Home » Thuốc Vườn Nhà
Bệnh trên chữa dưới - Bệnh dưới chữa trên
21:36 |
Bệnh trên chữa dưới - Bệnh dưới chữa trên
Lương y THÁI HƯ
- Da ngứa, thì lập tức bôi thuốc chống ngứa;
- Thân nhiệt tăng cao, thì uống thuốc hạ sốt;
- Huyết áp tăng cao, liền uống thuốc cho huyết áp hạ xuống;
- Đau đầu, thì uống thuốc giảm đau, cắt đứt đường dẫn truyền thần kinh, khiến cho cảm giác đau không còn xuất hiện;
- Mồ hôi tay tiết ra quá nhiều, thì cắt hạch thần kinh giao cảm ở ngực.
Đối với một số cơ quan hay "gây chuyện", để phòng bệnh chúng ta cũng thường chọn biện pháp theo hướng loại trừ: Cắt bỏ a-my-đan để phòng ngừa viêm họng, cắt bỏ tử cung để tránh bị u xơ tử cung, ... Nói chung, người ta thường cho rằng, chỉ cần "uống đúng thuốc" hoặc "cắt đúng chỗ", là cơ thể sẽ được bình an vô sự.
Có điều, trên thực tế bệnh tật thường diễn biến vô cùng phức tạp, phương thức tư duy và cách tiếp cận trực diện như trên, không phải lúc nào cũng có thể đem lại kết quả như mong muốn.
Kinh nghiệm thực tế của Đông y cho thấy: Để phòng trị bệnh tật hiệu quả, trong rất nhiều trường hợp, người thầy thuốc cần linh hoạt đổi hướng tư duy, nhìn nhận vấn từ một góc nhìn khác, theo hướng ngược lại, thường gọi là "tư duy ngược chiều", "nghịch hướng tư duy", "tư duy lật ngược", ...
Trong Đông y có nhiều phương pháp chữa bệnh hữu hiệu, được xây dựng trên cơ sở "tư duy ngược chiều". Ví như phương pháp "Đông bệnh Hạ trị" (bệnh mùa Đông chữa từ mùa Hạ), đó cũng là một phương pháp chữa bệnh được xây dựng trên cơ sở "tư duy ngược chiều". Vì theo lẽ thường, bệnh phát ra trong mùa Đông, ắt phải tiến hành chữa trị ngay trong mùa Đông. Giải pháp trái ngược với phương thức tư duy thông thường như vậy giống như "nghịch lý". Nhưng thực tế, lại có hiệu quả cao và đỡ tốn kém.
Nay chúng ta sẽ đề cập đến 2 phương pháp, cũng hình thành trên cơ sở tư duy ngược chiều, đó là "Bệnh ở trên chữa trị ở dưới" (thượng bệnh thủ hạ) và "Bệnh ở dưới chữa trị ở trên" (hạ bệnh thủ thượng):
• Bệnh ở trên chữa trị ở dưới:
Hãy lấy ví dụ "bệnh viêm vách họng sau" mà Đông y gọi là "yết ung". Khi bệnh phát, vòm họng và vách họng sưng đỏ; vách sau bị mưng mủ, biến dạng, lệch sang một bên, khiến cho khi nói như có vật gì đó đang ngậm trong miệng, âm thanh phát ra như là pha giọng mũi; tai đau nhức, khó nuốt, họng như tắc lại; cố nuốt thì đồ ăn thức uống trào ra đường mũi; kèm theo người phát sốt, đại tiện bí kết, tiểu tiện vàng, miệng khát, lưỡi khô, ...
Để điều trị, đầu tiên cần thông đại tiện ở bên dưới, để tống khứ "bệnh tà" ra ngoài. Lâm sàng thường dùng các vị thuốc như sinh đại hoàng, chỉ thực, mang tiêu, tạo giác thích, xuyên sơn giáp, ... Sau khi uống thuốc, đại tiện thông, thì yết hầu cũng bớt sưng đau. Tiếp đó, cho uống các thứ thuốc thanh nhiệt giải độc như kim ngân, huyền sâm, sinh địa, ... bệnh sẽ khỏi dần.
Theo lý luận về tạng tượng của Đông y, yết hầu thuộc hệ thống Phế (vị trí ở phần trên cơ thể), nhưng tạng Phế lại có "quan hệ biểu lý" với Đại tràng (vị trí ở phần dưới cơ thể). Do Phế và Đại tràng có quan hệ "Biểu - Lý" như vậy, nên nhiệt ở Phế thường chuyển xuống Đại tràng, làm cho đại tiện bị bí kết.
Ngược lại, nhiệt tích ở Đại tràng cũng thường bốc lên trên, hun đốt phần trên của cơ thể, làm cho tạng Phế bị nóng lên. Để giải trừ vòng tuần hoàn ác tính đó, Đông y sử dụng biện pháp thông đại tiện, tạo "đầu ra" ở phía dưới, mở đường cho "bệnh tà" thoát ra bên ngoài. Tức là, có thể dùng cách thông đại tiện ở phía dưới, để giải trừ thực nhiệt ở trên yết hầu. Bệnh đang hoành hành ở bên trên, nhưng lại tiến hành điều trị ở bên dưới!
Giải pháp độc đáo trên, chẳng khác gì "rút bớt củi ở dưới đáy nồi" trong lúc nấu cơm. Khi nồi quá nóng, để tránh cơm khỏi bị cháy khê, cần phải rút bớt củi ở dưới bếp, làm cho nhiệt độ ở trên nồi giảm xuống. Đối với nhiều chứng bệnh khác ở vùng đầu mặt. Ví dụ, như váng đầu chóng mặt (huyễn vựng), mặt đỏ bừng, miệng khát, mắt sưng đỏ, tai chảy mủ, mũi chảy máu cam, ... cũng có thể chữa trị bằng cách dẫn "bệnh tà" hoặc "huyết nhiệt" xuống phía dưới, rồi tống khứ ra ngoài. Thực chất cũng là những hình thức "rút bớt củi ở dưới đáy nồi".
Theo Đông y, tạng Thận có vị trí ở phần dưới cơ thể, nhưng khi tạng này suy yếu, các chứng trạng bệnh lý lại thường bộc lộ ở phần trên. Thí dụ như, khi tạng Thận suy yếu, chức năng "nạp khí" của Thận bị trục trặc, thì tiếng nói sẽ bị ảnh hưởng (khản tiếng, mất tiếng, ...) và các chứng ho, suyễn cũng thường phát sinh, vì âm thanh và hơi thở bắt rễ từ tạng Thận và đường tuần hành của kinh Túc thiếu âm Thận đi qua yết hầu.
Một số chứng bệnh khác như: Mặt nóng bừng do "hỏa bốc", hoa mắt, tai ù, răng lung lay, ... cũng thường phát sinh do tạng Thận suy yếu, "hỏa bất quy nguyên" (hỏa không trở về gốc) khiến cho "hư hỏa" bốc lên trên mà sinh ra bệnh. Với những trường hợp như vậy, tuy chứng bệnh phát ra ở bên trên, nhưng khi điều trị, lại chữa vào tạng Thận ở dưới. Bài thuốc thường dùng trong trường hợp này là "Mạch vị địa hoàng gia nhục quế", gồm các vị thục địa, sơn thù du, sơn dược, trạch tả, đan bì, phục linh, ngũ vị tử, mạch môn và nhục quế. Thực tế cho thấy, cách chữa trị như vậy thường đem lại kết quả kỳ lạ, có thể chữa khỏi cả một số chứng bệnh mà Tây y đang phải bó tay.
• Bệnh ở dưới chữa trị ở trên:
Ngược lại, nhiều dạng bệnh phát sinh ở phía dưới lại được tiến hành chữa trị ở phần trên.
Trong Đông y, phương pháp "Hạ bệnh thủ thượng" thường hay được áp dụng để chữa trị các chứng bệnh do nguyên nhân "khí hư hạ hãm". Ví dụ như sa tử cung, lòi rom (thoát giang, trĩ ngoại), sa dạ dày, ... Với các chứng bệnh trên, cần dùng phép "ích khí" ở bên trên để chữa. Bài thuốc thường dùng là "Bổ trung ích khí thang", bao gồm các vị thuốc hoàng kỳ 8g, đảng sâm 6g, bạch truật 8g, thăng ma 4g, sài hồ 4g, đương quy 6g, trần bì 4g và cam thảo 4g.
Đối với các chứng bệnh do "khí hư hạ hãm" nói trên, Đông y cũng thường tiến hành châm cứu, bấm huyệt hoặc dán cao, đắp thuốc, ... tại các huyệt ở phần trên cơ thể để chữa. Hay dùng nhất là huyệt "bách hội" ở chính đỉnh đầu, thuộc "đốc mạch", có tác dụng thăng đề dương khí rất mạnh. Trên lâm sàng, phụ nữ sa tử cung sau khi sinh đẻ, cũng như trường hợp trẻ nhỏ, người già cơ thể suy yếu bị thoát giang, Đông y thường dùng hạt (hoặc lá) thầu dầu, giã nát, đắp lên huyệt bách hội, kết quả nói chung thường rất tốt.
Hay như, đối với chứng "long bế" (bí đái), bệnh tuy phát tác ở phía dưới, cũng có thể tiến hành chữa trị ở phía trên. Bí tiểu nói chung liên quan trực tiếp với tạng Thận và phủ Bàng quang. Nhưng Thận còn liên quan với tạng Phế ở trên. Phế thuộc hành Kim, Thận thuộc hành Thủy; Kim sinh Thủy, nên Đông y thường nói "Phế Thận tương sinh".
Kinh nghiệm thực tế cho thấy, bí tiểu cũng thường phát sinh do "Phế hỏa ung thịnh" (hỏa nhiệt ở tạng Phế quá thịnh); thường biểu hiện bởi các triệu chứng như bí đái, nước tiểu nhỏ giọt, họng khô, miệng háo, khát nước hoặc ho khan, rêu lưỡi vàng mỏng, mạch hoạt sác, ... với trường hợp này, có thể sử dụng bài thuốc "Thanh phế ẩm giả giảm", có tác dụng thanh giáng hỏa nhiệt ở tạng Phế để chữa. "Thanh phế ẩm gia giảm" bao gồm các vị thuốc hoàng cầm 6g, tang bạch bì (vỏ trắng rễ cây dâu tằm) 9g, mạch môn đông 12g, phục linh 12g, mộc thông 4g, bạch mao căn (rễ cỏ tranh) 30g, sắc nước uống trong ngày.
Để sử dụng phương pháp "thượng bệnh thủ hạ" và "hạ bệnh thủ thượng" một cách linh hoạt và có hiệu quả, người thầy thuốc cần tinh thông y lý và chẩn bệnh hết sức cẩn thận, dựa trên sự phân tích các chứng trạng biểu hiện cục bộ, để tìm ra mâu thuẫn chủ yếu (gốc bệnh) và bức tranh bệnh lý tổng thể. Chỉ khi nào hiểu rõ được nguyên nhân bệnh và cơ chế bệnh, cũng như mối liên hệ giữa ngũ tạng, lục phủ và hệ thống kinh lạc, người thầy thuốc mới có thể quyết định "thủ thượng" hay "thủ hạ"!
Thuốc thanh nhiệt giải độc giống như kháng sinh?
16:47 |
Thuốc thanh nhiệt giải độc giống như kháng sinh?
Lương y THÁI HƯ
Thuốc thanh nhiệt giải độc của Đông y truyền thống là một loại vũ khí quan trọng, trong trị liệu các bệnh nhiễm trùng. Thực tế lâm sàng cho thấy, một số trường hợp bị viêm nhiễm nghiêm trọng, do vi khuẩn hoặc virus gây nên, không thể khống chế bằng các loại thuốc kháng sinh hiện đại, thế nhưng sau khi sử dụng thuốc thanh nhiệt giải độc của Đông y, đã mang lại kết quả rất tốt.
Trước sự thực đó, một số người đã cho rằng, thuốc thanh nhiệt giải độc, nhiều khả năng là một loại thuốc kháng sinh có sẵn trong thiên nhiên. Thế là, người ta bắt đầu tiến hành chiết xuất từ các vị thuốc thanh nhiệt giải độc, những thành phần có tác dụng diệt khuẩn, với hy vọng sẽ tìm ra những loại thuốc kháng sinh mới, có tác dụng kháng vi khuẩn, virus mạnh hơn.
Với hy vọng tìm ra được loại thuốc kháng khuẩn hữu hiệu hơn, suốt những năm qua, các nhà khoa học, ở nhiều nước trên thế giới, đã tiến hành nhiều loại nghiên cứu, đối với các vị thuốc và phương thuốc thanh nhiệt giải độc của Đông y truyền thống. Thế nhưng, kết quả thu được lại không như mong muốn.
