VN thời hủ tướng Võ Văn
Kiệt, cũng trong vấn đề Biển Đông (chúng tôi có thể
liên lạc qua một luật sư của họ là LS Thomas Johnson có
đi dự Hội nghị 2012 về dầu khí ở Houston và chủ tọa
phiên họp về boundary dispute—gs Nguyễn Hồng Thao, đại
diện VN, có trả lởi một câu ông hỏi về joint
development.)
2) Nếu tình thề
tiếp tục căng thẳng thì VN phải dùng thêm các biện
pháp chính tri , ngọai giao và quân sụ. Vai trò cộng đồng
quốc tế.
Công
ước luôn đòi hỏi các bên thương nghị và cả hòa
gỉai nữa trước khi đem ra các thủ tục bó buộc. Vì
thế các cuộc thương nghị ngọai giao song phương, đa
phương phải luôn có. Nếu thương nghị song phương mà
bá quyền lấn áp, thì phải dùng thương nghị đa phương
qua ASEAN và , nhất là nếu các nước nhỏ quá ngại
nghênh Trung quốc, cả sự can thiệp của các nước lớn
có quyền lợi ở Biển Đông như Nhật, Úc, Nga, Ấn và
nhất là Mỹ.
Một
nền ngọai giao đa phương đã có thể làm chùn bớt
hành vi hung hăng của Trung quốc, ngay từ khi trong chuyến
du hành của Thủ Tướng Việt Nam qua Mỹ năm 2008: lúc
đó, Tổng Thống Bush đã cam kết bảo đảm cho sự toàn
vẹn lãnh thổ cho Việt Nam. Thông cáo chung Mỹ Việt
"nhắc
lại sự ủng hộ của chính phủ Hoa Kỳ đối với Việt
Nam về chủ quyền quốc gia, an ninh và toàn vẹn lãnh
thổ"
và nói đến nhu cầu "củng
cố đối thoại cấp cao" và
ủng hộ
"thành lập các cuộc họp hoạch định chính sách
về chính trị, quốc phòng để có các trao đổi thường
xuyên và sâu hơn về các vấn đề chiến lược và an
ninh". Nhưng
rồi Việt nam vẫn chậm chạp trong việc xích lại gần
Tây Phương.
Năm
2010 mới có một sự đột biến quan trọng. Hồi hạ
tuần tháng 7 năm 2010, Ngoại trưởng Clinton tuyên bố
tại Hà Nội rằng Hoa Kỳ xem Việt Nam “không
những thật sự là một quốc gia quan trọng mà còn là
một bộ phận của chiến lược nhắm tăng cường cam
kết của người Mỹ trong khu vực Á châu Thái bình
dương, đặc biệt là trong vùng Đông Nam Á.”
Khi phát biểu tại hội nghị của Diễn đàn Khu vực
ASEAN ở Hà Nội, bà Clinton còn nói rằng Hoa
Kỳ xem việc giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền
ở biển Nam Trung Hoa (Việt Nam gọi là Biển Đông) bằng
đường lối đa phương, theo luật quốc tế, mà không
đe dọa hay dùng võ lực, là một “quyền lợi quốc
gia”
của
Mỹ. Những
phát biểu này đã khiến cho giới lãnh đạo Trung Quốc
phật lòng. Báo cáo Chính trị cho Đại Hội Đảng Việt
Nam 2011 cho ghi rõ mục tiêu tăng cường hợp tác với
các nước chung quanh Biển Đông và Thái Bình Dương:
"giải
quyết các vấn đề còn tồn tại về biên giới, lãnh
thổ, việc xác định ranh giới biển và thềm lục địa
với các nước liên quan trên cơ sở những nguyên tắc
cơ bản của luật pháp quốc tế và nguyên tắc ứng xử
của khu vực; làm tốt công tác quản lý biên giới, xây
dựng đường biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác
và cùng phát triển. Củng cố, phát triển quan
hệ
hợp tác, hữu nghị truyền thống với các nước láng
giềng có chung biên giới. Chủ động, tích cực và có
trách nhiệm cùng các nước xây dựng Cộng đồng ASEAN
vững mạnh, tăng cường quan hệ với các đối tác,
tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong các khuôn khổ
hợp tác ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương."
