Home » Luân Lý Sinh Học
CÓ CON HAY KHÔNG CON DƯỚI CÁI NHÌN CỦA NIỀM TIN VÀ ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI
18:43 |
CÓ CON HAY KHÔNG CON DƯỚI CÁI NHÌN CỦA NIỀM TIN VÀ ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI
Câu
hỏi mà đa số những người lớn tuổi thuộc các thế hệ cha ông vẫn thường
hỏi nhau, đó là: “Anh, chị được bao nhiêu cháu” - có ý ám chỉ anh chị có
mấy con. Và luôn kèm theo một câu: “Đông con nhiều cháu là phúc lộc
trời ban”. Theo quan niệm Nho Giáo, thì “không con nối dõi tông đường”
còn bị coi là một trong tam đại bất hiếu. Từ quan niệm ấy, miệng đời
thường đàm tiếu, dè bửu người không con: “Cây khô không lộc. Người độc
không con!” Nhưng triết lý sống xưa ấy ngày nay xem như không phản ảnh
được những giá trị tích cực về vấn đề con cháu. Nó cũng không chứng minh
được rằng phúc lộc mà cha mẹ có là do sinh được nhiều con, có được
nhiều cháu.
Đạo đức xã hội:
Thế
giới hôm nay, theo quan niệm và lối sống tiểu gia đình thì gia đình nào
có 2 con đã được cho là “nhiều” con. Ít thấy cặp vợ chồng trẻ nào có 4
hoặc 5 con. Vấn đề ít con, không con không chỉ do chính sách của những
chế độ độc tài, cộng sản như tại Nga trước đây, tại Trung Hoa và Việt
Nam, hoặc do hạn chế sinh sản tự do tại các nước tiên tiến tư bản như
Nhật, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, và cả Hoa Kỳ …
Hiện
tượng ít con còn bị ảnh hưởng do trào lưu ngừa thai, phá thai, kết hôn
trễ, và sinh con trễ. Tuy nhiên, phần đông con người ngày nay do bị ảnh
hưởng nếp sống cá nhân chủ nghĩa, người ta viện dẫn nhiều lý do để giới
hạn việc sinh con, hoặc không muốn sinh con. Thí dụ, lý do thể lý, lý do
tâm lý, lý do công ăn việc làm, lý do giáo dục, nhưng nhất là lý do tài
chính. Tóm lại, đông con, nhiều cháu ngày nay không còn là một phúc lộc
nữa. Như vậy, cái mà người xưa gọi là héo tàn đối với những cha mẹ vì
một lý do nào đó không có con, hoặc không thể có con cũng chưa chắc đã
là một sự thua thiệt theo quan niệm và lối sống của số đông con người
thời đại.
Tuy
không phải là nhiều, không phải là tất cả, nhưng thực tế đã cho thấy có
những cha mẹ có con như không có con, và trong một số trường hợp còn
tồi tệ, còn đau khổ hơn không có con, vì những người con ấy đã không
sống cuộc sống xứng đáng với danh nghĩa làm người. Hơn nữa, còn gây bao
tang tóc, chết chóc, và đau khổ cho nhiều người. Những người con mà khi
cha mẹ còn sống đã không ngó ngàng, lui tới, thăm hỏi và săn sóc. Những
người còn mà khi cha mẹ qua đi không một cảm xúc, không một lưu luyến,
và không để rơi một giọt nước mắt. Những người con này, từ ngữ thông
thường gọi là bất hiếu. Và những cha mẹ này được cho là những cha mẹ vô
phúc! Thiếu may mắn!
Một
người làm cha mẹ, ngoài việc mang nặng, đẻ đau, bú mớm, và nuôi nấng,
dậy dỗ, còn có bao nhiêu hy sinh, vất vả từ thể xác đến tinh thần dành
cho việc sinh thành, nuôi dưỡng, và giáo dục con cái. Nhưng nếu cũng
chính mắt mình nhìn thấy những đứa con ấy trở thành nghịch tử, bất hiếu,
và trở nên gánh nặng, tội đồ của xã hội thì còn đau đớn nào hơn. Tình
thương, hy sinh, bao vất vả, kể cả hy vọng mà cha mẹ đặt nơi những đứa
con đó chẳng lẽ hóa ra vô ích sao?! Và đó là những cái bất hạnh trong
thiên chức làm cha mẹ.
Tầm nhìn của niềm tin:
Dù
nhiều hay ít, trai hay gái, tâm lý chung của những người bước vào đời
sống hôn nhân, gia đình vẫn thường là mong mình được cái vinh dự, cái
diễm phúc làm cha hoặc làm mẹ. Nếu vì một lý do nào đó họ không được làm
cha, làm mẹ thì tỏ ra buồn phiền, chán nản, than thân, trách phận, oán
trách người phối ngẫu, và đôi khi oán trách cả Thiên Chúa nữa. Một số
trong những con người đau khổ ấy lợi dụng khả năng khoa học để “kiếm”
con qua những phương pháp cấy thai, thụ tinh ống nghiệm… Điều này dễ
hiểu, vì theo tâm lý các phụ nữ, thì một trong các hạnh phúc lớn lao
nhất mà họ mong có, và khao khát chiếm hữu là được vinh dự làm mẹ. Nếu
niềm vui và vinh dự của người làm mẹ, làm cha càng lớn lao, thì ngược
lại, những ai không được diễm phúc này lại cho đó là một hình phạt cực
kỳ lớn lao, và đau khổ.
Nhưng
nếu chỉ nhìn vấn đề bằng đôi mắt hoàn toàn thực tế và hoàn toàn xã hội,
thì việc có con hay không có con không chỉ đơn thuần là vinh dự làm cha
hay làm mẹ. Vinh dự này còn kéo theo hàng trăm, ngàn những trách nhiệm
và hy sinh. Vì vậy mới có những so sánh giữa người mẹ hiền đức với người
mẹ độc ác, hư hỏng. Giữa người cha có trách nhiệm với người cha vô
trách nhiệm. Giữa người con hiếu thảo với đứa con bất hiếu. Giữa người
con làm thơm lây dòng họ, và đứa con làm cho cả dòng họ bị tủi hổ. Do
đó, chỉ khi bước qua một nhãn giới khác, nhãn giới niềm tin, lúc đó ta
mới thấy hiện ra một chân lý hoàn toàn trái ngược, nhưng lại đúng cho
mọi tâm hồn thiện chí, cho những người cha, người mẹ có trái tim “cha
mẹ”. Đó là câu nói ngắn ngủi được tác giả Thánh Kinh ghi lại:
“Người son sẻ thì sinh năm, đẻ bẩy.
Kẻ nhiều con nay phải héo tàn!”
(1 Sm 2,5)
“Người
son sẻ thì sinh năm, đẻ bẩy”, và “kẻ nhiều con nay phải héo tàn”! Đây
không chỉ là một hy vọng hay sự chấp nhận số mệnh của một phụ nữ mà ngày
qua ngày nhìn mình già đi, và mất dần khả năng sinh sản. Nhưng những
lời này chính là những lời tiên tri mở ra một hy vọng lớn lao, một chân
trời mới về dòng giống của những người cha mẹ với sự thật bên ngoài là
son sẻ, hoặc không có khả năng sinh sản theo tự nhiên.
Hình
ảnh những cha mẹ son sẻ này đã được nhìn thấy qua lời hứa của Giavê
Thiên Chúa với Tổ Phụ Apraham khi Ngài hứa ban cho ông được làm cha một
dòng dõi “đông như sao trời, nhiều như cát biển” (Do Thái 11:12) mặc dù
lúc đó ông đã già và vợ ông cũng đã mất khả năng sinh sản. Và đó là hình
ảnh của một thiên chức làm cha mẹ trong đức tin. Những người sinh sản
con dưới ánh sáng tâm linh.
Dòng
dõi của những cha mẹ son sẻ sau này được Chúa Giêsu bóng gió tiết lộ
bằng hình ảnh so sánh giữa những người mà bề ngoài xem như không thể
sinh con được: “Quả vậy, có những người là hoạn nhân từ trong lòng mẹ
sinh ra đã như thế; có những người là hoạn nhân do con người; và có
những người là hoạn nhân do họ tự ý sống như thế vì Nước Trời. Ai hiểu
được thì hiểu” (Mt 19:12). Chân lý cao thâm của thực tế son sẻ này,
không chỉ nói riêng về thành phần tận hiến, mà cho cả mọi người với ý
muốn tận hiến theo quan phòng của Thiên Chúa: “Phàm ai bỏ nhà cửa, anh
em, chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất, vì danh Thầy, thì sẽ được gấp
bội, và còn được sự sống đời đời làm gia nghiệp” (Mt 19:29).
“Ai
hiểu được thì hiểu”. Hiểu được bí mật này cũng chính là một hồng ân mà
Thiên Chúa ban cho những ai Ngài muốn mạc khải cho, cũng như cho những
người muốn hiểu để đi theo con đường mà Ngài đã chọn lựa, đã an bài cho
họ.