Một vài ví dụ cụ thể:
- Hai phương thuốc Đông y truyền thống thường dùng để chữa trị các bệnh nhiễm trùng là "Ngân kiều tán" và "Phổ tế tiêu độc ẩm" không có tác dụng kháng khuẩn. Đó là kết luận đã đăng tải trên tạp chí "Trung thành dược nghiên cứu" số [12]:39,1986.
- Sau khi thử nghiệm sử dụng các vị thuốc thanh nhiệt giải độc và thanh can lợi đởm, để lập ra các phương thuốc, đặt tên là "Ất can thang" (nghĩa là "thang thuốc chữa viêm gan B") và "Ất can" (nghĩa là "viêm gan B"), các nhà khoa học đã đi đến kết luận "... Không chỉ kháng nguyên bề mặt HBsAg không chuyển sang âm tính, mà ở khá nhiều bệnh nhân còn có những biểu hiện của chứng bệnh "Tỳ hư Can uất", như da mặt vàng sạm, tinh thần uể oải, tứ chi vô lực, mạng sườn phải đau âm ỉ, tâm trạng u uất, kém ăn, khó tiêu, bụng trướng, ỉa lỏng, mạch hoãn, lưỡi nhớt" (Theo "Quốc y luận đàn" số [4]: 35, 1986).
- Thuốc thanh nhiệt giải độc của Đông y "không có khả năng ức chế vi khuẩn và phạm vi tác dụng không thể so sánh với thuốc kháng sinh" (Theo "Bắc Kinh Trung y" số [1]: 43, 1983).
Chuyện gì đã xảy ra? Sự việc cần phải lý giải như thế nào?
Như chúng ta biết, tác dụng kháng khuẩn của thuốc kháng sinh được xác định qua tác dụng trực tiếp đối với vi khuẩn. Nếu như tác dụng của thuốc đối với một loại vi khuẩn đã được chứng minh qua thí nghiệm trong môi trường nuôi cấy, thì khi sử dụng để điều trị căn bệnh do loại vi khuẩn đó gây nên sẽ có hiệu quả.
Thế nhưng, mục tiêu tác dụng của thuốc thanh nhiệt giải độc trong Đông y truyền thống lại là "chứng" (còn gọi là "chứng hậu"), chứ không phải tác nhân gây nên "chứng" đó.
Trong trường hợp này tác nhân gây bệnh là vi khuẩn (hoặc virus). Thuốc thanh nhiệt giải độc của Đông y thường không có tác dụng trực tiếp đối với vi khuẩn, mà tác dụng gián tiếp thông qua "chứng", tức thông qua tác dụng điều tiết đối với cơ thể người.
Như chúng ta biết, "chứng" là tập hợp những phản ứng và biểu hiện của cơ thể, đối với những tác nhân gây bệnh (ở đây chủ yếu là vi khuẩn, virus). Do sự khác biệt về tuổi tác, giới tính, đặc điểm thể chất, ... nên cùng một loại vi khuẩn (hoặc virus) có thể gây nên loại bệnh có tính nhiệt ở người này, mà đồng thời cũng có thể gây nên loại bệnh có tính hàn ở một người khác. Điều này cho ta thấy, sự khác biệt của "chứng" phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố, chứ không đơn thuần do tác nhân gây bệnh, vi khuẩn hoặc virus gây bệnh, quyết định.
Thuốc thanh nhiệt giải độc, nói chung là loại thuốc có tính khổ hàn (đắng lạnh). Khi sử dụng cần tuân theo quy tắc "nhiệt giả hàn chi" và "hàn giả nhiệt chi", nghĩa là dùng thuốc có tính hàn để chữa chứng nhiệt và dùng thuốc có tính nhiệt để chữa chứng hàn.
Nói chung, đối với các chứng bệnh nhiệt, chỉ cần biện chứng và xử phương một cách thích đáng, sử dụng thuốc thanh nhiệt giải độc nói chung đều có thể thu được kết quả mong muốn.
Thế nhưng nếu lại sử dụng thuốc thanh nhiệt, để chữa chứng hàn, thì sẽ khiến bệnh thêm trầm trọng, chẳng khác gì "tuyết thượng gia sương" (đã bị rét vì tuyết lại giá vì sương).
Thí dụ, đối với chứng "tràng ung" (tương ứng với chứng viêm ruột thừa trong Tây y), nếu ở bệnh nhân có những biểu hiện của chứng "thực nhiệt", sử dụng các vị thuốc thanh nhiệt giải độc như đại hoàng, hồng đằng, liên kiều, kim ngân, qua lâu nhân, ... nói chung đều thu được kết quả khả quan. Nhưng đối với những bệnh nhân có những biểu hiện của chứng "hư hàn", sẽ không có tác dụng kháng viêm, ngược lại còn khiến bệnh càng thêm trầm trọng.
Đối với một số chứng bệnh nhiễm trùng, thuốc thanh nhiệt giải độc có tác dụng tương tự như thuốc kháng sinh, nhưng cơ chế tác dụng của thuốc thanh nhiệt giải độc và cơ chế tác dụng của thuốc kháng sinh không giống nhau.
Thuốc thanh nhiệt giải độc ít khi có tác dụng trực tiếp đối với vi khuẩn mà thường là giáp tiếp thông qua sự tạo ra môi trường mà vi khuẩn, virus không thể phát triển. Hơn nữa, ngoài tác dụng kháng khuẩn, thuốc thanh nhiệt giải độc còn có một số tác dụng khác, như thanh nhiệt, giải độc, trấn thống, giãn rộng huyết quản, tăng cường chức năng miễn dịch, ...
Hiệu quả trị liệu của thuốc thanh nhiệt giải độc đối với một số bệnh nhiễm khuẩn, đã mở ra cho khoa học một hướng mới: Tìm kiếm các chất kháng khuẩn, trên cơ sở phân ly các thành phần hữu hiệu từ thuốc thanh nhiệt giải độc.
Tuy nhiên, khi sử dụng trên lâm sàng, nếu coi nhẹ lý luận của Đông y, chỉ tiến hành nghiên cứu theo quan điểm của Tây y, sẽ không thể tránh khỏi hạn chế.
Ví dụ điển hình:
Hoàng liên là vị thuốc được Đông y sử dụng rất rộng rãi, trong điều trị nhiều bệnh nhiễm trùng từ thời xa xưa. Vài chục năm trước, berberine - một chất chiết xuất từ hoàng liên, được xem như thành phần có tác dụng kháng khuẩn có trong hoàng liên.
Thế nhưng, khi thử nghiệm sử dụng berberine tinh khiết để chữa trị các bệnh nhiễm khuẩn, thì tác dụng lại rất hạn chế: Ngoài tác dụng đối với một số chứng nhiễm khuẩn đường ruột, berberine ít có tác dụng đối với các chứng viêm đường hô hấp, viêm da, ... Phạm vi tác dụng của berberine hẹp hơn rất nhiều, so với hoàng liên ở dạng tự nhiên.
Như vậy, berberine chỉ là một trong số các thành phần hữu hiệu có trong hoàng liên. Hơn nữa, môi trường trong cơ thể và môi trường nuôi cấy nhân tạo hoàn toàn khác nhau.
Kết quả nghiên cứu còn cho thấy: Một số chất chiết xuất không có tác dụng kháng khuẩn trong môi trường nuôi cấy nhân tạo, nhưng khi sử dụng trong cơ thể người thì lại có tác dụng kháng khuẩn.
Với hy vọng tìm ra được loại thuốc kháng khuẩn hữu hiệu hơn, suốt những năm qua, các nhà khoa học, ở nhiều nước trên thế giới, đã tiến hành nhiều loại nghiên cứu, đối với các vị thuốc và phương thuốc thanh nhiệt giải độc của Đông y truyền thống. Thế nhưng, kết quả thu được lại không như mong muốn.
Một vài ví dụ cụ thể:
- Hai phương thuốc Đông y truyền thống thường dùng để chữa trị các bệnh nhiễm trùng là "Ngân kiều tán" và "Phổ tế tiêu độc ẩm" không có tác dụng kháng khuẩn. Đó là kết luận đã đăng tải trên tạp chí "Trung thành dược nghiên cứu" số [12]:39,1986.
- Sau khi thử nghiệm sử dụng các vị thuốc thanh nhiệt giải độc và thanh can lợi đởm, để lập ra các phương thuốc, đặt tên là "Ất can thang" (nghĩa là "thang thuốc chữa viêm gan B") và "Ất can" (nghĩa là "viêm gan B"), các nhà khoa học đã đi đến kết luận "... Không chỉ kháng nguyên bề mặt HBsAg không chuyển sang âm tính, mà ở khá nhiều bệnh nhân còn có những biểu hiện của chứng bệnh "Tỳ hư Can uất", như da mặt vàng sạm, tinh thần uể oải, tứ chi vô lực, mạng sườn phải đau âm ỉ, tâm trạng u uất, kém ăn, khó tiêu, bụng trướng, ỉa lỏng, mạch hoãn, lưỡi nhớt" (Theo "Quốc y luận đàn" số [4]: 35, 1986).
- Thuốc thanh nhiệt giải độc của Đông y "không có khả năng ức chế vi khuẩn và phạm vi tác dụng không thể so sánh với thuốc kháng sinh" (Theo "Bắc Kinh Trung y" số [1]: 43, 1983).
Chuyện gì đã xảy ra? Sự việc cần phải lý giải như thế nào?
Như chúng ta biết, tác dụng kháng khuẩn của thuốc kháng sinh được xác định qua tác dụng trực tiếp đối với vi khuẩn. Nếu như tác dụng của thuốc đối với một loại vi khuẩn đã được chứng minh qua thí nghiệm trong môi trường nuôi cấy, thì khi sử dụng để điều trị căn bệnh do loại vi khuẩn đó gây nên sẽ có hiệu quả.
Thế nhưng, mục tiêu tác dụng của thuốc thanh nhiệt giải độc trong Đông y truyền thống lại là "chứng" (còn gọi là "chứng hậu"), chứ không phải tác nhân gây nên "chứng" đó.
Trong trường hợp này tác nhân gây bệnh là vi khuẩn (hoặc virus). Thuốc thanh nhiệt giải độc của Đông y thường không có tác dụng trực tiếp đối với vi khuẩn, mà tác dụng gián tiếp thông qua "chứng", tức thông qua tác dụng điều tiết đối với cơ thể người.
Như chúng ta biết, "chứng" là tập hợp những phản ứng và biểu hiện của cơ thể, đối với những tác nhân gây bệnh (ở đây chủ yếu là vi khuẩn, virus). Do sự khác biệt về tuổi tác, giới tính, đặc điểm thể chất, ... nên cùng một loại vi khuẩn (hoặc virus) có thể gây nên loại bệnh có tính nhiệt ở người này, mà đồng thời cũng có thể gây nên loại bệnh có tính hàn ở một người khác. Điều này cho ta thấy, sự khác biệt của "chứng" phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố, chứ không đơn thuần do tác nhân gây bệnh, vi khuẩn hoặc virus gây bệnh, quyết định.
Thuốc thanh nhiệt giải độc, nói chung là loại thuốc có tính khổ hàn (đắng lạnh). Khi sử dụng cần tuân theo quy tắc "nhiệt giả hàn chi" và "hàn giả nhiệt chi", nghĩa là dùng thuốc có tính hàn để chữa chứng nhiệt và dùng thuốc có tính nhiệt để chữa chứng hàn.
Nói chung, đối với các chứng bệnh nhiệt, chỉ cần biện chứng và xử phương một cách thích đáng, sử dụng thuốc thanh nhiệt giải độc nói chung đều có thể thu được kết quả mong muốn.
Thế nhưng nếu lại sử dụng thuốc thanh nhiệt, để chữa chứng hàn, thì sẽ khiến bệnh thêm trầm trọng, chẳng khác gì "tuyết thượng gia sương" (đã bị rét vì tuyết lại giá vì sương).
Thí dụ, đối với chứng "tràng ung" (tương ứng với chứng viêm ruột thừa trong Tây y), nếu ở bệnh nhân có những biểu hiện của chứng "thực nhiệt", sử dụng các vị thuốc thanh nhiệt giải độc như đại hoàng, hồng đằng, liên kiều, kim ngân, qua lâu nhân, ... nói chung đều thu được kết quả khả quan. Nhưng đối với những bệnh nhân có những biểu hiện của chứng "hư hàn", sẽ không có tác dụng kháng viêm, ngược lại còn khiến bệnh càng thêm trầm trọng.