Theo giáo sư Úc Carl
Thayer chuyên nghiên cứu về Việt Nam, thì lãnh đạo
Việt Nam có hai khuynh hướng: một muốn mở rộng quan
hệ quốc tế, liên hệ với nhiều quốc gia; một muốn
nể nang, liên hệ chặt chẽ với Trung Quốc hơn nước
khác (gọi là nhất biên đảo), nhưng cũng theo GS Thayer,
trước khuynh hướng chống Trung Quốc của nhân dân,
nhóm thân Trung Quốc này hình như cũng phải đồng ý
phải tìm con đuờng quốc phòng khác dựa vào quan hệ
đa phương, không thể chỉ dựa hay tin vào Trung Quốc.
Cơ
chế các tổ chức quốc tế hòan vũ (global international
organizations) là diên đàn nêu sự bắt nạt củaTrung
quốc trước dư luận quốc tế và có thể đi đến
những nghị quyết hãm bớt sự hung hăng của Trung quốc.
Sự hung hăng đe dọa trong video trên Internet nói về công
hàm P V Đồng có nói là: chỉ cần một vài giờ là
đánh tan hải quân VN; và có tin mấy hôm này , tháng
5,ngày 20, là Trung quốc dồn quân đến biên giới Việt
Trung. Nên đưa
vấn đế ra United Nations General Assembly hay ngay cả
Security Council(SC) . Một nghị quyết của UN General
Assembly/Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc là áp lực
công luận quốc tế, có thể làm chùn bước Trung quốc.
Tuy ở UN Security Council/Hội Đồng Bảo An , khi lấy
quyết định có thể vấp vào phiếu phủ quyêt của
Trung quốc, nhưng VN vần cần đưa ra hay nhờ cường
quốc dưa ra,, vì đó là thủ tục có thế làm bất cứ
khi nào có đe dọa hòa bình và an ninh tuốc tế/threat to
international peace and security, như Tàu đem chiến hạm đe
dọa và dùng nhiều đòn võ lực với hải giám và dân
chài VN, như vậy để tạo dư luận quốc tế có lợi
cho VN.
Tuy
nhiên chính phủ VN chắc cũng biết là giàn khoan cần tiếp
tế thường xuyên, đào giếng dẫu cần nhiếu công ty
quốc tế cộng tác trong các vấn đế kỹ thuật, mà
Trung quốc không có đủ kỹ thuật cao (thí dụ ngay trong
việc thử nghiệm các bùn hút lên thì phải đem về các
phòng thí nghiệm cao cấp xem có dầu tốt và đủ để bõ
khai thác được , hay không ), cho nên có thể Trung quốc
hung hăng muốn dùng giàn khoan để gìanh chủ quyền, nhưng
rồi thấy tốn kém vô ích , phải rút đi. Đó là chưa kể
nguy cơ bị phá hoại bởi các phần tử quốc tế không
ưa Trung quốc, họ chỉ cần có người nhái , hay hành vi
cảm tử/ kamikaze khác, phá đổ một trong 4 chân của giàn
khoan, thì giàn khoan chìm, và Trung quốc mất cả tỷ Mỹ
kim. Chúng tôi là luật sư, chủ trương dùng luật là
chính, vả lại ở Mỹ thì phải theo luật Neutrality Act,
không cho phép người Mỹ dùng biện pháp quân sự nào đối
với một quốc gia có bang giao bình thường với Mỹ, như
Trung quốc, nhưng chúng tôi nói lên nguy cơ có thể kẻ
phá họai giàn khoan, với tư cách học gỉa ước tính
tình hình.
