Home » Văn Hóa Dùng Người
Á KHẨU - BẠN CÓ BỊ?
04:43 |TMSS: Hai lối nhìn khác nhau. Một lối nhìn trục vật và một lối nhìn hướng thượng. Một lối nhìn bằng lòng với no thỏa vật chất và bất chấp luật pháp và một bên hết lòng trau dồi để sống cho ra sống và sống có ý nghĩa. Hai cách nhìn của hai bạn trẻ, bạn chọn lối sống nào!?
Bình luận của GS Nguyễn Văn Tuấn:
"Chỉ có kẻ phản quốc mới nghĩ điều tồi tệ!
Có vài bạn trách
tôi tại sao trên trang fb này tôi chỉ viết về những sự việc "tiêu cực"
mà không nói điều tích cực. Thì đây, cuối cùng cũng có một tin mừng.
Phóng viên đài RFA có một cuộc phỏng vấn các bạn thanh niên ở vùng Tây
Bắc về tình hình đất nước. Nói chung, quan điểm của các bạn đoàn viên
đoàn TNCS này rất lạc quan. Có bạn tin rằng "không có nước nào giàu hơn
Việt Nam và nếu có chăng cũng chỉ là hình thức bên ngoài chứ nhờ ơn
Đảng, Việt Nam phải là nước hùng cường nhất, giàu mạnh nhất." Nhưng đoạn
ấn tượng nhất là khi được hỏi về hiện tình đất nước trước sự đe doạ của
giặc Tàu và tham nhũng, có bạn cho rằng "đó là vấn đề nhạy cảm, chỉ có
những kẻ phản quốc mới nghĩ đến điều tội tệ như thế. Với anh, đoàn là
một chiếc thuyền đưa anh đến bến bờ vinh quang của một đảng viên Cộng
sản."
Tiếng Anh có chữ "speechless" để mô tả tình trạng á khẩu.
Câu phát ngôn trên của anh đoàn viên đó đúng là làm cho nhiều người
trong chúng ta phải á khẩu."
---------------------------------------------
Tuổi trẻ vùng cao nghĩ về ngày thành lập Đoàn
Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam
2015-03-24
Ngày 26 tháng 3 năm 1931 là ngày Đoàn Thanh Niên Cộng sản Hồ Chí Minh
ra đời, kể từ đó đến nay, đoàn này vẫn hoạt động đều đặn và mỗi năm, có
vài ngàn đoàn viên mới được kết nạp, có vài ngàn đoàn viên cũ phát
triển lên đối tượng đảng và có chừng 10% trong số vài ngàn đối tượng
đảng này được kết nạp thành đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam. Câu chuyện
cứ như vậy kéo dài suốt mấy mươi năm nay, càng về sau, số lượng có vẻ
như càng đông ra bởi mật độ dân số đã tăng cao. Tuy nhiên, nếu như với
tuổi trẻ thành phố, việc sinh hoạt đoàn ở địa phương trở nên quá nhàm
chán và ít ai tham gia thì với tuổi trẻ vùng cao, ngày thành lập đoàn
lại mang một ý nghĩa khác, ý nghĩa này được phân thành hai luồng tư
tưởng đối lập rõ rệt.
Đoàn là “chiếc thuyền đưa đến bến bờ vinh quang… Đảng”
Hồ Văn Trường, một thanh niên dân tộc Thái ở Tây Bắc, thuộc tỉnh Lai Châu, chia sẻ:“Đảng phải là số một chứ, đấy là chuyện đương nhiên rồi, đảng đã cho ta mùa xuân, đảng mang lại chân lý và ánh sáng, một mùa xuân rực rỡ, tất cả là nhờ đảng. Chúng ta phải có trách nhiệm với dân tộc, với đảng vì đảng và dân tộc là một, không có gì để bàn, tất cả có cơm no áo ấm, có nhà cao cửa đẹp đều nhờ đảng. Ngày xưa làm gì có cơm no áo ấm như bây giờ, ngày xưa đất nước chia đôi hai miền nam bắc, bây giờ thống nhất rồi dưới ngọn cờ lãnh đạo của đảng, đảng thiên tài, bác thiên tài, có gì mà phải bàn.”
Theo Trường, ngày thành lập đoàn mãi mãi là một ngày trọng đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam, bởi đảng Cộng sản đã mang đến cho gia đình anh một nguồn ánh sáng tươi tắn, tràn trề sinh khí. Nhờ ơn Đảng, ơn Bác mà gia đình anh có công việc để làm, có bia để uống và có rượu ngoại, thịt ngon trong nhà. Không phải ai cũng may mắn nhận được ơn đức này.
Anh được học đến đại học và hiện nay, anh đang nắm chức vụ phó chủ tịch kiêm bí thư đoàn xã, với công việc ổn định, gia đình êm ấm, được nhận lương nhà nước và đưa được những người trong gia đình vào làm việc trong hệ thống cơ quan xã, ai cũng có lương để sống. Với Trường, còn gì may mắn và đáng quí bằng chuyện này.
Hơn nữa, nhờ vào ơn đức của bác và Đảng, anh và người thân vác súng vào rừng bắn con lợn rừng, con nai, coin hoẵng cũng không có ai dám lên tiếng. Mỗi tháng, chỉ riêng việc săn thịt rừng về bán cho nhà hàng, hai cha con anh cũng kiếm được ngót nghét năm chục triệu đồng. Tuy ở núi nhưng gia đình anh có đầy đủ tiện nghi, muốn gì nó nấy.
Anh luôn tin rằng không có nước nào giàu hơn Việt Nam và nếu có chăng cũng chỉ là hình thức bên ngoài chứ nhờ ơn Đảng, Việt Nam phải là nước hùng cường nhất, giàu mạnh nhất. Bởi vì cỡ một phó chủ tịch xã như anh mà còn sung sướng như một ông vua, huống gì các quan chức đảng viên cấp huyện, cấp tỉnh, cấp trung ương thì giàu có cỡ nào nữa.
Chỉ riêng quà Tết, hằng năm gia đình anh phải đợi đến tháng hai âm lịch mang đi bán cho đại lý, anh nghĩ rằng các quan chức cấp trung ương thì có lẽ phải chất cả kho hoặc tiền đầy trong tài khoản khi Tết về. Mà theo anh, dân phải giàu thì nước mới mạnh, cán bộ, suy cho cùng cũng là dân, vậy cán bộ giàu thì nước mới mạnh được. Anh rất ghét những kẻ nào dám báng bổ đảng Cộng sản, dám mạo phạm đến Bác Hồ của anh. Bởi vì đó là nguồn ánh sáng, là chân lý của gia đình anh cũng như các đồng chí của anh.