Đối với một số chứng bệnh nhiễm trùng, thuốc thanh nhiệt giải độc có tác dụng tương tự như thuốc kháng sinh, nhưng cơ chế tác dụng của thuốc thanh nhiệt giải độc và cơ chế tác dụng của thuốc kháng sinh không giống nhau.
Thuốc thanh nhiệt giải độc ít khi có tác dụng trực tiếp đối với vi khuẩn mà thường là giáp tiếp thông qua sự tạo ra môi trường mà vi khuẩn, virus không thể phát triển. Hơn nữa, ngoài tác dụng kháng khuẩn, thuốc thanh nhiệt giải độc còn có một số tác dụng khác, như thanh nhiệt, giải độc, trấn thống, giãn rộng huyết quản, tăng cường chức năng miễn dịch, ...
Hiệu quả trị liệu của thuốc thanh nhiệt giải độc đối với một số bệnh nhiễm khuẩn, đã mở ra cho khoa học một hướng mới: Tìm kiếm các chất kháng khuẩn, trên cơ sở phân ly các thành phần hữu hiệu từ thuốc thanh nhiệt giải độc.
Tuy nhiên, khi sử dụng trên lâm sàng, nếu coi nhẹ lý luận của Đông y, chỉ tiến hành nghiên cứu theo quan điểm của Tây y, sẽ không thể tránh khỏi hạn chế.
Ví dụ điển hình:
Hoàng liên là vị thuốc được Đông y sử dụng rất rộng rãi, trong điều trị nhiều bệnh nhiễm trùng từ thời xa xưa. Vài chục năm trước, berberine - một chất chiết xuất từ hoàng liên, được xem như thành phần có tác dụng kháng khuẩn có trong hoàng liên.
Thế nhưng, khi thử nghiệm sử dụng berberine tinh khiết để chữa trị các bệnh nhiễm khuẩn, thì tác dụng lại rất hạn chế: Ngoài tác dụng đối với một số chứng nhiễm khuẩn đường ruột, berberine ít có tác dụng đối với các chứng viêm đường hô hấp, viêm da, ... Phạm vi tác dụng của berberine hẹp hơn rất nhiều, so với hoàng liên ở dạng tự nhiên.
Như vậy, berberine chỉ là một trong số các thành phần hữu hiệu có trong hoàng liên. Hơn nữa, môi trường trong cơ thể và môi trường nuôi cấy nhân tạo hoàn toàn khác nhau.
Kết quả nghiên cứu còn cho thấy: Một số chất chiết xuất không có tác dụng kháng khuẩn trong môi trường nuôi cấy nhân tạo, nhưng khi sử dụng trong cơ thể người thì lại có tác dụng kháng khuẩn.
Tóm lại, thuốc thanh nhiệt giải độc của Đông y truyền thống, tuy có tác dụng kháng khuẩn nhất định, nhưng tác dụng của nó không đồng nhất với thuốc kháng sinh. Khi sử dụng thuốc thanh nhiệt giải độc trên lâm sàng, cần tuân theo nguyên tắc biện chứng luận trị của Đông y học, cần căn cứ vào sự khác biệt của bệnh tình mà gia giảm các vị thuốc một cách hợp lý, chứ không chỉ đơn thuần tính đến tác nhân gây bệnh. Ngược lại, nếu sử dụng thuốc thanh nhiệt giải độc của Đông y truyền thống, theo quan điểm dùng thuốc kháng sinh của Tây y, thường không thể có được hiệu quả mong muốn.
Phép cứu trường sinh
17:23 |
Phép cứu trường sinh
Lương y THÁI HƯ
1. Tuổi trời và Thọ mệnh
"Phản lão hoàn đồng" hoặc "trường sinh bất lão", chỉ là những truyền thuyết mang tính thần thoại, trái quy luật tự nhiên, trên thực tế không có khả năng. Tuy nhiên, ước mong sống đến cực hạn của thọ mệnh, thì lại là ước vọng có thể thực hiện.
Những năm gần đây, các nghiên cứu hiện đại về lão khoa đã tiến triển nhanh chóng. Quá trình lão hóa đã được khảo sát trên rất nhiều phương diện và đã đạt được nhiều thành quả.
Y học hiện đại đã xây dựng nên những lý thuyết có tính thuyết phục, dựa trên những luận cứ khoa học vững chắc. Tuy nhiên hiện tại khoa học vẫn chưa có được một quan điểm thống nhất về quá trình lão hóa và điều đáng tiếc nhất là những luận thuyết hiện đại đó, vẫn còn ít giá trị thực tiễn.
Y học hiện đại vẫn chưa tìm ra được biện pháp hoặc loại thuốc đặc hiệu, có khả năng kiềm chế sự lão hóa, kéo dài tuổi xuân và tuổi thọ.
Trong khi đó, từ ngàn năm xưa, y học cổ truyền phương Đông đã có những kiến giải độc đáo về cực hạn của thọ mệnh (giới hạn của tuổi thọ), lịch trình sinh mệnh và quá trình lão suy của con người. Và đặc biệt nhất là, đi kèm với những lý thuyết đó là một hệ thống các phương pháp dưỡng sinh hữu hiệu, mà mỗi người có thể thực hành ngay trong sinh hoạt thường ngày.
Trước hết là cực hạn thọ mệnh. Con người cuối cùng có thể sống được bao nhiêu lâu, đó là vấn đề cho đến nay khoa học vẫn chưa có kết luận chính xác.
Đối với vấn đề này, 2000 năm trước, "Nội kinh" - bộ sách kinh điển của Đông y đã đưa ra nhận định: "Chung kỳ thiên niên, độ bách tuế nãi khứ" (Hết tuổi trời, qua trăm năm là đi); cho rằng, cực hạn của thọ mệnh - giới hạn của tuổi thọ bình quân là 100.
Sách "Nội kinh" còn nói tới những trường hợp thượng thọ, có tính đột phá, vượt qua cực hạn đó, gọi là "Thiên thọ quá độ", nghĩa là có thể vượt qua tuổi trời, sống tới ngoài trăm tuổi. Trên thực tế, những trường hợp thượng thọ như vậy, từ xưa đến nay không phải hiếm gặp.
Đông y quan niệm, tiến trình sinh mệnh của con người diễn ra theo quy luật cơ bản: "Sinh, trưởng, tráng, lão, tử" - Sinh ra, trưởng thành, tráng thịnh, lão suy và tử vong.
Tiến trình sinh mệnh của mỗi một con người, đều phải trải qua 5 giai đoạn cơ bản như vậy. Lão suy là một giai đoạn tất yếu trong tiến trình sinh mệnh đó. Giai đoạn lão suy nói chung thường bắt đầu từ 50 tuổi. Cho dù mọi người đều không muốn lão hóa, nhưng đó là một hiện tượng, quy luật phổ biến. Tất cả các cá thể sống, đều sẽ phải dần dần lão hóa, suy lão và tử vong.
Tuy tất cả mọi người đều sẽ bị lão suy, nhưng ở từng cá thể quá trình đó bắt đầu sớm hay muộn, thì không giống nhau. Sự khác biệt đó, tuy được quyết định bởi rất nhiều yếu tố, như giới tính, đặc điểm di truyền và thể chất, cũng như hàng loạt nhân tố khác, nhưng yếu tố chủ yếu, đóng vai trò quyết định, đó là dưỡng sinh.
Đông y cho cho rằng, người thực hành tốt đạo dưỡng sinh thì, như "Nội kinh" viết: "Xuân thu giai độ bách tuế nhi động tác bất suy" - nghĩa là sống đến 100 tuổi vẫn khỏe mạnh, không có những biểu hiện của sự lão suy. Còn người không biết dưỡng sinh thì "Niên bán bách nhi động tác giai suy" - nghĩa là mới 50 tuổi, đã có những biểu hiện lão suy rất nặng, mắc nhiều bệnh, thậm chí tử vong.
Như vậy, bí quyết để có thể hưởng hết tuổi trời mà vẫn khỏe mạnh và minh mẫn, không có gì khác hơn là thực hành cho tốt đạo dưỡng sinh.
Đối với các lý luận và phương pháp dưỡng sinh của y học cổ truyền phương Đông, tất nhiên còn cần tiến hành thêm nhiều nghiên cứu để chứng minh, kiểm định. Tuy nhiên, trong tình hình hiện tại, đó là một hệ thống lý luận có giá trị thực tiễn rất cao. Các tư liệu lịch sử cho thấy, các nhà dưỡng sinh học và những người tu tập theo "Đạo dưỡng sinh" của y học cổ truyền, nói chung thường khỏe mạnh và đạt tới tuổi thọ rất cao.
Trong phạm vi bài viêt này, "Thuốc vườn nhà" không thể liệt kê hết tất cả các quan niệm, biện pháp và phương pháp dưỡng sinh trường thọ, mà các nhà dưỡng sinh đã sáng tạo ra trong suốt cả quá trình lịch sử lâu dài. Chỉ xin nói đến một phương pháp tương đối đơn giản, nhưng là một phương pháp kinh điển, dễ thực hiện, ít tốn kém, mà có thể mang lại hiệu quả rất cao, đó là "Phép cứu trường sinh", theo cách đặt tên của người Nhật.
2. Phép cứu trường sinh
"Cứu" là một phương pháp chữa bệnh rất quen thuộc, dân gian thường dùng chữa trị nhiều chứng bệnh. Tuy nhiên, đối với tác dụng tăng cường sức khỏe và tuổi thọ của phép cứu, thì không phải mọi người đều biết rõ.
Xét về ngữ nghĩa: "Cứu" là "hơ nóng". Để hơ nóng huyệt vị, có thể dùng nhiều loại nhiên liệu (chất đốt) khác nhau, nhưng lá ngải cứu là thứ được sử dụng nhiều nhất, nên khi nói đến "phép cứu", người ta thường gọi là "cứu ngải". "Phép cứu" là biện pháp dùng sức nóng tác động lên "huyệt vị", nhằm khai thông kinh mạch, điều hòa khí huyết, cân bằng Âm Dương, nâng cao sức khỏe và phòng trị bệnh tật.
Từ xưa, các thầy thuốc Đông y đã phát hiện, trên cơ thể con người có 34 huyệt, được mệnh danh là những "Huyệt trường thọ". Thường xuyên cứu ngải, hoặc xoa ấn các huyệt vị đó, có tác dụng tăng cường sức khỏe, kéo dài tuổi thọ.
Kết quả nghiên cứu hiện đại đã cho thấy, cứu ngải trên các huyệt trường thọ, có tác dụng xúc tiến quá trình tạo máu, cải thiện vi tuần hoàn, thúc đẩy huyết dịch lưu thông, điều hòa huyết áp, tăng cường khả năng chống lạnh của cơ thể, tăng cường miễn dịch, kháng viêm, giảm đau và chống dị ứng, ...
Kết quả nghiên cứu gần đây còn cho thấy, cứu ngải còn có tác dụng cải thiện chức năng của màng tế bào, thúc đẩy quá trình phục hồi hệ thống men trong nội bào.
Như vậy, cứu ngải có khả năng tăng cường sức khỏe, sức chống bệnh và kéo dài tuổi thọ, đúng như Đông y đã phát hiện từ ngàn năm trước.
Thực tế lâm sàng cho thấy, trong số 34 huyệt đề cập ở trên, có 8 huyệt quan trọng nhất là: "Quan nguyên", "Khí hải", "Thần khuyết", "Trung quản", "Túc tam lý", "Nội quan", "Dũng tuyền" và "Bách hội".
Trong số 8 huyệt này, "Túc tam lý" là huyệt được người Nhật hết sức hâm mộ. Tại Nhật, cứu huyệt "Túc tam lý" đã trở thành thói quen phổ biến, ở những người từ ba bốn mươi tuổi.
Hiện tại, phép "Cứu Túc tam lý" được người Nhật gọi là "Phép cứu trường sinh". Nguyên do là, trong một lần tiến hành điều tra về chất lượng dân số, người ta đã phát hiện, trong một gia tộc, tổng cộng có tới 20 người có tuổi thọ trên 100 tuổi; bí quyết trường thọ của gia tộc đó là, từ thế hệ này sang thế hệ khác, đều đặn thực hành "Phép cứu túc tam lý".