Thật
vậy, từ bỏ quyền được làm cha mẹ vì Chúa, từ bỏ “con cái” vì Chúa, cũng
như vâng phục ý Chúa do sự son sẻ của mình mang cùng một ý nghĩa, đó là
“xin cho ý Cha được thể hiện” (Mt 26:42), là làm trọn thánh ý của Ngài.
Và phải chăng đây cũng là mục đích chính của cuộc đời con người trên
dương thế. Dù làm cha mẹ thể xác hay làm cha mẹ tinh thần thì cũng chỉ
là làm cha mẹ theo ý Chúa. Thánh Phaolô khi suy về những ơn Chúa ban,
Ngài đã nhận ra điều này: “Tất cả đều là hồng ân”. Hồng ân có con và
hồng ân không con. Hồng ân có con thể xác và hồng ân có con tinh thần.
Tuy
nhiên, qua ánh sáng Lời Chúa còn giúp ta khám phá ra điều này nữa, là
chúng ta tất cả đều là những cha mẹ, là những người được chia sẻ quyền
sáng tạo của Thiên Chúa. Bởi vì “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Gio 4:8), mà
tình yêu thì luôn luôn thông ban, luôn luôn phát sinh sự sống. Từ ánh
sáng ấy, ta nhìn ra một chân lý thực tế là có người làm cha mẹ “thể
xác”, và có người làm cha mẹ “tinh thần”. Sức sống thể xác và sức sống
tinh thần mà người cha mẹ ban ra sẽ đem lại cho họ những người con thể
xác hoặc những người con tinh thần. Nhưng nếu căn cứ vào lời tiên tri
của người mẹ đau khổ trên: “Người son sẻ thì sinh năm, đẻ bẩy. Kẻ nhiều
con nay phải héo tàn!” thì rõ ràng người làm cha mẹ tinh thần được chúc
phúc hơn người làm cha mẹ phần xác. Từ “sinh năm đẻ bẩy và héo tàn” cho
thấy một lối nhìn so sánh mà phần hơn thuộc về người son sẻ.
Trở
lên là tầm nhìn của niềm tin, một niềm tin đưa ta vào ý định nhiệm mầu
của Thiên Chúa, và để ta nhận ra rằng Ngài luôn luôn yêu thương và mưu
tìm những gì tốt nhất cho ta, với mục đích duy nhất là để ta nhìn và
khám phá ra tình yêu của Ngài, để ta yêu mến Ngài, và để ta thông ban,
chia sẻ tình yêu ấy cho những người mà Ngài gửi đến cho ta trong cuộc
đời này. Và đó cũng là dòng dõi của những người con tinh thần được sinh
ra bằng lời kinh nguyện, bằng hy sinh, và bằng những hành động bác ái từ
tâm.
Mặc
dù không thấy những người con thiêng liêng, nhưng với niềm tin ai trong
chúng ta cũng cảm nhận điều này, những kinh nguyện ta dâng lên Thiên
Chúa, những hy sinh ta chấp nhận, những việc làm bác ái của ta chắc chắn
sẽ nẩy sinh những hoa trái thiêng liêng là các linh hồn. Têrêsa chỉ với
24 tuổi đời và 9 năm giam mình trong bốn bức tường kín của đan viện
nhưng đã được tôn vinh là “bổn mạng các xứ truyền giáo”. Điều này có
nghĩa là dòng dõi thiêng liêng của người nữ tu khiêm nhường, ẩn dật, và
nhỏ bé này rất đông đúc.
Kết luận:
Tóm
lại, son sẻ, không con chưa chắc đã là một thua thiệt, và mất mát. Dưới
cái nhìn tâm linh, và trong âm thầm những người này vẫn có thể là cha
mẹ của một dòng dõi đông đảo con cái thiêng liêng bằng chính đời sống
kinh nguyện, hy sinh; bằng những việc làm bác ái, và bằng tấm lòng yêu
mến lớn lao. Họ chính là những người “son sẻ”, nhưng lại “sinh năm đẻ
bẩy”.
Trần Mỹ Duyệt
Phá Thai: Tội Và Hình Phạt
17:59 |Phá Thai: Tội Và Hình Phạt
1. Thực trạng
Phá
thai là một hành động vô luân huỷ hoại sự sống. Việt nam là một 5 nước
đứng đầu trên thế giới về số lượng ca nạo phá thai. Con số trung bình
lên đến 300.000 ca mỗi năm[1].
Đó là chưa kể đến các ca nạo phá thai ở các cơ sở tư nhân, phá thai
chui và phá thai trá hình không được thống kê. Tội ác này không những
không bị chính quyền ngăn cấm mà còn được cỗ vũ, khuyến khích dưới nhiều
hình thức khác nhau. Và thậm chí còn được xem là quyền của mỗi người.
Bên cạnh đó, các phương tiện y khoa ngày càng tinh vi hiện đại giúp việc
thực thi tội ác này ngày càng dễ dàng hơn. Chỉ cần gõ chữ ‘phá thai’
trên Google, ta sẽ nhận được cả hàng trăm trang quảng cáo dịch vụ phá
thai. Không những trên các website mà ở trong các thành phố ta vẫn thấy
nhan nhãn những biển quảng cáo cho dịch vụ này.[2]
Người Công giáo Việt Nam ngày nay đang phải sống trong xã hội với một
thực trạng như vậy, chắc chắn việc phá thai sẽ là một cám dỗ rất lớn.
Chủ đề phá thai được bàn đến trong nhiều lãnh vực của cuộc sống. Nó là
chủ đề liên quan đến Y khoa hay tâm lý, xã hội, chính trị, luật pháp,
luân lý… Ý thức được phạm vi rộng lớn của vấn đề, tôi chỉ xin đề cập nó
(ở mức sơ sài) dưới cái nhìn Kinh Thánh, Giáo Luật, và Giáo Huấn của Hội
Thánh về tội và hình phạt dành cho người Công giáo khi phạm đến tội ác
này.
2. Thánh Kinh nói gì?
Ngay
từ những trang đầu, Kinh Thánh Cựu Ước cho thấy chính Thiên Chúa đã
sáng tạo nên con người (St 1, 26-27; Gióp 10, 8-12; 31,15; Tv
139,13-16). Sách Thánh khẳng định, sự sống con người thuộc về Thiên
Chúa và chỉ mình Ngài mới có quyền tối thượng quyết định trên nó (Dnl
32,39). Vì thế, ai đổ máu người vô tội thì mang tội lớn và phải chịu
hình phạt cũng như phải đền bù thoả đáng (St 9,5-7; Xh 21,22-25). Đặc
biệt, Kinh thánh cũng đề cập đến tội lỗi và hình phạt trong việc tắm
máu các trẻ thơ vô tội. “Ngươi đã làm gì vậy? Từ dưới đất, tiếng máu
của em ngươi đang kêu lên Ta! Giờ đây, ngươi bị nguyền rủa bởi chính đất
đã từng há miệng hút lấy máu em ngươi do tay ngươi đổ ra. Ngươi có canh
tác đất đai nó cũng không còn cho ngươi hoa màu của nó nữa. ngươi sẽ
lang thang phiêu bạt trên mặt đất” (St 4,10-12). Đó chính là bản án dành
cho Cain khi ông đã đổ máu người vô tội là Aben, em mình.
Đến
thời Tân Ước, Tin Mừng Luca cho thấy Đức Maria là mẫu gương cho chúng
ta trong việc đón nhận, bảo vệ và nâng đỡ sự sống thai nhi. Hai tiếng
“Xin Vâng” nói lên thái độ vâng phục và đón nhận sự sống của Mẹ từ Thiên
Chúa quan lời Sứ Thần (Lc 1, 26-38). Mẹ viếng thăm, nâng đỡ bà
Elisabeth và thai nhi Gioan khi nghe biết người chị họ này đã mang thai
trong lúc tuổi già (Lc 1,39-45). Tin Mừng thứ ba này còn cho biết không
những Đức Maria mà cả thai nhi Gioan Tẩy Giả cũng hân hoan và nhảy mừng
trong bụng mẹ để đón chào Sự sống (thai nhi Giêsu): “Vì này đây, tai tôi vừa nghe lời em chào thì đứa con trong bụng đã nhảy lên sung sướng”
(Lc 1, 44). Sau hết, Chúa Giêsu cũng đã bảo vệ sự sống. Thái độ yêu
thương của Người dành cho các trẻ nhỏ cho thấy điều đó. Ngài đề cao các
trẻ nhỏ và ví chúng như các thiên thần trên trời được chiêm ngưỡng nhan
Chúa Cha (Mt 18,10).
Ngài hân hoan đón nhận các trẻ nhỏ đến với Ngài và tuyên bố “Nước Thiên Chúa là của những ai giống như chúng”
(Lc 18, 16). Rõ ràng, Kinh thánh Cựu ước và Tân ước tuy không trực tiếp
nói đến phá thai nhưng đều nhìn nhận sự cao trọng của sự sống và đặc
biệt bảo vệ sự sống của thai nhi, những người vô tội yếu đuối. Xúc phạm
đến sự sống vô tội đều phải gánh chịu một hình phạt nhất định.
