Bài 5: CÓ PHẢI PHỤNG VỤ LỄ MÌNH THÁNH CHÚA DO THÁNH TÔMA AQUINÔ SOẠN KHÔNG?

11:00 |
CÓ PHẢI PHỤNG VỤ LỄ MÌNH THÁNH CHÚA DO THÁNH TÔMA AQUINÔ SOẠN KHÔNG?

 Giuse Phan Tấn Thành

Hôm thứ 6 vừa rồi (28/1), phụng vụ mừng lễ kính thánh Tôma Aquinô tiến sĩ Hội thánh. Có phải thánh nhân là tác giả các kinh phụng vụ lễ Thánh Thể không?

Truyền thống đã gán cho thánh Tôma Aquinô như là tác giả rất nhiều kinh phụng vụ và ngoài phụng vụ. Có lẽ nhiều người chỉ biết thánh nhân như là một nhà triết học hoặc thần học đã cung cấp cho Giáo hội nhiều suy tư sâu sắc; nhưng ít người biết rằng người cũng là tác giả của rất nhiều kinh nguyện, cách riêng là những lời nguyện kính Mình Thánh Chúa. Các Sách Lễ bằng tiếng La-tinh đều đặt trong phần phụ lục hai kinh nguyện của thánh Tôma đọc trước và sau khi rước lễ. Trước đây, tại các giáo phận do các cha Dòng Đaminh phụ trách, các tín hữu đọc kinh này hằng ngày. Nhưng đặc biệt nhất là truyền thống đã gán cho thánh Tôma Aquinô là soạn giả những bản kinh phụng vụ lễ Kính Mình Thánh Chúa.

Tại sao nói là truyền thống gán cho thánh Tôma? Có phải bởi vì không chắc chắn hay sao?

Có hai lý do khiến cho các nhà phê bình sử liệu không dám khẳng định chắc chắn. Thứ nhất, thời xưa cũng như thời nay, mỗi lần ai được Toà thánh nhờ viết một văn kiện (thí dụ một thông điệp, một huấn thị hay một bản văn phụng vụ) thì họ phải giấu tên chứ không được phép đánh trống gõ mõ rao cho hết mọi người biết. Thứ hai, vào thời Trung cổ, chưa có luật tác quyền: sau khi xuất bản một cuốn sách, tác giả không đi đăng ký để giữ bản quyền. Ngày nay, tác quyền nhằm bảo vệ tác giả khỏi bị đánh cắp do nạn "luộc sách"; nhưng đời xưa thì ngược lại: có người xuất bản nhưng không dám đề tên của mình mà lại đi núp bóng một tác giả thời danh để dễ lưu hành hơn. Từ đó có nạn "gán ghép" tác giả. Cả hai lý do đó đều xảy ra cho phụng vụ lễ kính Mình Thánh Chúa.

Thánh Tôma có liên hệ gì đến phụng vụ lễ kính Mình Thánh Chúa?

Trước khi vào đề, nên biết là tên gọi "Lễ Mình và Máu Thánh Chúa" mới được đưa vào lịch phụng vụ từ sau công đồng Vaticanô II (1969), còn trước đó chỉ gọi là "lễ Mình Thánh Chúa" (Corpus Domini). Việc tôn kính Mình Thánh Chúa đã có từ lâu đời trong Hội thánh, đặc biệt qua việc cử hành Thánh lễ ngày Chúa nhật. Nhưng việc dành ra một ngày trong năm làm lễ trọng kính Mình Thánh Chúa thì muộn hơn. Lễ này được chính thức thiết lập trong toàn thể Hội thánh do sắc chiếu Transiturus của Đức Thánh Cha Urbano ngày 11 tháng 8 năm 1264, với một nguồn gốc khá ly kỳ.

Tại sao gọi là ly kỳ?

Chúng ta đang ở trong Năm Thánh Thể, do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tuyên bố vào dịp lễ kính Mình Máu Thánh Chúa năm ngoái (10/6/2004): đây là một sáng kiến của chính Đức Thánh Cha lồng trong bối cảnh của Đại Hội Thánh Thể quốc tế Guadalajara (17/10/2004) và Thượng hội đồng giám mục thế giới họp vào cuối tháng 10 năm nay, bàn về bí tích này. Việc thiết lập lễ Mình Thánh Chúa thì không do sáng kiến của Toà thánh, nhưng bắt nguồn từ lòng đạo đức bình dân.