Sách "Văn khố danh gia mạn bút" (Nhật), có ghi lại sự việc: Năm Bảo Nguyên thứ 15, tháng 9, ngày 11, trong buổi lễ mừng thọ các "Thọ tinh", người ta đã hỏi cụ Mãn Bình, người cao tuổi nhất trong số đó, về bí quyết trường thọ, đã được trả lời "Thực ra không có bí quyết gì kỳ lạ, chỉ cần đều đặn cứu huyệt "Túc tam lý"; hàng tháng, chỉ cứu từ ngày sóc (mồng một) tới ngày mồng 8, tháng này sang tháng khác, suốt năm không nghỉ".
Số lần cứu thay đổi cụ thể như sau:
- Bên phải: Ngày sóc cứu 8 mồi; mồng hai 9 mồi; mồng ba 11 mồi; mồng bốn 11 mồi; mồng năm 9 mồi; mồng sáu 9 mồi; mồng bẩy 8 mồi; mồng tám 8 mồi.
- Bên trái: Ngày sóc 9 mồi; mồng hai 11 mồi; mồng ba 11 mồi; mồng bốn 11 mồi; mồng năm 10 mồi; mồng sáu 9 mồi; mồng bẩy 9 mồi; mồng tám 8 mồi.
Trên cơ thể mỗi người, có 2 huyệt "túc tam lý", ở trên 2 chân, trái và phải, đối xứng với nhau. Vị trí của huyệt "túc tam lý" nằm ở dưới đầu gối, dưới xương bánh chè 3 tấc và cách sống chân ra phía ngoài 1 tấc.
Theo thuyết Kinh lạc, "Túc tam lý" là huyệt vị nằm trên kinh Túc dương minh vị, có tác dụng điều lý Tỳ Vị, kiện vận tỳ dương, ôn trung tán hàn, bổ trung ích khí, phù bản cố nguyên, bổ hư cường thân, ...
Từ xưa dân gian đã lưu truyền câu tục ngữ về tác dụng của huyệt vị này như sau: "Nhược yếu an, Tam lý mạc yếu can" - nghĩa là, muốn khỏe mạnh bình an, thì huyệt Túc tam lý không được khô; ý là phải cứu liên tục, khiến da ở huyệt vị bị bỏng lở liên tục, không bao giờ khô.
Kết quả nghiên cứu hiện đại cũng cho thấy: Cứu ngải trên huyệt Túc tam lý có tác dụng chống lão hóa rõ rệt. Thông qua việc cải thiện hàng loạt các chỉ tiêu về tuần hoàn, hô hấp, thần kinh, nội tiết, miễn dịch và vận động ở người độ tuổi 50 và lão niên.
Trên thực tế, để tăng cường sức khỏe, tăng sức chống bệnh, kéo dài tuổi thọ và tuổi xuân, người xưa thường tiến hành cứu huyệt Túc tam lý theo cách như sau:
- Chuẩn bị sẵn một số mồi ngải. Mồi ngải được chế từ lá ngải cứu khô, bằng cách loại bỏ gân và cuống lá, vò thật mịn, sờ vào mềm như nhung, nên gọi là "ngải nhung". Dùng 3 ngón tay nhúm một ít ngải nhung, đặt lên khay men, ép thành hình chóp nón, kích thước cỡ bằng hạt ngô.
- Cắt gừng thành từng lát, đường kính 2-3cm, dầy 2-3mm, lấy kim châm một số lỗ ở giữa, sau đó đặt lên trên huyệt Túc tam lý.
- Đặt mồi ngải lên lát gừng, đốt cháy, khi cháy hết thay mồi thứ hai, rồi thứ ba. Mỗi huyệt (bên phải và bên trái) 3 mồi; ngày cứu 1 lần, liên tục 3 ngày (1 liệu trình), nghỉ 3 ngày lại tiếp tục 1 liệu trình khác.
Cũng có thể thay mồi ngải bằng điếu ngải. Điếu ngải có thể tự chế bằng cách cuốn ngải nhung thành điếu, hoặc mua tại các hiệu thuốc Đông y. Châm điếu ngải, rồi hơ trên huyệt Túc tam lý mỗi bên. Mỗi huyệt hơ nóng khoảng 10-15 phút, thấy da hồng lên là được.
Cứu ngải tuy là một phương pháp dưỡng sinh đơn giản, an toàn và dễ thực hiện. Tuy nhiên, cứu ngải cũng có một số chống chỉ định nhất định. Vì vậy, khi ứng dụng tốt nhất cần được sự tư vấn, hoặc tiến hành dưới sự giám sát của thầy thuốc Đông y.
Chữa bệnh tìm gốc
20:00 |
Chữa bệnh tìm gốc
Lương y THÁI HƯ
... Trưa đi học về. Bé Huy thấy trên bàn có sẵn mâm cơm làm sẵn từ sáng. Mẹ dặn trước khi ăn phải đem hấp lại. Nhưng vì bụng đói quá, bé Huy cứ thế là ăn liền! Và sau đó là lăn ra ngủ... Ngủ trưa dậy, Huy bắt đầu đau bụng, cảm thấy buồn nôn, đau đầu, người ớn lạnh và hâm hấp sốt, chạy vội vào nhà vệ sinh, đi ngoài như tháo cống. Sau đó liền phải đến bệnh viện để khám.
Đến trước Huy là một cụ già, cũng mắc bệnh đau bụng. Cụ già kể bệnh: "Cứ tảng sáng thức dậy là bụng thấy đau, trong bụng nghe có tiếng ùng ục, phải vội vàng khoác áo chạy ngay vào nhà vệ sinh. Nhưng chỉ cần ỉa tháo xong là bụng hết đau, và cả ngày lại bình thường chẳng có chuyện gì".
Khám bệnh cho hai người là một thầy thuốc đã cao tuổi. Cụ già được thầy thuốc cho uống loại thuốc viên là "Tứ thần hoàn", còn bé Huy thì được kê cho 3 thang "Hoắc hương chính khí ẩm" mang về sắc uống.
Huy cảm thấy rất lạ, liền hỏi tại sao hai người cùng bị bệnh đau bụng, mà lại cho dùng những loại thuốc khác nhau? Vị thầy thuốc mỉm cười giải thích: "Trị bệnh cầu bản; Cấp tắc trị kỳ tiêu; Hoãn tắc trị kỳ bản" - Nghĩa là: "Chữa bệnh phải tìm gốc; Bệnh cấp thì phải chữa "ngọn"; Bệnh hòa hoãn thì chữa vào "gốc".
Thế nhưng, thế nào là "chữa bệnh tìm gốc"? Hơn nữa, "gốc" và "ngọn" ở đây là gì? Bé Huy vẫn chưa hiểu gì cả! Nhưng thấy nhiều người còn đang chờ khám bệnh, đành ấm ức xin phép ra về.
-------------
• Trong Đông y, có rất nhiều nguyên tắc và phương pháp chữa bệnh. Tùy theo mức độ trừu tượng cao hay thấp và phạm vi ứng dụng rộng hay hẹp, các nguyên tắc, phương pháp chữa bệnh được phân chia thành 3 cấp độ:
- Cấp độ cao nhất: Bao gồm những khái niện, những tư tưởng cơ bản, có tính chỉ đạo. Thông thường, đó là sản vật của tư duy triết học. "Trị bệnh cầu bản" – "Chữa bệnh tìm gốc" là một trong những nguyên tắc ở cấp độ này. "Chữa bệnh tìm gốc" là nguyên tắc cơ bản, tổng quát nhất, trong lý luận về trị liệu học của Đông y học.
- Cấp độ thứ hai: Bao gồm những nguyên tắc có tính cương lĩnh, từ đó lập ra những phương pháp trị liệu cụ thể. Thí dụ, "Hàn giả nhiệt chi" (gặp chứng hàn thì dùng loại thuốc ôn nhiệt để chữa), "Nhiệt giả hàn chi" (gặp chứng nhiệt thì dùng loại thuốc hàn lương để chữa", hay như "Hoãn tắc trị bản", "Cấp tắc trị tiêu" đều là những nguyên tắc chữa bệnh (trị tắc) thuộc cấp độ này.
- Cấp độ thứ ba: Là tập hợp các phương pháp chữa bệnh cụ thể (trị pháp) trên lâm sàng. Thí dụ, "Thanh nhiệt giải độc", "Hoạt huyết hóa ứ", "Kiện tỳ bổ khí", "Thư can lý khí", "Tư âm giáng hỏa", ... đều là những phương pháp ở cấp độ này.
• Trở lại những điều thắc mắc của bé Huy...
"Gốc" và "ngọn" là những thuật ngữ thường dùng để phân tích bệnh tình trong Đông y. Đó là một cặp khái niệm có tính tương đối, hàm nghĩa: Chủ yếu và thứ yếu, trước và sau, nguyên nhân và hậu quả, ... Thường dùng để thuyết minh bản chất và hiện tượng trong quá trình bệnh biến. Nói chung: Nguyên nhân gây ra bệnh là "gốc", các triệu chứng biểu hiện ra ngoài là "ngọn"; các nhân tố nội tại cũng là "gốc", các nhân tố đến từ bên ngoài cũng là "ngọn"...
Đối với các bệnh tật khác nhau, hoặc đối với các giai đoạn khác nhau của cùng một bệnh, người ta cũng dùng khái niệm "gốc" và "ngọn" để phân tích và xác định phương hướng điều trị. Khi bệnh thế hòa hoãn, thì "gốc" đóng vai trò chủ yếu và cũng là trọng điểm điều trị. Khi vừa mắc phải một bệnh mới hoặc trong quá trình bệnh biến, xuất hiện những dấu hiệu nguy kịch, thì "ngọn" đóng vai trò chủ yếu và cũng là trọng điểm điều trị.
"Trị bệnh cầu bản" – "Chữa bệnh tìm gốc" nghĩa là khi chữa trị bệnh tật cần xác định chính xác gốc bệnh, tiếp đó là nhằm vào gốc bệnh mà tiến hành chữa trị. Nghĩa là phải khéo léo phát hiện ra nguyên nhân cơ bản đã dẫn đến bệnh tật, rồi nhằm đúng vào nguyên nhân cơ bản đó mà tiến hành thực thi các biện pháp chữa trị cụ thể. "Tìm gốc" là tiền đề và là căn cứ của "Chữa gốc". "Chữa gốc" là mục đích của "Tìm gốc". "Tìm gốc" và "Chữa gốc" là một chỉnh thể hữu cơ, không thể chia cắt.
Hoãn chữa gốc; Cấp chữa ngọn
Chữa gốc, chủ yếu được áp dụng trong trường hợp bệnh tình tương đối hoãn hòa, các triệu chứng biểu hiện không quá cấp bách, khi đó cần nhằm vào gốc bệnh mà chữa.
Thí dụ, trường hợp cụ già bị ỉa chảy vào lúc sáng sớm (ngũ canh tiết) trong câu chuyện trên. Đó là một loại bệnh mạn tính, nguyên nhân là "tỳ thận dương hư", chủ yếu là thận dương hư. Cho nên mới dùng thuốc "Tứ thần hoàn", có tác dụng bổ thận dương và tỳ dương, để "trị gốc". Thận dương và tỳ dương vững lên dần, thì hiện tượng ỉa chảy lúc sáng sớm cũng "rút lui" dần dần.
Chữa ngọn, chủ yếu được áp dụng trong tình huống các triệu chứng biểu hiện mãnh liệt và cấp bách, như trong trường hợp của bé Huy. Nguyên nhân là do ăn phải thức ăn nguội lạnh, bị "hàn tà" và "thấp khí" (ở đây là các loại vi khuẩn gây bệnh ỉa chảy) thâm nhập vào cơ quan tiêu hoá. Đó là bệnh mới mắc, là bệnh cấp, những chứng trạng như đau bụng, ỉa chảy, đau đầu, ... cũng đều cấp bách, cho nên phải tiến hành "chữa ngọn", dùng "Hoắc hương chính khí ẩm" để trừ bỏ hàn tà và thấp trệ.
Chữa gốc kiêm chữa ngọn
Ngoài nguyên tắc "Bệnh hoãn chữa gốc, bệnh cấp chữa ngọn", trong rất nhiều trường hợp, Đông y còn sử dụng phương pháp "tiêu bản kiêm trị" (nghĩa là chữa gốc kiêm chữa ngọn) đồng thời chữa cả gốc lẫn ngọn.
