TỰ DO VÀ LÒNG NHÂN LÀNH CỦA THIÊN CHÚA - Chú giả Tin Mừng CN XXVI năm A

22:39 |
A. BẢN VĂN
 
Bài đọc I (Ed 18, 25-28)

Ðây Chúa phán: “Các ngươi đã nói rằng: “Ðường lối của Chúa không chính trực”. Vậy hỡi nhà Israel, hãy nghe đây: Có phải đường lối của Ta không chính trực ư? Hay trái lại đường lối của các ngươi không chính trực? Khi người công chính từ bỏ lẽ công chính và phạm tội ác, nó phải chết, chính vì tội ác nó phạm mà nó phải chết. Nếu kẻ gian ác bỏ đàng gian ác nó đã đi, và thực thi công bình chính trực, nó sẽ được sống. Nếu nó suy nghĩ và từ bỏ mọi tội ác nó đã phạm, nó sẽ sống chớ không phải chết”.

Bài đọc II (Pl 2, 1-5 {hoặc 1-11})

Anh em thân mến, nếu có sự an ủi nào trong Ðức Kitô, nếu có sự khích lệ nào trong đức mến, nếu có sự hiệp nhất nào trong Thánh Thần, nếu có lòng thương xót nào, thì anh em hãy làm cho tôi được trọn niềm hân hoan, để anh em hưởng cùng một niềm vui, được cùng chung một lòng mến, được đồng tâm nhất trí với nhau, chớ làm điều gì bởi ý cạnh tranh hay bởi tìm hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi kẻ khác vượt trổi hơn mình, mỗi người đừng chỉ nghĩ đến những sự thuộc về mình, nhưng hãy nghĩ đến những sự thuộc về kẻ khác. Anh em hãy cảm nghĩ trong anh em điều đã có trong Ðức Giêsu Kitô.
{Người tuy là thân phận Thiên Chúa, đã không nghĩ phải dành cho được ngang hàng với Thiên Chúa; trái lại, Người huỷ bỏ chính mình mà nhận lấy thân phận tôi đòi, đã trở nên giống như loài người với cách thức bề ngoài như một người phàm. Người đã tự hạ mình mà vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu, để khi nghe tên Giêsu, mọi loài trên trời dưới đất và trong hoả ngục phải quỳ gối xuống, và mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng Ðức Giêsu Kitô là Chúa, để Thiên Chúa Cha được vinh quang.}

Tin Mừng (Mt 21, 28-32)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: “Các ông nghĩ sao? Người kia có hai người con. Ông đến với đứa con thứ nhất và bảo: “Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho cho cha!” Nó thưa lại rằng: “Con không đi”. Nhưng sau nó hối hận và đi làm. Ông đến gặp đứa con thứ hai và cũng nói như vậy. Nó thưa lại rằng: “Thưa cha, vâng, con đi”. Nhưng nó lại không đi. Ai trong hai người con đã làm theo ý cha mình?” Họ đáp: “Người con thứ nhất”. Chúa Giêsu bảo họ: “Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông. Vì Gioan đã đến với các ông trong đường công chính, và các ông không tin ngài; nhưng những người thu thuế và gái điếm đã tin ngài. Còn các ông, sau khi xem thấy điều đó, các ông cũng không hối hận mà tin ngài”.



TỰ DO VÀ LÒNG NHÂN LÀNH CỦA THIÊN CHÚA - Chú giải và gợi ý suy niệm Lm FX Vũ Phan Long, ofm: 

1. Ngữ cảnh
Trong các giáo huấn luân lý, ngay từ đầu Đức Giêsu đã tuyên bố rằng, là những con người, chúng ta không được tỏ ra thụ động, dửng dưng, chúng ta phải cộng tác để có thể thuộc về Nước Trời. Người đã khẳng định rõ ràng rằng chúng ta phải có một sự công chính “dồi dào hơn” (5,20), chúng ta phải làm thánh ý của Chúa Cha (7,21), để được vào Nước Trời. Trong dụ ngôn Kho tàng chôn giấu trong ruộngViên ngọc quý, Người cho thấy rằng Nước Trời xứng đáng được yêu cầu người ta dồn hết sức mà theo đuổi (13,44-46). Phêrô đã hỏi: “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì?” (19,27). Đức Giêsu không gạt bỏ câu hỏi về phần thưởng; Người hứa ban cho các môn đệ mộtphần thưởng gấp trăm và sự sống đời đời (19,29). Hành động đúng và dấn thân trọn vẹn là những điều cần thiết, và chúng ta có thể chắc chắn là sẽ được Thiên Chúa quảng đại nhìn nhận và chúc phúc. Bài dụ ngôn Những người thợ vườn nho bổ sung cho nguyên tắc trên đây ở điểm: chúng ta không thể khẳng định mộtquyền gì trước nhan Thiên Chúa. Chính vì thế có liên từ “bởi vì/quả thế” (gar) mở đầu cho bài[1][1].