3. Giáo Luật Và Giáo Huấn của Hội Thánh[3]
Theo bộ giáo luật 1983 điều 1398 quy định: “người nào thi hành việc phá thai có hiệu quả thì bị vạ tuyệt thông tiền kết”. Vạ tuyệt thông tiền kết là gì? Đây là loại hình phạt mang tính tự động (automatic). Hình phạt này tội nhân phải gánh chịu “do tính cách nghiêm trọng của tội ác”[4];
và không cần một tuyên án cụ thể nào của nhà chức trách có thẩm quyền.
Vạ tuyệt thông tiền kết thường được áp dụng cho các tội lớn trong giáo
hội như lạc giáo, bội giáo, ly giáo. Tại sao lại áp dụng án phạt này cho
người có hành vi nạo phá thai? Bởi lẽ, các thai nhi không có khả năng
tự vệ nên tội ác phá thai có tính chất nghiêm trọng. Giết một người
trưởng thành chỉ mang tội trọng trong khi đó giết thai nhi không những
mang tội trọng mà còn bị vạ tuyệt thông tiền kết. Huấn quyền đã lặp đi
lặp lại và dạy một cách xác tín rằng phá thai luôn là trọng tội và vô
luân nghiêm trọng[5].
Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng khẳng định: “Vì vậy, với quyền bính
được Chúa Kitô trao cho Phêrô và những người kế vị, trong sự hiệp thông
với tất cả giám mục của Giáo Hội Công Giáo, tôi xác nhận rằng việc trực
tiếp và cố ý giết một người vô tội luôn luôn là điều vô luân nghiêm
trọng. Giáo lý này căn cứ vào luật bất thành văn mà mọi người nhận thấy
trong thâm tâm của mình dưới ánh sáng của lý trí (x. Rm 2, 14-15), được
Thánh Kinh khẳng định và Truyền Thống Giáo Hội lưu truyền và được Huấn
Quyền thông thường và phổ quát giảng dạy”[6].
Nếu một người Công Giáo nạo phá thai, hành động và xác tín của họ đi
ngược với Giáo Huấn của Giáo Hội. Một mặt, họ thực hiện hành vi phá thai
hiệu quả và chịu hình phạt theo quy định điều luật 1398. Mặt khác, họ
có quan điểm trái ngược với Giáo Huấn của Giáo Hội khi cho rằng phá thai
là không vô luân, chấp nhận được hay cho rằng đó là quyền của con
người. Điều này khiến họ bị liệt vào hạng người lạc giáo. Theo điều 751:
“Lạc giáo là ngoan cố chối bỏ hoặc ngoan cố hồ nghi về một chân lý phải
tin với Đức tin Thần Khởi và Công giáo sau khi đã lãnh nhận Bí Tích Rửa
Tội; bội giáo là chối bỏ đức tin Kitô giáo; ly giáo là từ chối vâng
phục Đức Giáo hoàng hoặc từ chối hiệp thông với các chi thể của Giáo Hội
thuộc quyền ngài.”. Các tội này chịu hình phạt vạ tuyệt thông tiền kết theo
điều 1364§1 “Người bội giáo, lạc giáo hay ly giáo đều bị vạ tuyệt thông
tiền kết.” Như thế, bất kỳ người Công giáo nào dù chưa phá thai hiệu
quả mà cố ý cho rằng phá thai thì không vô luân đều mang tội lạc giáo và
phải gánh chịu vạ tuyệt thông tiền kết.
Đối
với những người Công giáo cộng tác vào việc phá thai thì sao? Theo luật
dân sự, nếu một người phạm tội, người nào cung cấp các phương tiện vật
chất hay tinh thần một cách chủ ý và có hiểu biết cho phạm nhân thì được
gọi là kẻ đồng phạm và phải chịu những hình phạt của luật. Tương tự,
bất kỳ người Công giáo nào cung cấp phương tiện vật chất hay tinh thần
một cách chủ ý và có ý thức cho một người phụ nữ để thực hiện việc phá
thai thì phạm tội trọng và mang vạ tuyệt thông tiền kết[7].
Việc
cỗ vũ cho việc phá thai thuộc vào tội đồng loã. Những ai cỗ vũ cho việc
phá thai như tuyên truyền, phát thuốc, quảng cáo, phim ảnh, ủng hộ luật
phá thai hợp pháp… thì cũng đều mang tội trọng và lãnh án vạ tuyệt
thông tiền kết. Một chính trị gia công giáo tham gia vào việc soạn thảo
luật cho phép phá thai hay lên tiếng giữa dân chúng rằng mình ủng hộ
chính sách phá thai thì cũng chịu cùng một tội và vạ trên. Khi một người
bỏ phiếu tín nhiệm một quan chức ủng hộ phá thai người ấy được kể là kẻ
đồng phạm. Tội trọng và án vạ tuyệt thông này đương nhiên cũng áp dụng
cho những người công giáo cho mình là ‘thần học gia’ hay học giả Thánh
Kinh, nhưng lại tin và dạy rằng phá thai không là vô luân nghiêm trọng.
4. Việc giải thích và áp dụng các điều Luật liên quan
Việc
giải thích các điều luật về tội phạm trong Giáo Hội thường phải theo
nghĩa hẹp. Không nên giải thích theo nghĩa rộng để đi đến kết án nhiều
người. Các nhà chức trách có thẩm quyền được khuyên không nên vội tuyên
án và sửa dạy bằng những hình phạt vạ tuyệt thông, nhất là những hình
phạt liên quan đến việc ngăn cấm lãnh nhận bí tích. Ngoài ra, nên nhớ
rằng một người tuy đang bị hình phạt vạ tuyệt thông do phạm tội ác này
cách công khai nhưng họ vẫn là Kitô hữu. Vì thế, việc một số linh mục
hay Hội Đồng Mục vụ ngăn cấm họ tham dự các buổi cử hành phụng vụ hay
các hoạt động khác trong cộng đoàn nên cần phải xem lại. Vạ tuyệt thông
chỉ nên dừng lại ở những ngăn cấm lãnh nhận các Bí tích và một số quyền
lợi của kitô hữu. Mặt khác, trong thực tế, ta không thể ngay lập tức
khẳng định rằng một người nào đó phá thai hoặc cộng tác vào việc đó là
bị vạ tuyệt thông tiền kết[8].
Không phải tất cả mọi người đều mang tội và vạ như nhau khi thực hiện
hành vi phá thai. Một người đi đến quyết định phá thai thường là do
nhiều lý do khác nhau. Nếu họ thuộc vào trường hợp được quy định ở điều
1323 thì tội và vạ được giảm nhẹ hoặc không bị một hình phạt nào. Ví dụ,
người chưa đủ 16 tuổi, người không biết đến quy định của luật, người
hành động dưới áp lực của người khác (do sợ hãi, do tự vệ, người không
sử dụng được trí khôn…) khi đó họ hành động thiếu sự hiểu biết, thiếu tự
do và ý muốn, nên không phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Tuy
nhiên, không phải vì thế mà ta nới lỏng và dung túng cho tội ác. Một
cách lý tưởng là mọi hình thức phá thai phải được cấm triệt để.
5. Giải vạ tuyệt thông
Yếu
tố điều kiện và hoàn cảnh có thể làm giảm nhẹ hoặc chấm dứt tội và hình
phạt (vạ) cho một người thực hiện hoặc cộng tác vào việc phá thai.
Nhưng một người có lương tâm nhạy cảm sẽ cho rằng hành động của mình đã
phạm tội trọng và vạ tuyệt thông. Nên biết rằng, vạ tuyệt thông không
phải là hình phạt đời đời mà Giáo Hội dành cho các phạm nhân. Nếu ai đó
thấy mình đã bị vạ tuyệt thông tiền kết vì liên quan đến phá thai, họ
nên đến toà giải tội để xưng thú điều mình đã phạm để được tha tội và
vạ. Ở toà trong, Đức Giám mục có thể tha vạ do tội phá thai gây ra. Chỉ
Đức Giám mục mới có quyền tha vạ này. Thường thường, ở nhiều nơi, Đức
Giám mục trao quyền tha vạ này cho các linh mục giải tội. Và chỉ những
ai được uỷ quyền mới có năng quyền tha vạ tuyệt thông này.
Trong trường hợp tội phạm công khai cũng cần được Đức Giám mục giải vạ.
Tuy nhiên, nếu người vi phạm cách kín đáo hay công khai là một ứng sinh
linh mục thì điều này sẽ gây ngăn trở cho việc truyền chức của người đó
về sau[9].
Trường hợp này, việc giải vạ chỉ dành riêng cho Toà Thánh. Vì sao? Có
lẽ một mặt do tính chất nghiêm trọng của tội ác; mặt khác, do tính chất
cao trọng của chức vụ tư tế thừa tác, và những đòi hỏi phải có của một
ứng sinh linh mục[10], toà thánh đã chỉ dành quyền giải vạ này cho mình.
