Home » Bệnh Trĩ
Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị bệnh trĩ nội
16:21 |Bệnh trĩ nội là gì?
Trĩ nội thường nằm ở phía trên nếp gấp hậu môn, cách khoảng 3cm và được chia ra làm 3 mức độ khác nhau. Hiện nay trĩ nội là bệnh có tỉ lệ người mắc cao nhất trong số các loại bệnh trĩ, vì vậy nếu không được quan tâm đúng cách thì tình trạng bệnh sẽ trở nên nặng hơn.Nguyên nhân gây bệnh trĩ nội
1. Nhóm bệnh lý đường tiêu hóa: Hội chứng lỵ, viêm đại tràng mạn tính, rối loạn tiêu hóa kéo dài, táo bón… khiến cho người bệnh đi ngoài phải rặn nhiều, thời gian đại tiện lâu tạo điều kiện phát sinh bệnh trĩ nội.2. Sự suy yếu tổ chức nâng đỡ tại chỗ: Do lớp cơ ở dưới niêm mạc hậu môn trực tràng, hệ thống co thắt, dây chằng, cơ nâng bị suy yếu, hệ thống đám rối tĩnh mạch suy yếu sa giãn hình thành búi trĩ.
3. Yếu tố cơ học: Thai sản ở phụ nữ, các khối u vùng tiểu khung (u xơ tử cung, u nang buồng trứng, u phì đại tuyến tiền liệt), bệnh xơ gan, táo bón lâu ngày, bệnh lý tăng áp lực tĩnh mạch cửa, chủ, gây ứ máu ở đám rối tĩnh mạch trĩ.
4. Chế độ ăn: Ăn nhiều thức ăn cay nóng, kích thích như ớt, hạt tiêu, rượu…
5. Nghề nghiệp: Ngồi lâu, đứng lâu, lao động nặng nhọc, ngồi xổm, thói quen nhịn đại tiện. Ngoài ra bệnh trĩ còn mang yếu tố gia đình.
Triệu chứng thường gặp của bệnh trĩ nội
1. Đại tiện ra máu là một trong những triệu chứng điển hình của trĩ nội: có máu tươi chảy ra trong hoặc sau khi đại tiện, có lúc bề mặt phân có phủ một lớp dịch nhầy mầu đỏ, giấy vệ sinh bị thấm máu, có lúc chảy máu thành giọt hoặc phun ra thành tia máu, bệnh để lâu sẽ dễ chuyển biến thành bệnh thiếu máu.2. Búi trĩ lồi ra bên ngoài: do búi trĩ to nên khi đại tiện sẽ bị chèn ép và lồi ra bên ngoài, có lúc sẽ lồi ra khoảng 1-2 búi trĩ, lại có lúc toàn bộ búi trĩ và trực tràng bị lồi ra bên ngoài, giai đoạn đầu búi trĩ có thể lồi ra và tự quay về vị trí cũ nhưng sau này khi bệnh nặng lên, búi trĩ sẽ không tự quay trở về vị trí cũ và bệnh nhân phải dùng tay đẩy vào trong.
3. Một số biểu hiện đau buốt của trĩ nội: nếu chỉ là trĩ nội thông thường sẽ không đau nhưng đôi lúc cảm thấy tương đối khó chịu khi phải ngồi lâu và khó khăn trong việc đại tiện.
4. Có dịch nhầy chảy ra trong quá trình đại tiện: do trực tràng nhận phải kích thích của trĩ nội trong một thời gian dài nên lượng hóc môn, dịch nhầy cũng tăng cao. Bệnh nhân bị nặng dịch nhầy này sẽ tự động chảy ra làm bẩn quần lót, ảnh hưởng đến cuộc sống.
5. Xuất hiện các triệu chứng ngứa: khi quần lót không thể giữ được vệ sinh như ý muốn sẽ dễ tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập, phát triển và gây ngứa cho người bệnh.
Trĩ nội được chia ra làm 3 cấp độ chính:
Độ 1: Các tĩnh mạch giãn nhẹ đội niêm mạc lên, lồi vào thành trực tràng, búi trĩ xuất hiện bên trong ống hậu môn rất khó nhận biết, biểu hiện chính là chảy máu khi đại tiện.Độ 2: Các tĩnh mạch giãn ra nhiều hơn tạo thành các búi to, nên búi trĩ sẽ sa thấp hơn, nằm thập thò ở bên trong hậu môn mỗi khi gắng sức hay đi đại tiện, búi trĩ có thể thò ra ngoài hậu môn sau đó co lại.
Độ 3: Búi trĩ sa ra ngoài cơ thắt hậu môn khi đi đại tiện, hoặc khi ngồi xổm hay cả khi đi lại nhiều, ngồi lâu, búi trĩ không tự co vào, phải dùn tay đẩy búi trĩ mới vào bên trong hậu môn.
Độ 4: Búi trĩ luôn luôn nằm bên ngoài hậu môn. Ngay cả khi dùng tay tác động cũng khó đẩy vào hoàn toàn bên trong hậu môn.
Phương pháp điều trị bệnh trĩ nội hiện nay:
Hiện nay có nhiều phương pháp chữa bệnh trĩ nội tùy thuộc vào biểu hiện và tình trạng bệnh và được chia ra làm 2 phương pháp điều trị:
Điều trị bằng Tây y:
Theo PGS.TS Nguyễn Mạnh Nhâm – Chủ tịch Hội Hậu môn Trực tràng Việt Nam: “Tây y có ba kiểu chữa trĩ: Điều trị nội khoa, điều trị bằng thủ thuật và điều trị bằng phẫu thuật.”Điều trị nội khoa, có thể sử dụng thuốc uống, thuốc bôi, xông, ngâm, hoặc đặt thuốc hậu môn. Điều trị theo phương pháp này cần có chế độ ăn uống phù hợp: Ăn nhiều rau, củ, quả, ăn ít đường, ít mặn, tránh những chất kích thích như cà phê, chè, thuốc lá, ớt, hạt tiêu.Ngoài ra còn phải tăng cường tập luyện thể dục, tăng sức đề kháng cho cơ thể, tránh tái phát trĩ.
Tuy nhiên, nếu bị trĩ độ nhẹ có thể chỉ cần điều trị nội khoa là khỏi, nhưng nếu trĩ nặng thì phải kết hợp cùng với một phương pháp khác nữa.