Vào thế kỷ XIII, ra như phản ứng lại phong trào Albigeois miền Nam nước Pháp phủ nhận bí tích Thánh Thể, nhiều phong trào giáo dân ở Bắc Âu đã cổ động lòng sùng kính bí tích này. Họ tổ chức những cuộc thờ lạy Bánh thánh, giật chuông nhà thờ khi linh mục thánh hiến bánh và rượu, và ban phép lành với Mình Thánh Chúa. Tại Liège (nay thuộc nước Bỉ), qua trung gian của thánh nữ Julienne một nữ tu dòng Âu-tinh ở Mont-Cornillon (1193-1258), họ xin đức cha Robert de Thorete giám mục giáo phận được cử hành một lễ kính Mình Thánh vào ngày thứ năm sau Chúa nhật kính Chúa Ba Ngôi. Ý nguyện đã được chấp thuận năm 1246, và một bản văn phụng vụ đã được soạn ra.

Vào năm 1252, vị sứ thần Toà thánh bên Đức, hồng y Hugues de Saint Cher, dòng Đaminh, cảm kích trước những buổi cử hành trọng thể ở Liège, đã cho phép mở rộng việc cử hành lễ này trên toàn thể lãnh thổ nhiệm sở của mình. Trước khi đắc cử giáo hoàng (1261-1264), đức Urbanô IV nguyên là một giáo sĩ Liège (tên thật là Jacques Pantaléon) đã tham dự nhiều cuộc rước kiệu tại Liège, và cũng đã nhận được thỉnh nguyện cho phép cử hành lễ kính Mình Thánh Chúa trong toàn thể Hội thánh. Đang khi còn suy tính thì xảy ra một biến cố tại nhà thờ Bolsena (cách Rôma 138 cây số): năm 1263, một linh mục tên là Phêrô Praga (người Séc) trên đường hành hương Rôma, đang khi dâng Thánh lễ thì nổi lên lòng nghi ngờ về việc bánh rượu biến đổi thành Mình Máu Thánh. Thế rồi cha thấy máu thánh chảy lênh láng trên khăn thánh.

Tiếng đồn lan ra, và dân chúng tổ chức rước khăn thánh về nhà thờ chánh toà Orvieto (cách đó không xa), nơi ĐTC đang cư ngụ. Phép lạ này đã thúc đẩy việc thiết lập lễ Mình thánh Chúa trong toàn Hội thánh, với sắc chiếu Transiturus ngày 11/8/1264 như đã nói.

Nhưng lễ này có liên quan gì đến thánh Tôma không?

Có chứ. Vào lúc đó, thánh Tôma đang dạy học ở Orvieto, nơi dòng Đaminh có học viện. Vì thế nếu thánh Tôma được mời soạn bài lễ phụng vụ thì cũng không gì lạ. Ắt là ngài cũng được cung cấp những bản văn đang lưu hành ở Liège. Tuy nhiên, như đã nói trên đây, soạn giả các bản văn phụng vụ (cũng như các văn kiện Toà thánh) không ký tên vào tác phẩm của mình. Mãi đến năm 1312, một tác giả lịch sử Giáo hội tên là Tolomeo da Lucca mới tiết lộ danh tánh.
Từ đó trở đi, các người viết tiểu sử thánh Tôma đều lặp lại nguồn tin đó. Thế nhưng vào thời cận đại, thì người ta đòi xét lại toàn bộ vấn đề, nghĩa là đòi hỏi phải có chứng cứ chắc chắn. Theo các nhà phê bình, mẩu tin của ông Tolomeo tiết lộ cách xa thời sự gần nửa thế kỷ, và không có nguồn nào khác để kiểm chứng. Thực ra, cũng đừng nên quên rằng tuy lễ Mình Thánh Chúa được thiết lập vào tháng 8 năm 1264, nhưng đức giáo hoàng Urbanô IV băng hà vào đầu tháng 10 cùng năm, cho nên sắc chiếu chìm trong quên lãng, cho đến khi họp công đồng họp tại Vienne (từ tháng 10 năm 1311 tới tháng 5 năm 1312) đức thánh cha Clementê V mới nhắc đến văn kiện đó.

Các bản văn phụng vụ lễ Mình Thánh Chúa do thánh Tôma soạn ra có giống như bản văn đang đọc hiện nay không?