Bài này được ngỏ với các môn đệ, với người Pharisêu, hay là nhắm đến các tương quan giữa Do Thái và Dân ngoại? Ngữ cảnh gần cho thấy rất rõ là Đức Giêsu nói với các môn đệ: trong các bản văn trước cũng như trong các bản văn tiếp sau, các thính giả là các môn đệ. Và chính là nhân mộtcâu hỏi rõ rệt của Phêrô mà Đức Giêsu kể dụ ngôn này. Có thể Người cũng nghĩ đến người Pharisêu hoặc toàn thể Israel, được tượng trưng bằng “những kẻ đứng đầu” lại thành “chót”? Rất có thể như thế, nhưng không có chi tiết nào trong bản văn bảo đảm như thế cả. Vậy phải giải thích dụ ngôn theo câu hỏi của Phêrô.
Nhân câu hỏi của Phêrô, Đức Giêsu đã nói về phần thưởng dành cho những ai bỏ mọi sự mà theo Người. Rồi Người kể dụ ngôn Những người thợ làm vườn nho. Dường như tâm trí Phêrô là tâm trí tính toán: phải tha mấy lần? Ông sẵn sàng tỏ ra quảng đại tối đa: tới bảy lần (con số chỉ sự hoàn hảo). Đức Giêsu đẩy đi xa hơn: Phải tha tới bảy mươi lần bảy, nghĩa là cứ cố gắng hoàn hảo “hơn”. Trong thực tế, Đức Giêsu cho biết rằng người ta không thể dàn xếp các vấn đề quan hệ liên vị dựa theo kiểu khối lượng được.
Rồi trong hoàn cảnh hiện tại, Phêrô muốn biết những ai đã bỏ mọi sự để phục vụ Đức Kitô thì được thưởng thế nào. Hai vế của phương trình phải cân bằng: phục vụ và hy sinh bao nhiêu thì phần thưởng bấy nhiêu. Đức Giêsu nồng nhiệt trả lời và đảm bảo rằng họ sẽ được ban thưởng bội hậu. Thế nhưng câu hỏi của Phêrô sai chỗ và cho thấy có mộtthái độ sai lạc. Nước Thiên Chúa không dựa trên luật có qua có lại; trong Nước này, không có chuyện các công trạng cá nhân được đánh giá theo số giờ làm việc. Trước tiên, đây là vấn đề đón nhận mộtân huệ.
2. Bố cục
Bản văn có thể chia thành bốn phần:
1) Ông chủ vườn nho thuê thợ suốt ngày (20,1-7);
2) Cách trả lương (20,8-12);
3) Ông chủ giải thích (20,13-15);
4) Kết luận (20,16a).
3. Vài điểm chú giải
- Sau khi đã thỏa thuận với thợ là mỗi ngày một quan tiền (2): Một đồng quan là lương thông thường mộtngày làm việc vào thời Đức Giêsu. Ghi nhận về sự thỏa thuận này quan trọng để có thể đưa tới kết luận đầy kịch tính. Sách Mishnah tính là một người cần tối thiểu 200 quan một năm để có thể sống, tức giả thiết là một người làm công có thể tìm ra việc ít nhất 200 ngày một năm. Một quan có thể mua được từ 10 đến 12 ổ bánh mì nhỏ; 3 đến 4 quan thì mua được 12 lít lúa mạch (để làm được 15 ký bánh mì) hoặc một con chiên; 30 quan mua được một bộ quần áo nô lệ; 300 quan mua được một con bò. Theo giá đó, ta biết đời sống của một người làm công cũng khó khăn.