PHỤ
LỤC
Luận
cứ của Trung Quốc khi họ viện dẫn Công hàm năm 1958
của ông Phạm Văn Đồng để nói rằng ông Đồng đã ra
công hàm ủng hộ tuyên bố của Thủ tướng Trung quốc
Chu Ân Lai , do đó công nhận chủ quyền Trung quốc trên
các lãnh hải, kể cả lãnh hải tính từ các đảo Hoàng
Sa và Trường Sa, vàN
áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung
Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các
hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất
liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo
phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Ðông Sa, quần
đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các
đảo khác thuộc Trung Quốc.
2-Phần
biển 12
hải lý
tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung
Quốc
3-Nếu
không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa, tất cả máy bay nước ngoài và tàu bè quân sự
không được xâm nhập hải
phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất
cứ tàu bè nước ngoài nào di chuyển trong hải phận
Trung Quốc đều phải tuyên thủ các luật lệ liên hệ
của Chính Phủ Cộnsg hòa Nhân dân Trung Hoa.”
Ông
Phạm Văn Đồng gửi bức công hàm cho Ông Chu Ân Lai
nguyên văn như sau:
“Thưa đồng chí Tổng lý- Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ : Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
“Thưa đồng chí Tổng lý- Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ : Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính
phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết
định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có
trách nhiệm triệt để tôn
trọng hải phận 12 hải lý của
Trung Quốc.
Nên
ghi chú ngay rằng ông Đồng chỉ nói đến hải phận 12
hải lý mà không nói về đảo, đất. Nhưng chúng tôi xin
đi vào chi tiết 2 luận cứ pháp lý để bác luận cứ
của Trung Quốc về Công hàm Phạm Văn Đồng như sau :
(a)
Thứ nhất, và quan trọng nhất, Hiệp Định Geneva trao
quyền quản lý hành chánh Hoàng Sa và Trường Sa, đều ở
phía nam vĩ tuyến 17, cho chính phủ Miền Nam Việt Nam ,
tức Việt Nam Cộng Hòa (VHCH), ở phía nam vĩ tuyến đó,
cho nên các hành vi xác lập và hành xử chủ quyền về
Hoàng Sa và Trường Sa phải thuộc thẩm quyền Việt Nam
Cộng Hòa, và chính phủ này cũng như hải quân của họ
đã mạnh mẽ xác nhận chủ quyền Việt Nam ở các hải
đảo trong và sau biến cố hải chiến 1974, còn ông Đồng,
đại diện miền Bắc Việt Nam, tức Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hòa (VNDCCH) lúc đó, không có thẩm quyền hay không
có ý định tuyên bố gì về chủ quyền đât đai về
Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Việt Nam Cộng Hòa vào thời
điểm đó, mà chỉ dưa ra lời tuyên bố công nhận hải
phận 12 hải lý của Trung quốc.
Tuy
nguyện vọng 'dân tộc Việt nam là một, nước Việt Nam
là một” là chính đáng, nhưng tình trạng hiện hữu
của một quốc gia là một vấn đề sự kiện thực tại
(question of fact) trong luật quốc tế, cho nên thực tại có
hai nước Việt Nam , VNDCCH và VNCH,trong thời gian 1954-1975,
là đúng với luật quốc tế và có lợi về mặt chính
trị và pháp luật trong việc bảo vệ chủ quyền đất
đai trên HS/TS bởi VNCH trong thời gian đó, mà ngày nay,
sau khi thống nhất dất nước năm 1976, thì VNDCCH rồi
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là quốc gia kế
quyền (successor state) trong sự bảo vệ chủ quyền đất
đai đó. Sự kế quyền trong việc bảo vệ chủ quyền
đất đai này đã được chính Thủ Tướng Nguyễn Tấn
Dũng nói tới.
Vào ngày 25
tháng 11/2011 tại Quốc Hội, Ông Dũng đã có những phát
biểu về Hoàng Sa và Trường Sa: Việt
Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và
lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần
đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta
đã làm chủ thực sự ít nhất là từ Thế kỷ XVII.