Từ thời thánh Tôma đến nay, Giáo hội đã có nhiều cuộc cải cách phụng vụ, với nhiều thêm hoặc bớt các bài đọc, các thánh vịnh. Tuy vậy, có vài bản văn được duy trì, chứ không thay đổi, chẳng hạn như các lời nguyện trong Thánh lễ, các thánh thi trong phụng vụ Giờ kinh. Người ta có thể nhận thấy bàn tay của thánh Tôma khi đối chiếu nội dung các bản văn đó với tư tưởng về bí tích mà thánh nhân trình bày trong sách Tổng luận thần học. Dĩ nhiên là thần học trong bản văn phụng vụ thì cô đọng, chứ không thể quảng diễn chi tiết như trong một khảo luận. Dù sao, có lẽ bản kinh sâu sắc nhất không phải là lời tổng nguyện, mà là điệp ca Tin mừng kinh chiều II, được Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo trích lại nguyên văn ở số 1402: "Ôi yến tiệc Mình và Máu Thánh, Chúa Kitô thành lương thực nuôi ta! Tiệc nhắc nhở Người đã chịu khổ hình và đổ đầy ân sủng xuống cõi lòng nhân thế; tiệc bảo đảm cho ta một ngày mai huy hoàng rực rỡ". Thánh thể được ví như một bàn tiệc, nhìn dưới ba chiều kích hiện tại, quá khứ, tương lai. Trong hiện tại, đây là bàn tiệc nuôi dưỡng chúng ta như lương thực, và ban cho chúng ta ân sủng, nghĩa là sống trong tình nghĩa với Chúa. Chiều kích quá khứ được nhắc đến như là "tưởng niệm cuộc khổ hình Đức Kitô", tức là hy lễ trên thập giá. Chiều kích tương lai của bí tích được diễn tả qua từ ngữ "bảo chứng của vinh quang", nghĩa là sự thông hiệp sung mãn với Thiên Chúa.

Phụng vụ lễ kính Mình Thánh Chúa cũng gồm các thánh thi nữa. Như vậy thánh Tôma cũng là thi sĩ nữa hay sao?

Không biết nên gọi thánh Tôma là thi sĩ hay nhạc sĩ, bởi vì ba bài thánh thi đọc ở giờ Kinh Sách, Kinh Sáng, Kinh Chiều đều được phổ nhạc, đó là chưa kể Ca tiếp liên trong Thánh lễ Lauda Sion Salvatorem. Rất có thể là thánh Tôma dựa vào các thánh thi đã có sẵn, và biến đổi các lời cho hợp với thần học về bí tích. Trong số những thánh thi ngày lễ, bài thánh thi Kinh Chiều Pange lingua gloriosi quen thuộc hơn cả, bởi vì được hát trong các cuộc rước kiệu Mình Thánh Chúa, và cách riêng là hai đoạn chót Tantum ergo sacramentum. Trước đây chúng ta có bản dịch trong sách Toàn niên Kinh nguyện ("Chúng tôi kính lạy Mình thánh rất sang trọng, Máu Thánh rất châu báu vô cùng"). Sách Giờ kinh Phụng vụ đã dịch lại với ngôn ngữ hiện đại hơn, và cố gắng duy trì thể thơ. Thánh thi gồm có 6 đoạn, mỗi đoạn 6 câu trong nguyên bản La-tinh, nhưng trong bản dịch Việt ngữ chỉ còn 4 câu. Đoạn thứ nhất là lời mời gọi hãy ca ngơị mầu nhiệm Mình rất vinh hiển và Máu châu báu đổ ra làm giá chuộc muôn dân bởi người con của phụ nữ cao vời và cũng là Vua muôn dân.