Điều trị bằng thủ thuật, được sử dụng đối với trĩ nội độ 1 và 2; trĩ nội độ 3 nhưng xuất hiện thành búi trĩ và không to. Điều trị bằng thủ thuật không có hiệu quả đối với trĩ ngoại, trĩ độ 4, độ 3 to thành vòng và trĩ hỗn hợp. Có nhiều thủ thuật được sử dụng trong điều trị như tiêm xơ, thắt vòng cao su, sử dụng tia laze, tia hồng ngoại, điện cao tần, điện trực tiếp (WD2 Ultroid).Bản chất trĩ là đám rối mạch máu, máu tới đó không tuần hoàn ngược về tim được, thành những cục u, thành phần thừa ở hậu môn. Thủ thuật tiêm xơ là làm mất búi trĩ bằng cách tiêm chất hóa học vào búi trĩ, tạo xơ ở đó, máu không đến được để nuôi búi trĩ, búi trĩ sẽ tự teo đi. Thắt vòng cao su là sử dụng vòng cao su, lồng vào cổ búi trĩ, thắt nghẹt lại để máu không tới nuôi búi trĩ, búi trĩ sẽ tự teo và rụng. Ngoài ra, thủ thuật có thể sử dụng tia laze, tia hồng ngoại, điện cao tần. Sử dụng thủ thuật để cắt trĩ có lợi là làm không đau, bệnh nhân có thể về nhà trong thời gian ngắn, nhưng có điểm yếu là rất dễ tái phát.
Điều trị bằng phẫu thuật là phương pháp triệt để hơn. Có thể cắt bỏ trĩ hoàn toàn, hiệu quả cao và tái phát chậm hơn. Phẫu thuật chữa được mọi loại trĩ, nhưng nhược điểm là bệnh nhân sau mổ sẽ bị đau khá lâu, do hậu môn tập trung nhiều dây thần kinh, nên phẫu thuật trĩ là một trong những phẫu thuật đau nhất.
Bên cạnh đó, vết thương lâu liền, do vị trí vết thương ở hậu môn, tiếp xúc với phân, dễ bị nhiễm trùng. Mỗi khi đi đại tiện, hậu môn lại phải căng ra, vì thế vết thương phải 2- 3 tháng mới thực sự liền hẳn.
Ngoài ra, đó là một ca mổ nên bệnh nhân phải chấp nhận những biến chứng của một ca mổ thông thường… Phẫu thuật theo phương pháp cổ điển có phương pháp mổ Milligan Morgan, Whitehead. Gần đây, có phương pháp mổ Longgo nội soi, khâu và cắt bằng máy, vừa nhanh liền, vết thương ở bên trong ống hậu môn nên giảm nguy cơ nhiễm trùng, ít đau và hồi phục nhanh. Phương pháp Longgo hiện đang phổ biến vì có nhiều ưu điểm.”
Điều trị bằng Động y:
Theo Đông y, nên điều trị bảo tồn trĩ độ 1, 2, trĩ độ 3 ở thời kỳ viêm tắc và bội nhiễm, trĩ ở người già. Tùy từng trường hợp mà có các cách điều trị như sau:Trường hợp trĩ nội có chảy máu, người bệnh có triệu chứng đại tiện đau, táo bón, máu ra từng giọt, có thể dùng bài thuốc sau: hòe hoa (sao đen), kinh giới (sao đen), cỏ nhọ nồi (sao), trắc bách diệp (sao) mỗi thứ 16 g; sinh địa, huyền sâm mỗi thứ 12 g, ngày sắc uống 1 thang.
Trường hợp người bệnh bị sưng đau vùng hậu môn, búi trĩ sưng to, đau, đi lại khó, đại tiện táo, nước tiểu vàng, có thể dùng bài thuốc sau: hoàng bá, xích thược, trạch tả, hoàng liên mỗi thứ 12 g, đại hoàng 6 g, đào nhân 8 g, đương quy 8 g, sinh địa 16 g; ngày sắc uống 1 thang.
Trường hợp người bệnh đại tiện ra máu kéo dài, hoa mắt chóng mặt, người mệt mỏi, hay tự ra mồ hôi thì có thể dùng bài thuốc sau: hoàng kỳ 16 g, đẳng sâm 16 g, đương quy 8 g, bạch truật 12 g, trần bì 6 g, cam thảo 4 g, sài hồ 12 g, thăng ma 8 g, địa du (sao đen) 8 g, hòe hoa (sao đen) 8 g, kinh giới (sao đen) 12 g. Liều dùng: ngày sắc uống 1 thang.
Người bệnh cũng có thể dùng bài thuốc sau để ngâm ngoài hậu môn: hoàng bá 20 g, ngũ vị tử 12 g, kim ngân hoa 16 g, hoa kinh giới 12 g, phèn phi 12 g, đun 4 vị thuốc đầu tiên trong 1 lít nước đến khi còn khoảng 700 ml, sau đó cho phèn phi vào đun sôi lên, để tới khi ấm ngâm hậu môn.
Ngoài phương pháp dùng thuốc thì chế độ ăn uống và sinh hoạt của bệnh nhân đóng vai trò quan trọng trong việc điều trị bệnh cũng như phòng bệnh. Nên ăn các thức ăn có nhiều chất xơ, tránh táo bón, tập thể dục đều đặn, tránh dùng quá nhiều các chất kích thích, tránh ngồi lâu và tập thói quen đại tiện đúng giờ ngày 1 lần.
Chế độ ăn uống cho người bị bệnh trĩ
1. Hãy uống nhiều nướcTrước tiên, người bệnh trĩ cần uống nhiều nước trong mọi trường hợp (nước giải khát, bữa ăn có nhiều canh…) vì nước khá đắc lợi trong việc làm mềm phân.
Một ngày phải uống từ 1,5 đến 2 lít, nên uống nhiều nước trái cây, nước rau quả, súp rau…
Bệnh nhân có thể uống nước lạnh vào mỗi sáng để kích thích đi tiêu.
Nước trái cây đặc biệt là nước của các loại quả mọng, có màu đậm sẽ giúp ích cho người bị bệnh trĩ. Anh đào, dâu đen và dâu xanh chứa các chất anthocyanin và proanthocyanidin vốn có thể làm giảm đau sưng do bệnh trĩ gây ra bằng cách củng cố các tĩnh mạch trĩ. Uống ít nhất 1 ly nước trái cây hỗn hợp nói trên mỗi ngày
Ngoài ra nên ăn loại thức ăn lỏng dễ tiêu hóa.
Khi bạn ăn uống như vậy, chắc chắn phân sẽ lỏng hơn. Bạn thường chỉ khó chịu khi phân quá cứng, quá đặc.
2. Ăn thức ăn có nhiều chất xơ:
Ngoài ra, bệnh nhân nên tăng cường chất xơ trong chế độ ăn vì chất xơ tham gia trữ nước đáng kể trong ruột, làm phân dễ bở ra nên dễ dàng khi di chuyển.
Các loại rau quả, ngũ cốc là ứng cử viên số một cung cấp chất xơ như đậu phụ, ngũ cốc xay, cà rốt, chuối măng, quả mơ, súp lơ, cam, quýt, dâu tây…
3. Thực phẩm nhuận tràng
Một số loại rau có tính nhuận tràng tốt như rau lang, rau mồng tơi, rau đay, rau diếp cá, rau dền nên dùng nấu canh ăn thường xuyên rất tốt cho người bệnh trĩ.
Chuối cũng là loại quả có giá trị nhuận tràng tốt, sau mỗi bữa ăn nên dùng một quả chuối, hoặc ăn ít dưa hấu.