6. Kết luận
Phá
thai là một vấn đề nghiêm trọng đối với thời đại chúng ta. Giáo Hội
luôn đứng về phía những người phò sự sống để chống lại phá thai và bảo
vệ con cái mình khỏi dính vào loại tội ác mang tính diệt chủng này. Chủ
đề này không chỉ được đề cập đến trong giáo luật, song trong nhiều lĩnh
vực giáo huấn khác nhau của Giáo Hội như các Công Đồng, Giáo Lý Hội
Thánh, Giáo Huấn của các Đức Giáo hoàng qua các triều đại, các giám mục,
và các thần học gia. Quan điểm và lập trường của Giáo Hội về vấn đề phá
thai sẽ không bao giờ thay đổi vì bảo vệ sự sống như là căn tính của
Giáo hội. Là người Công giáo, ta luôn ý thức được sự vô luân nghiêm
trọng của tội ác phá thai. Đồng thời, tích cực góp phần vào việc dựng
xây nền Văn Hóa Sự Sống, để đẩy lui Văn minh chết chóc[11]. Bên
cạnh đó, cần cỗ vũ việc giáo huấn cho giới trẻ đang trưởng thành có một
lối sống lành mạnh. Giúp họ đào tạo lương tâm trưởng thành và có trách
nhiệm trong các tương quan phái tính. Và quan trọng nhất là gây ý thức
quý trọng và bảo vệ sự sống cùng can đảm tránh xa sự dữ, sự ác.
Giuse Tô Văn Toản
[1] Thống kê mới nhất của Thạc sĩ – Bác sỹ Lê Quang Thanh, Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ công bố tại hội thảo “Ngừa thai hormone – Hiểu biết nhu cầu và lựa chọn của phụ nữ”
tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh cho biết với trung bình mỗi năm có
khoảng 300.000 ca nạo hút thai ở độ tuổi 15-19, trong đó 60-70% là học
sinh, sinh viên; Việt Nam vẫn là nước có tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi vị
thành niên cao nhất Đông Nam Á và xếp thứ năm thế giới.
[2]
Trên website baomơi.com đưa tin: hàng loạt biển quảng cáo dịch vụ nạo –
hút thai cở lớn tập trung ở khu vực đường Giải Phóng, đường Phùng Hưng –
Hà Đông thành phố Hà Nội. (nguồn:
http://www.baomoi.com/Ha-Noi-Nhan-nhan-dich-vu-nao-hut-thai/82/9721224.epi)
[3] xem Ronald L. Conte Jr, “abortion and excommunication”, www.http://www.catholicplanet.com đăng ngày 20/05/2004.
[4] GLHTCG số 2272
[5] GLHTCG 2270-2275.
[6] Thông điệp (Humanae Vitae) Đời Sống Con Người số 57.
[7] Giáo Luật 1983 điều 1329§2
[8] Xem Catholics and abortion, Notes on Canon Law No.1, đăng trên website: http://cath4choice.org
[9] Xem điều luật 1041 số 4
[10]
Xem điều luật 1029: ứng sinh linh mục cần có đức tin tinh tuyền, ý
hướng ngay lành, kiến thức cần thiết, danh thơm tiếng tốt, đức hạnh vẹn
toàn, nhân đức vững vàng và các đức tình khác về thể lý cũng như tâm lý
phù hợp với chức thánh sẽ lãnh nhận.
Bảo Vệ Phôi Người: Ủy Ban HĐGM Châu Âu và Đức Cha D’ Ornellas Chào Mừng Quyết Định Của Tòa Án Châu Âu
17:57 |BẢO VỆ PHÔI NGƯỜI: ỦY BAN HĐGM CHÂU ÂU VÀ ĐỨC CHA D’ORNELLAS CHÀO MỪNG QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN CHÂU ÂU
Đó
là một giai đoạn quan trọng của việc bảo vệ sự sống con người trong
pháp chế của Liên Hiệp Châu Âu. Bằng những lời này, Ủy ban của các HĐGM
Châu Âu đã chào mừng phán quyết của Tòa án Châu Âu (CEJ), đã quyết định,
hôm 18/10/2011, qua một phán quyết sơ bộ, rằng những cách thức nghiên
cứu có tính phá hủy các phôi người đều không được cấp phép. Trong một
thông cáo, Ủy ban các HĐGM Châu Âu nói rõ rằng Tòa án Châu Âu, với phán
quyết này, đã mang lại một định nghĩa rộng rãi và vững chắc khoa học về
thế nào là phôi người. Đức cha Pierre d’Ornellas, Tổng giám mục Rennes
và là chủ tịch của nhóm làm việc về đạo đức sinh học của HĐGM Pháp, cũng
chào mừng phán quyết này, một phán quyết ưu tiên cho việc tôn trọng
phẩm giá con người. Theo ngài, Tòa Án Châu Âu đã thiết lập một mối tương
quan trực tiếp và nội tại giữa phẩm giá con người và phôi người, một
phẩm giá gắn liền với phôi người ngay từ giây phút thụ thai…
Xem thêm…
Đó
là một giai đoạn quan trọng của việc bảo vệ sự sống con người trong
pháp chế của Liên Hiệp Châu Âu. Bằng những lời này, Ủy ban của các HĐGM
Châu Âu đã chào mừng phán quyết của Tòa án Châu Âu (CEJ), đã quyết định,
hôm 18/10/2011, qua một phán quyết sơ bộ, rằng những cách thức nghiên
cứu có tính phá hủy các phôi người đều không được cấp phép. Trong một
thông cáo, Ủy ban các HĐGM Châu Âu nói rõ rằng Tòa án Châu Âu, với phán
quyết này, đã mang lại một định nghĩa rộng rãi và vững chắc khoa học về
thế nào là phôi người. Đức cha Pierre d’Ornellas, Tổng giám mục Rennes
và là chủ tịch của nhóm làm việc về đạo đức sinh học của HĐGM Pháp, cũng
chào mừng phán quyết này, một phán quyết ưu tiên cho việc tôn trọng
phẩm giá con người. Theo ngài, Tòa Án Châu Âu đã thiết lập một mối tương
quan trực tiếp và nội tại giữa phẩm giá con người và phôi người, một
phẩm giá gắn liền với phôi người ngay từ giây phút thụ thai…
Tý Linh
Tính Luân Lý Của Việc Tạo Sinh (tiếp theo…) - Một Số Vấn Nạn
17:51 | Tính Luân Lý Của Việc Tạo Sinh (tiếp theo…)
Chương III: Một Số Vấn Nạn
Thật
khó mà xác định sự sống của bào thai khởi đầu từ lúc nào. Xưa nay, khoa
học và tôn giáo vẫn có những tranh luận về vấn đề này. Tuy nhiên, có
một sự không hoàn toàn giống nhau về quan niệm giữa khoa học và tôn
giáo. Các nhà khoa học thì quan tâm tới nguồn gốc của sự sống nơi thai
nhi; còn tôn giáo thì lại quan tâm nguồn gốc của sự sống ấy. Hai từ khởi
đầu và nguồn gốc thực ra có ý nghĩa không hoàn toàn đồng nhất. Nếu dùng
từ “khởi đầu” (commencement) thì sẽ đặt câu hỏi: Khi nào sự sống bắt
đầu hình thành trong thai nhi; còn nếu dùng từ “nguồn gốc” (orgine) thì
sẽ đặt câu hỏi về nguồn cội, sự sống phát sinh từ đâu.
Xem thêm…
Chương III: Một Số Vấn Nạn
I. Bào Thai Ðã Là Sự Sống Con Người Chưa?
Thật
khó mà xác định sự sống của bào thai khởi đầu từ lúc nào. Xưa nay, khoa
học và tôn giáo vẫn có những tranh luận về vấn đề này. Tuy nhiên, có
một sự không hoàn toàn giống nhau về quan niệm giữa khoa học và tôn
giáo. Các nhà khoa học thì quan tâm tới nguồn gốc của sự sống nơi thai
nhi; còn tôn giáo thì lại quan tâm nguồn gốc của sự sống ấy. Hai từ khởi
đầu và nguồn gốc thực ra có ý nghĩa không hoàn toàn đồng nhất. Nếu dùng
từ “khởi đầu” (commencement) thì sẽ đặt câu hỏi: Khi nào sự sống bắt
đầu hình thành trong thai nhi; còn nếu dùng từ “nguồn gốc” (orgine) thì
sẽ đặt câu hỏi về nguồn cội, sự sống phát sinh từ đâu.
Do
đó, ở đây chúng ta sẽ tìm hiểu về vấn đề “phôi thai hay bào thai đã là
sự sống con người chưa?” dựa trên khám phá của khoa học, cách riêng là
của ngành sinh – y học, thứ đến là xem một số quan điểm của các thần học
gia và các học giả, và sau cùng là tiếng nói của Giáo Hội Công Giáo.