Đoạn thứ hai khai triển niềm tin về thân thế và công trình của Đức Kitô: "Người đã được trao ban cho chúng ta, Người đã sinh ra cho chúng ta từ đức Trinh nữ thanh khiết; Người đã sống giữa trần thế gieo vãi hạt giống Lời Chúa; Người kết thúc cuộc lữ hành dương thế bằng một việc tuyệt diệu", sẽ được mô tả trong hai đoạn Ba và Bốn. "Trong đêm Tiệc Ly, lúc ngồi bàn cùng với các anh em, sau khi đã tuân giữ nhưng thủ tục luật cũ quy định, Người đã tự tay trao hiến mình cho 12 môn đệ. Lời Nhập thể bằng một lời đã đổi bánh thực trở nên thịt của mình; và rượu trở nên Máu của Chúa Kitô: cho dù giác quan ngỡ ngàng đi nữa, nhưng duy đức tin đã đủ để củng cố cho tấm lòng chân thành". Hai đoạn 5 và 6 họp thành bài hát Tantum ergo, rút ra hệ luận thực hành từ niềm tin đến thờ lạy chúc tụng: "Nào chúng ta hãy cúi đầu thờ lạy bí tích cực trọng; nghi thức cũ đã nhường chỗ cho nghi thức mới; ta hãy lấy đức tin bù vào khiếm khuyết của giác quan". Theo các nhà phê bình, đoạn chót không do thánh Tôma sáng tác, nhưng lấy lại từ vinh tụng ca của một thánh thi lễ thánh Agnès.
Xem thêm…

Bài 2: TẠI SAO PHẢI RƯỚC LỄ TRONG MÙA PHỤC SINH?

20:00 |
TẠI SAO PHẢI RƯỚC LỄ TRONG MÙA PHỤC SINH?
   
Giuse Phan Tấn Thành, OP.

ĐTC Phanxicô đích thân trao Mình Thánh Chúa cho các em rước lễ lần đầu

Điều 920 của bộ giáo luật hiện hành buộc các tín hữu phải rước lễ một năm ít là một lần, vào mùa Phục sinh. Tại sao có điều luật đó?

Khoản giáo luật vừa trưng dẫn còn được lặp lại trong sách Giáo lý Hội thánh Công giáo số 1389. Tuy nhiên nguồn gốc của nó đã có từ xa xưa, nghĩa là từ công đồng Latêranô IV năm 1215.

Tại sao phải ra luật đó?

Có rất nhiều lý do đôi khi tương phản nhau: có người nguội lạnh, chẳng mấy khi đi nhà thờ, vì thế cần phải ra luật thúc đẩy họ tối thiểu một năm hãy liệu xưng tội rước lễ một lần. Ngược lại, có người quá đạo đức, đi lễ thường xuyên nhưng không dám lên rước lễ vì cảm thấy mình bất xứng. Do đó, cần phải thúc đẩy họ lên rước lễ ít là một năm một lần. Để hiểu rõ vấn đề này hơn, chúng ta nên đi ngược lại dòng lịch sử từ những thế kỷ đầu tiên của Hội thánh.

Các tín hữu tiên khởi rước lễ bao nhiêu lần một năm?

Thực khó nói cách chính xác. Tuy nhiên có thể suy đoán dựa theo vài dữ kiện. Chúng ta biết rằng ngay từ đầu tiên, các Kitô hữu đã có thói quen họp nhau cử hành Thánh Thể hằng tuần vào ngày Chúa nhật, (ngày của Chúa, ngày mừng Chúa Kitô Phục sinh). Chúng ta thấy chứng tích nơi sách Tông đồ công vụ, chương 20 câu 7, kể lại việc thánh Phaolô chủ sự lễ nghi bẻ bánh tại Troa. Sách Điđakhê chương 14 diễn tả việc tham dự lễ bẻ bánh ngày Chúa nhật thành một quy luật. Từ đó ta cũng có thể kết luận được rằng họ cũng rước lễ ít là mỗi tuần một lần. Lý do dễ hiểu, bởi vì việc tham dự Thánh lễ đương nhiên bao hàm việc rước lễ. Thánh lễ được gọi là "việc bẻ bánh", hàm ngụ ý tưởng một bữa tiệc thánh. Do đó không ai đi dự tiệc mà ra về với bụng trống rỗng.

Từ khi Giáo hội cử hành phụng vụ vào các ngày trong tuần lễ, thì các tín hữu cũng tăng mức độ rước lễ nữa hay sao?