- Khoảng chín giờ sáng (3): Dịch sát là “Giờ thứ ba”. Mặc dù giờ pháp lý bắt đầu vào lúc mặt trời lặn, người ta vẫn tính giờ kể từ khi mặt trời mọc. Do đó, giờ thứ ba, giờ thứ sáu, giờ thứ chín và giờ thứ mười mộttương đương với 9g, 12g, 15g và 17g. Ngày làm việc kết thúc vào khoảng 18g.
- bắt đầu từ những người vào làm sau chót (8): Cách trả lương như thế là bất thường. Nhưng câu truyện được xây dựng sao cho độc giả hiểu được lý do khiến những người thợ đầu tiên phải cằn nhằn.
- Này bạn (hetaire, 13): Hetairos là “người bạn đường”. Người ta thường dùng từ này để xưng hô với kẻ mà người ta không biết tên. Những người thợ làm giờ đầu đã không thưa gửi gì cả với ông chủ, nên ông chủ đã làm họ phải bẽ mặt khi bắt đầu câu trả lời bằng lời này. Ở đây hẳn là lời xưng hô này vừa toát ra sự tốt lành, vừa nhuốm màu trách móc.
- Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức? (15): Dịch sát là “Hay mắt bạn xấu vì tôi tốt lành?”. Câu này là chìa khóa mở ra bài học của dụ ngôn. Đối với người Do Thái, căn cứ của tư tưởng, tức của những tâm trạng tốt và xấu, là trái tim; trái tim thông truyền các phản ứng của nó ra bên ngoài qua con mắt. Do đó, phẩm chất của con mắt cũng chính là phẩm chất của trái tim, hoặc của tâm hồn (x. 6,22; x. Mc 7,22; Cn 22,9; 23,6-7; 28,22).
4. Ý nghĩa của bản văn
Đức Giêsu đã tạo ra mộtdụ ngôn với khung cảnh là việc chăm sóc vườn nho. Ông chủ nhà (oikodespotês) đi ra chợ thuê mướn thêm thợ, từ lúc đầu ngày, khi mặt trời mọc, cho đến khi chỉ còn mộtgiờ nữa là chấm dứt ngày làm việc.
* Ông chủ vườn nho thuê thợ suốt ngày (1-7)
Ông chủ mời gọi mọi người ông gặp, những người ông gặp ngay lúc sáng sớm, cũng như những người ông gặp lúc trưa, lúc xế chiều, thậm chí lúc trời đã về chiều. Với những người được mướn đầu tiên, ông đã thỏa thuận với họ tiền lương thông thường một ngày làm việc là mộtquan (c. 2); với những người khác, ông hứa trả cho họ hợp lẽ công bằng, và hẳn họ hiểu là chỉ một phần đồng quan thôi (cc. 4-5); còn những người cuối cùng, ông sai họ đi làm vườn nho mà không nói minh nhiên về phần lương (c. 7). Thời gian làm việc của mỗi nhóm rất khác nhau. Thuê thợ vào hai giờ cuối ngày là chuyện lạ lùng, khiến thính giả chú ý. Có những tác giả, chẳng hạn Jeremias và Flusser, giải thích rằng cần phải thu hoạch nho trước khi những trận mưa thu đến. Nhưng bản văn không xác định là đang thu hoạch nho trong mùa thu; biết đâu thợ đang làm cỏ cho vườn nho vào mùa xuân? Chi tiết này muốn thính giả hay độc giả phải tự hỏi về khả năng lên kế hoạch của ông chủ và chờ đợi xem cách trả lương vào cuối ngày.
Tác giả dành một khoảng thời gian cho những người được mướn vào giờ cuối cùng. Ông chủ hỏi tại sao họ đứng đây không làm gì cả. Họ trả lời câu hỏi “thừa” này là không có ai mướn họ cả. Dĩ nhiên, vì chính ông chủ cũng thấy là họ không có việc (cc. 6-7). Mẩu đối thoại ngắn này nhắm làm cho thính giả cũng phải dừng lại với những người thợ này. Phải chăng họ quá lớn tuổi, hay là đau ốm? Phải chăng họ ngủ quên, nên hụt mất giờ thuê mướn thợ sáng sớm? Tác giả không cung cấp một chi tiết nào để trả lời các câu hỏi này. Ngài chỉ muốn thính giả để ý tới họ thôi.
Thính giả có thể cũng đã quen với hình ảnh ông chủ vườn nho là Thiên Chúa; Ngài kêu gọi dân Ngài làm việc cho Ngài. Nhưng không có chỗ nào trong truyền thống kinh sư nói rằng ông chủ mướn thợ vào các giờ khác nhau. Do đó, dụ ngôn này vẫn giữ được tính độc đáo riêng.