Củ khoai lang cũng có công dụng nhuận tràng tốt, nên ăn thêm vào các bữa ăn phụ.
Măng: có nhiểu vitamin, tác dụng nhuận tràng.
Mật ong: cũng có tác dụng nhuận tràng, người mắc trĩ nên sử dụng.
Magie là một chất có tác dụng nhuận tràng, giúp hạn chế chứng táo bón. Magie còn là một khoáng chất rất cần thiết cho cơ thể. Một số thức ăn giàu magie: cá bơn, quả hạnh sấy khô, hạt điều sấy khô, đậu nành, rau chân vịt, bột yến mạch, bơ lạc, quả bơ, nho khô không hạt…
4. Thức ăn nhiều chất sắt
Do bệnh trĩ gây mất máu mạn tính nên người bệnh dễ bị thiếu máu, vì vậy nên chế độ ăn cho bệnh nhân trĩ cần bổ sung nhiều thực phẩm giàu chất sắt như: gan gà, cua hấp, cá ngừ, mận, mơ khô, nho khô, hạt hướng dương, hạt điều, hạnh nhân, mè, khoai tây luộc, rau bó xôi, bông cải xanh nấu chín, dưa đỏ, rau cần, mộc nhĩ đen (nấm mèo đen), vừng (mè đen), …
Ruột già của lợn, dê: có tác dụng cầm máu, chống đau, tiêu hóa tốt.
Thịt rùa: có tác dụng tốt cho người bị trĩ đại tiện ra máu lâu, có công hiệu bổ máu.
Quả óc chó: có tác dụng nhuận tràng, giảm búi trĩ thòi ra ngoài, và hiện tượng đại tiện ra máu.
5. Các loại dầu
Trong mỗi bữa ăn, nên dùng dầu ô liu, dầu lanh và giấm táo trong món rau trộn. Trong món súp hay bất kỳ món ăn nào thích hợp, hãy dùng dầu ô liu và dầu lanh. Vào cuối mỗi bữa ăn nên uống bổ sung dầu cá, đây là một trong những loại dầu quan trọng nhất cần dùng thường xuyên.
6. Ngoài ra
Các loại rau quả đậu bắp, mướp hương, bí đỏ, cà chua, cà tím, súp lơ xanh, củ sen, bắp, bơ, thanh long, bưởi, táo tây, dâu tây, kiwi, hồng, hải sâm, sung, rau mùi, rau má… cũng rất có ích cho người bị bệnh trĩ
Gừng, tỏi, củ hành giúp phân hủy fibri, khắc phục thương tổn ở mô, nội tạng và động mạch. Tuy nhiên, cần lưu ý là dư thừa chất này có thể gây viêm ở động và tĩnh mạch, đặc biệt là khu vực hậu môn.
Curcumin (hoạt chất chính có trong củ nghệ) có tính chống viêm, ức chế khối u, thông mật, lợi tiêu hóa, bổ sung Curcumin giúp chống viêm và làm mau lành các vết tổn thương của trĩ.
Người bị bệnh trĩ cần tránh một số thực phẩm sau:
- Hạn chế ăn muối và kiêng các chất gia vị cay, nóng, cà phê, rượu, những thực phẩm chứa chất cafein.
- Muối có khuynh hướng giữ nước lại trong cơ thể, làm các tế bào và mạch máu trương căng ra, làm nặng hơn triệu chứng trĩ.
- Những gia vị cay, nóng như: ớt, hồ tiêu, hành… gây kích ứng niêm mạc dạ dày, ruột và thường tạo cảm giác khó chịu khi phân đi qua hậu môn.
- Nước ngọt có ga vì làm tăng áp lực trong khung ruột.
- Giảm tối đa bánh mì, cơm tấm, bánh ngọt và sô-cô-la vì không chỉ gây táo bón mà còn tăng phản ứng ngứa hậu môn
- Kiêng tuyệt đối món ăn nào đã gây dị ứng trước đó.
Chuyên đề BỆNH TRĨ
07:41 |
I.ĐỊNH NGHĨA
Trĩ là những tĩnh mạch ở phần dưới của trực tràng hay hậu môn bị giãn quá mức, tạo thành khối nhô, gây đau.

1. Giải phẫu sinh lý:
Ống hậu môn: Có các đám rối tĩnh mạch nằm dưới lớp niêm mạc, chúng thông nối với nhau và có các shunt thông với hệ thống động mạch, có thể co giãn, cùng với các cơ thắt giúp khép kín ống hậu môn.
Đường lược là cấu trúc trong ống hậu môn, ranh giới giữa đám rối tĩnh mạch trĩ trong và đám rối tĩnh mạch trĩ ngoài.

2. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ:
Trĩ là bệnh rất thường gặp, đặc biệt trong thời kì mang thai và sau khi sinh con. Có sự tăng áp trong các tĩnh mạch ở hậu môn dẫn đến các tĩnh mạch này căng phồng gây đau, đặc biệt khi ngồi.
Nguyên nhân thường gặp nhất là do sự gắng sức trong quá trình đi tiêu.
-Táo bón
-Ngồi thời gian dài
-Nhiễm trùng hậu môn
-Một số bệnh khác như xơ gan

3. Phân loại:
+Trĩ nội: Có nguồn gốc từ đám rối trĩ trong phía trên đường lược. Phân 4 độ:
Độ I: Búi trĩ chưa sa ra ngoài, bệnh nhân đi tiêu ra máu tươi.
Độ II: Búi trĩ sa ra ngoài hậu môn nhưng tự tụt lên.
Độ III: Búi trĩ sa ra ngoài hậu môn nhưng phải dùng tay đẩy mới tụt lên.
Độ IV: Búi trĩ sa ra ngoài hậu môn và không đẩy lên được.

II. TRIỆU CHỨNG:
-Ngứa hậu môn
-Đi tiêu phân có lẫn máu đỏ tươi.
-Đau ở hậu môn, đặc biệt khi ngồi và trong quá trình đi tiêu
-Phát hiện có khối nhô ra ở hậu môn.
III. THĂM KHÁM VÀ CLS:
-BS có thể chuẩn đoán qua khám hậu môn trực tràng.
-Nếu cần thiết có thể làm thêm các CLS:
+Xét nghiệm phân tìm máu trong
+Nội soi hậu môn, đại tràng sigma, ống soi mềm.
IV. ĐIỀU TRỊ
Phụ thuộc vào giai đoạn mắc bệnh của mỗi người. Có thể cải thiện bằng thay đổi lối sống nhưng nhiều trường hợp phải dùng thuốc, thủ thuật hay phẫu thuật.
Điều trị thuốc (kèm thay đổi lối sống): Trĩ nội độ I-II
-Các loại thuốc bôi, thuốc mỡ, thuốc nhét, thuốc làm co mạch: giảm đau và ngứa.