Thí dụ, trường hợp bệnh nhân cơ thể vốn yếu ớt, lại bị cảm mạo, thì sẽ phải chú ý cả "gốc" lẫn "ngọn". Nếu chỉ chữa ngọn (chỉ dùng thuốc cho ra mồ hôi để giải cảm), thì cơ thể sẽ không chịu nổi vì mất nước quá nhiều. Ngược lại, nếu chỉ chữa gốc (chỉ bồi bổ cơ thể) mà không sử dụng thuốc khu trừ bệnh tà, thì bệnh độc (vi trùng, vi khuẩn gây bệnh) sẽ thâm nhập càng sâu, bệnh sẽ "nhập lý", rất khó chữa khỏi. Cho nên, trường hợp này phải đồng thời trị cả gốc lẫn ngọn: Vừa dùng thuốc bồi bổ cơ thể, vừa dùng thuốc khu trừ bệnh tà. Như vậy mới trừ khử được bệnh độc mà không làm tổn thương thân thể.
Tóm lại, "Trị bệnh cầu bản" - chữa bệnh tìm gốc, là phải nắm vững bản chất bệnh, tập trung vào đó mà tiến hành điều trị. Mặc dù một số trường hợp phải chữa "ngọn", nhưng không bao giờ được quên cái "gốc". Đặc biệt là, khi bệnh tình diễn biến phức tạp. Có nắm vững gốc bệnh, mới có thể giành thế chủ động, mới không lâm vào tình trạng bị động, chữa trị theo kiểu "đau đầu chữa đầu, đau chân chữa chân" - chỉ biết chạy theo các triệu chứng bên ngoài một cách mù quáng. Thực tế lâm sàng cho thấy, nếu chỉ chạy theo các triệu chứng lặt vặt, không những không chữa khỏi được bệnh, không những sẽ tốn công tốn thuốc, mà còn khiến bệnh tình trở nên trầm trọng hơn.
• Hoắc hương chính khí ẩm
- Xuất xứ: Sách "Hòa tễ cục phương".
- Thành phần: Hoắc hương 10g, tử tô 10g, bạch chỉ 10g, cát cánh 10g, trần bì 10g, hậu phác 12g, đại phúc bì 15g, bán hạ 12g, thương truật 10g, phục linh 15g, cam thảo 3g.
- Cách dùng: Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang; hoặc chế thuốc viên hay thuốc tán.
- Công dụng: Tán hàn giải biểu (giải cảm lạnh), trừ thấp, hòa trung (điều hòa chức năng tiêu hóa).
- Chứng bệnh thích ứng: Cảm phải hàn tà thấp khí, dẫn tới các chứng trạng như sợ lạnh, phát sốt, đau đầu, tức ngực, đau bụng, lợm giọng, buồn nôn, nôn, chán ăn hoặc đại tiện như tháo cống.
- Phân tích: Bài thuốc dùng hoắc hương làm chủ vị, vừa có tác dụng giải trừ thử thấp, lại có tác dụng tiêu trừ thấp trọc ở tràng vị (đào thải chất độc ở đường ruột). Phối hợp với tử tô, bạch chỉ và cát cánh để tăng cường chức năng giải trừ ngoại tà. Phối hợp với hậu phác, đại phúc bì để tiêu trừ ngực bụng đau tức; phối hợp với bán hạ, trần bì để hòa vị giáng nghịch (chống nôn); lại thêm thương truật, phục linh, cam thảo để lợi thấp, kiện tỳ. Tổ hợp lại thành phương thuốc chữa ngoại cảm hàn thấp và rối loạn tiêu hóa, có tác dụng tốt.
• Tứ thần hoàn
- Thành phần: Hoắc hương 10g, tử tô 10g, bạch chỉ 10g, cát cánh 10g, trần bì 10g, hậu phác 12g, đại phúc bì 15g, bán hạ 12g, thương truật 10g, phục linh 15g, cam thảo 3g.
- Cách dùng: Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang; hoặc chế thuốc viên hay thuốc tán.
- Công dụng: Tán hàn giải biểu (giải cảm lạnh), trừ thấp, hòa trung (điều hòa chức năng tiêu hóa).
- Chứng bệnh thích ứng: Cảm phải hàn tà thấp khí, dẫn tới các chứng trạng như sợ lạnh, phát sốt, đau đầu, tức ngực, đau bụng, lợm giọng, buồn nôn, nôn, chán ăn hoặc đại tiện như tháo cống.
- Phân tích: Bài thuốc dùng hoắc hương làm chủ vị, vừa có tác dụng giải trừ thử thấp, lại có tác dụng tiêu trừ thấp trọc ở tràng vị (đào thải chất độc ở đường ruột). Phối hợp với tử tô, bạch chỉ và cát cánh để tăng cường chức năng giải trừ ngoại tà. Phối hợp với hậu phác, đại phúc bì để tiêu trừ ngực bụng đau tức; phối hợp với bán hạ, trần bì để hòa vị giáng nghịch (chống nôn); lại thêm thương truật, phục linh, cam thảo để lợi thấp, kiện tỳ. Tổ hợp lại thành phương thuốc chữa ngoại cảm hàn thấp và rối loạn tiêu hóa, có tác dụng tốt.
• Tứ thần hoàn
- Xuất xứ: Sách "Nội khoa trích yếu".
- Thành phần: Bổ cốt chi 120g, ngũ vị tử 60g, nhục đậu khấu 60g, ngô thù du 30g.
- Cách dùng: Trộn với nước sắc gừng tươi làm thuốc viên, hoặc giảm liều lượng theo tỷ lệ các vị thuốc, thêm gừng nướng sắc uống.
- Công dụng: Ôn bổ tỳ thận, chữa ỉa chảy lâu ngày.
- Chứng bệnh thích ứng: Chữa tỳ thận dương hư, dẫn tới ỉa chảy lâu ngày hoặc ngũ canh tiết (ỉa chảy lúc tảng sáng), chán ăn, đầy bụng, tiêu hóa kém; hoặc đau bụng, chân tay lạnh, tinh thần uể oải, người mệt mỏi, mạch trầm trì, chất lưỡi nhạt.
- Phân tích: Tiêu chảy lâu ngày thường liên quan đến chức năng của hai tạng Tỳ và Thận; khi chữa trị cần tập trung vào thận. Bài thuốc dùng bổ cốt chi, có tác dụng ôn bổ thận dương, làm chủ vị. Cùng sự trợ giúp của ngô thù du để ôn trung tán hàn (làm ấm, giải trừ hàn khí ở trung tiêu tỳ vị); dùng nhục đậu khấu, ngũ vị tử để sáp tràng cố thoát (làm săn niêm mạc ruột, chống tiết tả). Nhờ kết hợp các tác dụng trên, bài thuốc có tác dụng chữa ỉa chảy lâu ngày, nhất là ỉa chảy lúc sáng sớm, hiệu quả khá tốt.
"Đắp thuốc lên rốn" - Phương pháp chữa bệnh đơn giản mà hiệu quả
16:53 |
"Đắp thuốc lên rốn" - Phương pháp chữa bệnh đơn giản mà hiệu quả
Trong Đông y dược cổ truyền, có nhiều phương pháp chữa bệnh đơn giản, rẻ tiền, mà hiệu nghiệm. "Phu tề liệu pháp", có nghĩa là "đắp thuốc lên rốn" là một trong số đó.
Kinh nghiệm thực tế cho thấy, "phu tề liệu pháp" (sau đây xin gọi vắn tắt là "đắp rốn") có một số ưu điểm chủ yếu như sau:
- Thứ nhất: Đơn giản và dễ học. Thầy thuốc và bệnh nhân đều có thể nhanh chóng nắm vững, dễ dàng áp dụng.
- Thứ hai: Diện bệnh và phạm vi áp dụng rất rộng. Có thể sử dụng để điều trị các bệnh nội khoa, ngoại khoa, phụ khoa, nhi khoa, ... Trẻ nhỏ cơ thể còn non nớt, người già cơ thể đã suy yếu, khó cho uống thuốc, đặc biệt là đối với những trường hợp không thể đưa thuốc qua đường miệng, "đắp rốn" là biện pháp có thể áp dụng.
- Thứ ba: An toàn và ít tác dụng phụ. Đặc biệt, đối với loại Đông dược có tính kích thích mạnh, hoặc có độc tính, đưa thuốc vào theo đường uống rất dễ gây kích ứng hoặc gây trúng độc. Đắp lên rốn sẽ tránh được phản ứng bất lợi, mà vẫn phát huy tác dụng điều trị.
- Thứ tư: Lượng thuốc cần sử dụng rất ít. Thông thường, để đắp thuốc lên rốn, mỗi lần chỉ cần dùng khoảng từ 3-15g dược liệu. Như vậy, vừa tiết kiệm được thuốc, lại dễ áp dụng đối với những đối tượng có thu nhập thấp.
• Cơ chế tác dụng:
Vì sao đắp thuốc lên rốn lại có thể thể chữa trị được bệnh?
Theo Đông y, cơ thể người là một chỉnh thể. Ngũ tạng lục phủ ở bên trong và tứ chi bách hài, bì mao tấu lý ở bên ngoài, được nối liền với nhau bởi hệ thống các đường Kinh Lạc - tạo thành một chỉnh thể hữu cơ thống nhất.
Rốn có vị trí tương ứng với huyệt "Thần khuyết", một huyệt vị đặc biệt. "Thần khuyết" là "đầu mối giao thông" quan trọng, trong hệ thống các đường Kinh Lạc, liên hệ mật thiết với ngũ tạng lục phủ, 12 kinh mạch và kỳ kinh bát mạch.
Y thư viết "Tề thông bách mạch": Rốn liên thông với tất cả các Kinh Mạch trong nhân thể; không những là "Tiên thiên chi bản nguyên" (nguồn gốc của tiên thiên), mà còn là "Hậu thiên chi căn đế" (cuống rễ của hậu thiên). Do đó, chỉ cần dùng thuốc tác động lên rốn, là có thể kích phát kinh khí, sơ thông kinh lạc, cân bằng Âm Dương và điều tiết công năng của ngũ tạng lục phủ, nhờ vậy mà có thể phòng ngừa và chữa trị bệnh tật.
Chính như Danh y Ngô Sư Cơ đã nhận định "Đắp thuốc lên rốn, chẳng khác gì uống thuốc qua miệng".
Kết quả nghiên cứu lâm sàng hiện đại đã chứng thực tính khoa học của phương pháp đắp rốn. Các thông báo khoa học những năm gần đây cho thấy, đắp thuốc lên rốn có khả năng tăng cường miễn dịch, chống lão suy, chống dị ứng, điều tiết chức năng của thần kinh thực vật, cải thiện vi tuần hoàn, ...
• Một số vấn đề cần lưu ý:
Thứ nhất: Đắp rốn tuy chỉ là biện pháp "ngoại trị" (tác động từ bên ngoài), nhưng muốn có kết quả tốt và tránh những tác dụng phụ ngoài sự mong muốn, cũng vẫn cần tuân theo nguyên tắc "Biện chứng luận trị" của Đông y học.
Thứ hai: Để nâng cao hiệu quả điều trị, trong một số trường hợp, vẫn cần kết hợp với một số phương pháp chữa từ bên trong (nội trị).
Thứ ba: Cần căn cứ bệnh tình cụ thể mà chọn dùng loại thuốc, dạng thuốc thích hợp. Dược liệu khô nói chung được tán thành bột mịn, hòa với dung môi thành cao mềm, rồi đắp (bôi) lên rốn. Nếu là dược liệu tươi, có thể giã nhuyễn, rồi đắp lên rốn. Sau cùng, dùng băng dính hoặc gạc cố định lại. Tùy theo bệnh tình cụ thể, có thể 1-2 ngày thay thuốc 1 lần; hoặc có thể 3-5 ngày thay thuốc 1 lần.
Thứ tư: Khi đắp thuốc, người bệnh cần nằm ngửa. Trước khi đắp thuốc cần dùng nước ấm và cồn y tế để sát trùng vùng da rốn. Khi thay thuốc, dùng bông có tẩm dầu thực vật để lau sạch thuốc cũ, không dùng dầu hỏa hoặc xà-phòng.
Thứ năm: Đắp rốn thường sử dụng loại thuốc có tính nhiệt, kích thích mạnh. Đắp thuốc vào nếu thấy quá ngứa, nóng rát, hoặc da phồng mụn nước, thì nên tạm ngừng. Để giảm bớt những sự cố như trên, với các thuốc có tính kích thích mạnh chỉ nên dùng liều nhỏ. Đối với các bệnh mạn tính, nên đắp thuốc theo cách gián đoạn, sau mỗi liệu trình nên nghỉ 3-5 ngày.
Thứ sáu: Đối với trẻ nhỏ, cơ thể còn non nớt, khi đắp thuốc cần chú ý hộ lý; tránh để thuốc bị rơi ra ngoài. Ngoài ra, đối với trẻ nhỏ không nên sử dụng những loại thuốc có tính kích thích mạnh; thời gian đắp thuốc cũng không nên quá dài.