* Cách trả lương (8-12)
Đến chiều (opsias genomenês), người ta trả lương. Đây là truyền thống của Kinh Thánh và Do Thái giáo (x. Lv 19,13; Đnl 24,14-15). Đến c. 8, “chủ nhà” (oikodespotês) đột ngột biến thành “chủ vườn nho” (kyrios tou ampelônos); chi tiết này cũng làm cho người ta nghĩ đến Thiên Chúa. Người quản lý (epitropos) xuất hiện chỉ để thi hành lệnh lạ lùng của ông chủ: trả lương trước cho những người làm giờ cuối cùng. Mục đích hẳn chỉ là để những người làm giờ đầu tiên thấy những người kia được nhận lương thế nào.
Những người đầu tiên đã làm mười hai giờ, “đã làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt” (c. 12). Những người cuối cùng chỉ làm có mộtgiờ mà thôi. Như thế, những người làm giờ đầu tiên đã phải làm dài giờ mà còn phải chịu cái nóng nực, còn những người làm giờ cuối cùng đã làm ít giờ lại được hưởng cái mát mẻ của buổi chiều. Nếu cứ theo cách tính toán chính xác thông thường, những người cuối cùng hẳn là chỉ được nhận mộtphần mười hai số lương của những người đầu tiên, nghĩa là mộtphần mười hai của mộtquan. Thế nhưng với những người thợ cuối cùng, dù ông chủ không hứa gì cả, ông đã trả cho họ trọn một quan. Đây là điều hoàn toàn bất ngờ, trái với sự tính toán thông thường.
Vậy những người thợ đầu tiên nghĩ rằng họ sẽ được nhận nhiều hơn, và có lẽ các thính giả cũng nghĩ như vậy. Thế nhưng mỗi người cũng chỉ nhận được một quan.
* Ông chủ giải thích (13-15)
Do đó, ông chủ đã khiến những người đầu tiên càm ràm phản đối: dường như là ông chủ đã vị phạm cách võ đoán nguyên tắc căn bản về công bình khi coi những người chỉ làm có một giờ ngang hàng với những người suốt ngày phải chịu nặng nhọc và nắng nôi. Ông chủ đã trả lời trả lời cho người phát ngôn của nhóm thứ nhất, với lời thưa gửi mở đầu là “bạn” (hetaire). Trước tiên, ông bảo vệ cách cư xử của ông dựa trên nền tảng là công bình hình thức, theo những gì đã thỏa thuận (c. 13). Thế thì người phản đối chỉ có thể cầm lấy phần của mình mà về nhà. Ông chủ cũng bảo vệ cách cư xử của mình khi nói đến quyền của người chủ là được tự do định đoạt về của cải của mình (c. 15). Cuối cùng, ông nêu một câu hỏi cho thấy động lực chân thật thúc đẩy ông ứng xử như thế: ông tốt bụng, cho dù ông không buộc phải hành động như thế. Phải chăng sự ghen tức đã thúc đẩy những người thợ đầu tiên phản đối ông?
Như vậy, ông đã trả lời để mở rộng cái nhìn hạn hẹp của họ và nhắc họ nhớ đến mộtloạt những yếu tố khác cũng quan trọng đối với việc lượng định lối xử sự của ông. Ông không nói với đám đông, nhưng nói với riêng mộtngười. Các tôi tớ không được để cho mình bị ảnh hưởng bởi ý kiến của đám đông, nhưng mỗi người phải tự mình cân nhắc quan điểm của ông chủ.
* Kết luận (16a)
Có những tác giả coi câu này như câu cốt yếu của dụ ngôn. Nhưng thật ra những người đầu đâu có trở thành chót (trừ chuyện nhận lương); họ tất cả đều được hưởng mộtđồng lương như nhau. Đối với các người thợ, chỉ tiền bạc mới đáng kể. Câu này không được rút ra từ dụ ngôn, mà chỉ được thêm vào vì tương tự với đề tài. Trong thực tế, câu châm ngôn này nói đến sự đảo ngược các chỗ, còn dụ ngôn thì nói đến sự đối xử đồng đều.