Lịch sử không tiến triển theo đường thẳng, nhưng thường là theo đường ngoằn ngoèo. Xét về kỷ luật chung của Giáo hội thì quả là có sự tiến triển trong việc cử hành Thánh lễ. Vào thời đầu, có lẽ mỗi tuần Giáo hội chỉ cử hành Thánh lễ một lần vào ngày Chúa nhật. Nhưng con số đó tăng lên dần dần, tuỳ theo địa phương. Hồi đầu thế kỷ V, thánh Augustinô (Epistola 54, ad Ianuarium, c.2) viết như sau: "việc dâng lễ thay đổi tùy theo địa phương. Có nơi thì hiệp lễ hàng ngày, có nơi thì chỉ hiệp lễ vào một vài bữa. Có nơi thì không ngày nào bỏ việc dâng Hy lễ; có nơi thì chỉ dâng Thánh lễ vào thứ bảy và Chúa nhật; thậm chí có nơi chỉ dâng lễ vào ngày Chúa nhật". Như vậy, cho đến thời thánh Augustinô, không phải đâu đâu cũng có Thánh lễ hàng ngày, và thậm chí có nơi chỉ có Thánh lễ ngày Chúa nhật mà thôi.

Điều này không chỉ tuỳ thuộc vào số linh mục nhiều hay ít, nhưng còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nữa. Chẳng hạn như bên các Giáo hội Đông phương, các buổi cử hành Thánh lễ rất long trọng, vì thế không lạ gì mà thường chỉ giới hạn vào ngày Chúa nhật, với sự tham gia đông đảo của cộng đoàn và ca đoàn. Đang khi đó, bên Tây phương, do việc các đan sĩ thụ phong linh mục, cho nên việc cử hành Thánh lễ cũng gia tăng tại các đan viện, không những là Thánh lễ cử hành cho cộng đoàn mỗi ngày, mà mỗi linh mục còn cử hành Thánh lễ kể cả khi không có cộng đoàn tham dự. Hơn thế nữa, việc tăng gia các buổi cử hành Thánh lễ không nhất thiết kèm theo sự tăng gia việc rước lễ.

Tại sao vậy?

Lúc nãy tôi đã nói rằng lịch sử không tiến theo đường thẳng nhưng theo đường ngoằn ngoèo. Một cách tổng quát, ta thấy rằng ở những thế kỷ đầu tiên, việc hiệp lễ gắn liền với việc tham dự Thánh lễ (gọi là lễ bẻ bánh), nhưng dần dần thì hai hành vi được tách rời. Có người rước lễ tuy không tham dự Thánh lễ: điều này xảy ra cho những người đau ốm không thể đi nhà thờ được, hoặc những người bị giam tù trong kỳ bắt đạo. Ngược lại, có người thì tham dự Thánh lễ mà không rước lễ. Điều này xảy ra vì nhiều lý do. Một lý do vừa mới nhắc đến là trường hợp các đan sĩ cử hành Thánh lễ mà không ai tham dự (và do đó không có ai rước lễ); như thế việc rước lễ không còn phải là thành phần của Thánh lễ nữa. Đang khi đó, tại các giáo xứ, thì tuy các tín hữu buộc phải tham dự Thánh lễ hàng tuần, nhưng không hẳn là ai cũng dám lên rước lễ, xét vì cảm thấy lương tâm không ổn.

Như vậy, họ không lên rước lễ vì thấy mình mắc tội trọng, phải không?

Đúng vậy. Dựa theo lời của thánh Phaolô trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, chương 11 câu 28-29: "Ai nấy phải tự xét mình, rồi hãy ăn Bánh và uống Chén này. Thật vậy, ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình", Giáo hội đòi hỏi các tín hữu phải sạch tội trọng thì mới được phép rước Mình Thánh Chúa. Thế nhưng, trong lịch sử không thiếu những khuynh hướng giải thích chặt chẽ hơn nữa về sự chuẩn bị tâm hồn. Họ đòi hỏi không những chỉ sạch tội trọng, mà cả tội nhẹ cũng như các mối quyến luyến với thế trần. Thậm chí, họ buộc các đôi vợ chồng phải kiêng cữ ái ân thì mới được lên rước lễ.

Nói thế thì chỉ có các tu sĩ mới được xứng đáng rước lễ hay sao?

Các tu sĩ cũng chẳng xứng đáng rước lễ nữa. Mãi cho đến đầu thế kỷ XX, nhiều hiến pháp Dòng tu chỉ cho phép các tu sĩ rước lễ một tháng một lần, nghĩa là 12 lần một năm. Ai muốn rước lễ hàng ngày thì phải có phép của cha giải tội. Vị này có bổn phận trắc nghiệm trình độ đạo đức của linh hồn, rồi mới dám cho phép tu sĩ rước lễ thường xuyên. Thực ra, cha linh hồn không chỉ xét xem linh hồn có mắc tội trọng hay tội nhẹ hay không, nhưng còn muốn biết hiệu quả của việc rước lễ như thế nào: đương sự có tiến triển trên đường nhân đức hay không? Việc rước lễ có phát sinh hoa trái như lòng mong ước hay không?