Thứ bẩy: Đối với phụ nữ đang mang thai, cần thăm khám kỹ lưỡng và hết sức thận trọng trong khi sử dụng.
• Một số ứng dụng cụ thể:
(1) Chữa hãn chứng (rối loạn tiết mồ hôi):
- Người mồ hôi ra nhiều, cộng thêm các triệu chứng như sợ gió, thân mình tê nhức, lúc nóng lúc rét, tinh thần mệt mỏi, kém ăn, chất lưỡi đỏ nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch chậm, ...
- Có thể dùng phương thuốc sau: Ngũ bội tử, nghệ - 2 thứ liều lượng bằng nhau; tán mịn, trộn đều cất vào lọ dùng dần. Mỗi lần lấy một ít bột thuốc trộn với chút mật ong cho dẻo và đắp lên rốn; sau đó dùng gạc sạch phủ lên và dùng băng dính hoặc cao dán cố định lại. Mỗi ngày thay thuốc 1 lần. Sau 7 ngày (1 liệu trình) nghỉ 3 ngày lại tiếp tục 1 liệu trình khác, cho đến khi khỏi bệnh.
(2) Chữa trẻ nhỏ đái dầm:
- Trẻ em đái dầm tuy có nhiều nguyên nhân, song Đông y cho rằng đều là do Thận và Bàng quang không kiện toàn (bất cố). Chữa đái dầm bằng cách đắp thuốc lên rốn có hiệu quả rất tốt, dễ áp dụng trong điều kiện gia đình, không gây đau đớn và trẻ em dễ dàng tiếp thụ. Nếu nhà bạn có trẻ bị đái dầm, có thể chữa thử bằng một trong hai bài thuốc sau.
- Bài 1: Lấy một chút ngũ bội tử đem nghiền mịn, trộn với nước bọt (nước miếng) cho dẻo và đắp lên rốn; lấy gạc phủ lên, sau dùng băng dính cố định lại. Mỗi tối trước khi đi ngủ thay thuốc 1 lần, cứ như vậy cho đến khi khỏi.
- Bài 2: Ngũ bội tử, hà thủ ô - mỗi thứ 3g, đem nghiền mịn, trộn với giấm ăn thành một thứ cao thuốc, đem đắp lên rốn và cố định lại. Mỗi tối thay thuốc 1 lần.
(3) Chữa trẻ khóc dạ đề (khóc đêm): Dùng hạt bìm bìm 7 hạt, giã nát, trộn với nước ấm thành bột nhão. Trước khi nằm ngủ đắp lên rốn, dùng băng dính cố định lại.
(4) Chữa trẻ nhỏ bị trướng bụng, bí đái: Dùng lá chanh 1 nắm nhỏ, giã nát, đem hấp nóng, để trẻ nằm ngửa rồi lấy lá tranh đắp lên rốn. Thông thường, sau một lúc thì tiểu tiện thông và bụng bớt trướng.
Lưu ý: Kinh nghiệm lâm sàng cho thấy cho thấy, các phương thuốc trên đều mang lại hiệu quả tốt. Tuy nhiên, mỗi loại bột thuốc cần phải trộn với một loại dung môi nhất định, đúng như đã ghi trong đơn thuốc, hiệu quả mới tốt.
Kinh nghiệm thực tế cho thấy, "phu tề liệu pháp" (sau đây xin gọi vắn tắt là "đắp rốn") có một số ưu điểm chủ yếu như sau:
- Thứ nhất: Đơn giản và dễ học. Thầy thuốc và bệnh nhân đều có thể nhanh chóng nắm vững, dễ dàng áp dụng.
- Thứ hai: Diện bệnh và phạm vi áp dụng rất rộng. Có thể sử dụng để điều trị các bệnh nội khoa, ngoại khoa, phụ khoa, nhi khoa, ... Trẻ nhỏ cơ thể còn non nớt, người già cơ thể đã suy yếu, khó cho uống thuốc, đặc biệt là đối với những trường hợp không thể đưa thuốc qua đường miệng, "đắp rốn" là biện pháp có thể áp dụng.
- Thứ ba: An toàn và ít tác dụng phụ. Đặc biệt, đối với loại Đông dược có tính kích thích mạnh, hoặc có độc tính, đưa thuốc vào theo đường uống rất dễ gây kích ứng hoặc gây trúng độc. Đắp lên rốn sẽ tránh được phản ứng bất lợi, mà vẫn phát huy tác dụng điều trị.
- Thứ tư: Lượng thuốc cần sử dụng rất ít. Thông thường, để đắp thuốc lên rốn, mỗi lần chỉ cần dùng khoảng từ 3-15g dược liệu. Như vậy, vừa tiết kiệm được thuốc, lại dễ áp dụng đối với những đối tượng có thu nhập thấp.
• Cơ chế tác dụng:
Vì sao đắp thuốc lên rốn lại có thể thể chữa trị được bệnh?
Theo Đông y, cơ thể người là một chỉnh thể. Ngũ tạng lục phủ ở bên trong và tứ chi bách hài, bì mao tấu lý ở bên ngoài, được nối liền với nhau bởi hệ thống các đường Kinh Lạc - tạo thành một chỉnh thể hữu cơ thống nhất.
Rốn có vị trí tương ứng với huyệt "Thần khuyết", một huyệt vị đặc biệt. "Thần khuyết" là "đầu mối giao thông" quan trọng, trong hệ thống các đường Kinh Lạc, liên hệ mật thiết với ngũ tạng lục phủ, 12 kinh mạch và kỳ kinh bát mạch.
Y thư viết "Tề thông bách mạch": Rốn liên thông với tất cả các Kinh Mạch trong nhân thể; không những là "Tiên thiên chi bản nguyên" (nguồn gốc của tiên thiên), mà còn là "Hậu thiên chi căn đế" (cuống rễ của hậu thiên). Do đó, chỉ cần dùng thuốc tác động lên rốn, là có thể kích phát kinh khí, sơ thông kinh lạc, cân bằng Âm Dương và điều tiết công năng của ngũ tạng lục phủ, nhờ vậy mà có thể phòng ngừa và chữa trị bệnh tật.
Chính như Danh y Ngô Sư Cơ đã nhận định "Đắp thuốc lên rốn, chẳng khác gì uống thuốc qua miệng".
Kết quả nghiên cứu lâm sàng hiện đại đã chứng thực tính khoa học của phương pháp đắp rốn. Các thông báo khoa học những năm gần đây cho thấy, đắp thuốc lên rốn có khả năng tăng cường miễn dịch, chống lão suy, chống dị ứng, điều tiết chức năng của thần kinh thực vật, cải thiện vi tuần hoàn, ...
• Một số vấn đề cần lưu ý:
Thứ nhất: Đắp rốn tuy chỉ là biện pháp "ngoại trị" (tác động từ bên ngoài), nhưng muốn có kết quả tốt và tránh những tác dụng phụ ngoài sự mong muốn, cũng vẫn cần tuân theo nguyên tắc "Biện chứng luận trị" của Đông y học.
Thứ hai: Để nâng cao hiệu quả điều trị, trong một số trường hợp, vẫn cần kết hợp với một số phương pháp chữa từ bên trong (nội trị).
Thứ ba: Cần căn cứ bệnh tình cụ thể mà chọn dùng loại thuốc, dạng thuốc thích hợp. Dược liệu khô nói chung được tán thành bột mịn, hòa với dung môi thành cao mềm, rồi đắp (bôi) lên rốn. Nếu là dược liệu tươi, có thể giã nhuyễn, rồi đắp lên rốn. Sau cùng, dùng băng dính hoặc gạc cố định lại. Tùy theo bệnh tình cụ thể, có thể 1-2 ngày thay thuốc 1 lần; hoặc có thể 3-5 ngày thay thuốc 1 lần.
Thứ tư: Khi đắp thuốc, người bệnh cần nằm ngửa. Trước khi đắp thuốc cần dùng nước ấm và cồn y tế để sát trùng vùng da rốn. Khi thay thuốc, dùng bông có tẩm dầu thực vật để lau sạch thuốc cũ, không dùng dầu hỏa hoặc xà-phòng.
Thứ năm: Đắp rốn thường sử dụng loại thuốc có tính nhiệt, kích thích mạnh. Đắp thuốc vào nếu thấy quá ngứa, nóng rát, hoặc da phồng mụn nước, thì nên tạm ngừng. Để giảm bớt những sự cố như trên, với các thuốc có tính kích thích mạnh chỉ nên dùng liều nhỏ. Đối với các bệnh mạn tính, nên đắp thuốc theo cách gián đoạn, sau mỗi liệu trình nên nghỉ 3-5 ngày.
Thứ sáu: Đối với trẻ nhỏ, cơ thể còn non nớt, khi đắp thuốc cần chú ý hộ lý; tránh để thuốc bị rơi ra ngoài. Ngoài ra, đối với trẻ nhỏ không nên sử dụng những loại thuốc có tính kích thích mạnh; thời gian đắp thuốc cũng không nên quá dài.
Thứ bẩy: Đối với phụ nữ đang mang thai, cần thăm khám kỹ lưỡng và hết sức thận trọng trong khi sử dụng.
• Một số ứng dụng cụ thể:
(1) Chữa hãn chứng (rối loạn tiết mồ hôi):
- Người mồ hôi ra nhiều, cộng thêm các triệu chứng như sợ gió, thân mình tê nhức, lúc nóng lúc rét, tinh thần mệt mỏi, kém ăn, chất lưỡi đỏ nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch chậm, ...
- Có thể dùng phương thuốc sau: Ngũ bội tử, nghệ - 2 thứ liều lượng bằng nhau; tán mịn, trộn đều cất vào lọ dùng dần. Mỗi lần lấy một ít bột thuốc trộn với chút mật ong cho dẻo và đắp lên rốn; sau đó dùng gạc sạch phủ lên và dùng băng dính hoặc cao dán cố định lại. Mỗi ngày thay thuốc 1 lần. Sau 7 ngày (1 liệu trình) nghỉ 3 ngày lại tiếp tục 1 liệu trình khác, cho đến khi khỏi bệnh.
(2) Chữa trẻ nhỏ đái dầm:
- Trẻ em đái dầm tuy có nhiều nguyên nhân, song Đông y cho rằng đều là do Thận và Bàng quang không kiện toàn (bất cố). Chữa đái dầm bằng cách đắp thuốc lên rốn có hiệu quả rất tốt, dễ áp dụng trong điều kiện gia đình, không gây đau đớn và trẻ em dễ dàng tiếp thụ. Nếu nhà bạn có trẻ bị đái dầm, có thể chữa thử bằng một trong hai bài thuốc sau.
- Bài 1: Lấy một chút ngũ bội tử đem nghiền mịn, trộn với nước bọt (nước miếng) cho dẻo và đắp lên rốn; lấy gạc phủ lên, sau dùng băng dính cố định lại. Mỗi tối trước khi đi ngủ thay thuốc 1 lần, cứ như vậy cho đến khi khỏi.
- Bài 2: Ngũ bội tử, hà thủ ô - mỗi thứ 3g, đem nghiền mịn, trộn với giấm ăn thành một thứ cao thuốc, đem đắp lên rốn và cố định lại. Mỗi tối thay thuốc 1 lần.
(3) Chữa trẻ khóc dạ đề (khóc đêm): Dùng hạt bìm bìm 7 hạt, giã nát, trộn với nước ấm thành bột nhão. Trước khi nằm ngủ đắp lên rốn, dùng băng dính cố định lại.
(4) Chữa trẻ nhỏ bị trướng bụng, bí đái: Dùng lá chanh 1 nắm nhỏ, giã nát, đem hấp nóng, để trẻ nằm ngửa rồi lấy lá tranh đắp lên rốn. Thông thường, sau một lúc thì tiểu tiện thông và bụng bớt trướng.
Lưu ý: Kinh nghiệm lâm sàng cho thấy cho thấy, các phương thuốc trên đều mang lại hiệu quả tốt. Tuy nhiên, mỗi loại bột thuốc cần phải trộn với một loại dung môi nhất định, đúng như đã ghi trong đơn thuốc, hiệu quả mới tốt.
Hà thủ ô có tác dụng tăng cường chức năng sinh lý?
16:35 |
Lương y HUYÊN THẢO
Khi
nói đến vị thuốc "hà thủ ô", thông thường người ta hay cho rằng, đó
chỉ là một vị thuốc có tác dụng làm đen râu tóc và chữa chứng bệnh tóc bạc sớm.