+ Kết luận
Dựa trên c. 15, chúng ta hiểu được chiều hướng của câu truyện: nói đến lòng nhân hậu của Thiên Chúa được biểu hiện cụ thể trong đời sống của Đức Giêsu. Giống như ông chủ vườn nho cư xử với những người thợ cuối cùng, Đức Giêsu cư xử tốt với những người không có một chuẩn mực nào mà đòi hỏi Thiên Chúa. Nhân danh Thiên Chúa, Đức Giêsu bảo vệ những kẻ tội lỗi, những người không tuân giữ Lề Luật; những phụ nữ và những người nghèo, những người vì nhiều lý do, không giữ được trọn Lề Luật; những bệnh nhân bị loại khỏi cộng đồng; những người thuộc đám đông dân chúng, không biết Lề Luật là gì. Vậy bài dụ ngôn không chỉ kể về lòng nhân ái của Thiên Chúa, nhưng còn giải thích lối cư xử của Đức Giêsu đối với dân chúng.
Chúng ta không thể khẳng định mình có mộtquyền hay mộtgiá trị gì trước nhan Thiên Chúa; không thể xác định được mộtsự tương ứng cứng ngắc giữa phần ta đóng góp và phần thưởng từ phía Thiên Chúa. Thiên Chúa không bỏ qua bất cứ nỗ lực nào mà không ban thưởng, nhưng Ngài vẫn giữ lại cho mình quyền tự do tuyệt đối; và trên nền tảng là lòng nhân lành hoàn toàn tự do của Ngài, Ngài có thể ban tặng vượt xa mọi công trạng.
Hành động và các công trạng của con người không bao giờ thiếu ý nghĩa; chúng vẫn luôn có giá trị trước mặt Thiên Chúa, nhưng không thể áp đặt cho Ngài bất cứ quy tắc nào về ban thưởng, cũng không thể giới hạn tự do của Ngài trong lối hành động cũng như lòng nhân lành của Ngài. Với dụ ngôn này, Đức Giêsu lưu ý chúng ta là không được tính toán với Thiên Chúa, và quy định cho Ngài những gì Ngài phải ban cho chúng ta và người khác.
5. Gợi ý suy niệm
1. Nếu tác giả (Đức Giêsu) muốn cống hiến mộtbài học về công bình xã hội, thì hẳn là Người đã thất bại, bởi vì câu truyện không hề tôn trọng các luật lệ sơ đẳng nhất về sự bình đẳng. Thật ra tác giả không có ý giới thiệu mộtông chủ thông thường, ban thưởng theo những đóng góp đã bỏ ra, nhưng là một ông chủ đặc biệt, có lối xử sự vượt quá kiểu tương quan bình đẳng. Giống như nhân vật chính của bài dụ ngôn, Thiên Chúa xử sự như thế trong tương quan với loài người, và theo đường lối Ngài, Đức Kitô cũng xử sự như thế khi ban ơn cứu độ cho loài người.
2. Thiên Chúa gọi mọi người đi vào vườn nho của Ngài, vào các thời điểm khác nhau. Những người Do Thái được gọi trước, nhưng rồi mọi người đều được chiếu cố, dù có lúc đã tưởng mình bị bỏ quên (“Vì không ai mướn chúng tôi”, c. 7). Bài dụ ngôn không nhấn mạnh đến sự quý chuộng riêng ông chủ tỏ ra với mộtai, nhưng nhấn trên những quyền bình đẳng mà mọi người đều có trước lời mời và trước phần lương được ban. Nếu trước đây ông chủ đã hoặc có thể tỏ ra thiên vị, thì từ nay không còn như thế nữa.
3. Chúng ta không được so đo về các ân huệ của Thiên Chúa và than trách Ngài vì tưởng rằng chúng ta được nhận ít. Chúng ta phải chu toàn nhiệm vụ và đón nhận với lòng biết ơn những gì Ngài ban cho chúng ta. Chúng ta phải tôn trọng tự do và lòng nhân lành của Ngài, và vui mừng khi thấy bất cứ dấu chỉ nào cho thấy lòng nhân lành của Ngài, cho dù không liên hệ đến chúng ta mà liên hệ đến người thân cận.