Nhưng khi chúng tôi hỏi thêm quan điểm của anh về nạn tham nhũng, về việc chạy bằng giả để giữ chức, thăng chức, về nạn khai thác rừng bừa bãi, về những công nhân Trung Quốc có mặt khắp đất nước, về hàng hóa Trung Quốc tràn ngập các chợ cũng như về cuộc chiến tranh biên giới năm 1979… Thì nhận được một sự im lặng và cuối cùng là câu trả lời lạnh lùng rằng đó là vấn đề nhạy cảm, chỉ có những kẻ phản quốc mới nghĩ đến điều tội tệ như thế. Với anh, đoàn là một chiếc thuyền đưa anh đến bến bờ vinh quang của một đảng viên Cộng sản.
Đoàn thì “ăn như rồng cuốn, uống như rồng leo mà làm như mèo mửa…”
Một thanh niên khác, đại diện của nhóm tình nguyện viên giúp các trẻ em nghèo thiếu ăn, thiếu mặc và thất học có được cơm áo, cái chữ, yêu cầu giấu tên, chia sẻ: “Đa số họ đều là đoàn viên, đảng viên, một số thì đi làm, một số vẫn còn đi học. Trách họ làm gì, trách những người chỉ họ làm gì đó, họ chỉ là một đám robot thôi.”
Bạn thanh niên này cho biết thêm là đối với bạn, việc bỏ ra khoản thời gian quá lớn chỉ để tập múa may quay cuồng hoặc là khiêu vũ đồng đội, hoặc là múa những bài múa do trung ương đoàn qui định, gọi là múa tập thể, nội dung bài hát ca ngợi đảng, ca ngợi bác Hồ, ca ngợi chiến thắng thần kỳ của đảng Cộng sản hoặc là làm những việc cứu tế, giúp dân mang tính hình thức, phong trào là quá đáng. Nó vừa phí phạm tuổi trẻ lại vừa vô bổ, không giúp cho tư duy mở mang mà cột cứng tư duy vào một thứ chủ nghĩa lạc hậu.
Đó là chưa muốn nói đền những kiểu nỗ lực không có đầu óc. Một người trẻ tuổi, thay vì nỗ lực bồi đắp tri thức và mở mang trí tuệ, tiến thân bằng chính năng lực cũng như nội lực trí tuệ và vốn liếng tri thức, nhiều đoàn viên ngày đêm nỗ lực tham gia sinh hoạt đoàn nhằm phát triển thành đối tượng đảng và được kết nạp đảng để dễ bề tiến thân. Tấm thẻ đảng là một thứ giấy thông hành tốt nhất trong việc tiến thân trong thể chế chính trị Cộng sản. Chính vì nỗ lực vào đảng mà không còn thời gian cũng như tâm trí để bồi bổ tri thức, say máu gà trong tham vào làm đảng viên, nhiều bạn trẻ khi lên nắm quyền, đầu óc trở nên rỗng tuếch và sáo mòn, chẳng đủ năng lực để làm bất cứ việc đơn giản nào.
Cái giấc mơ đoàn viên, đảng viên đã biến không ít bạn trẻ trở thành một loại thiêu thân sẵn sàng đội trên đạp dưới, đâm bị thóc thọc bị gạo để được lòng cấp trên. Và cái tham vọng đoàn viên đã khiến không ít bạn trẻ tự biến mình thành một loại phản động với chính bản thân, gia đình và cộng đồng. Thay vì đứng trên lý lẽ, người ta lại đứng trên vị thế chính trị để đối đãi với nhau. Và cứ như thế, hết lớp này đến lớp khác, từ nhà trường về đến địa phương, các đoàn viên đối tượng đảng và đảng viên trẻ bất chấp mọi thứ, miễn sao đạt được mục tiêu đảng viên của họ.
Chính vì thứ mục tiêu mù quáng này mà hệ thống quản lý hành chính nhà nước ngày càng trở nên tha hóa và kém năng lực, thậm chí phi nhân tính mặc dù chủ trương và hô hào lúc nào cũng lấy tài đức làm kim chỉ nam, lấy liêm khiết và năng lực làm định hướng. Điều đó cũng sáo rỗng và bài vở chẳng khác nào những bài múa, bài hát trong lúc sinh hoạt đoàn, mặc dù rất chán nhưng người ta vẫn phải múa, vẫn phải hát, bởi múa hát không vì cảm hứng mà vì mục tiêu.
Mục tiêu này kéo theo nhiều hoạt động tiêu tốn chi phí rất cao mà hiệu quả thì không có gì. Hay nói cách khác là hoạt động đoàn ngốn quá nhiều ngân sách, ăn như rồng cuốn, uống như rồng leo mà làm như mèo mửa bởi thiếu tri thức.
Cách hô hào đạo đức, lương tri trong các cơ quan nhà nước hiện tại cũng vậy, không có đảng viên nào thực tâm khi hô hào, thậm chí họ thừa chán chường đối với cách hô hào mà chính họ tự thấy là không có thật. Nhưng họ phải hô hào như thế vì mục tiêu thăng tiến trong hệ thống và bảo vệ hệ thống nhằm đảm bảo lợi lộc của bản thân.
Và, cũng theo người này nhận xét, suy cho cùng, đoàn thanh niên là bước đệm của đảng Cộng sản trong hiện tại. Mà một khi cái đích đến là một tập hợp múa lửa lắc vòng trong cơn lên đồng vật dục thì bước đệm của nó đương nhiên cũng mang đầy đủ yếu tố này.
Bạn trẻ này cho biết thêm là hiện tại, thanh niên miền núi Tây Bắc nói riêng và thanh niên Việt Nam nói chung, chẳng mấy ai mặn mà với việc sinh hoạt đoàn, trừ một số người có mục tiêu vào đảng và những người có tâm lý không bình thường. Đó là một thực tế!
Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.
Đoàn là “chiếc thuyền đưa đến bến bờ vinh quang… Đảng”
Hồ Văn Trường, một thanh niên dân tộc Thái ở Tây Bắc, thuộc tỉnh Lai Châu, chia sẻ:“Đảng phải là số một chứ, đấy là chuyện đương nhiên rồi, đảng đã cho ta mùa xuân, đảng mang lại chân lý và ánh sáng, một mùa xuân rực rỡ, tất cả là nhờ đảng. Chúng ta phải có trách nhiệm với dân tộc, với đảng vì đảng và dân tộc là một, không có gì để bàn, tất cả có cơm no áo ấm, có nhà cao cửa đẹp đều nhờ đảng. Ngày xưa làm gì có cơm no áo ấm như bây giờ, ngày xưa đất nước chia đôi hai miền nam bắc, bây giờ thống nhất rồi dưới ngọn cờ lãnh đạo của đảng, đảng thiên tài, bác thiên tài, có gì mà phải bàn.”