Chúng ta làm chủ 2 quần đảo này chưa thuộc bất kỳ
một quốc gia nào và chúng ta đã làm chủ trên thực tế
và liên tục hòa bình. Nhưng đối với Hoàng Sa, năm 1956
Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các đảo phía Đông của
quần đảo Trường Sa. Đến năm 1974 cũng Trung Quốc dùng
vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần
đảo Hoàng Sa trong sự
quản lý hiện tại của chính quyền Sài Gòn, tức là
chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Chính quyền Sài Gòn,
chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã lên tiếng phản đối,
lên án việc làm này
và đề nghị Liên hợp quốc can thiệp. Lập trường nhất
quán của chúng ta là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền
của Việt Nam, chúng ta có đủ căn cứ lịch sử và pháp
lý để khẳng định điều này. Năm 1975 giải phóng miền
Nam thống nhất Tổ quốc thì Hải Quân chúng ta đã tiếp
quản 5 hòn đảo tại quần đảo Trường Sa, đó là đảo
Trường Sa, đảo Song Tử Tây, đảo Sinh Tồn, đảo Nam
Yết và đảo Sơn Ca, năm đảo này do quân đội của
chính quyền Sài Gòn,
chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đang quản lý chúng ta tiếp
quản.
Sau
đó với chủ quyền của chúng
ta, chúng ta tiếp tục mở rộng thêm lên 21 đảo, với 33
điểm đóng quân. Ngoài ra chúng ta còn xây dựng thêm, 15
nhà giàn ở khu vực bãi Tư Chính để khẳng định chủ
quyền của chúng ta ở vùng biển này, vùng biển trong
phạm vi mà 200 hải lý thuộc thềm lục địa và vùng đặc
quyền kinh tế của chúng ta. Trong khi đó ở quần đảo
Trường Sa, Trung Quốc cũng đã chiếm 7 bãi đá ngầm, Đài
Loan chiếm 1 đảo nổi, Philipine chiếm 9 đảo, Malaixia
chiếm 5 đảo, còn Bruney có đòi hỏi chủ quyền trên
vùng biển nhưng không có chiếm giữ đảo nào.
Khi một quốc gia
đã hội đủ 4 điều kiện sau đây của Hiệp Ước
Montevideo 1933 (nó xác lập truyền thống luật quốc tế
mấy thế kỷ về tình trạng quốc gia/statehood), thì phải
được coi là một quốc gia (state) thành viên trong cộng
đồng quốc tế: (a) một dân số ổn định vĩnh cửu ( a
permanent population); (b) một lãnh thổ rõ rệt (a defined
territory); (c) một chính quyền (a government); và (d)có khả
năng giao dịch với quốc gia khác (capacity to enter relations
with other states). VNCH là một thực thể có đủ 4 điều
kiện này. Còn vấn đề các nước khác nhìn nhận một
state có đủ 4 điều kiện trên để lập bang giao thì là
một vấn đề chính trị và tiêu chuẩn chính trị thêm
vào 4 tiêu chuẩn luật, và chính phủ nào ghét một nước
nào mà không nhìn nhận thì cũng không thể xóa bỏ tư
cách state của nước đó—đó là trường hợp Cuba bị
Mỹ ghét, không nhìn nhận, mà Mỹ đâu có xóa tư cách
state của Cuba được. Tòa án Mỹ vào các năm 1920’s công
nhận chính phủ Bolshevik của Liên Sô có đặc miễn như
chủ thể quốc tế khi có các vụ kiện đòi các tiền ký
thác khi xưa trong ngân hàng ở Nga bị Bolsheviks quốc hữu
hóa, mặc dù chinh phủ Mỹ hồi đó chưa nhìn nhận nước
Liên Sô. Nước VNCH 1954-75 đã được mấy chục nước
nhìn nhận ngọai giao, có lúc Trung quốc đã đề nghị cả
hai nước VN vaò Liên Hiệp Quốc. Việc có vô Liên Hợp
Quốc hay không vô được (thí dụ bị một trong 5 quốc
gia hội viển thường trực của Hội Đồng Bảo An phủ
quyết) , thì là chuyện chính trị, không phải là tiêu
chuẩn về sự khai sinh một nước/state.