4. Ông chủ không ban phát đồng quan cách ngẫu hứng, cho ai nhiều ai ít tùy hứng. Ông ban cho mọi người điều họ cần, và ông ban phát rộng rãi tùy theo nhu cầu của người ta. Ông không gây thiệt hại cho ai cả, nhưng lòng tốt thúc bách ông ban tặng điều cần thiết để sống, cho cả người không được may mắn. Bài học của dụ ngôn vẫn tiếp diễn trong lòng cộng đoàn các môn đệ Đức Kitô, trong đó vẫn vang lên lời kêu gọi sống khiêm nhường, sống tế nhị, quảng đại, như Đức Giêsu đã nhiều lần ngỏ với các môn đệ Người (x. 18,1tt; 20,22).
Xem thêm…

Hãy đi làm vườn nho cho Chúa - Chúa nhật XXVI thường niên năm A

22:29 |
Hãy đi làm vườn nho cho Chúa
Ed 18,25-28; Pl 2,1-11; Mt 21,28-32
Lm. Jude Siciliano, OP.
Kính thưa quý vị,
Hai ông bà Harry và Kate sắp sửa mừng kỷ niệm 35 năm hôn phối. Cả bốn người con và bảy đứa cháu của họ sẽ có mặt tại bữa tiệc. Mọi thành viên trong gia đình và bạn bè quen biết hai người bấy lâu, sẽ đến chúc mừng trong dịp vui này. Đứa cháu gái Kathleen mới bảy tuổi đã sáng tác một bài thơ đặc biệt “Cây anh túc và người mẹ”. Mọi người ai nấy đều nói rằng hôn lễ của Harry và Kate được “tổ chức trên thiên đường”. Hai người là cặp đôi hoàn hảo ngay từ thuở đầu.
Nhưng thực ra, lúc mới quen nhau, không phải mọi sự đều êm đẹp như thế. Họ quen nhau trong trường Đại học, Harry là sinh viên năm đầu của trường Luật, còn Kate, khi ấy cô sắp tốt nghiệp với tấm bằng về công tác xã hội. Một công việc ở trung tâm phúc lợi xã hội đang đón chờ sẵn khi cô ra trường. Khi đã quen nhau khoảng một năm, Harry ngỏ ý xin cưới. Khi ấy, Kate nói rằng cô vẫn chưa sẵn sàng kết hôn và muốn theo đuổi ước mơ của mình, đó là giúp đỡ những người bần cùng trong xã hội, những người mà kinh tế của họ còn quá khó khăn. Harry vẫn một mực đề cập đến chuyện kết hôn, nhưng Kate khăng khăng rằng cô “vẫn chưa sẵn sàng”. Câu chuyện của hai người còn dài, nhưng kết lại: họ đã cùng nhau thảo ra một kế hoạch. Harry sẽ làm công việc nhà, để Kate có thể làm công tác xã hội – Harry là người đàn ông rất vững vàng, kiên định. Lời từ chối “không” của Kate cuối cùng đã trở thành tiếng “vâng” chân thành. Điều này đã xảy ra cách đây 35 năm.
Chẳng lẽ trong cuộc đời mình, chúng ta lại không vui mừng khi có nhiều cơ hội để thay đổi suy nghĩ của mình? Bằng cách nào đó, sau một thời gian dài chần chừ, chúng ta nắm lấy cơ hội và thưa “vâng” với ân sủng quan trọng, và điều đó làm thay đổi tất cả mọi sự: thay đổi trong một mối tương quan, một ơn gọi, hay trong khoảnh khắc hối hận về một hành động thực sự đáng tiếc mình đã gây ra.
Các bậc cha mẹ sẽ rất dễ liên hệ bản thân với dụ ngôn ngày hôm nay: đứa con miễn cưỡng, lúc đầu không vâng lời cha mẹ, nhưng sau đó lại thay đổi suy nghĩ và làm những gì cha mẹ mong muốn. Trong khi đó, đứa con mới đầu xem chừng như ngoan ngoãn, đáp lại đề nghị của bố mẹ cách nhanh chóng “Vâng, thưa cha mẹ”, nhưng sau đó lại làm theo ý riêng của mình.