Theo Trường, ngày thành lập đoàn mãi mãi là một ngày trọng đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam, bởi đảng Cộng sản đã mang đến cho gia đình anh một nguồn ánh sáng tươi tắn, tràn trề sinh khí. Nhờ ơn Đảng, ơn Bác mà gia đình anh có công việc để làm, có bia để uống và có rượu ngoại, thịt ngon trong nhà. Không phải ai cũng may mắn nhận được ơn đức này.
Anh được học đến đại học và hiện nay, anh đang nắm chức vụ phó chủ tịch kiêm bí thư đoàn xã, với công việc ổn định, gia đình êm ấm, được nhận lương nhà nước và đưa được những người trong gia đình vào làm việc trong hệ thống cơ quan xã, ai cũng có lương để sống. Với Trường, còn gì may mắn và đáng quí bằng chuyện này.
Hơn nữa, nhờ vào ơn đức của bác và Đảng, anh và người thân vác súng vào rừng bắn con lợn rừng, con nai, coin hoẵng cũng không có ai dám lên tiếng. Mỗi tháng, chỉ riêng việc săn thịt rừng về bán cho nhà hàng, hai cha con anh cũng kiếm được ngót nghét năm chục triệu đồng. Tuy ở núi nhưng gia đình anh có đầy đủ tiện nghi, muốn gì nó nấy.
Anh luôn tin rằng không có nước nào giàu hơn Việt Nam và nếu có chăng cũng chỉ là hình thức bên ngoài chứ nhờ ơn Đảng, Việt Nam phải là nước hùng cường nhất, giàu mạnh nhất. Bởi vì cỡ một phó chủ tịch xã như anh mà còn sung sướng như một ông vua, huống gì các quan chức đảng viên cấp huyện, cấp tỉnh, cấp trung ương thì giàu có cỡ nào nữa.
Chỉ riêng quà Tết, hằng năm gia đình anh phải đợi đến tháng hai âm lịch mang đi bán cho đại lý, anh nghĩ rằng các quan chức cấp trung ương thì có lẽ phải chất cả kho hoặc tiền đầy trong tài khoản khi Tết về. Mà theo anh, dân phải giàu thì nước mới mạnh, cán bộ, suy cho cùng cũng là dân, vậy cán bộ giàu thì nước mới mạnh được. Anh rất ghét những kẻ nào dám báng bổ đảng Cộng sản, dám mạo phạm đến Bác Hồ của anh. Bởi vì đó là nguồn ánh sáng, là chân lý của gia đình anh cũng như các đồng chí của anh.
Nhưng khi chúng tôi hỏi thêm quan điểm của anh về nạn tham nhũng, về việc chạy bằng giả để giữ chức, thăng chức, về nạn khai thác rừng bừa bãi, về những công nhân Trung Quốc có mặt khắp đất nước, về hàng hóa Trung Quốc tràn ngập các chợ cũng như về cuộc chiến tranh biên giới năm 1979… Thì nhận được một sự im lặng và cuối cùng là câu trả lời lạnh lùng rằng đó là vấn đề nhạy cảm, chỉ có những kẻ phản quốc mới nghĩ đến điều tội tệ như thế. Với anh, đoàn là một chiếc thuyền đưa anh đến bến bờ vinh quang của một đảng viên Cộng sản.
Đoàn thì “ăn như rồng cuốn, uống như rồng leo mà làm như mèo mửa…”
Một thanh niên khác, đại diện của nhóm tình nguyện viên giúp các trẻ em nghèo thiếu ăn, thiếu mặc và thất học có được cơm áo, cái chữ, yêu cầu giấu tên, chia sẻ: “Đa số họ đều là đoàn viên, đảng viên, một số thì đi làm, một số vẫn còn đi học. Trách họ làm gì, trách những người chỉ họ làm gì đó, họ chỉ là một đám robot thôi.”
Bạn thanh niên này cho biết thêm là đối với bạn, việc bỏ ra khoản thời gian quá lớn chỉ để tập múa may quay cuồng hoặc là khiêu vũ đồng đội, hoặc là múa những bài múa do trung ương đoàn qui định, gọi là múa tập thể, nội dung bài hát ca ngợi đảng, ca ngợi bác Hồ, ca ngợi chiến thắng thần kỳ của đảng Cộng sản hoặc là làm những việc cứu tế, giúp dân mang tính hình thức, phong trào là quá đáng. Nó vừa phí phạm tuổi trẻ lại vừa vô bổ, không giúp cho tư duy mở mang mà cột cứng tư duy vào một thứ chủ nghĩa lạc hậu.
Đó là chưa muốn nói đền những kiểu nỗ lực không có đầu óc. Một người trẻ tuổi, thay vì nỗ lực bồi đắp tri thức và mở mang trí tuệ, tiến thân bằng chính năng lực cũng như nội lực trí tuệ và vốn liếng tri thức, nhiều đoàn viên ngày đêm nỗ lực tham gia sinh hoạt đoàn nhằm phát triển thành đối tượng đảng và được kết nạp đảng để dễ bề tiến thân. Tấm thẻ đảng là một thứ giấy thông hành tốt nhất trong việc tiến thân trong thể chế chính trị Cộng sản. Chính vì nỗ lực vào đảng mà không còn thời gian cũng như tâm trí để bồi bổ tri thức, say máu gà trong tham vào làm đảng viên, nhiều bạn trẻ khi lên nắm quyền, đầu óc trở nên rỗng tuếch và sáo mòn, chẳng đủ năng lực để làm bất cứ việc đơn giản nào.
Cái giấc mơ đoàn viên, đảng viên đã biến không ít bạn trẻ trở thành một loại thiêu thân sẵn sàng đội trên đạp dưới, đâm bị thóc thọc bị gạo để được lòng cấp trên. Và cái tham vọng đoàn viên đã khiến không ít bạn trẻ tự biến mình thành một loại phản động với chính bản thân, gia đình và cộng đồng. Thay vì đứng trên lý lẽ, người ta lại đứng trên vị thế chính trị để đối đãi với nhau. Và cứ như thế, hết lớp này đến lớp khác, từ nhà trường về đến địa phương, các đoàn viên đối tượng đảng và đảng viên trẻ bất chấp mọi thứ, miễn sao đạt được mục tiêu đảng viên của họ.
Chính vì thứ mục tiêu mù quáng này mà hệ thống quản lý hành chính nhà nước ngày càng trở nên tha hóa và kém năng lực, thậm chí phi nhân tính mặc dù chủ trương và hô hào lúc nào cũng lấy tài đức làm kim chỉ nam, lấy liêm khiết và năng lực làm định hướng. Điều đó cũng sáo rỗng và bài vở chẳng khác nào những bài múa, bài hát trong lúc sinh hoạt đoàn, mặc dù rất chán nhưng người ta vẫn phải múa, vẫn phải hát, bởi múa hát không vì cảm hứng mà vì mục tiêu.