1. Những khám phá của ngành sinh – y học
Giới
khoa học gia cũng không thể xác định chính xác sự sống bắt đầu khi noãn
thụ tinh, hay vào tuần thứ 7, thứ 14, thứ 20, thứ 24 sau khi noãn thụ
tinh? Những con số đó do các nhà khoa học đề ra. Tất cả lệ thuộc các
tiêu chí đề ra để định nghĩa sự sống. Tuy nhiên, những khám mới sau đây
của ngành sinh – y học sẽ cho ta một cái nhìn về sự khởi đầu của sự sống
như thế nào.
a. Tiến trình phát triển Mầm Phôi (Pre-embryo)
Tinh
trùng cần phải ở trong đường sinh sản của phụ nữ khoảng 7 giờ đồng hồ
trước khi chúng sẵn sàng đâm xuyên qua các làn vỏ của trứng.
Sự
thụ tinh thường xảy ra ở cuối ống dẫn trứng (fallopian tube) sát bên
buồng trứng. Tinh trùng thường phải tiếp xúc với trứng trong vòng mười
giờ, vì nếu không xảy ra sự thụ tinh trong vòng hai mươi bốn giờ, thì
tinh trùng sẽ chết. Tuy nhiên, thụ tinh không chỉ đơn giản là việc tinh
trùng chọc thủng vỏ của trứng. Hơn thế nữa, nó là một tiến trình sinh
hoá phức tạp, mà qua đó, một tinh trùng chọc thủng dần dần các lớp vỏ
khác nhau của trứng. Chỉ sau khi tinh trùng đơn độc này đã chọc thủng
hoàn toàn trứng và nhân thể đơn bội cái (Haploid female nucleus) chỉ có
một cặp nhiễm sắc thể đã phát triển, làm cho bào tương (cytoplasm) của
trứng và các dung lượng nhân (Nuclear contents) của tinh trùng mới hoàn
toàn hoà lẫn với nhau cho ra một thực thể với nhiễm sắc thể lưỡng bội
(Diploid set of chromosome).
Tiến
trình này được gọi là sự hợp-giao. Phải mất khoảng hai mươi bốn giờ để
hoàn tất và cho ra đời một thực thể (Entity) gọi là hợp tử (Zygote –
trứng thụ tinh). Vì thế, tiến trình này (điều quan trọng chúng ta cần
phải ghi nhận: đây là một tiến trình) nói chung phải mất khoảng 12-24
giờ để hoàn tất và phải mất thêm 24 giờ khác nữa để nhân của hai thể đơn
bội có thể hoà lẫn vào nhau.
Sự thụ tinh hoàn tất với 4 giai đoạn chính:
1/ Cho ra đời một thực thể đầy đủ 46 nhiễm sắc thể
2/ Xác định nhiễm sắc thể giới tính (sex chromosome)
3/ Thiết lập khả năng biến dị di truyền (genetic variability)
4/ Khởi sự tiến trình phân chia (cleavage), phân chia tế bào của thực thể.
Sau
khi tinh trùng đã chọc thủng các lớp vỏ khác nhau của trứng thì bước kế
tiếp là khởi sự tiến trình phân chia tế bào, trứng đã thụ tinh bắt đầu
cuộc hành trình của mình đi từ ống dẫn trứng xuống tử cung. Khoảng 30
giờ sau khi thụ tinh, tế bào sẽ phân làm đôi, khoảng 40 – 50 giờ thì tế
bào sẽ phân làm bốn, và khoảng 60 giờ sau thì tế bào sẽ phân làm tám.
Khi phôi thai tiến vào tử cung thì có 12-16 tế bào ở giai đoạn phôi dâu
(Morula). Các phôi dâu này xuất hiện vào ngày thứ tư. Xung quanh các
ngày thứ sáu và thứ bảy, phôi bào (blatocyst) sẽ tiến tới vách tử cung
(uterine wall) và bắt đầu tiến trình làm tổ (implantation) ở đó, nhờ thế
nó có thể tiếp tục phát triển.
Tiến
trình làm tổ này sẽ hoàn tất vào cuối tuần thứ hai. Có một yếu tố quan
trọng mà chúng ta cần biết, đó là từ tình trạng phôi bào đến khi tiến
trình làm tổ hoàn tất, mầm phôi vẫn có khả năng phân chia thành các thực
thể đa phần (multiple entities) (điều này giải thích tại sao có hiện
tượng sinh đôi). Chúng ta cũng cần ghi nhận rằng: trong các nhiễm sắc
thể của nó, trứng đã thụ tinh không nắm giữ đầy đủ thông tin di truyền
cần thiết để có thể phát triển thành một phôi thai – tiền thân của một
thực thể nhân loại cá biệt. Ở giai đoạn này, hợp tử không tự tích lũy,
cũng không tự cung cấp được gì cho sự phát triển lâu dài của nó. Ðể trở
thành một phôi thai người, điều cốt thiết hơn cả là phải bổ sung thông
tin di truyền vào những gì mà hợp tử yêu cầu.
b. Tiến trình phát triển Phôi Thai (Embryo)
Giai
đoạn phát triển chính yếu kế tiếp là giai đoạn phát triển phôi thai.
Giai đoạn này bắt đầu từ tuần thứ ba của thời kỳ thai nghén. Nó khởi sự
với việc hoàn tất tiến trình làm tổ của mầm phôi ở vách tử cung và việc
phát triển đa dạng các mô liên kết giữa mầm phôi và vách tử cung. Có hai
công việc chính sẽ xảy ra ở giai đoạn này:
Thứ nhất là việc hoàn tất sự hình thành Phôi Vị (gastrulation) tái sắp xếp cách trật tự và phù hợp các tế bào ở phôi thai.
Thứ
hai là tiến trình hình thành Phôi Thai (embryo-genesis) hay hình thành
sinh thể (human organgenesis), bắt đầu từ tuần thứ ba và hoàn tất vào
cuối tuần thứ tám. Tiến trình này dẫn đến kết quả là sự phát triển toàn
bộ cơ quan nội tại và các cấu trúc chính bên trong và bên ngoài bào
thai.
Từ
lúc này, một đứa bé bắt đầu hiện hữu thật sự và kể từ giai đoạn đó, như
lời giáo sư Jérome Lejeune nói: “Một sinh viên ngành Y mà không biết
phân biệt được một con người với một con khỉ tinh tinh (chimpanzé) sẽ bị
đánh trượt trong kỳ thi…”
Ðược
6, 7 ngày sau khi thụ tinh, thân hình đứa bé đo được 1,5 mm và lúc ấy,
đứa bé đã có đủ khả năng chủ trì vận mệnh của nó, bởi vì, bằng một tín
hiệu hoá học được gởi đi, đứa bé làm ngưng kinh kỳ của mẹ nó, bắt mẹ nó
dành cho nó việc bảo vệ nó.
Cuộn
tròn lại như một băng cát-xét tí hon, những sợi dây vi ti – nhìn thấy
rõ qua làn kính hiển vi – là những phân tử ADN chứa đựng một tổng lượng
thông tin lớn lao. Nhờ một cơ cấu tinh xảo và bí ẩn điều động các tế bào
dần dần trở nên chuyên biệt:
- Toán một: lo cấu tạo hệ thống thần kinh và da.
- Toán hai: phụ trách hệ thống tiêu hoá: gan và lá lách (pancreas).
- Toán ba: bộ xương, quả tim, động mạch, cơ bắp.
Ngày
thứ 17 sau khi thụ thai, đứa bé chỉ mới đó được 2mm, và chưa to bằng
hạt lúa mì, tim đứa bé đã đập và sẽ đập mãi mãi cho đến lúc chết… Mẹ đứa
bé chỉ mới trễ kinh cỡ hai hoặc ba ngày và chưa biết là đứa bé đang
sống trong bụng mẹ. Nhưng qua kính hiển vi hiện đại, các chuyên gia có
thể đoán được hai thuỳ bộ não của đứa bé, dưới một chút là khoang tim,
tuỷ sống, nét tổng quát tay, chân của em…
Khoảng
ngày thứ 26, các tay đứa bé xuất hiện. Khoảng ngày 28, đến phiên hai
chân. Chẵn một tháng, thân mình đứa bé đó được 1 cm, nhưng nó đã lớn gấp
10.000 lần cái trứng thụ tinh đầu tiên. Tim nó đập 65 nhịp/phút và máu
nó, hoàn toàn khác biệt máu mẹ nó, truyền đi khắp cơ thể của nó.
Ðến
tuần thứ tư, đứa bé ở tình trạng chồi nụ, đôi tay nó tiến hoá rất
nhanh. Ðược 5 tuần, lòng bàn tay nó tượng hình và chồi 5 ngón tay nó bắt
đầu nhú ra. Ðược 6 tuần lễ, ngón tay cái của đứa bé đã tự lập, các ngón
khác cũng hình thành rõ rệt.