Thủ thuật: Trĩ nội độ I-II, độ III nhẹ
-Thắt trĩ bằng vòng cao su: cắt đứt tuần hoàn của trĩ nội. Trĩ teo dần và tự rớt trong vòng 1 tuần. Thủ thuật này hiệu quả với nhiều người nhưng có thể gây cảm giác không thoải mái hoặc gây chảy máu, thường bắt đầu sau 2-4 ngày sau thủ thuật nhưng hiếm khi nghiêm trọng.
-Chích xơ: Tiêm dung dịch hóa học vào trong mô trĩ. Trong khi tiêm có thể gây đau ít hoặc không đau, ít hiệu quả hơn thắt trĩ bằng vòng cao su.
-Dùng tia hồng ngoại, laser hay đốt điện: trĩ nội nhỏ, chảy máu bị cứng và teo lại. Thủ thuật này có ít tác dụng phụ, tỉ lệ tái phát cao hơn thủ thuật thắt trĩ bằng vòng cao su.

Phẫu thuật: Trĩ nội độ III-IV
V. BIẾN CHỨNG
-Thiếu máu nặng.
-Sau mổ:
+Nhiễm trùng vết mổ
+Chảy máu vết mổ
+Bí tiểu, kẹt phân
+Mẫu da thừa
+Hẹp hậu môn
+Nứt kẽ hậu môn
VI. PHÒNG NGỪA
-Ngăn ngừa táo bón: Uống nhiều nước, ăn nhiều rau, đi tiêu hàng ngày
-Vệ sinh vùng hậu môn tránh nhiễm trùng.
-Tránh ngồi nhiều, làm nặng quá sức.
Xem thêm…
Trĩ là những tĩnh mạch ở phần dưới của trực tràng hay hậu môn bị giãn quá mức, tạo thành khối nhô, gây đau.
1. Giải phẫu sinh lý:
Ống hậu môn: Có các đám rối tĩnh mạch nằm dưới lớp niêm mạc, chúng thông nối với nhau và có các shunt thông với hệ thống động mạch, có thể co giãn, cùng với các cơ thắt giúp khép kín ống hậu môn.
Đường lược là cấu trúc trong ống hậu môn, ranh giới giữa đám rối tĩnh mạch trĩ trong và đám rối tĩnh mạch trĩ ngoài.
2. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ:
Trĩ là bệnh rất thường gặp, đặc biệt trong thời kì mang thai và sau khi sinh con. Có sự tăng áp trong các tĩnh mạch ở hậu môn dẫn đến các tĩnh mạch này căng phồng gây đau, đặc biệt khi ngồi.
Nguyên nhân thường gặp nhất là do sự gắng sức trong quá trình đi tiêu.
-Táo bón
-Ngồi thời gian dài
-Nhiễm trùng hậu môn
-Một số bệnh khác như xơ gan
3. Phân loại:
+Trĩ nội: Có nguồn gốc từ đám rối trĩ trong phía trên đường lược. Phân 4 độ:
Độ I: Búi trĩ chưa sa ra ngoài, bệnh nhân đi tiêu ra máu tươi.
Độ II: Búi trĩ sa ra ngoài hậu môn nhưng tự tụt lên.
Độ III: Búi trĩ sa ra ngoài hậu môn nhưng phải dùng tay đẩy mới tụt lên.
Độ IV: Búi trĩ sa ra ngoài hậu môn và không đẩy lên được.
II. TRIỆU CHỨNG:
-Ngứa hậu môn
-Đi tiêu phân có lẫn máu đỏ tươi.
-Đau ở hậu môn, đặc biệt khi ngồi và trong quá trình đi tiêu
-Phát hiện có khối nhô ra ở hậu môn.
III. THĂM KHÁM VÀ CLS:
-BS có thể chuẩn đoán qua khám hậu môn trực tràng.
-Nếu cần thiết có thể làm thêm các CLS:
+Xét nghiệm phân tìm máu trong
+Nội soi hậu môn, đại tràng sigma, ống soi mềm.
IV. ĐIỀU TRỊ
Phụ thuộc vào giai đoạn mắc bệnh của mỗi người. Có thể cải thiện bằng thay đổi lối sống nhưng nhiều trường hợp phải dùng thuốc, thủ thuật hay phẫu thuật.
Điều trị thuốc (kèm thay đổi lối sống): Trĩ nội độ I-II
-Các loại thuốc bôi, thuốc mỡ, thuốc nhét, thuốc làm co mạch: giảm đau và ngứa.
Thủ thuật: Trĩ nội độ I-II, độ III nhẹ
-Thắt trĩ bằng vòng cao su: cắt đứt tuần hoàn của trĩ nội. Trĩ teo dần và tự rớt trong vòng 1 tuần. Thủ thuật này hiệu quả với nhiều người nhưng có thể gây cảm giác không thoải mái hoặc gây chảy máu, thường bắt đầu sau 2-4 ngày sau thủ thuật nhưng hiếm khi nghiêm trọng.
-Chích xơ: Tiêm dung dịch hóa học vào trong mô trĩ. Trong khi tiêm có thể gây đau ít hoặc không đau, ít hiệu quả hơn thắt trĩ bằng vòng cao su.
-Dùng tia hồng ngoại, laser hay đốt điện: trĩ nội nhỏ, chảy máu bị cứng và teo lại. Thủ thuật này có ít tác dụng phụ, tỉ lệ tái phát cao hơn thủ thuật thắt trĩ bằng vòng cao su.
Phẫu thuật: Trĩ nội độ III-IV
V. BIẾN CHỨNG
-Thiếu máu nặng.
-Sau mổ:
+Nhiễm trùng vết mổ
+Chảy máu vết mổ
+Bí tiểu, kẹt phân
+Mẫu da thừa
+Hẹp hậu môn
+Nứt kẽ hậu môn
VI. PHÒNG NGỪA
-Ngăn ngừa táo bón: Uống nhiều nước, ăn nhiều rau, đi tiêu hàng ngày
-Vệ sinh vùng hậu môn tránh nhiễm trùng.
-Tránh ngồi nhiều, làm nặng quá sức.
CÁCH PHÒNG NGỪA BỆNH TRĨ HIỆU QUẢ
07:22 |
Có rất nhiều người mắc bệnh trĩ và phần lớn đều coi nhẹ bệnh này cho đến
khi bệnh phát triển đến giai đoạn muộn khi trĩ phình to, thòi ra ngoài
hậu môn, gây chảy máu, đau đớn cho người bệnh. Hiện nay, nhân viên văn
phòng phải đối mặt với căn bệnh này khá nhiều do tính chất công việc
căng thẳng, phải ngồi nhiều lại ít vận động. Việc phòng ngừa bệnh trĩ và
điều trị bệnh trĩ sớm là cần thiết cho tất cả mọi người trước khi phát hiện triệu chứng bệnh trĩ.