Nếu việc rước lễ không phát sinh hoa trái, thì tu sĩ chỉ được rước lễ mỗi tháng một lần thôi phải không?

Có lẽ còn ít hơn nữa là đàng khác. Nói như thế chúng ta mới hiểu được ý nghĩa của sắc lệnh công đồng Latêranô IV năm 1215. Có thể giải thích tầm mức áp dụng sắc lệnh vừa cho các tín hữu biếng nhác (chẳng mấy khi đi nhà thờ) vừa cho những tu sĩ nữa! Theo các sử gia, nghĩa vụ buộc rước lễ mỗi năm ít là một lần bắt nguồn từ các đan sĩ sống trong sa mạc (như thánh Ambrôsiô giải thích: De sacramentis, 5,25). Dù sao thì về sau này giáo luật nhắm tới các người nguội lạnh nhiều hơn.

Từ thế kỷ IX, nhiều công đồng điạ phương buộc các tín hữu phải rước lễ ba lần một năm vào dịp lễ Giáng sinh, Phục sinh và Hiện xuống. Công đồng Latêranô IV thì chỉ buộc rước lễ mỗi năm một lần, ít là vào lễ Phục sinh. Dần dần nghĩa vụ này được kéo dài ra suốt mùa Phục sinh. Bộ giáo luật hiện hành thì giữ lại luật buộc phải rước lễ mỗi năm một lần; nhưng không nhất thiết là trong mùa Phục sinh. Bộ giáo luật hiện hành cũng bỏ những chế tài của công đồng Latêranô, theo đó ai không rước lễ trong tuần lễ Phục sinh thì sẽ bị trục xuất khỏi Giáo hội, và không được an táng theo nghi thức phụng vụ.

Tại sao phải rước lễ mỗi năm một lần?

Như đã nói ở đầu, ta có thể đọc nghĩa vụ này theo hai chiều hướng đối nghịch. Với người thờ ơ lãnh đạm thì luật này thúc đẩy họ hãy nuôi dưỡng lòng đạo, nhờ việc lãnh bí tích Thánh Thể: thân xác cần được nuôi dưỡng thì mới sống được. Ai mà không ăn thì dù chưa chết cũng thấy kiệt lực. Linh hồn cũng cần được bồi dưỡng nhờ bí tích để có sức mạnh chống lại tội lỗi và tăng cường nhân đức. Vì thế mà việc rước lễ mỗi năm một lần là mức tối thiểu. Xuống dưới mức tối thiểu thì có nguy cơ hấp hối.

Mặt khác, nghĩa vụ này cũng nhắc nhớ những người quá bối rối sợ hãi rằng: Chúa Giêsu đã thiết lập bí tích này không chỉ để cho ta thờ lạy tôn kính, nhưng còn để trở thành lương thực cho ta nữa. Ngài muốn trở nên bánh cho ta ăn, ngõ hầu ta được sống và sống dồi dào. Đành rằng Ngài là Đấng cực thánh, còn ta là kẻ tội lỗi, không xứng đáng cho Ngài ngự vào linh hồn ta, nhưng chúng ta đừng quên phần thứ hai của lời nguyện trước khi rước lễ: "Lạy Chúa, con chẳng đáng rước Chúa ngự vào nhà linh hồn con, nhưng xin Chúa phán một lời thì linh hồn con sẽ lành mạnh". Tuy dù chúng ta bất xứng, nhưng chính vì thế mà chúng ta cần Chúa đến thăm, như bệnh nhân cần đến lương y đến chữa lành. Vì thế chúng ta đừng ngại ngùng lên rước lễ khi thấy mình còn nhiều thiếu sót.

Dù sao, có lẽ ngày nay ít người ngại lên rước lễ vì cảm thấy mình bất xứng. Chúng ta chỉ sợ rơi vào tình trạng trái ngược. Cho đến đầu thế kỷ XX, trung bình các tu sĩ được rước lễ mỗi tháng một lần. Bộ giáo luật hiện hành ở số 917 dự liệu những trường hợp được phép rước lễ nhiều lần trong một ngày. Nguy cơ có thể xảy ra là sự thiếu chuẩn bị xứng đáng, không chỉ theo nghĩa là chưa thanh tẩy linh hồn đúng mức, nhưng còn theo nghĩa là chúng ta không lưu ý đến việc để cho Mình Thánh phát sinh những hoa trái mong muốn, đặc biệt là lòng mến Chúa yêu người.