Thưa quý vị, tôi xin được nói đôi lời về bối cảnh của đoạn Tin Mừng hôm nay. Đức Giêsu đến Giêrusalem. Đám người đông đúc bắt gặp Đức Giêsu khi Người vào thành. Thế rồi Đức Giêsu đi thẳng vào Đền Thờ. Ở đó, Người hành động như có trách nhiệm phải tẩy uế Đền Thờ khỏi những hoạt động thương mại (Mt 22,12-17). Đám đông tung hô Người, nhưng giới Lãnh đạo tôn giáo thì càng tức tối với sứ điệp Người rao giảng, với những hành động Người làm và với sự hiện diện của Người trong Đền Thờ. Ngày hôm sau, Tin Mừng thuật lại việc Đức Giêsu nguyền rủa cây vả không sinh trái. Tin Mừng Mátthêu ám chỉ việc “trổ sinh hoa trái” là phải làm những việc tốt lành nhân danh Đức Giêsu. Sứ mạng người môn đệ là phải làm đúng như điều mình tin; phải thưa “vâng” và làm đúng như lời mình thưa.
Chính trong bối cảnh bị các nhà chức trách tôn giáo phản đối, Đức Giêsu kể dụ ngôn “người cha và hai người con”. Đức Giêsu hỏi những kẻ chống đối về quan điểm của họ, và câu trả lời hoá ra như một phán quyết về chính họ. Họ giống như người con đã thưa “vâng” cách kính trọng với cha mình, nhưng cuối cùng lại không vâng lời cha. Họ thờ phượng Thiên Chúa trong Đền Thờ và chỉ thưa “vâng” với Thiên Chúa một cách hình thức bên ngoài mà thôi, nhưng thực tế họ không nghe theo lời mời gọi của ông Gioan Tẩy giả, đó là hãy đổi mới tâm can. Thiên Chúa xức dầu cho Đức Giêsu bằng Thánh Thần khi Người chịu phép rửa của ông Gioan tại sông Giođan. Đấng Mêsia đã đến, nhưng giới Lãnh đạo tôn giáo đã không đón nhận điều mà ông Gioan đã loan báo và đã làm tại sông Giođan. Họ dường như có thưa “vâng” với Thiên Chúa, nhưng lại không đáp lời vị ngôn sứ đã được Thiên Chúa sai đến để nói với dân và loan báo về một Đấng Mêsia đang đến. Khi Đấng mà Thiên Chúa hứa ban cho dân đã đến và ở giữa họ, thì họ phớt lờ, không đón nhận Người.
Giới lãnh đạo Do Thái là những kẻ đạo đức giả. Dưới con mắt của Đức Giêsu, liệu có tội nào nghiêm trọng hơn tội đạo đức giả hay không? Nói cách khác, các môn đệ của Đức Giêsu phải hành động nhiều hơn là chỉ “thừa nhận Người là Đức Chúa”. Sau đó, chúng ta còn phải đi vào làm vườn nho, thực hiện điều đã thưa “vâng” ban đầu.
Rất nhiều người ở xứ đạo và trung tâm mục vụ học đường hẳn sẽ thấy rằng dụ ngôn hôm nay diễn tả đúng hoàn cảnh và tâm trạng của mình. Trong các khảo sát được gởi đến cho những ai đang hoạt động ở giáo xứ, người ta nói rằng họ muốn giáo xứ có những hoạt động cụ thể – có những nhóm sinh hoạt giới trẻ, chương trình tư vấn cho những người ly dị và goá bụa, tổ chức các lớp Kinh Thánh trong mùa Chay, rồi những khoá giảng dạy của nhiều chuyên viên ngoài giáo xứ,... Thế rồi, khi những chương trình mới này được công bố trên nhà thờ, số người tham dự lại quá ít ỏi. Theo như sứ điệp của dụ ngôn hôm nay, hội đồng mục vụ hẳn sẽ nói rằng, “Chúng tôi nghĩ các bạn đã nói ‘vâng’, nhưng ngược lại là ‘không’”. Thật ngán ngẩm!
Có một yếu tố văn hoá trong bài Tin Mừng dường như sẽ rất ít quen thuộc với chúng ta, những người Phương Tây. Trong cách sống, người Trung Đông chuộng sự biểu lộ ra bên ngoài. Nếu được hỏi “Người con nào ngoan hơn?”, thính giả của Đức Giêsu sẽ trả lời người con thứ hai, vì câu đáp ‘vâng’ của anh ta biểu lộ bên ngoài một thái độ tôn kính người cha. Trong suy nghĩ của người Phương Đông, sự tôn kính như thế cũng đủ rồi (Hãy “tôn kính cha mẹ” trong sách Đệ nhị luật 5,16). Người con thứ nhất không tôn kính cha của anh, bởi ban đầu anh từ chối, không làm điều cha anh mong muốn.