Thế nhưng vài năm gần đây, ở Hà Nội và một số thành phố khác, đã lan truyền
thông tin cho rằng "hà thủ ô" có tác dụng tăng cường chức năng sinh
lý rất mạnh đối với nam giới, được suy tôn như một thứ "thần dược" của
đấng mày râu.
Vậy
thì trên thực tế, tác dụng của "hà thủ ô" là như thế nào?
Để
bạn đọc có thể tự rút ra kết luận, "Thuốc vườn nhà"
xin thông tin tương đối đầy đủ và toàn diện về tác dụng, cũng như những vấn đề
cần chú ý, kiêng kỵ, trong khi sử dụng vị thuốc này.
LAI
LỊCH VỊ THUỐC
Để bạn đọc thấy rõ hơn vai trò của "hà
thủ ô" đối với sức khỏe, trước hết xin trích dẫn một vài tài liệu
có liên quan tới lai lịch và tác dụng của vị thuốc này.
Trong "Hà Thủ Ô truyện" (truyện kể về ông Hà Thủ Ô) của Lý Cao, có
thuật lại sự tích như sau:
"Hà Thủ Ô là
người huyện Nam Hà, thuộc Thuận Châu (nay thuộc huyện Lục Xuyên, tỉnh Quảng Tây,
Trung Quốc). Ông nội của Hà Thủ Ô vốn tên là Hà Điền Nhi, bẩm sinh yếu ớt, tới
58 tuổi vẫn không vợ con. Chán đời, ông vào núi cùng với các đạo sĩ tu tập.
Một đêm say rượu, nằm trên sườn núi, ông thấy có thứ cây leo lạ, cành lá cứ
quấn lấy nhau, rung động, lâu lâu rời ra rồi lại quấn lấy nhau, như đôi nam nữ
đang ân ái. Điền Nhi thấy kỳ lạ, sáng hôm sau bèn đào lấy củ đem về. Hỏi mọi
người, nhưng không ai biết đó là củ gì.
Sau một thời gian, có một ông già từ phương xa lại chơi, Điền Nhi đem ra hỏi,
ông già bảo: Anh vốn không có con, mà gặp thứ cây kỳ lạ như vậy, có lẽ đó là
một vị thuốc tiên. Sao không uống thử?
Điền Nhi liền đem rễ cây tán thành bột, mỗi lần dùng 1 đồng cân (3g), hòa với
rượu uống. Uống được 7 ngày, đã nảy sinh ham muốn tình dục, uống luôn vài
tháng, thì thân thể mạnh khỏe như người bình thường, vì thế nên uống mãi, dần
dần mỗi lần tăng lên tới 2 đồng cân (khoảng 6g). Uống suốt một năm, các thứ
bệnh tật đều khỏi cả, tóc đương trắng hóa đen, vẻ mặt trẻ lại.
Điền Nhi lấy vợ và trong khoảng 10 năm, đã sinh được luôn vài người con. Từ đó
Điền Nhi đổi tên là Năng Tự ("năng tự" có nghĩa là có thể có con cháu
nối dõi tông đường). Con Năng Tự là Điền Tú, cũng uống thứ thuốc đó. Cả hai bố
con đều thọ tới 160 tuổi. Điền Tú có con là Thủ Ô. Thủ Ô cũng uống rễ cây đó,
cũng sinh được nhiều con, thọ tới 130 tuổi, tóc vẫn đen tuyền.
Khi đó, có một người bạn thân cùng làng là Lý An Kỳ, đã lấy trộm phương thuốc
bí truyền 3 đời của nhà họ Hà, đem về uống cũng khỏe mạnh và thọ rất cao. Từ đó
vị thuốc gia truyền bắt đầu lan truyền dần ra ngoài. Người uống vào đều thấy
khỏe mạnh hơn, tóc bạc hóa đen và sinh thêm nhiều con.
Thuốc ban đầu vốn có
tên là "giao đằng" (có nghĩa là thứ dây leo thân cuốn lấy nhau), từ
đó bắt đầu được gọi là "hà thủ ô", có nghĩa là người họ Hà tóc đen
("thủ" = đầu, "ô" = đen).".
Sự tích về tác dụng kỳ lạ của Hà thủ ô nói trên, tuy được ghi lại trong nhiều
bộ sách thuốc nổi tiếng, như "Bản thảo đồ kinh", "Bản
thảo hối ngôn", "Khai bảo bản thảo", ... nhưng thời
đó vẫn ít được dùng.
"Hà thủ ô" chỉ bắt đầu được sử dụng một cách rộng rãi, từ khi xuất
hiện bài thuốc "Thất bảo mỹ nhiên đan".
Theo sách "Bản
thảo cương mục", bộ Bách khoa toàn thư về dược học cổ truyền phương
Đông, do nhà dược học nổi tiếng Lý Thời Trân biên soạn: Năm đầu Gia Tĩnh thời
nhà Minh, có vị chân nhân là Thiệu Ứng Tiết, đã dâng lên vua phương thuốc
"Thất bảo mỹ nhiêm đan", chế từ "hà thủ ô" và một
số loại Đông dược khác. Thế Tông Túc Hoàng đế uống vào, thấy hiệu nghiệm lạ
thường, thân thể dần trẻ lại, râu tóc đang bạc hóa đen mượt, lại sinh được vài
hoàng tử để nối dõi. Từ đó vị thuốc "hà thủ ô", mới bắt đầu thực sự
trở nên nổi tiếng.
| Hà thủ ô trắng |
VỊ THUỐC HÀ THỦ Ô
Cây "hà thủ
ô" còn có tên là "thủ ô", "giao đằng", "dạ
hợp", "địa tinh", "khua lình" (Thái), "mằn năng
ón" (Thổ), tên khoa học Polygonum multiflorum Thunb., thuộc họ Rau răm
(Polygonaceae).
Cây có tên là "giao đằng" vì dây leo xoắn vào nhau, hoặc "dạ
hợp", "dạ giao đằng" vì đêm quấn vào nhau(?). Bản thân tên khoa
học của cây Polygonum multiflorum cũng cho ta biết thêm về một số đặc điểm của
cây ("Polygonum" = có nhiều đốt, nhiều mắt, "multiflorum" =
nhiều hoa); vì "hà
thủ ô" là loài cây có nhiều đốt, nhiều hoa.
"Hà
thủ ô" là một loại dây leo, sống nhiều năm, mọc hoang ở các vùng
rừng núi nước ta. Thân cây thường mọc xoắn vào nhau. Mặt ngoài thân có màu xanh
tía có những vân hoặc bì khổng, mặt thân nhẵn, không có lông. Lá mọc so le, có cuống
dài. Phiến lá hình tim hẹp, dài 4-8cm, rộng 2,5-5cm, đầu nhọn, phía cuống hình
tim, hoặc hình mũi tên, mép nguyên hoặc hơi lượn sóng, cả hai mặt đều nhẵn và
không có lông. Hoa mọc thành chùm nhiều nhánh. Hoa nhỏ, đường kính 2mm, có
cuống ngắn 1-3mm, cánh hoa màu trắng, với 8 nhị, 3 nhị hơi dài hơn. Bầu hình 3
cạnh, vòi ngắn gồm 3 cái rời nhau. Mùa hoa tháng 10, mùa quả tháng 11.
Vị thuốc "hà
thủ ô" là rễ củ phơi khô của cây "hà
thủ ô".
Ngoài cây "hà
thủ ô" mô tả ở trên (thường gọi là "hà
thủ ô" đỏ), còn có một gây khác, gọi là "hà thủ ô trắng - còn
có tên là "hà thủ ô nam", "bạch hà thủ ô", "củ vú
bò", "dây sữa bò", "dây mốc", "cây sừng bò",
"cây đa lông", "khâu cần cà" (Thổ), "khâu nước"
(Lạng Sơn), "chừa ma sìn" (Thái), có tên khoa học là Polygonum
multiflorum Thunb. Củ rễ của loại cây thứ hai này, thường được gọi là ""hà
thủ ô trắng".
Một vấn đề cần lưu ý là, có một số cây khác thường hay bị nhầm lẫn với "hà
thủ ô trắng", như "cây vú bò", "cây sữa",
"cây sừng trâu" (còn gọi là "cây sừng dê") và "cây
càng cua".
"Cây càng
cua" giống "hà
thủ ô trắng" ở nhiều điểm, cũng cùng họ Thiên lý, lá cũng mọc đối,
thân cũng có chất nhựa trắng, quả cũng tẽ làm đôi, ... nhưng lại là loài cây có
độc, phải là người có kinh nghiệm mới phân biệt chính xác được.
Do đó, đối với người
sử dụng thông thường, tốt nhất là chỉ sử dụng loại "hà
thủ ô đỏ".
Khi đi mua thuốc ở các cửa hàng Đông Nam dược, có thể phân biệt sơ bộ củ "hà
thủ ô đỏ" và "hà
thủ ô trắng" theo một số dấu hiệu như sau:
- "Hà
thủ ô đỏ" nguyên củ hơi giống củ khoai lang to, mặt ngoài màu nâu
đỏ, có nhiều chỗ lồi lõm đặc biệt; cắt ngang củ thấy lớp thịt màu nâu đỏ hoặc nâu
hồng, nhiều bột, giữa có lõi gỗ hẹp như lõi của sắn; chất củ cứng, hơi nặng và
vị hơi chát.
- Còn củ "hà
thủ ô trắng" dài hơn, khoảng 10cm, vỏ ngoài màu nâu xám, đôi khi
còn vết tích của rễ con hoặc đoạn rễ con còn sót lại; cắt ngang củ thấy có mô
mềm; vỏ mỏng, màu trắng ngà chứ không nâu đỏ hoặc nâu hồng như "hà
thủ ô đỏ"; củ "hà
thủ ô trắng" cũng có lõi gỗ nhưng đặc điểm khác biệt nhất là nhấm
thấy có vị đắng, chứ không phải vị chát như "hà
thủ ô đỏ".
- "Hà
thủ ô đỏ" và "hà
thủ ô trắng" sau khi đã chế biến sẽ rất khó phân biệt. Cho nên,
muốn "chắc ăn", khi tới các hiệu thuốc chưa quen biết, không nên mua
"hà thủ ô chế" (loại đã qua chế biến), mà chỉ nên mua "hà
thủ ô" củ chưa chế, mang về nhà tự chế biến theo hướng dẫn của
người có chuyên môn.
TÁC DỤNG CỦA HÀ THỦ Ô
Đọc các truyền thuyết về "hà thủ ô", có cảm giác nhiều điều đã bị người xưa thần thánh hóa, không thật đáng tin. Tuy nhiên, các kinh nghiệm lâm sàng từ nhiều thế kỷ trong Đông y và các nghiên cứu hiện đại cho thấy, "hà thủ ô" đúng là một vị thuốc bổ dưỡng rất tốt và có thể sử dụng để chữa trị nhiều loại bệnh tật.
Theo dược lý Đông y: Hà thủ ô có vị đắng ngọt chát, tính hơi ấm; vào 2 kinh Can và Thận. Có tác dụng bổ Can, ích Thận, cố tinh, dưỡng huyết, trừ phong. Dùng chữa "Can Thận âm suy" dẫn tới vô sinh, tóc bạc sớm; huyết hư đầu thống (đau đầu do huyết hư), lưng gối yếu mỏi, gân cốt tê đau, nam giới di tinh, nữ giới băng đới (phụ nữ băng huyết, nhiều khí hư), ngược tật (sốt rét), cửu lỵ (lỵ lâu ngày), ung thũng loa lịch (mụn nhọt, tràng nhạc), trĩ tật, ...
Các nghiên cứu hiện đại cho thấy "hà thủ ô" có những tác dụng:
- Hạ cholesterol trong huyết thanh máu, phòng chống và giảm nhẹ xơ vữa động mạch;
- Làm giảm nhịp tim, tăng nhẹ lượng máu lưu thông trong động mạch vành tim và chống thiếu máu cơ tim;
- Tăng cường chức năng miễn dịch, tăng sức chịu lạnh của cơ thể;
- Chống lão hóa, chống teo tuyến ức ở người cao tuổi, duy trì tuyến ức ở mức độ như người trẻ tuổi;
- Nhuận tràng, do dẫn chất oxymethylanthraquinone làm tăng nhu động ruột; "hà thủ ô" sống có tác dụng nhuận tràng mạnh hơn "hà thủ ô" chế;
- Có tác dụng ức chế đối với nhiều loại vi khuẩn và virus cúm, ức chế sự phát triển của tế bào ung thư.
Về phương diện bổ dưỡng, "hà thủ ô" có 3 tác dụng chính:
- Tăng cường chức năng sinh dục;
- Chống lão suy, kéo dài tuổi thọ;
- Làm đen râu tóc.