Xem thêm…
Cách phòng ngừa bệnh trĩ
CÁCH PHÒNG NGỪA BỆNH TRĨ HIỆU QUẢ
Bệnh trĩ có thể phòng ngừa được nếu tuân theo một số hướng dẫn sau đây:- Nên có chế độ ăn uống lành mạnh.Thêm chất xơ trong chế độ ăn uống của bạn là một trong những cách tự nhiên là tốt nhất để phòng ngừa bệnh trĩ. Các thực phẩm giàu chất xơ như trái cây tươi, rau quả, ngũ cốc nguyên hạt và bột yến mạch sẽ bảo vệ bạn chống lại bệnh trĩ bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho tiêu hóa, làm sạch tường trực tràng của bạn và làm cho đại tiện nhẹ nhàng và không đau đớn. Hạn chế các chất kích thích như cà phê, rượu bia, trà và các thức ăn nóng (nhiều gia vị) như tiêu, ớt..Ăn nhiều rau xanh giúp phòng ngừa bệnh trĩ
Cách phòng ngừa bệnh trĩ
- Uống nhiều nước, đặc biệt là trong bữa ăn, thúc đẩy tiêu hóa tốt và ngăn ngừa xơ cứng phân của bạn. Bạn có thể uống nước tinh khiết hoặc cho các loại chất lỏng lành mạnh như trái cây và nước rau ép – tất cả trong số này sẽ giúp cung cấp cho phân nhiều độ ẩm, khiến nó mềm và dễ dàng hơn để di tản, giúp chống táo bón và phòng ngừa bệnh trĩ. Cần đảm bảo lượng nước uống > 2 lít /ngày
- Nên ăn uống đúng giờ. Ăn uống đúng giờ, tránh bỏ bữa hoặc liên tục thay đổi lịch trình của các thói quen ăn uống của bạn bởi nó có thể dẫn tới chứng khó tiêu. Đây được cho là một trong những nguyên nhân gây bệnh trĩ.
- Không nên nhịn đi vệ sinh và tập đi vệ sinh vào một giờ cố định hàng ngày. Nhịn đi vệ sinh có thể khiến phân bị tích tụ lại lâu ở ruột sẽ khiến cho phân bị khô cứng, việc đi ngoài sẽ khó khăn hơn. Khi đi ngoài có thể trà xát mạnh vào tĩnh mạch ở vùng hậu môn và đặc biệt bạn thường xuyên phải rặn mạnh làm tăng áp lực lên tĩnh mạch hậu môn làm phình tĩnh mạch hậu môn đó là một trong những nguyên nhân gây bệnh trĩ. Việc tập đi vệ sinh vào một giờ cố định hàng ngày giúp bạn tạo thành phản xạ tự nhiên tống hết phân ra ngoài hàng ngày, tránh dồn tích phân tạo thành táo bón. Nhờ vậy, góp phần phòng ngừa bệnh trĩ.
- Không nên ngồi quá lâu, hoặc đứng quá lâu. Đứng hoặc ngồi một chỗ quá lâu có thể khiến cho sức ép đè lên vùng xương chậu lớn, áp lực lên tĩnh mạch hậu môn cao là nguy cơ gây nên bệnh trĩ. Đồng thời việc đứng hoặc ngồi quá lâu cũng dẫn đến việc ứ trệ máu và căng phồng tĩnh mạch hậu môn, đây cũng là một trong nguyên nhân gây bệnh trĩ. Bạn nên có kế hoạch nghỉ ngơi giữa giờ (như đi lại) trong trường hợp công việc phải đứng hoặc ngồi lâu.
- Tập thể dục thường xuyên và duy trì một trọng lượng ở mức độ cho phép. Duy trì hoạt động thể dục thể thao ở mức vừa phải như đi bộ, bơi lội... sẽ giúp các nhu động ruột hoạt động tốt tiêu hóa tốt, và tuần hoàn máu vùng hậu môn tốt không gây ứ trệ máu làm giảm nguy cơ căng phồng tĩnh mạch hậu môn phòng ngừa bệnh trĩ. Tập thể dục cũng sẽ giúp bạn giảm cân và giảm nguy cơ của bạn có bệnh trĩ. Không nên chơi các môn thể thao nặng và tránh nâng vật nặng thường xuyên.
Cách phòng ngừa bệnh trĩ
- Giữ vùng hậu môn của bạn sạch và khô. Sau khi đại tiện, hãy lau sạch vùng hậu môn của bạn nhẹ nhàng với giấy vệ sinh ẩm thấp và không mùi, sau đó thoa nó khô. Tránh chà xát mạnh gây xước vùng hậu môn, và giữ độ ẩm xung quanh vùng hậu môn ở mức độ cho phép để tránh gây những kích ứng không cần thiết.
- Ngoài ra cần điều trị triệt để các bệnh mãn tính hiện có như viêm phế quản, dãn phế quản, bệnh lỵ... Những bệnh này làm tăng áp lực trong ổ bụng và làm tăng áp lực lên thành tĩnh mạch hậu môn gây nên bệnh trĩ.
Bệnh trĩ là một căn
bệnh khó chữa và dễ bị tái phát bệnh vì vậy bệnh nhân nên phòng tránh là
điều cần thiết khi bạn chưa mắc trĩ. không nên để bệnh trĩ đến giai
đoạn muộn mới đi khám và điều trị vì dễ xảy ra biến chứng hơn và việc
điều trị cũng gặp nhiều khó khăn. Nếu mức độ trầm trọng, nhất là để mất
máu nhiều, nhiễm khuẩn sẽ rất nguy hiểm cho tính mạng người bệnh, đặc
biệt gây nhiễm khuẩn huyết
Đông y chữa bệnh trĩ
07:18 |
Đại cương
Các sách cổ chia làm 5 loại trĩ: Mẫu Trĩ, Tẫn Trĩ, Trường Trĩ, Mạch Trĩ, Huyết Trĩ
Tùy vị trí tĩnh mạch ở trực trường hoặc hậu môn mà chia ra Trĩ Nội hoặc Trĩ Ngoại.
Các giai đoạn của Trĩ Nội và Ngoại được phân chia như sau:
Trĩ Nội: chia làm 4 thời kỳ:
1- Búi trĩ chưa ra ngoài, đại tiện ra máu tươi, có trường hợp chảy máu nhiều gây thiếu máu.
2- Khi đại tiện, búi trĩ lòi ra ngoài, sau đó trĩ lại tự co lên được.
3- Khi đại tiện, trĩ lòi ra nhưng không tự co lên được, lấy tay ấn, đẩy mới vào.
4- Trĩ thường xuyên ra ngoài, đẩy tay cũng không vào, búi trĩ ngoằn nghèo.
Trĩ Ngoại: Chia làm 4 thời kỳ:
1) Trĩ lòi ra ngoài.
2) Trĩ lòi ra ngoài với các búi tĩnh mạch ngoằn nghèo.
3) Trĩ bị tắc, đau, chảy máu.
4) Trĩ bị viêm, nhiễm trùng, ngứa và đau.
Nguyên Nhân
Tạng Phế và Đại trường tương thông nhau mà hậu môn là của của Đại trường. Tạng Phế mạnh thì khí đầy đủ, nếu hư yếu thì hàn khí không thu liễm lại được làm cho đầu ruột lòi ra. Đại trường nóng cũng có thể thoát ra.