Khi
hai tay em đúng 7 tuần lễ, thì các ngón tay càng lớn dần lên và cứng
cáp trong những tháng tới. Mỗi ngón tay đã có đường vân mạch lạc, làm
cho không ai trên đời có chỉ tay giống nhau.
Khi
đứa bé được đúng 8 tuần lễ, thì thân hình em dài cỡ 3 cm! Cánh tay và
bàn tay của em đã hình thành rất rõ nét, hai chân và bàn chân em đang
phát triển đâu ra đó. Bộ xương của đứa bé được cấu thành với các tế bào
xương dần dần thay thế sụn. Mẹ em đã tắt kinh được một tháng rưỡi rồi.
Qua ống nghe, bác sĩ có thể đếm được nhịp tim của đứa bé và ông cũng có
thể thực hiện điện tâm đồ cho em (électrocardiogramme).
Như
thế, đúng 10 tuần lễ, người ta có thể thấy được đôi bàn chân nhỏ xíu
của em. Sau này, đến tuần thứ 14, dùng một loại kính lúp tốt, có thể
phát hiện rõ ràng những đường chấm chấm của mạng lưới dấu ở đầu các ngón
chân tí hon của em.
Cũng
ở tuần lễ thứ 10, các mí mắt che cặp mắt em hiện rõ. Các mí mắt này vẫn
còn khép chặt lại cho đến lúc em được sáu tháng tuổi. Hai phần của vòm
miệng vẫn còn dính nhau ở khoảng giữa; phần trên cấu tạo ra giải hố mũi
để thở, còn phần dưới cấu tạo ra cái miệng để nuốt. Cơ quan sinh dục
phía ngoài cũng đã được hoàn tất: buồng trứng và tinh hoàn đã tích chứa
được các noãn và tế bào gốc của tinh dịch. Thế là các thế hệ hậu lai đã
được lập trình sẵn ngay từ lúc này.
Ðược
11 tuần lễ, khi mẹ em ngủ, em cũng ngủ. Nhưng em lại có thể đánh thức
mẹ em dậy! Các tiếng động ồn ào bên ngoài có thể làm cho em giật mình
tỉnh giấc! Em uống nhiều ngụm nước màng ối, nếu như nó ngòn ngọt, nhưng
em không thèm uống nữa nếu em cảm thấy nó có vị đắng. Em mới chỉ đo được
6 cm, vậy mà em đã gần như được hoàn thành một cách mỹ miều!
Ðược
12 tuần lễ, em cân nặng 35 g và cao 10 cm ! Nếu bị cù nhẹ vào trán, em
quay đầu lại và cau mày. Nếu ai đụng nhẹ vào môi em, em có phản xạ mút
và nuốt ngay. Thỉnh thoảng tay em lại đưa tới gần miệng để tìm cách mút.
Em có thể xếp khuỷu tay và cổ tay lại được; hơn thế nữa, em còn có thể
víu lấy một vật bé nhỏ. Vẫn tuổi đời 12 tuần lễ, toàn thân em đã có cảm
giác khi bị ai sờ vào, trừ phía sau lưng và hai bên đầu em (có thể để
phòng khỏi bị đau lúc sinh ra qua cửa mình người mẹ). Em uống nước màng
ối và tiêu hoá các chất dinh dưỡng, nhờ các tuyến nước bọt, và hệ tiêu
hoá. Em thở nhờ dây rốn của mẹ chuyền dưỡng khí cho em. Thỉnh thoảng, em
cũng tuỳ nghi xả ra bớt những thứ cặn bã của em.
|
|
Ðược
14 tuần lễ tuổi đời, em bé đó được 12 – 13 cm. Các đường nét trên cơ
thể của em trở nên ngày một tinh tế sắc sảo hơn. Từ tuần lễ thứ 15 – 16
trở đi, thân mình em sẽ phát triển với nhịp độ chậm lại, vì nếu em cứ
tăng trưởng theo nhịp đó� của các tuần lễ đầu, thì em sẽ cân nặng hơn 80
Kg lúc chào đời.
Lúc
tuổi đời em được 17 tuần lễ, tầm vóc cao của em đo được 20 cm và cân
nặng khoảng 140 – 150 g. Mẹ em cảm nhận rất rõ khi em quay cuồng nhào
lộn trong “buồng phi hành vũ trụ” của em. Ðối với mẹ em, đây là thời kỳ
an nhàn và hạnh phúc nhất trong toàn bộ giai đoạn thai nghén.
Khi
em bé đã tròn 5 tháng tuổi, kích thước của em là 30 cm và cân nặng 500
g! Tóc em bắt đầu mọc. Lông mi xuất hiện và em hình thành cả các tuyến
vú! Ðến lúc này, bác sĩ có thể làm được điện não đồ
(électroencéphalo-gramme) cho em rồi! Mẹ em biết rõ được chính xác vị
trí của em trong bụng mình. Em cũng có thể bị những cơn nấc cụt kéo dài
từ 15 đến 30 phút!
Bây giờ em bé đã có thể chào đời rồi đấy, nhưng đó là “sinh non”
Phó Tế Nguyễn Văn Tâm, DCCT
Tính Luân Lý Của Việc Tạo Sinh (tiếp theo…) - Giáo Huấn của Giáo Hội
17:47 |Tính Luân Lý Của Việc Tạo Sinh (tiếp theo…)
Chương II (tiếp theo)
IV. Giáo Huấn của Giáo Hội
1. Ðối với việc thụ tinh nhân tạo
Thụ
tinh nhân tạo là làm cho thụ tinh không phải bằng cách giao hợp tự
nhiên, mà là bằng những kỹ thuật hỗ trợ nhân tạo, máy móc, như dùng ống
tiêm để chuyển tinh trùng vào bên trong âm đạo của người phụ nữ. Nếu lấy
tinh trùng của một “đệ tam nhân vô danh” thì gọi là thụ tinh nhân tạo
dị hợp hay khác nguồn (Fécondation artificielle hétérologue). Nếu lấy
tinh trùng của chồng chì gọi là thụ tinh nhân tạo đồng hợp hay cùng
nguồn (Fécondation artificielle homologue). Có 3 trường hợp:
a. Thụ tinh nhân tạo dị hợp (khác nguồn – AID: Artificial Insemination with the Donor’s sperm)
Vào
năm 1949, Ðức Giáo Hoàng Pi-ô XII đã tuyên bố về việc thụ tinh nhân tạo
với tinh trùng của một người hiến vô danh (AID) là trái luân lý: “Sự
thụ tinh nhân tạo dị hợp nghịch với tính duy nhất của hôn nhân, với phẩm
giá của vợ chồng, với ơn gọi riêng của cha mẹ và với quyền của đứa trẻ
được thụ thai và sinh ra trong hôn nhân và do hôn nhân”.
Ngài
nói tiếp: “Luật của Chúa và luật tự nhiên tích cực công bố rằng sự
truyền sinh của đời sống con người mới chỉ là hậu quả của hôn nhân mà
thôi. Nhân phẩm của vợ chồng, sự thiện ích và giáo dục con cái được bảo
đảm chỉ có trong hôn nhân. Cũng vậy, việc thụ tinh nhân tạo bị kết án
nơi người vợ có chồng khi tinh trùng được lấy nơi người thứ ba chứ không
do chồng. Vợ chồng có quyền trên thân xác của nhau với mục đích truyền
sinh, cho dù vợ chồng đồng ý, việc thụ tinh nhân tạo cũng làm mất đi sự
ràng buộc hôn nhân lúc ban đầu, mà đúng ra sự ràng buộc luân lý và pháp
lý phải tồn tại giữa đứa con và cha mẹ như là kết quả tự nhiên của việc
truyền sinh trong hôn nhân”.
Thánh
Bộ Giáo Lý Ðức Tin, trong Huấn Thị Donum Vitae, đã khẳng định: “Việc
nhờ đến giao tử của người thứ ba, để có được tinh dịch hay noãn cầu, là
một sự vi phạm tới sự cam kết hỗ tương giữa vợ chồng và là một thiếu sót
trầm trọng đối với tính duy nhất là đặc tính thiết yếu của hôn nhân.