Những
ai, cứ viện dẫn Hiệp Định Genève nói sẽ có một
nước VN sẽ được thành lập với tuyển cử thống nhất
hai phần đất tạm thời chia cắt, mà coi nước VNCH như
không có trong trời đất, là không
hiểu luật quốc tế mấy trăm
năm về statehood và lẫn lộn tiêu chuẩn pháp lý về
statehood trong luật quốc tế với những sự sắp xếp
chính trị của các cường quốc trong một Hiệp Định
giữa vài nước mà thôi, đã cố tình quên
cái thực tại chính trị là
đã có mấy chục nước nhìn nhận sự khai sinh của VNCH,
và cũng quên mất
luật quốc tế
theo nghĩa là một số ít nước ký HĐ Geneve không thể
truất cái quyền chuyên độc (sovereign) của mấy chục
nước kia đã nhìn nhận VNCH.
Bây
giờ ông Thủ Tướng Dũng nói, và trước đây gỉa thử
tiền nhiệm của ông là ông Đồng nói một cách minh thị
hơn nữa , nói đến 2 nước Việt Nam trong giai đọan
1954-1975, thì cũng không giảm giá trị của sự nghiệp
thống nhất đất nước làm vào năm 1975-76, vì trong lịch
sử thế giới, đã có nhiều quốc gia chia ra nhiều mảnh
rồi lại thống nhất, và cũng có quốc gia chia ra hai, thí
dụ Pakistan chia thành hai, nửa kia thành Bengladesh, Sudan
trước là một thì nay là hai quốc gia, mà các quốc gia
đó vẫn có vị trí được nhìn nhận trong cộng đồng
các quốc gia; và các lãnh tụ chính trị đưa hai quốc
gia của một dân tộc đến thống nhất, mà biết tôn
trọng quyền lợi của cả dân tộc sau khi thống nhất,
thì cũng được lịch sử khen ngợi—như Lincoln, sau Chiến
tranh Nam Bắc Mỹ, đã nói “Cùng nhau, chúng ta sẽ săn
sóc cho cô nhi,quả phụ của cả hai bên”
Vậy
xin nhắc lại là ông Đồng, đại diện miền Bắc Việt
Nam, tức Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCH) lúc đó, phải
được gỉai thích là không có thẩm quyền hay không có
ý định tuyên bố gì về chủ quyền đât đai về Hoàng
Sa và Trường Sa thuộc Việt Nam Cộng Hòa , một quốc gia
khác, vào thời điểm đó, mà chỉ dưa ra lời tuyên bố
công nhận hải phận 12 hải lý của Trung quốc. Có gỉai
thích như vậy mới không bị Trung quốc bắt bí, và cứ
quy cho Việt Nam cái thế “há miệng mắc quai” vì lối
giải thích Công hàm Phạm Văn Đồng của Trung quốc.
(b)
Thứ hai,một bản tuyên bố đơn phương (unilateral
declaration) như Công Hàm Phạm Văn Đồng không có hiệu
lực pháp lý về mặt quốc tế. Trong luật quốc tế,
không thể cố áp dụng lý thuyết estoppel, tức là lý
thuyết trong luật pháp quốc nội của một số quốc gia
có quy định là “Đã nói ra
thì không nói ngược lại được”,
vì lý thuyết này không áp dụng trong luật quốc tế theo
cùng các điều kiễn như trong luật quốc nội, vì có
những điều kiện ngặt nghèo, và do đó không thể coi
lời nói đơn phương có hiệu lực ràng buộc đương
nhiên trong luật quốc tế. Tòa án quốc trong một vụ xử
giữa Đức và Đan Mạch/Hà Lan về them lục địa đã nói
như vậy.Ngòai ra, theo một án lệ khác, khi xét ý nghĩa
của lời tuyên bố đơn phương, tòa án quốc tế phải
xét một cách chặt chẽ ý định (intention)của người
tuyên bố.