Sách ‘Tế Sinh Phương’ viết: “Đa số do ăn uống không điều độ, uống rượu quá mức, ăn nhiều thức ăn béo, ngồi lâu làm cho thấp tụ lại, mót đi tiêu mà không đi ngay, hoặc là Dương minh phủ không điều hòa, quan lạc bị bế tắc, phong nhiệt không lưu thông gây nên ngũ trĩ”.
Điều trị
Trên lâm sàng thường gặp các loại sau:
1. Huyết ứ:
Triệu chứng: đại tiện xong huyết ra từng giọt, táo bón.
Pháp: lương huyết, chỉ huyết, hoạt huyết, khứ ứ
2. Thấp nhiệt
Triệu chứng: Vùng hậu môn sưng đỏ, đau, trĩ bị sưng to, đau, táo bón, nước tiểu đỏ.
Điều trị: Thanh nhiệt, lợi thấp, hoạt huyết, chỉ thống.
3- Khí huyết hư
Triệu chứng: Tiêu ra máu lâu ngày, chóng mặt, hoa mắt, ù tai, sắc mặt trắng, rêu lưỡi trắng mỏng, người mệt mỏi, hơi thở ngắn, tự ra mồ hôi, mạch Trầm Tế.
Điều trị: Bổ khí huyết, thăng đề, chỉ huyết.
Bài thuốc: Bổ Trung Ích Khí gia giảm
Xem thêm…
Trĩ là một bệnh mạn tính, do các tĩnh mạch trực trường hậu môn bị dãn và xung huyết thành búi hoặc nhiều búi.
Phân LoạiCác sách cổ chia làm 5 loại trĩ: Mẫu Trĩ, Tẫn Trĩ, Trường Trĩ, Mạch Trĩ, Huyết Trĩ
Tùy vị trí tĩnh mạch ở trực trường hoặc hậu môn mà chia ra Trĩ Nội hoặc Trĩ Ngoại.
Các giai đoạn của Trĩ Nội và Ngoại được phân chia như sau:Trĩ Nội: chia làm 4 thời kỳ:
1- Búi trĩ chưa ra ngoài, đại tiện ra máu tươi, có trường hợp chảy máu nhiều gây thiếu máu.
2- Khi đại tiện, búi trĩ lòi ra ngoài, sau đó trĩ lại tự co lên được.
3- Khi đại tiện, trĩ lòi ra nhưng không tự co lên được, lấy tay ấn, đẩy mới vào.
4- Trĩ thường xuyên ra ngoài, đẩy tay cũng không vào, búi trĩ ngoằn nghèo.
Trĩ Ngoại: Chia làm 4 thời kỳ:
1) Trĩ lòi ra ngoài.
2) Trĩ lòi ra ngoài với các búi tĩnh mạch ngoằn nghèo.
3) Trĩ bị tắc, đau, chảy máu.
4) Trĩ bị viêm, nhiễm trùng, ngứa và đau.
Nguyên Nhân
Tạng Phế và Đại trường tương thông nhau mà hậu môn là của của Đại trường. Tạng Phế mạnh thì khí đầy đủ, nếu hư yếu thì hàn khí không thu liễm lại được làm cho đầu ruột lòi ra. Đại trường nóng cũng có thể thoát ra.
Sách ‘Tế Sinh Phương’ viết: “Đa số do ăn uống không điều độ, uống rượu quá mức, ăn nhiều thức ăn béo, ngồi lâu làm cho thấp tụ lại, mót đi tiêu mà không đi ngay, hoặc là Dương minh phủ không điều hòa, quan lạc bị bế tắc, phong nhiệt không lưu thông gây nên ngũ trĩ”.
Điều trị
Trên lâm sàng thường gặp các loại sau:
1. Huyết ứ:
Triệu chứng: đại tiện xong huyết ra từng giọt, táo bón.
Pháp: lương huyết, chỉ huyết, hoạt huyết, khứ ứ
| Trĩ huyết ứ | Hòe hoa (sao đen) | 16 | Kinh giới (sao đen) | 16 | Sinh địa | 12 | |
| Huyền sâm | 12 | Trắc bách diệp | 16 | Qui đầu | 12 | Địa du | 12 |
| Hoàng cầm | Xích thược | 12 | Bạch thược | 12 | Xuyên khung | 8 | |
| Chỉ sác | 8 | Hồng hoa | 8 | Đào nhân | 8 | Đại hoàng | 4 |
Triệu chứng: Vùng hậu môn sưng đỏ, đau, trĩ bị sưng to, đau, táo bón, nước tiểu đỏ.
Điều trị: Thanh nhiệt, lợi thấp, hoạt huyết, chỉ thống.
| Trĩ thấp nhiệt | Trạch tả | 12 | Ngân hoa | 16 | Chi tử | 12 | |
| Chỉ sác | 8 | Kinh giới | 12 | Đào nhân | 8 | Trắc bách diệp | 12 |
| Xích thược | 12 | Đương qui | 8 | Sinh địa | 16 | Cam thảo | 4 |
| Hoàng bá | 12 | Đại hoàng | 6 | ||||
Triệu chứng: Tiêu ra máu lâu ngày, chóng mặt, hoa mắt, ù tai, sắc mặt trắng, rêu lưỡi trắng mỏng, người mệt mỏi, hơi thở ngắn, tự ra mồ hôi, mạch Trầm Tế.
Điều trị: Bổ khí huyết, thăng đề, chỉ huyết.
Bài thuốc: Bổ Trung Ích Khí gia giảm
| Bổ trung ích khí | Đẳng sâm | 16 | Hoàng kỳ | 20 | Chích thảo | 4 | |
| Thăng ma | 12 | Qui đầu | 12 | Sài hồ | 12 | Bạch truật | 12 |
| Trần Bì | 8 | Kê huyết đằng | 12 | ||||
Bệnh trĩ và những bài thuốc điều trị
07:13 |
Để
phòng bệnh, cần tập thói quen đi cầu đều đặn hàng ngày. Không nên đứng
hoặc ngồi quá lâu. Hạn chế những công việc nặng nhọc, tránh động tác
mạnh làm áp lực trong khoang bụng tăng đột ngột.
Lương y Đinh Công Bảy, Tổng thư ký Hội Dược liệu TP HCM phân tích
các triệu chứng, nguyên nhân, cách phòng ngừa và một số bài thuốc trị
bệnh trĩ hiệu quả.
Bệnh trĩ là bệnh được tạo thành do sự phình dãn quá mức các đám rối
tĩnh mạch trĩ ở mô xung quanh hậu môn. Khi tĩnh mạch hậu môn hoạt động
kém, máu đi đến đây sẽ không lưu thông được, ứ đọng làm cho tĩnh mạch bị
dãn, phình ra.
Có hai loại trĩ là trĩ nội và trĩ ngoại.