Thế nhưng, ở đây Đức Giêsu không quan tâm đến tiêu chuẩn văn hoá về chuyện tôn kính cha mẹ. Câu hỏi của Đức Giêsu tỏ lộ rõ ý định của Người: “Ai trong số hai người con này làm theo ý Cha?” Thính giả của Đức Giêsu đã trả lời chính xác: người con đầu, người con đã thay đổi suy nghĩ của mình, làm theo ý của cha.
Nhóm chống đối – các thượng tế và kỳ mục, đã chất vấn Đức Giêsu về thẩm quyền giảng dạy của Người trong Đền Thờ. Quả nhiên, các thính giả của Người đã không bỏ lỡ cơ hội. Các viên chức thu thuế và gái điếm – những người mới đầu nói “không” với Thiên Chúa, nay tích cực đáp lại lời kêu gọi của Gioan Tẩy Giả, và bây giờ họ thực hiện đúng những điều ông Gioan giảng, những điều Thiên Chúa muốn.
Khi được hỏi tại sao họ không đi tới nhà thờ, rất nhiều người trả lời, bởi vì họ thấy rằng các tín hữu là những người đạo đức giả. Có lẽ những người này làm việc hay học cùng trường với những người tự xưng rằng mình chăm chỉ đến nhà thờ, nhưng rồi lại đi lừa đảo khách tiêu dùng hay lừa dối cấp trên, thiên vị tầng lớp xã hội, không tôn trọng đồng nghiệp, ... Những Kitô hữu như thế dường như thưa “vâng” với Đức Kitô, nhưng cuộc sống lại cho thấy câu trả lời ngược lại là “không”.
Có lẽ đấy cũng là điều mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nhắc đến trong Tông huấn “Niềm vui Tin Mừng”. Tất cả những ai đã rửa tội đều được mời gọi trở thành người rao giảng Tin Mừng. Nếu chúng ta thưa “vâng” với Đức Kitô qua Phép rửa tội, thì việc chỉ đi tới nhà thờ vào Chúa Nhật thôi, là vẫn chưa đủ. Lời thưa “vâng” của chúng ta phải được theo sau bởi hành động đi vào vườn nho “hôm nay”. Mỗi ngày, lời nói và hành động của chúng ta phải tương hợp với điều chúng ta tuyên xưng tin vào Đức Giêsu. Có một câu nói xưa rằng: “Giả như có một phạm nhân là một Kitô hữu, vậy thì đã đủ bằng chứng để kết án và tống chúng ta vào nhà giam?”
Như Đức Giáo Hoàng đã nói, “Đọc Kinh Thánh cũng cho ta thấy rõ rằng Tin Mừng không chỉ thuần tuý là về mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa… cả việc rao giảng và đời sống Kitô giáo đều phải có một ảnh hưởng trên xã hội” (số 180). Dụ ngôn hôm nay nói về điều ấy theo cách như sau: “Nếu quý vị thưa ‘vâng’ với Đức Kitô, hãy ra đi và làm công việc Người mời gọi quý vị thực hiện”. Trong Bài Giảng Trên Núi, Đức Giêsu nói về điều đó theo cách khác nữa: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy ‘Lạy Chúa, Lạy Chúa’ là được vào Nước Trời cả đâu, nhưng chỉ có ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, kẻ ấy mới được vào mà thôi” (Mt 7,21).
Quý vị hãy hình dung những lời nói như thế của Đức Giêsu đã gây nhức nhối cho những thính giả nhiệt thành của Người thế nào. Thư gởi tín hữu Philípphê đã tóm gọn lời thưa “vâng” của Đức Giêsu với Chúa Cha như thế này: “Đức Kitô đã từ bỏ chính mình, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự”.
Là những Kitô hữu, chúng ta không thể phán xét người khác, nhưng trước hết phải kiểm điểm lại đời sống của mình. Chúng ta có theo gương Đức Giêsu, từ bỏ những đặc quyền bản thân và xa tránh mọi điều cản trở chúng ta yêu thương những người bị khinh miệt và nghèo khổ không? 

Anh Em Nhà Học Đa Minh Gò Vấp chuyển ngữ
Xem thêm…

Copyright ©THT - Được biên soạn và sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau - Ghi rõ nguồn:quatangsusong.blogspot.com/ - Khi phát hành thông tin trên trang này
Gx Đaminh | Namkna | Trung Tâm Học Vấn Đaminh | Kho tài liệu hay |