Theo án lệ NUCLEAR
TESTS CASE AUSTRALIA& NEW ZEALAND v. FRANCE 1974 I.C.J. 253, thì
“dĩ nhiên là không phải hành vi đơn phương nào cũng
tạo ra nghĩa vụ; nhưng một quốc gia có thể chọn theo
một lập trường về một vấn đề nào đó với ý định
sẽ tự ràng buộc—miễn là ý định này phải xét kỹ
bằng sự giải thích hành vi đó. Khi các quốc gia đưa ra
lời tuyên bố hạn chế tự do hành động của mình, thì
phải gỉai thích hạn hẹp..” Tòa án cũng nói là : “chỉ
cần xét một vấn đề quan trọng là xem lời văn trong
lời tuyên bố có biểu lộ một ý định rõ rệt không
….Tòa án phải tự có quan điểm riêng về ý nghĩa và
phạm vi mà tác giả lời tuyên bố đơn phương nào có
thể tạo ra một nghĩa vụ pháp lý, và tòa không thể bị
ảnh hưởng gì bởi quan điểm của một quốc gia khác
vốn không thể là một bên đương sự trong lời tuyên bố
đó.” (Of course, not all unilateral acts imply obligation; but a
State may choose to take up a certain position in relation to a
particular matter with the intention of being bound--the intention is
to be ascertained by interpretation of the act. When States make
statements by which their freedom of action is to be limited, a
restrictive interpretation is called for......The Court further
stated in the same case: “... the sole relevant is whether the
language employed in any given declaration does reveal a clear
intention...”(Ibid.,
p. 32). Court must however form its own view of the meaning and
scope intended by the author of a unilateral declarationwhich may
create a legal obligation, and cannot in this respect be bound by the
view expressed by another State which is in no way a party to the
text.).
Ý
định của Thủ tướng Đồng trong cái câu ông nói ở
Công hàm 1958 (“Chính
phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán
thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết
định về hải phận của
Trung Quốc.Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ
quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn
trọng hải phận 12 hải lý của
Trung Quốc'')
phải
được xét trong khuôn khổ quyền hạn thủ tướng chiếu
Hiến Pháp 1946, theo đó Chính phủ gồm
Chủ tịch nước, Phó chủ tịch và nội các (điều 44),
trong nội các đó, có Thủ Tướng (điều 44), và Chủ
tịch nước mới là người thay mặt cho nước (điều 49
đọan a) mà ký hiệp ước với nước khác (điếu 49 đọan
h ) ràng buộc VN về việc quan trọng, thí dụ chủ quyến
đât đai như việc nhượng đất, kèm theo quyết định
chuẩn y hiệp ước bởi nghị viện là cơ quan quyền lực
cao nhất, thì mới có quyền về nhượng đất (điều 22
và 23). Còn thủ tướng không thể vượt quá quyền, theo
học lý luật pháp ultra vires, và công hàm của ông, trong
ngôn ngữ dùng, chỉ có ý định ủng hộ ngọai giao cho
Trung quốc về một điểm là 12 haỉ lý hải phận mà
Trung quốc đang lo lắng tuyên bố để chống sự đe dọa
lúc đó của Mỹ từ hai đảo Kim Môn và Mả Tổ quân
đội Đài Loan chấn giữ với sự ủng hộ mạnh mẽ của
Mỹ và đe dọa lớn hơn của Mỹ từ eo biển Đài Loan
với Hạm đội 7. Hơn nữa, ý định của ông Đồng
không thể được gỉai thích là liên quan đến nhượng
đất, vì Trung quốc yêu sách về tất cả các đảo ở
Hoàng Sa và Trường Sa, trong đó nhiều đảo thuộc quyền
chiếm hữu của một số quốc gia Đông Nam Á, mà ông
Đồng không là đại diện để nói về chuyện nhượng
đất; lời ông Đồng nói, Trung quốc không thể đem đối
kháng với các quốc gia Đông Nam Á đó được—kể cả
VNCH . Theo án lệ Nuclear Tests case nói trên, Toà án quốc
tế không cần nghe giải thích chủ quan, thủ lợi theo ý
mình, của Trung quốc.