Trĩ nội là khi các búi trĩ chịu lực nén bên trong nên có chiều hướng sung huyết, chảy máu và đôi khi bị sa.
Trĩ ngoại là khi các búi trĩ sa hẳn ra ngoài, mạch bị tắc gây phù nề và
nghẹt không tụt trở lại trong lòng hậu môn được nữa, kèm theo triệu
chứng nứt hậu môn và rất đau mỗi khi đại tiện.
Trĩ ngoại gây trở ngại nhiều tới cuôc sống của người bệnh, họ không dám
ăn uống vì sợ phải đại tiện nhiều lần. Một số trường trường hợp do chảy
máu nhiều sẽ dẫn tới thiếu máu nặng.
|
|
| Ngồi làm việc quá nhiều cũng là nguyên nhân gây bệnh trĩ. Ảnh: congso |
Có 2 triệu chứng chính
- Chảy máu: Là triệu chứng có sớm nhất và thường gặp nhất. Lúc đầu chảy
máu rất kín đáo, tình cờ bệnh nhân phát hiện khi nhìn vào giấy chùi vệ
sinh sau khi đi cầu hoặc nhìn vào phân thấy vài tia máu nhỏ dính vào
thỏi phân rắn.
Về sau mỗi khi đi cầu phải rặn nhiều do táo bón thì máu chảy thành giọt
hay thành tia. Muộn hơn nữa cứ mỗi lần đi cầu, mỗi lần đi lại nhiều,
mỗi lần ngồi xổm máu lại chảy, có khi máu chảy rất nhiều bắt bệnh nhân
phải vào cấp cứu.
Đôi khi máu từ búi trĩ chảy ra đọng lại trong lòng trực tràng rồi sau đó mới đi cầu ra nhiều máu cục.
- Sa búi trĩ: Thường xảy ra trễ hơn sau một thời gian đi cầu có chảy
máu. Lúc đầu, mỗi khi đại tiện thì thấy có khối nhỏ lồi ra ở lỗ hậu môn,
sau đó khối đó tự tụt vào được.
Càng lâu ngày, khối đó to lên dần và không tự tụt vào sau khi đi cầu
nữa mà phải dùng tay nhét vào. Cuối cùng, khối sa đó thường xuyên nằm
ngoài hậu môn.
Ngoài 2 triệu chứng chính trên, bệnh nhân có thể có kèm theo các triệu
chứng khác như đau khi đi cầu, ngứa quanh lỗ hậu môn. Thông thường trĩ
không gây đau, triệu chứng đau xảy ra khi có biếng chứng như tắc mạch,
sa trĩ nghẹt hay do các bệnh khác ở vùng hậu môn như nứt hậu môn, áp xe
cạnh hậu môn… Triệu chứng ngứa xảy ra do búi trĩ sa ra ngoài và tiết
dịch gây viêm da quanh hậu môn làm cho bệnh nhân cảm thấy hậu môn lúc
nào cũng có cảm giác ướt và ngứa.
Cần phân biệt bệnh trĩ với một số trường hợp có chảy máu hậu môn khác
- Bệnh ung thư hậu môn, trực tràng, cũng có triệu chứng chảy máu giống
như bệnh trĩ, nếu bệnh nhân cứ cho là mình bị bệnh trĩ, không chịu đi
khám và điều trị, đến khi ung thư phát triển to thì không còn khả năng
điều trị được.
- Trường hợp polype trực tràng cũng cho dấu hiệu chảy máu, đây là bệnh
cần can thiệp cắt bỏ thì mới hết bệnh chứ không thể điều trị bằng thuốc.
- Khi bị trĩ ngoại, búi trĩ sa ra ngoài, thường lầm với sa trực tràng
(loài dom), cách điều trị của hai loại bệnh này lại hoàn toàn khác nhau.
Nguyên nhân
Bệnh trĩ có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do táo bón lâu ngày,
bệnh lỵ, nóng trong người do ăn uống các chất cay nóng (tiêu, ớt, cà ri,
cà phê, rượu bia...), tăng áp lực ổ bụng do lao động, tư thế, sinh
hoạt…
- Táo bón lâu ngày: Những bệnh nhân này mỗi khi đi cầu rặn nhiều, khi
rặn áp lực trong lòng ống hậu môn tăng lên gấp 10 lần. Táo bón lâu ngày
làm xuất hiện các búi trĩ. Các búi trĩ dần dần to lên và khi to quá sẽ
sa ra ngoài.
- Bệnh lỵ: Khi bị bệnh lỵ, bệnh nhân đại tiện nhiều lần trong ngày, và
mỗi lần đại tiện phải rặn nhiều làm tăng áp lực trong ổ bụng.
- Tăng áp lực ổ bụng: Những bệnh nhân viêm phế quản mạn tính, những
bệnh nhân dãn phế quản, phải ho nhiều, những người làm lao động nặng như
khuân vác... làm tăng áp lực trong ổ bụng, dễ dàng cho bệnh trĩ xuất
hiện.
- Tư thế: Bệnh trĩ thường gặp ở những người phải đứng lâu, ngồi nhiều,
ít đi lại, như thư ký bàn giấy, lái xe, nhân viên bán hàng, thợ may …
Ngoài ra, khi bị u bướu hậu môn trực tràng và vùng chung quanh có thể
chèn ép và cản trở đường về tĩnh mạch hồi lưu làm cho các đám rối trĩ
căng phồng lên tạo thành bệnh trĩ. Trong những trường hợp này, trĩ được
tạo nên do những nguyên nhân cụ thể, rõ ràng nên được gọi là trĩ triệu
chứng, khi điều trị ta phải điều trị nguyên nhân chứ không trị như bệnh
trĩ.
Phòng ngừa bệnh trĩ
- Tập thói quen đi cầu đều đặn hàng ngày. Không nên đứng hoặc ngồi quá
lâu. Hạn chế những công việc nặng nhọc, tránh động tác mạnh làm cho áp
lực trong xoang bụng tăng lên đột ngột. Sử dụng giấy vệ sinh mềm, sạch,
hoặc dùng các loại xà phòng ít tính acid để làm sạch vùng hậu môn. Vận
động thể lực vừa sức, nên tập thể dục và chơi các môn thể thao nhẹ như
bơi lội, đi bộ, đi xe đạp…
- Điều chỉnh thói quen ăn uống: Tránh các chất kích thích như cà phê, rượu, trà đậm, thuốc lá... Tránh các thức ăn nhiều gia vị như ớt, tiêu, cà ri, gừng, riềng...
|
|
|
| Tránh ăn các gia vị, thức ăn cay, nóng. Ảnh: delta |
Ăn nhiều chất xơ từ các loại rau quả để chống táo bón. Nên ăn
thức ăn dạng luộc chín, nấu canh, hấp, tránh dạng chiên xào nhiều dầu mỡ
khó tiêu, hoặc dạng nướng…
Hạn chế ăn muối, vì muối có khuynh hướng giữ nước lại trong cơ thể, làm
các tế bào và mạch máu trương căng ra, làm nặng hơn triệu chứng trĩ.