Việc thụ tinh nhân tạo dị hợp phạm tới quyền của đứa trẻ, lấy mất đi của
nó mối liên hệ với nguồn gốc là mối quan hệ con cái – cha mẹ… Việc đó
cũng xúc phạm tới ơn gọi chung làm cha, làm mẹ của đôi vợ chồng…, tước
đoạt tính duy nhất và tính toàn vẹn của khả năng sinh sản của hai vợ
chồng…”
Vậy, có thể đi đến kết luận đối với việc thụ tinh nhân tạo dị hợp như sau:
“Vậy
phải coi việc làm cho một người phụ nữ có chồng thụ tinh nhờ tinh dịch
của một người cho không phải là chồng mình, và việc dùng tinh dịch của
một người đàn ông để làm cho thụ tinh một noãn cầu không phải của vợ
mình là trái phép, xét về mặt đạo đức. Ngoài ra, việc thụ tinh nhân tạo
nơi một người phụ nữ không kết hôn, độc thân hay góa bụa, dù cho tinh
dịch là của ai đi nữa, cũng không thể biện minh được về mặt đạo đức”.
b. Thụ tinh nhân tạo đồng hợp (cùng nguồn – AIH: Gọi là Artifical Insemination with the Husband’s sperm)
Giáo
Hội cũng lên án hành vi thụ tinh nhân tạo với tinh trùng của người
chồng (AIH), vì nó trái luân lý. Giáo huấn của Giáo Hội cũng dựa trên
tính chất đặc thù của việc vợ chồng và của sự tạo sinh con người. Ðức
Pi-ô XII nói:
“Trong
cơ cấu tự nhiên của nó, việc vợ chồng là một hành vi riêng tư, hai
người đích thân trực tiếp cộng tác với nhau, do bản chất của các tác
nhân và do tính chất của hành vi, việc này biểu lộ một sự hiến dâng
người nọ cho người kia, làm cho họ kết hợp nên một thân một xác như lời
Kinh Thánh”.
Trong
diễn văn tại Ðại Hội Thế giới lần II ở Naples về khả năng sinh sản và
không sinh sản (Fécondité et là stérilité) của con người, ngày
19.5.1956, Ðức Pi-ô XII đã nói: “Không bao giờ được tách rời các khía
cạnh của việc vợ chồng và các điều tốt lành của hôn nhân, đến độ tích
cực loại bỏ hoặc ý định tạo sinh, hoặc việc giao hợp”.
Ðức
Phao-lô VI cũng bác bỏ hình thức thụ tinh này (AIH) dựa trên ý định của
Thiên Chúa muốn liên kết hai ý nghĩa của việc vợ chồng, đó là kết hợp
và tạo sinh. Ngài nói:
“Kết
hợp và tạo sinh, bằng một mối dây không thể tháo gỡ và con người không
thể tự ý phá bỏ. Trong thực tế, việc vợ chồng, do cấu trúc thâm sâu của
nó, kết hợp hai vợ chồng bằng một mối dây liên kết rất sâu sắc, khiến họ
đủ khả năng tạo nên những đời sống mới, theo các luật lệ đã được ghi
tạc trong chính hữu thể của người nam và người nữ. Chính bằng cách bảo
vệ hai khía cạnh chính yếu: kết hợp và tạo sinh, mà việc vợ chồng giữ
trọn được ý nghĩa yêu thương lẫn nhau một cách đích thực và duy trì sự
qui hướng về ơn gọi cao quí làm cha mẹ của con người”.
Cũng
theo chiều hướng giáo huấn đó, Ðức Gio-an Phao-lô II, trong buổi tiếp
kiến chung ngày 16.1.1950, đã nói rằng: “Hai vợ chồng biểu lộ cho nhau
tình yêu riêng của họ trong “ngôn ngữ thể xác”, nó bao gồm rõ rệt “những
ý nghĩa phu phụ” cùng với những ý nghĩa phụ mẫu” . Và trong diễn văn
tại Hiệp Hội các Thầy thuốc thế giới khóa 35, ngày 29.10.1983, Ngài đã
nói: “Con người bắt nguồn từ một sự tạo sinh nối liền với sự kết hợp
không những sinh lý mà còn thiêng liêng của cha mẹ, là những người được
kết hợp nhờ dây liên kết hôn nhân”.
Chính
Công đồng Va-ti-ca-nô II, trong Hiến Chế GS. 51, cũng đã nói: “Chính
những hành vi đặc thù của đời sống vợ chồng, được thực hiện đúng theo
phẩm giá đích thực của con người, đều phải được kính cẩn tôn trọng…
những tiêu chuẩn ấy sẽ tôn trọng ý nghĩa trọn vẹn của sự trao hiến và
sinh sản con cái trong khung cảnh tình yêu đích thực.”
Bộ
Giáo Luật 1983, điều 1061, khoản 1, nói rằng: “Hôn nhân gọi là thành
nhận và thành toại, nếu đôi bên đã theo cách thức hợp với nhân tính thực
hiện tác động phu thê tự nó có khả năng sinh sản con cái; tác động này
là mục tiêu tự nhiên của hôn nhân và làm cho vợ chồng trở thành một
xương một thịt.”
Vậy,
con người phải được đón nhận trong cử chỉ kết hợp và yêu thương của cha
mẹ, do đó, việc tạo sinh một đứa bé phải là hoa trái của sự dâng hiến
người nọ cho người kia, việc dâng hiến này được thực hiện trong việc vợ
chồng, trong đó, hai người cộng tác vào công trình của tình yêu sáng tạo
như người tôi tớ, chứ không phải như kẻ làm chủ.
c. Việc chuyển tinh dịch:
Khi
Ðức Pi-ô XII lên án hình thức thụ tinh nhân tạo khác nguồn (AID) và
cùng nguồn (AIH), thì Ngài lại để ngỏ một hình thức gọi là “phương tiện
nhân tạo nhằm giúp cho hành vi vợ chồng đạt được cứu cánh của nó”. Ngài
nói: “Không nhất thiết cấm đoán việc sử dụng một số phương tiện nhân tạo
chỉ nhằm giúp cho hành vi tự nhiên dễ dàng hoặc chỉ giúp cho hành vi tự
nhiên thực hiện bình thường, đạt được cứu cánh của nó”.
Có
lẽ từ lời nói này của Ðức Pi-ô XII, Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin, trong
Huấn Thị Donum Vitae, đã nói rằng: “Việc truyền tinh nhân tạo đồng hợp
bên trong hôn nhân, không thể chấp nhận được, trừ trường hợp người ta
không dùng phương tiện kỹ thuật để thay cho việc giao hợp, nhưng chỉ coi
nó như một trợ cụ, giúp cho việc giao hợp được dễ dàng và đạt được cứu
cánh riêng của nó”
Tuy
nhiên, vấn đề đặt ra là hình thức lấy tinh dịch như thế nào để được coi
là hợp luân lý? Ðây là một vấn nạn đang được tranh luận nhiều giữa các
nhà thần học. Chúng ta sẽ tìm hiểu vấn đề này trong phần quan điểm của
các thần học gia dưới đây. Ở đây, lập trường của Huấn Quyền Giáo Hội thì
đối với những tiến trình nào lấy tinh dịch của người chồng để cho thụ
tinh với trứng nơi người vợ bằng cách giao hợp với bao cao su, giao hợp
nửa chừng hay thủ dâm, thì bị coi là trái luân lý và bị cấm. Ðức Pi-ô
XII đã bác bỏ mọi hình thức thụ tinh cùng nguồn mà trong đó tinh dịch
được cung cấp từ những hành vi đi ngược với tự nhiên.
Thánh
Bộ Giáo Lý Ðức Tin nói: “Nếu phương tiện kỹ thuật làm cho việc giao hợp
dễ dàng hay giúp nó đạt được những mục tiêu tự nhiên của nó, phương
tiện đó có thể được chấp nhận về mặt đạo đức. Ngược lại, nó không hợp
đạo đức, nếu nó thay thế việc giao hợp. Việc truyền tinh nhân tạo thay
thế việc vợ chồng bị cấm đoán, vì có sự cố tình tách biệt hai ý nghĩa
của vợ chồng. Việc thủ dâm thường làm để có tinh dịch, là một dấu chỉ
khác của sự tách biệt nói trên: ngay cả khi làm vì mục đích tạo sinh,
thủ dâm vẫn mất cái ý nghĩa kết hợp của nó”.
Bộ
Giáo Lý Ðức Tin cũng bác bỏ hình thức thủ dâm trên đây, bởi vì: “Nó
thiếu cái quan hệ vợ chồng mà đạo đức đòi hỏi, quan hệ thực hiện được ý
nghĩa trọn vẹn của việc dâng hiến hỗ tương và tạo sinh con người, trong
một tình yêu chân thực”.
2. Ðối với việc thụ tinh trong ống nghiệm (In Vitro Fertilization)
Trong
bài nói chuyện với những thành viên của Ðại Hội Thế Giới lần thứ II về
sự thụ thai và son sẻ ngày 19.5.1956, Ðức Pi-ô XII đã lên án là vô luân
đối với hình thức thụ tinh trong ống nghiệm. Ngài nói: “Về những thí
nghiệm thụ tinh thai nhi trong ống nghiệm nhân tạo phải bị loại bỏ như
một điều vô luân và tuyệt đối bất hợp pháp”. Ðức Gio-an XXIII đã cấm
dùng các phương pháp tạo sinh không phù hợp với nhân phẩm con người.
Ngài nói:
“Thiên
nhiên đã trao việc thông truyền sự sống con người cho một hành vi, được
thực hiện bởi một chủ thể ý thức – và do đó bị chi phối bởi các luật
rất thánh của Thiên Chúa: các luật có tính bất khả xâm phạm và bất biến
này phải được nhìn nhận và tuân giữ. Vì vậy, không được dùng các phương
tiện và các phương pháp luật cho phép dùng trong việc truyền sinh các
thảo mộc và cầm thú”.