Xem thêm…

Bài 1: THÁNH LỄ CỬ HÀNH CHÚA TỬ NẠN HAY CHÚA PHỤC SINH?

07:31 |
THÁNH LỄ CỬ HÀNH CHÚA TỬ NẠN HAY CHÚA PHỤC SINH?
 Giuse Phan Tấn Thành

Lễ Chúa Phục sinh có liên hệ gì đến Bí tích Thánh Thể không? Phải chăng bí tích Thánh Thể chỉ tưởng niệm cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá mà thôi, chứ không có liên quan gì đến lễ Phục sinh hết?

Xưa nay các nhà thần học quen nêu bật mối liên hệ giữa bí tích Thánh Thể và cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Mối liên hệ này đã được thiết lập từ chính các bản văn Kinh thánh. Thánh lễ được cử hành để nhắc nhớ việc Chúa Giêsu đã bẻ bánh và chia sẻ chén rượu trong đêm Người sắp bị trao nộp: tấm bánh bẻ ra nói lên Thân mình của Người được trao ban cho chúng ta; chén rượu được chia sẻ nói đến máu của Người được đổ ra làm hy lễ giao ước mới. Thánh Phaolô cũng nhắc nhở các tín hữu về điều đó khi nói: "Mỗi lần anh em ăn bánh và uống chén này là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết cho tới ngày Chúa đến" (1Cr 11,26). Tuy nhiên, trong những thập niên gần đây, nhờ những cuộc nghiền ngẫm các đoạn Tân ước, các nhà chú giải Kinh thánh và các nhà thần học đã lưu ý bí tích Thánh Thể không chỉ cử hành cái chết của Chúa Giêsu mà thôi, nhưng còn cử hành cuộc Phục sinh của Chúa nữa. Điều khẳng định này vừa dựa trên nền tảng Kinh thánh vừa dựa trên các luận cứ thần học nữa.

Có đoạn văn Kinh thánh nào nói đến mối liên hệ giữa bí tích Thánh thể và cuộc Phục sinh?

Trong Tân ước không những chúng ta gặp thấy những đoạn văn nói đến mối liên hệ giữa bí tích Thánh Thể với cuộc Phục sinh, nhưng còn đọc thấy những trình thuật kể chuyện nữa. Thực vậy, mỗi lần nghĩ tới bí tích Thánh Thể, chúng ta thường liên tưởng đến bữa Tiệc ly, khi Chúa Giêsu bẻ bánh và trao chén rượu cho các môn đệ. Tuy nhiên chúng ta thường hay quên những trình thuật khác nói đến việc cử hành Thánh Thể với Chúa Giêsu phục sinh. Đoạn văn tiêu biểu hơn cả là trình thuật Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với hai môn đệ trên đường đi Emmaus, (được đức thánh cha Gioan Phaolô II chọn làm bức icôn suy gẫm trong Năm Thánh Thể này). Theo thánh Luca kể lại, vào chính ngày sống lại Chúa Giêsu đã hiện ra với hai môn đệ, đã đồng hành với họ, giải thích Sách Thánh cho họ để hun nóng tâm hồn của họ, và sau cùng Ngài đã bẻ bánh với họ. Vào chính lúc ấy, họ đã nhận ra Ngài. Chúng ta nên lưu ý đến từ ngữ "bẻ bánh" được dùng ở đây. Đây là một thuật ngữ chuyên môn mà thánh Luca sử dụng trong Phúc âm và trong Sách Tông đồ công vụ để ám chỉ bí tích Thánh Thể. Trong trình thuật thiết lập bí tích ở chương 22 câu 29, thánh Luca mô tả các cử chỉ của Chúa Giêsu tại nhà tiệc ly như sau: "Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra và trao cho các môn đệ". Một cách đặc biệt hơn nữa, trong sách Tông đồ công vụ, việc "bẻ bánh" được dùng để ám chỉ một nghi thức phụng vụ của cộng đoàn Kitô hữu ở chương 2 câu 42 và 46, chương 20 câu 7 và 11. Thánh Phaolô cũng dùng từ ngữ đó để ám chỉ bí tích Thánh Thể trong thư thứ nhất gửi Côrintô, chương 11, câu 23-24 và chương 10 câu 16.