Mục tiêu này kéo theo nhiều hoạt động tiêu tốn chi phí rất cao mà hiệu quả thì không có gì. Hay nói cách khác là hoạt động đoàn ngốn quá nhiều ngân sách, ăn như rồng cuốn, uống như rồng leo mà làm như mèo mửa bởi thiếu tri thức.
Cách hô hào đạo đức, lương tri trong các cơ quan nhà nước hiện tại cũng vậy, không có đảng viên nào thực tâm khi hô hào, thậm chí họ thừa chán chường đối với cách hô hào mà chính họ tự thấy là không có thật. Nhưng họ phải hô hào như thế vì mục tiêu thăng tiến trong hệ thống và bảo vệ hệ thống nhằm đảm bảo lợi lộc của bản thân.
Và, cũng theo người này nhận xét, suy cho cùng, đoàn thanh niên là bước đệm của đảng Cộng sản trong hiện tại. Mà một khi cái đích đến là một tập hợp múa lửa lắc vòng trong cơn lên đồng vật dục thì bước đệm của nó đương nhiên cũng mang đầy đủ yếu tố này.
Bạn trẻ này cho biết thêm là hiện tại, thanh niên miền núi Tây Bắc nói riêng và thanh niên Việt Nam nói chung, chẳng mấy ai mặn mà với việc sinh hoạt đoàn, trừ một số người có mục tiêu vào đảng và những người có tâm lý không bình thường. Đó là một thực tế!
Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.
NGƯỜI VIỆT KHINH NGƯỜI VIỆT
18:33 |
Nguyễn Hưng Quốc
Nhớ, có lần về Việt Nam, tôi được
giới thiệu với một trí thức khá lớn tuổi ở Hà Nội. Chuyện gẫu, anh khoe
anh đang sống chung với một phụ nữ Tây
phương. Tôi không hỏi là hai người sống chung như vợ chồng hay bồ bịch.
Thực tình, tôi cũng chẳng thấy có chút ngạc nhiên hay tò mò nào. Nhưng
một lát sau thì anh bạn ấy lại hỏi tôi: “Chị nhà là người nước nào vậy,
thưa anh?” Khi tôi đáp là người Việt, tôi thoáng thấy có chút thất vọng
trong ánh mắt của anh. Tôi đoán chắc anh đang nghĩ thầm: Mẹ kiếp! Sống ở
nước ngoài cả mấy chục năm mà vẫn cứ xài hàng nội!
Khoảng giữa thập niên 1990, khi chính sách mở cửa về kinh tế của Việt
Nam đã có nền tảng khá vững, nhiều trường đại học ở Tây phương, trong đó
có Úc, tìm cách xây dựng các cơ sở giáo dục tại Việt Nam. Thoạt đầu,
người ta nghĩ ngay đến lực lượng trí thức Việt Nam như những trung gian
cực tốt: Họ biết cả hai ngôn ngữ và cả hai nền văn hoá. Thế nhưng, chỉ
vài năm sau, phần lớn đều khám phá ra điều này: họ không thực sự cần
trung gian lắm. Không phải những người trung gian ấy bất tài. Không
phải. Lý do chính là vì chính quyền cũng như các trường học và công ty
Việt Nam thường nghi kỵ các đồng hương của họ ở nước ngoài hơn là với
người ngoại quốc. Người ngoại quốc nói gì người ta cũng yes, yes. Trong
khi với các chuyên gia người Việt thì người ta lại hạnh hoẹ đủ điều.
Tôi có một chị bạn lấy chồng Úc. Hai người đi về Việt Nam chơi. Có lần cần đến cơ quan công quyền để làm giấy tờ gì đó. Chị vợ vào năn nỉ ỉ ôi với một thứ tiếng Việt giọng Huế cực kỳ ngọt ngào. Chị bị từ chối một cách phũ phàng. Năn nỉ mấy cũng không được. Lát sau, nước mắt dầm dề, chị ra kể với ông chồng đang ngồi chờ ở phòng ngoài. Anh chồng người Úc bực tức cầm mớ giấy tờ vào thẳng trong phòng. Mấy phút sau, anh trở ra, miệng cười toe toét: Xong rồi! Từ đó, hai người rút kinh nghiệm: gặp bất cứ vấn đề gì cần giải quyết với người Việt Nam, anh chồng sẽ lao ra và chị vợ thì lùi lại sau. Bất kể người đối thoại có biết tiếng Anh hay không, mọi việc thường đều được giải quyết một cách nhanh chóng và ổn thoả.
Mà hình như không phải chỉ ở trong nước.
Nhớ, cách đây hơn mười năm, cái máy giặt ở nhà tôi bị trục trặc. Tôi điện thoại gọi một người thợ Việt Nam đến sửa. Vừa lúi húi sửa máy, anh vừa hất hàm hỏi tôi: “Anh làm nghề gì vậy?” Tôi đáp: Đi dạy học. Anh hơi ngạc nhiên. Lại hất hàm hỏi: “Dạy cấp mấy?” Tôi đáp: Đại học. Anh càng ngạc nhiên: “Dạy gì?” Tôi đáp cho qua chuyện: Thì dạy tiếng Việt lăng nhăng vậy mà. Anh phán ngay: “Ừ, thì cũng dễ!”
Ừ, thì cũng dễ.
Sau đó, trong một buổi nói chuyện phiếm, tôi kể cho một người bạn Úc đang dạy tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai (ESL) nghe. Chị nói là chị không hiểu được. Chị dạy ESL cả mấy chục năm nay, chưa bao giờ nghe bất cứ ai nói là dạy ESL dễ hơn dạy các môn khác. Chưa ai gọi English, ngay cả English as a second language, là tiếng “lít” như một số người Việt vẫn gọi tiếng Việt là tiếng “Mít” cả.
Mà hình như tâm lý khinh thường người Việt và tiếng Việt đã có ngay từ xưa. Chữ Hán là chữ của thánh hiền. Người ta không dám vất hay đạp lên một mảnh giấy có vài chữ Hán nguệch ngoạc trên đó. Trong khi đó chữ Nôm thì lúc nào cũng bị coi rẻ: nôm na mách qué. Viết văn, muốn đi vào thiên cổ, thì dùng chữ Hán. Khi viết bằng chữ Nôm thì người ta khiêm tốn hẳn. Tài năng lồng lộng như Nguyễn Du cũng khiêm tốn: “Lời quê chắp nhặt dông dài / Mua vui cũng được một vài trống canh”. Các cây bút khác cũng thế. Trong Nhị Độ Mai: “Biết bao lời kệch tiếng quê / Thôi thôi bất quá là nghề mua vui”. Trong Phù dung tân truyện: “Lời quê chắp chảnh nên câu / Chép làm một truyện để sau mua cười”. Trong Bích câu kỳ ngộ: “Cũng xin góp một hội cười / Cùng mua mấy trống canh vui gọi là”, v.v… Đầu thế kỷ 18, dưới thời chúa Trịnh, các truyện “nôm na” ấy được xem là những “tiếng dâm” cần phải bị nghiêm cấm đấy!