Một số bài thuốc nam trị bệnh
- Chỉ huyết thang: Lá huyết dụ tươi 40 g, lá cây sống đời tươi 20 g, lá
cây cỏ mực tươi (hoặc lá cây xích đồng nam tươi) 20g. Ba thứ rửa sạch,
sắc uống 2 lần trong ngày, trước bữa ăn.
- Ngẫu tiết thang: Ngẫu tiết 20 g, cỏ mực 20 g, trắc bá diệp 16 g, bồ
hoàng 16 g. Tất cả sao đen, sắc uống 2 lần trong ngày, trước bữa ăn hoặc
lúc bị chảy máu.
- Hòe hoa tán: Hoa hòe sao đen, hoa kinh giới sao đen, lá trắc bá sao
đen, chỉ xác sao. Tất cả lượng bằng nhau, rửa sạch, phơi sấy khô, tán và
rây lấy bột mịn, cho vào lọ sạch để bảo quản (có thể chia thành từng
gói nhỏ, mỗi gói 10 g). Ngày uống 2 lần, mỗi lần 10 g, với nước sôi để
nguội hoặc nước cơm, trước bữa ăn 30 phút hoặc khi đang chảy máu. Tùy
tình hình bệnh, có thể gia thêm cỏ mực, địa du, bồ hoàng…
- Tứ sinh thang (Bốn loại thuốc tươi): Lá sen tươi, lá ngãi cứu tươi,
lá trắc bá tươi, sinh địa hoàng tươi. Tất cả lượng bằng nhau 30-40g, rửa
sạch, giã nát, vắt lấy nước để uống hoặc làm thang sắc uống, trước bữa
ăn 30 phút đến 1 giờ.
Tác dụng: Điều trị các bệnh mãn tính có thể là nguyên nhân gây ra trĩ
như viêm phế quản, dãn phế quản, táo bón, bệnh lỵ, mập phì…
- Chữa trĩ ra máu: Vỏ quả ấu sấy khô, đốt tồn tính, tán bột mịn, trộn đều với dầu mè để bôi hoặc đắp, ngày 3-4 lần.
- Chữa đại tiện ra máu: Trĩ ra máu: Vỏ quả ấu 60g, cỏ mực 8g, trắc bá
diệp (sao đen) 8g, hoa hoè (sao) 8g, gương sen (sao) 8g. Sắc với 750ml
nước, còn 300ml chia 2 lần uống trước bữa ăn.
Lương y Đinh Công Bảy
BỆNH TRĨ
07:02 |
BỆNH TRĨ
Đại cương
Trĩ là một bệnh mạn tính, do các tĩnh mạch trực trường hậu môn bị dãn và xung huyết thành búi hoặc nhiều búi.
Phân Loại
Các sách cổ chia làm 5 loại trĩ: Mẫu Trĩ, Tẫn Trĩ, Trường Trĩ, Mạch Trĩ, Huyết Trĩ
Tùy vị trí tĩnh mạch ở trực trường hoặc hậu môn mà chia ra Trĩ Nội hoặc Trĩ Ngoại.
Các giai đoạn của Trĩ Nội và Ngoại được phân chia như sau:
Trĩ Nội: chia làm 4 thời kỳ:
1. Búi trĩ chưa ra ngoài, đại tiện ra máu tươi, có trường hợp chảy máu nhiều gây thiếu máu.
2. Khi đại tiện, búi trĩ lòi ra ngoài, sau đó trĩ lại tự co lên được.
3. Khi đại tiện, trĩ lòi ra nhưng không tự co lên được, lấy tay ấn, đẩy mới vào.
4. Trĩ thường xuyên ra ngoài, đẩy tay cũng không vào, búi trĩ ngoằn nghèo.
Trĩ Ngoại: Chia làm 4 thời kỳ:
1. Trĩ lòi ra ngoài.
2. Trĩ lòi ra ngoài với các búi tĩnh mạch ngoằn nghèo.
3. Trĩ bị tắc, đau, chảy máu.
4. Trĩ bị viêm, nhiễm trùng, ngứa và đau.
Nguyên Nhân
Tạng Phế và Đại trường tương thông nhau mà hậu môn là của của Đại trường. Tạng Phế mạnh thì khí đầy đủ, nếu hư yếu thì hàn khí không thu liễm lại được làm cho đầu ruột lòi ra. Đại trường nóng cũng có thể thoát ra.Sách ‘Tế Sinh Phương’ viết: “Đa số do ăn uống không điều độ, uống rượu quá mức, ăn nhiều thức ăn béo, ngồi lâu làm cho thấp tụ lại, mót đi tiêu mà không đi ngay, hoặc là Dương minh phủ không điều hòa, quan lạc bị bế tắc, phong nhiệt không lưu thông gây nên ngũ trĩ”.
Điều trị
Trên lâm sàng thường gặp các loại sau:1. Huyết ứ:
Triệu chứng: đại tiện xong huyết ra từng giọt, táo bón.Pháp trị: lương huyết, chỉ huyết, hoạt huyết, khứ ứ
Bài thuốc: Huyền
sâm 12g, sinh địa 12g, Chi tử 12g, Cỏ nhọ nồi 12g, Đại hoàng, 6g, Hoè
hoa 12g, Trác bách sao đen 12g, Địa du 12g, Hoàng cầm 12g, Bạch thược
12g, Xích thược 12g, Tô mộc 16g, Bạch chỉ 12g, Cam thảo 6g
Pháp trị: Thanh nhiệt, lợi thấp, hoạt huyết, chỉ thống.
2. Thấp nhiệt
Triệu chứng: Vùng hậu môn sưng đỏ, đau, trĩ bị sưng to, đau, táo bón, nước tiểu đỏ.Pháp trị: Thanh nhiệt, lợi thấp, hoạt huyết, chỉ thống.
Bài thuốc: Hoàng
cầm 12g, Hoàng bá 6g, khổ sâm 16g, Ngân hoa 12g, Liên kiều 10g, Bạch
chỉ 12g, Biển đậu 16g, Ý dỹ 16g, Phục linh 12g, Trạch tả 12g, Chi tử
12g, Đại hoàng 6g, Xích thược 12g, Tô mộc 16g, Cam thảo 6g
3. Khí huyết hư
Triệu chứng: Tiêu ra máu lâu ngày, chóng mặt, hoa mắt, ù tai, sắc mặt trắng, rêu lưỡi trắng mỏng, người mệt mỏi, hơi thở ngắn, tự ra mồ hôi, mạch Trầm Tế.Pháp trị:: Bổ khí huyết, thăng đề, chỉ huyết.
Bài thuốc: Bổ Trung Ích Khí gia giảm
Đẳng sâm 16g, Hoàng kỳ 16g, Đương quy 16g, Bạch truật 16g,Thăng ma 12g, Sài hồ 8g, Trần Bì 6g, Xuyên khung 8g, Thục địa 16g, Đại táo 16g, Chích thảo 6g