Cả 3 tác dụng đó, đều có được trên cơ sở tác dụng bổ huyết của "hà thủ ô". Vì vậy, trong các sách thuốc Đông y hiện đại, "hà thủ ô" được xếp vào nhóm "thuốc bổ huyết" (bổ huyết dược).
Trong Đông y, củ "hà thủ ô" đã phơi khô, gọi là "hà thủ ô sống" (sinh "hà thủ ô"). Còn "hà thủ ô" là đã qua quá trình chế biến gọi là "hà thủ ô chế".
Hai loại "hà thủ ô" "sống" và "chế" có tác dụng không giống như nhau:
- "Hà thủ ô sống": Có tác dụng giải độc, tiêu thũng, nhuận tràng. Thường dùng để nhuận tràng, chữa táo bón ở người già và sản phụ, hoặc trường hợp huyết hư gây nên táo bón; chữa ung nhọt, lở ngứa ngoài da.
- "Hà thủ ô chế": Có tác dụng bổ Can Thận, ích tinh huyết, làm đen râu tóc, mạnh gân cốt. Thường dùng để bồi dưỡng cơ thể, chữa cơ thể suy nhược, tóc bạc sớm, nam giới vô sinh, nữ giới kinh nguyệt không điều hòa hoặc bế kinh, cao mỡ máu, cao huyết áp.
Cách chế "hà thủ ô": "Hà thủ ô" rửa sạch, thái lát, ngâm nước vo gạo một ngày đêm; rửa lại cho sạch rồi tiếp tục chế với đậu đen. Mỗi 1kg "hà thủ ô" cần dùng 100g đậu đen. Cho đậu đen vào nồi, đổ khoảng 2 lít nước, nấu cho đậu đen chín nhừ rồi chắt lấy nước. Trộn "hà thủ ô" với nước đỗ đen, cho vào đồ đựng (không dùng đồ sắt), đặt vào nồi hấp cho đến khi nước đỗ đen thấm hết vào các miếng "hà thủ ô", sau đó lấy ra phơi hoặc sấy khô là được. Đó là cách chế thông thường. Muốn chế kỹ cần "cửu chưng cửu sái", nghĩa là nấu và phơi "hà thủ ô" với nước đậu đen như trên 9 lần.
Kiêng kỵ:
- Theo Đông y cổ truyền, khi dùng "hà thủ ô" hoặc thuốc có "hà thủ ô", cần kiêng dùng 3 loại thực phẩm màu trắng (tam bạch), là hành, tỏi và củ cải trắng.
- Ngoài ra theo y lý và dược lý Đông y, khi dùng "hà thủ ô" còn cần kiêng kỵ những món ăn và gia vị có tính cay nóng như gừng, ớt, hành tây, hồ tiêu, để phòng ngừa hao tán khí huyết.
Coi nhẹ việc kiêng kỵ, có lẽ là một trong những nguyên nhân khiến người hiện đại sử dùng "hà thủ ô" không kiến hiệu mạnh như người xưa.
3 CÁCH SỬ DỤNG TƯƠNG ĐỐI ĐƠN GIẢN
(1) Rượu bổ huyết, tăng cường chức năng sinh dục: Dùng hà thủ ô chế 150g, sinh địa 150g; các vị thuốc rửa sạch, thái nhỏ, ngâm trong 1000ml rượu trắng, cách 3 ngày lắc bình một lần, sau 15 ngày có thể sử dụng. Thứ rượu này có tác dụng bổ Can Thận, ích tinh huyết, chữa vô sinh do ít tinh trùng; còn có tác dụng chữa chóng mặt hoa mắt và tóc bạc sớm.
(2) Tăng số lượng và chất lượng tinh trùng: Hàng ngày dùng 6-10g hà thủ ô chế sắc nước uống, hoặc dùng 3-6g hà thủ ô chế tán bột uống. Bài thuốc chỉ thích hợp với những người tinh huyết suy yếu do "Can Thận âm hư" theo cách phân loại chứng bệnh của Đông y; biểu hiện bởi các chứng trạng như ham muốn tình dục giảm, chậm có con, kèm theo đầu choáng, mắt hoa, tai ù, mắt khô, mặt nóng bừng từng cơ, lưng gối đau mỏi, di tinh, mộng tinh, ... Không thích hợp với những người thể chất dương hư. Nên sử dụng dưới sự hướng dẫn của thầy thuốc Đông y.
(3) Chữa tóc bạc sớm, tóc rụng nhiều: Dùng trứng gà 2 quả, hà thủ ô chế 30g; trứng gà rửa sạch vỏ, lau khô, cho trứng gà và hà thủ ô vào một cái nồi đất (hoặc đồ gốm khác), đổ ngập nước, nấu sôi rồi đun nhỏ lửa khoảng nửa giờ; vớt trứng ra bóc bỏ vỏ, lại cho vào nồi đun tiếp khoảng nửa giờ nữa là được; ăn trứng gà, sau đó uống nước thuốc. Nếu có phản ứng khác thường, như đau bụng, ỉa chảy, thì chỉ ăn trứng, không uống nước thuốc, dùng lâu ngày vẫn có tác dụng tốt.
TÁC DỤNG CỦA HÀ THỦ Ô
Đọc các truyền thuyết về "hà thủ ô", có cảm giác nhiều điều đã bị người xưa thần thánh hóa, không thật đáng tin. Tuy nhiên, các kinh nghiệm lâm sàng từ nhiều thế kỷ trong Đông y và các nghiên cứu hiện đại cho thấy, "hà thủ ô" đúng là một vị thuốc bổ dưỡng rất tốt và có thể sử dụng để chữa trị nhiều loại bệnh tật.
Theo dược lý Đông y: Hà thủ ô có vị đắng ngọt chát, tính hơi ấm; vào 2 kinh Can và Thận. Có tác dụng bổ Can, ích Thận, cố tinh, dưỡng huyết, trừ phong. Dùng chữa "Can Thận âm suy" dẫn tới vô sinh, tóc bạc sớm; huyết hư đầu thống (đau đầu do huyết hư), lưng gối yếu mỏi, gân cốt tê đau, nam giới di tinh, nữ giới băng đới (phụ nữ băng huyết, nhiều khí hư), ngược tật (sốt rét), cửu lỵ (lỵ lâu ngày), ung thũng loa lịch (mụn nhọt, tràng nhạc), trĩ tật, ...
Các nghiên cứu hiện đại cho thấy "hà thủ ô" có những tác dụng:
- Hạ cholesterol trong huyết thanh máu, phòng chống và giảm nhẹ xơ vữa động mạch;
- Làm giảm nhịp tim, tăng nhẹ lượng máu lưu thông trong động mạch vành tim và chống thiếu máu cơ tim;
- Tăng cường chức năng miễn dịch, tăng sức chịu lạnh của cơ thể;
- Chống lão hóa, chống teo tuyến ức ở người cao tuổi, duy trì tuyến ức ở mức độ như người trẻ tuổi;
- Nhuận tràng, do dẫn chất oxymethylanthraquinone làm tăng nhu động ruột; "hà thủ ô" sống có tác dụng nhuận tràng mạnh hơn "hà thủ ô" chế;
- Có tác dụng ức chế đối với nhiều loại vi khuẩn và virus cúm, ức chế sự phát triển của tế bào ung thư.
Về phương diện bổ dưỡng, "hà thủ ô" có 3 tác dụng chính:
- Tăng cường chức năng sinh dục;
- Chống lão suy, kéo dài tuổi thọ;
- Làm đen râu tóc.
Cả 3 tác dụng đó, đều có được trên cơ sở tác dụng bổ huyết của "hà thủ ô". Vì vậy, trong các sách thuốc Đông y hiện đại, "hà thủ ô" được xếp vào nhóm "thuốc bổ huyết" (bổ huyết dược).
Trong Đông y, củ "hà thủ ô" đã phơi khô, gọi là "hà thủ ô sống" (sinh "hà thủ ô"). Còn "hà thủ ô" là đã qua quá trình chế biến gọi là "hà thủ ô chế".
Hai loại "hà thủ ô" "sống" và "chế" có tác dụng không giống như nhau:
- "Hà thủ ô sống": Có tác dụng giải độc, tiêu thũng, nhuận tràng. Thường dùng để nhuận tràng, chữa táo bón ở người già và sản phụ, hoặc trường hợp huyết hư gây nên táo bón; chữa ung nhọt, lở ngứa ngoài da.
- "Hà thủ ô chế": Có tác dụng bổ Can Thận, ích tinh huyết, làm đen râu tóc, mạnh gân cốt. Thường dùng để bồi dưỡng cơ thể, chữa cơ thể suy nhược, tóc bạc sớm, nam giới vô sinh, nữ giới kinh nguyệt không điều hòa hoặc bế kinh, cao mỡ máu, cao huyết áp.
Cách chế "hà thủ ô": "Hà thủ ô" rửa sạch, thái lát, ngâm nước vo gạo một ngày đêm; rửa lại cho sạch rồi tiếp tục chế với đậu đen. Mỗi 1kg "hà thủ ô" cần dùng 100g đậu đen. Cho đậu đen vào nồi, đổ khoảng 2 lít nước, nấu cho đậu đen chín nhừ rồi chắt lấy nước. Trộn "hà thủ ô" với nước đỗ đen, cho vào đồ đựng (không dùng đồ sắt), đặt vào nồi hấp cho đến khi nước đỗ đen thấm hết vào các miếng "hà thủ ô", sau đó lấy ra phơi hoặc sấy khô là được. Đó là cách chế thông thường. Muốn chế kỹ cần "cửu chưng cửu sái", nghĩa là nấu và phơi "hà thủ ô" với nước đậu đen như trên 9 lần.
Kiêng kỵ:
- Theo Đông y cổ truyền, khi dùng "hà thủ ô" hoặc thuốc có "hà thủ ô", cần kiêng dùng 3 loại thực phẩm màu trắng (tam bạch), là hành, tỏi và củ cải trắng.
- Ngoài ra theo y lý và dược lý Đông y, khi dùng "hà thủ ô" còn cần kiêng kỵ những món ăn và gia vị có tính cay nóng như gừng, ớt, hành tây, hồ tiêu, để phòng ngừa hao tán khí huyết.
Coi nhẹ việc kiêng kỵ, có lẽ là một trong những nguyên nhân khiến người hiện đại sử dùng "hà thủ ô" không kiến hiệu mạnh như người xưa.
3 CÁCH SỬ DỤNG TƯƠNG ĐỐI ĐƠN GIẢN
(1) Rượu bổ huyết, tăng cường chức năng sinh dục: Dùng hà thủ ô chế 150g, sinh địa 150g; các vị thuốc rửa sạch, thái nhỏ, ngâm trong 1000ml rượu trắng, cách 3 ngày lắc bình một lần, sau 15 ngày có thể sử dụng. Thứ rượu này có tác dụng bổ Can Thận, ích tinh huyết, chữa vô sinh do ít tinh trùng; còn có tác dụng chữa chóng mặt hoa mắt và tóc bạc sớm.
(2) Tăng số lượng và chất lượng tinh trùng: Hàng ngày dùng 6-10g hà thủ ô chế sắc nước uống, hoặc dùng 3-6g hà thủ ô chế tán bột uống. Bài thuốc chỉ thích hợp với những người tinh huyết suy yếu do "Can Thận âm hư" theo cách phân loại chứng bệnh của Đông y; biểu hiện bởi các chứng trạng như ham muốn tình dục giảm, chậm có con, kèm theo đầu choáng, mắt hoa, tai ù, mắt khô, mặt nóng bừng từng cơ, lưng gối đau mỏi, di tinh, mộng tinh, ... Không thích hợp với những người thể chất dương hư. Nên sử dụng dưới sự hướng dẫn của thầy thuốc Đông y.
(3) Chữa tóc bạc sớm, tóc rụng nhiều: Dùng trứng gà 2 quả, hà thủ ô chế 30g; trứng gà rửa sạch vỏ, lau khô, cho trứng gà và hà thủ ô vào một cái nồi đất (hoặc đồ gốm khác), đổ ngập nước, nấu sôi rồi đun nhỏ lửa khoảng nửa giờ; vớt trứng ra bóc bỏ vỏ, lại cho vào nồi đun tiếp khoảng nửa giờ nữa là được; ăn trứng gà, sau đó uống nước thuốc. Nếu có phản ứng khác thường, như đau bụng, ỉa chảy, thì chỉ ăn trứng, không uống nước thuốc, dùng lâu ngày vẫn có tác dụng tốt.