Dưới thời Pháp thuộc, óc tự ti và sùng ngoại càng lên cao. Trong những điều người ta mơ ước “ăn cơm Tàu, lấy vợ Nhật, ở nhà Tây”, chẳng có gì dính dáng đến Việt Nam cả. Cái gì lớn, tốt, đẹp thì được gọi là… “Tây” để đối lập với “ta”: hành tây, gà tây, khoai tây, v.v… Rồi “sang như Tây”, “đẹp như Tây”, “trắng như Tây”. Hết Tây thì đến Mỹ: xài Mỹ, giàu như Mỹ, sang như Mỹ, v.v…
Gần đây thì có sự phân biệt giữa nội và ngoại. “Ngoại” đồng nghĩa với thật và chất lượng cao. “Nội”, ngược lại, hầu hết là kém, thậm chí, giả, hay nói theo tiếng thông dụng lâu nay là dỏm / dởm / rởm. Thành ra, có thể nói thái độ người Việt tự khinh người Việt, tiếng Việt và bất cứ thứ gì do người Việt làm ra có nguồn gốc sâu xa từ tâm lý thuộc địa. Hết thuộc địa của Tàu thì đến thuộc địa của Tây. Tàu đi rồi. Tây đi rồi. Tâm lý thuộc địa biến thành tâm lý hậu thuộc địa. Cũng vẫn là một nỗi tự khinh mình.
Bạn có thấy vậy không?
Tôi có một chị bạn lấy chồng Úc. Hai người đi về Việt Nam chơi. Có lần cần đến cơ quan công quyền để làm giấy tờ gì đó. Chị vợ vào năn nỉ ỉ ôi với một thứ tiếng Việt giọng Huế cực kỳ ngọt ngào. Chị bị từ chối một cách phũ phàng. Năn nỉ mấy cũng không được. Lát sau, nước mắt dầm dề, chị ra kể với ông chồng đang ngồi chờ ở phòng ngoài. Anh chồng người Úc bực tức cầm mớ giấy tờ vào thẳng trong phòng. Mấy phút sau, anh trở ra, miệng cười toe toét: Xong rồi! Từ đó, hai người rút kinh nghiệm: gặp bất cứ vấn đề gì cần giải quyết với người Việt Nam, anh chồng sẽ lao ra và chị vợ thì lùi lại sau. Bất kể người đối thoại có biết tiếng Anh hay không, mọi việc thường đều được giải quyết một cách nhanh chóng và ổn thoả.
Mà hình như không phải chỉ ở trong nước.
Nhớ, cách đây hơn mười năm, cái máy giặt ở nhà tôi bị trục trặc. Tôi điện thoại gọi một người thợ Việt Nam đến sửa. Vừa lúi húi sửa máy, anh vừa hất hàm hỏi tôi: “Anh làm nghề gì vậy?” Tôi đáp: Đi dạy học. Anh hơi ngạc nhiên. Lại hất hàm hỏi: “Dạy cấp mấy?” Tôi đáp: Đại học. Anh càng ngạc nhiên: “Dạy gì?” Tôi đáp cho qua chuyện: Thì dạy tiếng Việt lăng nhăng vậy mà. Anh phán ngay: “Ừ, thì cũng dễ!”
Ừ, thì cũng dễ.
Sau đó, trong một buổi nói chuyện phiếm, tôi kể cho một người bạn Úc đang dạy tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai (ESL) nghe. Chị nói là chị không hiểu được. Chị dạy ESL cả mấy chục năm nay, chưa bao giờ nghe bất cứ ai nói là dạy ESL dễ hơn dạy các môn khác. Chưa ai gọi English, ngay cả English as a second language, là tiếng “lít” như một số người Việt vẫn gọi tiếng Việt là tiếng “Mít” cả.
Mà hình như tâm lý khinh thường người Việt và tiếng Việt đã có ngay từ xưa. Chữ Hán là chữ của thánh hiền. Người ta không dám vất hay đạp lên một mảnh giấy có vài chữ Hán nguệch ngoạc trên đó. Trong khi đó chữ Nôm thì lúc nào cũng bị coi rẻ: nôm na mách qué. Viết văn, muốn đi vào thiên cổ, thì dùng chữ Hán. Khi viết bằng chữ Nôm thì người ta khiêm tốn hẳn. Tài năng lồng lộng như Nguyễn Du cũng khiêm tốn: “Lời quê chắp nhặt dông dài / Mua vui cũng được một vài trống canh”. Các cây bút khác cũng thế. Trong Nhị Độ Mai: “Biết bao lời kệch tiếng quê / Thôi thôi bất quá là nghề mua vui”. Trong Phù dung tân truyện: “Lời quê chắp chảnh nên câu / Chép làm một truyện để sau mua cười”. Trong Bích câu kỳ ngộ: “Cũng xin góp một hội cười / Cùng mua mấy trống canh vui gọi là”, v.v… Đầu thế kỷ 18, dưới thời chúa Trịnh, các truyện “nôm na” ấy được xem là những “tiếng dâm” cần phải bị nghiêm cấm đấy!
Dưới thời Pháp thuộc, óc tự ti và sùng ngoại càng lên cao. Trong những điều người ta mơ ước “ăn cơm Tàu, lấy vợ Nhật, ở nhà Tây”, chẳng có gì dính dáng đến Việt Nam cả. Cái gì lớn, tốt, đẹp thì được gọi là… “Tây” để đối lập với “ta”: hành tây, gà tây, khoai tây, v.v… Rồi “sang như Tây”, “đẹp như Tây”, “trắng như Tây”. Hết Tây thì đến Mỹ: xài Mỹ, giàu như Mỹ, sang như Mỹ, v.v…
Gần đây thì có sự phân biệt giữa nội và ngoại. “Ngoại” đồng nghĩa với thật và chất lượng cao. “Nội”, ngược lại, hầu hết là kém, thậm chí, giả, hay nói theo tiếng thông dụng lâu nay là dỏm / dởm / rởm. Thành ra, có thể nói thái độ người Việt tự khinh người Việt, tiếng Việt và bất cứ thứ gì do người Việt làm ra có nguồn gốc sâu xa từ tâm lý thuộc địa. Hết thuộc địa của Tàu thì đến thuộc địa của Tây. Tàu đi rồi. Tây đi rồi. Tâm lý thuộc địa biến thành tâm lý hậu thuộc địa. Cũng vẫn là một nỗi tự khinh mình.