Sở dĩ Giáo Hội cấm hình thức thụ tinh trong ống nghiệm là vì nhiều lý do:
-
Vì phương pháp lấy tinh trùng khỏi người chồng liên quan đến hình thức
dùng bao cao su, giao hợp nửa chừng, hay thủ dâm, vốn đã bị Giáo Hội lên
án.
-
Tiến trình thụ tinh trong ống nghiệm tách biệt hành vi hôn nhân khỏi sự
truyền sinh. Ngay cả khi tinh trùng được lấy cách hợp pháp thì hình
thức thụ tinh trong ống nghiệm cũng bị cấm chỉ. Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin
khẳng định:
“Theo
Giáo Lý truyền thống về các điều tốt lành của hôn nhân và phẩm giá của
con người, Giáo Hội đứng ở quan điểm đạo đức vẫn chống việc thụ tinh
trong ống nghiệm; việc này tự nó trái với luật đạo đức và đi ngựơc lại
phẩm giá của việc tạo sinh và của sự kết hợp vợ chồng, ngay cả khi người
ta làm mọi cách để tránh việc sát hại phôi thai người”.
-
Vì việc thụ tinh trong ống nghiệm chỉ là kết quả của kỹ thuật và kỹ
thuật chủ trì việc thụ tinh. Do đó, nó không được Giáo Hội chấp nhận.
Bởi vì:
“Nó
không thực sự có được, cũng không tích cực được mong muốn như là sự
biểu thị và hoa trái của một hành vi đặc thù của sự kết hợp vợ chồng.
Như vậy, trong việc thụ tinh trong ống nghiệm đồng hợp, ngay cả xét
trong bối cảnh của những việc giao hợp thực sự, việc tạo sinh con người,
khách quan mà nói, thiếu sự hoàn thiện riêng của nó: đó là nó phải là
đích điểm và hoa trái của một việc giao hợp, trong đó hai vợ chồng có
thể trở thành “cộng tác viên của Thiên Chúa” trong việc thông ban sự
sống cho một nhân vị mới”.
-
Vì việc thụ tinh trong ống nghiệm dẫn đến một sự “thặng dư” phôi thai,
bị hủy bỏ hoặc cho đông lạnh, nhiều phôi sẽ bị hy sinh vì những lý do ưu
sinh, kinh tế hay tâm lý… hoặc đem dùng làm vật thí nghiệm. Các kỹ
thuật hay hình thức này gây thiệt hại cho sự toàn vẹn của sự sống phôi
thai và do đó, Giáo Hội lên án: “Các phương thức đó trái với phẩm giá
con người có nơi phôi thai và đồng thời phạm tới quyền của mọi người
được thụ thai và sinh ra trong hôn nhân và do hôn nhân”.
3. Ðối với việc sinh sản vô tính trên con người (Human Cloning)
Ðây
là một vấn đề lớn vừa mới phát sinh trong những năm gần đây. Do đó,
chúng ta chỉ có Giáo huấn của Vị Giáo Hoàng đương nhiệm là Ðức Gio-an
Phao-lô II và của ủy ban Giáo Hoàng Học Viện về sự sống cũng như của
Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin.
Trong
phương pháp tạo sinh dòng vô tính, ta nhận thấy có liên quan đến vấn đề
sản xuất phôi thai, lấy tế bào gốc và việc cấy ghép cơ phận. Do đó, ta
sẽ lần lượt tìm hiểu xem Giáo Huấn của Giáo Hội nói gì về các vấn đề đó.
Việc sinh sản vô tính nơi con người là một hành động không thể chấp
nhận được về mặt luân lý. Bởi vì, phương pháp này nảy sinh ra nhiều hậu
quả nghiêm trọng, không chỉ về thể lý hay tâm lý, mà còn ảnh hưởng trực
tiếp đến lãnh vực luân lý đạo đức. Do đó, Giáo Hội lên án phương pháp
này.
Phản
ứng chống lại cuộc thí nghiệm sinh sản vô tính một phôi thai người đầu
tiên do Công ty Mỹ tiến hành được công bố trên truyền ngày 25.11.2001,
tại Va-ti-can ngày 28.11.2001, Ðức Gio-an Phao-lô II đã nói:
“Sinh
sản vô tính là một mối nguy lớn cho sự sống… Chủ nghĩa nhân đạo thực sự
có thể không bao giờ cho phép những phương pháp và những cuộc thí
nghiệm, là những mối đe dọa có chương trình cách hệ thống và khoa học,
chống lại sự sống con người. Hãy bảo vệ không khoan nhượng sự sống và
giá trị con người trong việc tôn trọng luật luân lý”. Ngài nói tiếp:
“Mọi thủ thuật nhằm thương mại hoá bộ phận con người hay xem chúng như
vật đổi chác hay mua bán đều không thể chấp nhận được về mặt luân lý, vì
rằng sử dụng thân thể như một “đồ vật” là phạm đến phẩm giá của con
người, dẫu cho mục đích có tốt đi nữa thì những cách xử lý đó cũng vẫn
là bất hợp pháp về mặt luân lý”.
Chính
Ðức Phao-lô VI đã khẳng định: “Con người phải tôn trọng luật của quá
trình sinh sản, ấy là nhìn nhận mình không phải là chủ nhân ông của
nguồn sống nhân loại mà chỉ là thừa tác viên cho ý định của Tạo Hóa. Vì
con người ta không có toàn quyền về thân xác mình thế nào, thì với một
lý do đặc biệt hơn nữa, cũng không có toàn quyền về những khả năng sinh
sản, chúng thuộc về lưu truyền sự sống, mà Thiên Chúa là nguyên tắc.
“Sinh mạng con người phải được coi như là sự thánh” – Lời huấn từ của
Ðức tiền nhiệm Gio-an XXIII – vì ngay từ khởi nguyên, nó trực tiếp kêu
gọi đến tác động tạo thành của Thiên Chúa”.
Vì
phương pháp sinh sản vô tính cũng bao hàm các kỹ thuật truyền sinh nhân
tạo, mà các kỹ thuật này đều bị Giáo Hội lên án, vì lý do phản lại đạo
đức – luân lý. Trong Thông Ðiệp Tin Mừng về Sự sống, Ðức Gio-an Phao-lô
II nói: “Ngày nay, các kỹ thuật truyền sinh nhân tạo khác nhau, là những
kỹ thuật dường như phục vụ sự sống… thực tế cũng đang mở ra những thách
thức mới chống lại sự sống. Ngoài việc các kỹ thuật này không thể chấp
nhận được về mặt luân lý, bởi vì chúng tách rời sự truyền sinh thuộc
lãnh vực hoàn toàn nhân bản khỏi hành vi vợ chồng, chúng còn có tỷ lệ
thất bại cao, không những trong việc thụ tinh mà còn trong việc phát
triển sau này của phôi, có nguy cơ tử vong, thời gian thường là rất
ngắn…”.
Trong
diễn từ tại Hội Nghị Quốc Tế Về Cấy Ghép diễn ra tại Rô-ma, ngày
29.8.2000, Ðức Gio-an Phao-lô II nói: “Trong mọi biến cố, các phương
pháp không kính trọng phẩm giá và giá trị của con người phải luôn luôn
bị loại bỏ. Tôi đang đặc biệt nghĩ đến những toan tính dùng phương pháp
sinh sảnh vô tính trên con người nhằm có những cơ quan để cấy ghép:
Những kỹ thuật này, trong mức đó� chúng liên quan đến việc sử dụng và
phá hủy những phôi thai con người, không thể chấp nhận được về mặt đạo
đức – luân lý, dù khi những mục tiêu đề ra tự nó là tốt”.
Cũng
trong diễn từ này, Ngài cũng khẳng định mục đích căn bản của y khoa là
phục vụ sự sống con người, nhưng nó vẫn có những giới hạn, do đó, y khoa
phải được thực hiện theo một tiêu chuẩn căn bản liên quan đến phương
diện nhân loại học và đạo đức học. Ngài nói: “Mục đích căn bản của y
khoa là phục vụ sự sống con người… Trong phạm vi của khoa học y khoa,
tiêu chuẩn căn bản phải là sự bảo vệ và cổ võ sự thiện hảo toàn diện của
con người, phù hợp với phẩm giá độc nhất là phẩm giá của chúng ta do
bởi nhân tính chúng ta. Bởi vậy, hiển nhiên là mọi tiến trình của y khoa
được thực hiện trên con người đều có giới hạn: không chỉ những giới hạn
về khả năng kỹ thuật mà còn những giới hạn được xác định bởi lòng kính
trọng đối với chính nhân tính, hiểu trong sự toàn vẹn của nó: “Ðiều gì
có thể về mặt kỹ thuật, thì không vì lý do đó mà có thể chấp nhận về mặt
đạo đức”.
Phó Tế Nguyễn Văn Tâm, DCCT