Bạn có thấy vậy không?
Cảm nhận về VTV
01:50 |
V. T. V.
Nhân
blog Lề Trái đăng bài của tác giả Trần Dương về VTV, tôi cũng xin góp
vài ý về cảm nhận của tôi đối với cái đài truyền hình vốn là cơ quan
ngang bộ này.
Một: VTV thừa nhân lực, thiếu
việc làm (nhưng chắc thu nhập vẫn cao?). Chương trình thời sự chẳng hạn,
nếu như kênh truyền hình khác chỉ cần 1 người đọc tin thì VTV1 xài đến 3
vị ngồi cùng một cái bàn dài hoặc 4 vị ngồi 2 bàn cách ra nhau. Vì
người nhiều việc ít nên không cần khẩn trương. Các vị ấy đưa một cái tin
rồi lại quay ra hỏi nhau, thêm mắm muối hoặc chêm những lời bình luận
nhạt nhẽo vô vị, không có thông tin (làm tốn thời gian của khán/thính
giả). Có lúc từ bàn này các vị ấy “câu” sang bàn tận đầu kia trong cái
studio rộng mênh mông để hỏi nhau!
Nhìn cảnh đọc tin hoặc dẫn chương
trình, có thể thấy ông tổng giám đốc VTV phải chịu rất nhiều ‘sức ép’
nhận người. Sức ép đây chắc có nhiều loại, gồm 4-5 cái “Ệ” mà dân gian
hay nói (quan hỆ, t…tỆ,…).
Hai: Các vị dẫn chương trình của
VTV thể hiện mình dường như ở đẳng cấp quá cao. Khi nói với khán giả,
nhiều vị (đặc biệt là các chị) có cái nhìn về phía ống kính, tức là về
phía khán giả, với vẻ như đang khích lệ con nít, trong khi chương trình
dành cho cả những đối tượng cao tuổi và những người đáng kính khác.
Khi phỏng vấn một khách mời ít
nhiều có tài năng hoặc công trạng, nếu vị khách đó còn khá trẻ, người
phỏng vấn (của VTV) thường gọi người ta bằng “bạn”, trong khi vì lịch sự
nên gọi là anh/chị. Nếu vị khách kém người phỏng vấn vài ba tuổi thì
người phỏng vấn có thể gọi là em, nhưng hãy để hết buổi phỏng vấn đã, ra
ngoài muốn gọi là gì chẳng được! Hãy nhớ đó không phải khách mời riêng
của người phỏng vấn, mà của đài truyền hình (mà chính đài TH, nếu xứng
đáng, cũng là đại diện cho khán/thính giả khi phỏng vấn khách mời).
Ba: Nhìn trang phục và cách trang
điểm của những người dẫn chương trình, nhất là các chị, có thể thấy quý
vị ở VTV quan niệm rằng càng trái tự nhiên, càng khác người thì càng
đẹp. Nếu kẻ điên mà khoác lên người mấy tấm vải màu mè và đắt tiền, bôi
son lung tung lên mặt thì cũng là đẹp.
Bốn: VTV đang “Ba Vì hóa” tiếng
Hà Nội và tiếng Việt. Giọng đọc như của các nghệ sỹ Trần Đức, Thanh
Hùng, Kim Tiến giờ đây đang trở thành “lạc hậu”. Thay vào đó là những
kiểu phát âm kỳ quái, dấu má loạn xạ. Và nuốt âm. Ví dụ “Đài truyền hình
Việt Nam” thì họ đọc thành “Đái tr-ình viêt nàm”, “đấu trường” thành
“đầu trương”,…
Năm: Người của VTV luôn tỏ ra
giỏi ngoại ngữ bằng cách chêm vô tội vạ những từ tiếng Anh (phát âm bồi)
vào câu tiếng Việt. Những người dân thường không biết tiếng Anh không
thể hiểu họ đang nói cái gì. Nếu họ chêm vào câu tiếng Việt những từ
tiếng tây mà đọc lên biết là không phải từ Việt con đỡ. Đằng này họ chêm
cả những từ mà khi chính họ đọc lên thì người nghe tưởng đó là từ Việt,
gây hiểu nhầm tai hại. Ví dụ, từ “fan” họ đọc hẳn thành “phen”, và họ
nói câu: “Sao A bị một phen tấn công”. Một người lao động bình thường là
sao hiểu từ “phen” này vốn là từ “fan” trong tiếng Anh được. Vài ví dụ
khác. Từ “show” vốn đã là buổi biểu diễn, nhưng họ nói “sâu diễn”. Từ
“shower” nghĩa là mưa rào thì họ nói “mưa sâu”,…
Thật đáng buồn là họ không hiểu
được rằng người giỏi ngoại ngữ không bao giờ liên tục chêm tùy tiện
tiếng tây vào tiếng ta như vậy. Tiếng nào ra tiếng ấy mới là có văn hóa.
Còn nhiều, rất rất nhiều những
trò ẩm ương trên VTV. Không biết lãnh đạo cái đài truyền hình này có bao
giờ nghe/xem cấp dưới của mình làm những trò gì không? Hay họ có xem mà
thấy hay, thấy tốt cả?
(Tất nhiên, tôi biết trong VTV
cũng có những người rất đáng kính trọng, ví dụ đội ngũ làm kỹ thuật hoặc
các phóng viên điều tra dấn thân vào những nơi nguy hiểm.)
Về cái tôi của những người dẫn chương trình của VTV
01:46 |
TRẦN DƯƠNG
Nói
cho cùng, khi bàn về quyền con người, cần phải thừa nhận cả những cái
quyền nghe mắc cười như quyền (là người) ngu, kệch cỡm hoặc thiếu văn
hóa. Không ai có quyền thóa mạ hay chèn ép người khác chỉ vì người đó
thiếu hiểu biết. Trước pháp luật, mọi người đều bình đẳng.
Nhưng khi nói về những người làm ở
một cơ quan văn hóa tầm cỡ quốc gia như VTV thì lại là chuyện khác.
Người thiếu văn hóa có quyền tiếp tục sống thiếu văn hóa, nếu làm việc
bên ngoài loại cơ quan này. Còn nếu làm việc trong đó, nhất là với vai
trò người dẫn chương trình, thường xuyên xuất hiện trên màn hình TV, mà
vẫn muốn tiếp tục lối sống thiếu văn hóa, thì đáng ra phải bị loại bỏ
khỏi nơi đó. Vì sao cần loại bỏ? Vì cơ quan như VTV là cơ quan truyền
thông nhà nước, duy trì hoạt động bằng tiền thuế của dân. Dù cơ quan này
có kết hợp làm kinh tế thì cũng phải dùng những máy móc thiết bị vô
cùng đắt tiền, được mua về bằng tiền thuế của dân, và những người “làm
kinh tế” này làm việc đó trong khi ăn lương bằng tiền thuế của dân. Hàng
chục ngàn tỉ đã đổ vào đó. (Nếu có tiền đầu tư của nước ngoài thì dân
sẽ phải trả.) Một lý do nữa là những biểu hiện thiếu văn hóa ở một nơi
như vậy có tác động ghê gớm đến sự hình thành nhân cách của thế hệ trẻ
cả nước.
Nói về những cái khó chịu phải
thấy mỗi lần mở các kênh truyền hình VTV thì có lẽ phải viết hàng ngàn
trang cũng chưa đủ. Có thể tóm tắt bằng câu của một nhà văn là: “Sáu
mươi là tuổi nhĩ thuận, nhưng lỗ tai tôi nghe cái gì cũng trái, con mắt
nhìn cái gì cũng thấy có gai.”
Ở đây, chỉ xin bàn về cái “tôi”,
về chữ “tôi” vẫn thường được dùng bởi những người dẫn chương trình của
VTV, đặc biệt là VTV1 (kể cả những người đọc tin thời sự, vốn không
thích gọi mình là phát thanh viên, mà tự xưng là biên tập viên).
Khi mở chương trình tin tức của
một kênh truyền hình nước ngoài, chỉ thấy người đọc tin đọc rất khẩn
trương. Nhìn chữ mà đọc. Hết phần tin thì sang tiết mục khác. Đến phần
bình luận thời sự thì người đọc tin không còn trên màn hình nữa. Thay
vào đó là một chuyên gia nghiên cứu thời cuộc (được mời) hoặc một quan
sát viên chính trị (mời hoặc người của đài truyền hình phụ trách chuyên
mục này). Với VTV thì khác. Các chị tự xưng biên tập viên đọc tin nhưng
làm ra vẻ không cần giấy mà đang nói vo (kỳ thực là nhìn chữ trên một
màn hình đặt trước mặt), và để chứng tỏ đang “ứng khẩu”, các chị ấy
thỉnh thoảng giả về ề à hoặc nói lẫn đôi chút. Rồi đang đọc, một chị
bỗng dừng lại “tương tác” với khán giả, ví dụ hỏi: “Các bạn thấy thế
nào? Tôi thì tôi thấy thế này…” (Thú thật, những lúc như vậy, tôi thấy
kển sống lưng!)
Khi bàn về một vấn đề nóng ngoài
xã hội hoặc một vấn đề nhận thức, VTV, cũng như truyền hình các nước, tổ
chức một diễn đàn bàn tròn, mời các chuyên gia, học giả hoặc chính
khách đến để phỏng vấn và bàn bạc. Tuy nhiên, nếu ở nước ngoài, người
dẫn chương trình – thay mặt đài truyền hình – chỉ nêu câu hỏi, và cuối
buổi có thể tóm tắt vài ý (với sự nhất trí của khách mời) để tổng kết,
thì người dẫn chương trình của VTV cũng nêu ý kiến của mình như một
chuyên gia ngang hàng với khách mời, thậm chí nhiều khi thể hiện vai trò
“định hướng”. “Theo tôi thì thế này, còn ông thì thấy thế nào?” – chị
dẫn chương trình hỏi một vị khách. Nếu giỏi vậy, sao không tổ chức để
mấy người trong đài truyền hình bàn với nhau, còn phải mời chuyên gia?
Cái tôi của các anh chị dẫn
chương trình VTV còn chen vào cả những bản tin dự báo thời tiết. “Anh…
ơi, tình hình thời tiết hôm nay thế nào hả anh? Tôi thì tôi thấy rét run
rồi đó.” – người dẫn chương trình hỏi. Và người báo thời tiết hiện ra.
Anh ta không truyền đạt nội dung bản tin thời tiết, mà xuýt xoa kêu
lạnh, đọc những câu như văn tả cảnh trời rét của học trò tiểu học, rồi
tỏ ra thương khán giả bằng lời khuyên: “Tôi khuyên những người ra đường
nên mặc áo dày, đội mũ len…” Nực cười không tưởng tượng được!
Khi xưng hô và thể hiện mình như
vậy, các anh chị này đã hoàn toàn lẫn lộn vai trò và vị thế của mình.
Với tư cách người dẫn chương trình, họ có oai không? Có quan trọng
không? Có. Chắc chắn là có. Nhưng họ oai chính vì cái tôi của họ lùi
xuống bình diện thứ hai, và họ đang đại diện cho cả đài truyền hình để
phổ biến những thông tin có ích đến công chúng hoặc lấy ý kiến của các
chuyên gia. Đưa cái tôi ra trong trường hợp đó, họ sẽ chỉ trở nên nhỏ bé
và vô duyên. Làm sao trong một diễn đàn bàn về một lĩnh vực nhận thức
mang tính khoa học, họ có thể sánh ngang với các chuyên gia trong lĩnh
vực đó được!
Nói như vậy không có nghĩa là coi
người dẫn chương trình của đài truyền hình thuộc loại người thấp kém
hơn các chuyên gia. Không hề! Nếu họ giỏi nghề dẫn chương trình, thì về
mặt đó các chuyên gia về kinh tế, chính trị hay khoa học không sánh được
với họ. Mỗi lĩnh vực hoạt động đều có giá trị riêng của nó. Những người
dẫn chương trình thật sự giỏi có thể được hàng triệu người ngưỡng mộ và
tôn vinh. Nhưng đó luôn là những người tập trung toàn bộ vào công việc.
Khi họ đang dẫn chương trình, cái tôi của họ hoàn toàn bị quên bởi
chính họ. Nhưng người nghe/xem thì không thể không kính phục họ.
Sao lại “đày ải” tiến sĩ, giáo sư làm... sếp
17:54 |Sao lại “đày ải” tiến sĩ, giáo sư làm... sếp
Nguyễn Công Thảo
![]() |
Thay vì dành phần lớn thời gian nghiên cứu, giảng dạy, nhiều người "ngập" trong họp hành thi đua. (Ảnh minh họa)
|
Đây là một trong những biểu hiện của cái gọi là “chảy máu
chất xám” được nhắc đến trong suốt gần 1 thế kỉ qua. Công bằng mà nói,
xu thế này là phổ biến, khó tránh khỏi, đã và đang diễn ra ở hầu hết các
quốc gia thuộc nhóm đang phát triển như Việt Nam.
Tuy nhiên, còn có một xu thế khác đang gia tăng là tình trạng “chảy
máu” ngay trên “sân nhà” khi nhân lực trẻ, chất lượng cao hoặc không có
cơ hội phát huy hết khả năng, hoặc đổ xô làm việc cho các tập đoàn quốc
tế ở trong nước.
Khi tiền đạo “đói bóng”
Từ cuối những năm 1990 đến nay, bằng nhiều nguồn khác nhau, chúng ta
đã gửi hàng nghìn người sang các quốc gia có nền khoa học phát triển để
đào tạo và không ít người trở về làm việc trong các cơ quan nhà nước.
Song từ quan sát cá nhân, tôi đồ rằng những đóng góp của họ vẫn khiêm
tốn hơn nhiều so với tiềm năng, so với yêu cầu, kỳ vọng của xã hội.
Phải chăng chưa có đủ “đất diễn” để những con người này ứng dụng điều
đã học được ở xứ người ngay trên quên hương mình? Nhiều người bạn của
tôi từng phân ưu rằng họ ao ước có đủ nguồn lực để thực hiện các nghiên
cứu theo hướng mới, triển khai những phương pháp cập nhật thay cho lối
tiếp cận trước đây.
Đáng tiếc, những ấp ủ đó vẫn chỉ là dự định, bởi nhiều vấn đề họ đưa
ra lại bị những người có khi chưa một lần ra nước ngoài coi là không phù
hợp, không khả thi. Ngay cá nhân tác giả bài viết này cũng từng bị phê
phán có lối viết, văn phong hay thậm chí cả cách đặt tiêu đề bài viết
sao mà “tây” thế với một sự mỉa mai, định kiến nhất định. Lạ kì nhỉ, đồ
dùng của “tây” thì thích, mà sao văn “tây” lại bài xích?
Phải chăng chúng ta vẫn giữ một cái nhìn “e dè” nào đó đối với những
người tình nguyện trở về nước sau thời gian dài học tập ở nước ngoài? Sự
e dè này dường như cũng nhiều cung bậc. Đó có thể là sự hoài nghi dẫn
đến ngại hợp tác, ngại giao công việc. Đó cũng có thể là một sự giả định
rằng những người đó thừa sức để tự họ đứng vững, tự tìm kiếm nguồn tài
trợ nghiên cứu và vì thế, ngân sách nên ưu tiên cho những đối tượng
khác. Đó cũng có thể là sự “vọng kì” rằng những người đó phải “cống
hiến” thay vì được “tạo điều kiện” để phát huy, chia sẻ tri thức cóp
nhặt từ xứ người.
Có không ít người có trong thời gian học ở nước ngoài, làm nghiên cứu
cùng giáo sư hướng dẫn và các đồng nghiệp khác. Chuyên môn và tinh thần
làm việc của họ được đánh giá cao nhưng sau khi về nước một thời gian,
họ cứ chìm lặng dần vào nhưng lo toan cơm áo đời thường, bởi thu nhập từ
hoạt động chuyên môn may ra chỉ đủ để cho con học bán trú. Họ phải gác
lại những gì học được, xếp vào kí ức những đề án, ý tưởng nghiên cứu táo
bạo để chạy theo sự mưu sinh như biết bao đồng nghiệp khác.
Tiền đạo giỏi trở thành thủ môn
Một sự lãng phí nữa là việc bố trí công tác cho những người có thành
tích học tập tốt từ nước ngoài trở về. Ở nhiều cơ quan, chính sách ưu
đãi cũng được vận dụng nhưng theo cách ít đem lại hiệu quả.
Đó là việc bổ nhiệm họ vào các vị trí quản lí hay bộ phận quản lí như
một “phần thưởng”, như một cách để “chiêu hiền đãi sĩ”. Lập luận đưa ra
là một khi đã là nhà khoa học, ở cương vị nào họ vẫn làm khoa học được.
Điều bị lãng quên là công tác quản lí và nghiên cứu khoa học là 2 lĩnh
vực khác nhau. Một tiến sĩ giỏi chưa chắc có kinh nghiệm, khả năng quản
lí tốt bằng một cử nhân.
Hơn thế nữa, dù có bằng nguồn nào, phải mất nhiều tiền, công sức mới
đào tạo nổi một tiến sĩ khoa học từ các nước phát triển. Thế mà khi họ
trở về, thay vì dành phần lớn thời gian nghiên cứu, giảng dạy, họ lại
ngập ngụa trong việc bàn giấy, hội họp thi đua, tổ chức.
Khá khôi hài là ngày càng có nhiều chức danh quản lí yêu cầu trình độ
học vấn, chí ít cũng phải là thạc sĩ và không ít phải là tiến sĩ. Tôi
cứ tự hỏi rằng có cần phải lãng phí đến thế không khi “đày ải” bao tiến
sĩ, giáo sư với trách nhiệm quản lí ở những bộ phận không liên quan gì
đến chuyên môn họ đào tạo. Trong khi đó nhiều trường đại học vẫn thiếu
giảng viên có trình độ tiến sĩ, đến độ việc phải khai không đội ngũ giáo
viên ở không ít trường như báo chí từng phản ánh?
Chiếc ghế hay phòng thí nghiệm?
Thay đổi bất cứ điều gì cũng khó và khó nhất có lẽ là thay đổi tư
duy. Nhưng cũng cần phải nhìn nhận rằng khó có được thành tựu nhanh
chóng, đột biến, hiệu quả nào nếu ta cữ mãi đi trên những lối mòn tiền
nhân để lại. Một đội bóng đặt kì vọng ghi bàn trên hết vào tiền đạo. Một
nền khoa học muốn phát triển trong bối cảnh hiện nay cần có những đầu
tư đặc biệt, chính sách đặc thù cho đội ngũ khoa học nòng cốt.
Chính sách đó cần khiến phòng thí nghiệm, trường học, thư viện phải
“hấp dẫn” họ hơn so với việc ngồi vào một chiếc ghế nào đó, chiếc ghế mà
nếu có ngồi, họ cũng chỉ là vật trang trí, không hơn, không kém.
Nếu chưa đủ nguồn lực, thiết nghĩ thay vì cử hàng nghìn cán bộ đi du
học, hãy tập trung đào tạo phân nửa rồi dùng số tiền dư ra lập quỹ
nghiên cứu, để khi họ trở về, có điều kiện thi triển những gì đã học
được? Có ích gì khi cử người đi học về tự động hóa rồi lúc trở về lại
chỉ giao cho họ điều khiển đàn trâu, lầm lũi trên những cánh đồng của
hàng vạn thửa ruộng mún manh?
Theo Nguyễn Công Thảo
Tuần Việt Nam