Chúa Giêsu bẻ bánh với các môn đệ Emmaus để làm gì?

Trình thuật về việc Chúa Giêsu hiện ra với hai môn đệ Emmaus không phải là một mẩu tin thời sự, ghi nhận những biến cố đã xảy ra trong ngày Phục sinh, cho bằng một trình thuật phụng vụ. Trước đây, trong đêm trước khi chịu Tử nạn, tại nhà Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã bẻ bánh cho các môn đệ và truyền cho lặp lại để tưởng nhớ đến Ngài, tưởng nhớ đến việc Ngài trao hiến mạng sống cho họ. Còn khi hiện ra với các môn đệ vào ngày Phục sinh, Ngài giải thích ý nghĩa của cuộc Tử nạn như là con đường đi vào vinh quang, và kế đó Ngài bẻ bánh cho họ: chính Ngài chủ sự cuộc cử hành Thánh Thể với các môn đệ. Hay nói khác đi, mỗi lần các môn đệ cử hành nghi thức bẻ bánh thì chính Chúa Phục sinh hiện diện ở giữa họ. Vì thế bí tích Thánh Thể không chỉ tưởng niệm cuộc Tử nạn, nhưng còn là cử hành sự hiện diện của Chúa Giêsu Phục sinh nữa.

Ngoài trình thuật về việc bẻ bánh với hai môn đệ Emmaus, các nhà chú giải còn ghi nhận một trình thuật khác nêu bật mối liên hệ giữa bí tích Thánh Thể với chiều kích Phục sinh, đó là chương 21 trong Phúc âm theo thánh Gioan, kể lại việc Chúa hiện ra với các môn đệ ở Biển Hồ Tiberia. Chương này kể lại việc các môn đệ nhận ra Chúa hiện ra sau một cuộc đánh cá kỳ lạ. Khi thuyền đã kéo thuyền lên bờ, các ông thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa. Câu 13 viết rằng: "Đức Giêsu cầm lấy bánh trao cho các ông; rồi cá, Người cũng làm như vậy". Đoạn văn này cần được móc nối với phép lạ hoá bánh ở chương 6, cũng xảy ra ở Biển Hồ Tiberia, khi mà từ năm chiếc bánh và hai con cá, Ngài đã nuôi hơn 5 ngàn người, và tiếp đó Ngài đã giảng về bánh bởi trời đem lại sự sống cho thế gian. Bánh đó chính là Đức Kitô. Nhưng từ nay, Đức Kitô không chỉ là một con người lịch sử sinh sống ở Nadaret nữa, nhưng là Đức Kitô Phục sinh. Ngài không ngừng bẻ bánh để nuôi dưỡng chúng ta trong bí tích Thánh Thể. Chính Ngài mới là vị chủ sự các buổi cử hành Thánh Thể: chính Ngài bẻ bánh với các môn đệ Emmaus; chính Ngài dọn sẵn bánh và trao cho chúng ta.

Như vậy, khi cử hành Thánh Thể, chúng ta tưởng nhớ Chúa Kitô Tử nạn hay Phục sinh?

Chúng ta thường tách rời hai biến cố Tử nạn và Phục sinh, bởi vì xảy ra vào hai thời khắc cách xa nhau: cuộc Tử nạn xảy ra vào thứ 6 Tuần Thánh, còn việc Phục sinh thì xảy ra vào Chúa nhật tiếp đó. Tuy nhiên, Tân ước và phụng vụ thì coi cả hai như là một biến cố duy nhất. Thực vậy, thánh Gioan gọi việc Đức Giêsu chịu chết và treo lên thập giá như là "siêu thăng" (được cất cao lên), hoặc "tôn vinh". Còn thánh Luca kể lại rằng khi hiện ra với hai môn đệ Emmaus và với tất cả các tông đồ họp nhau ở Giêrusalem thì Chúa Phục sinh giải thích cho họ biết rằng cuộc tử nạn chỉ là con đường để vào vinh quang. Vì thế phụng vụ gọi những ngày cuối cùng của Tuần Thánh là Tam nhật Vượt qua, một mầu nhiệm khởi sự từ thánh lễ tối thứ năm Tuần Thánh và kết thúc với kinh chiều lễ Phục sinh. Cuộc Tử nạn, Thập giá và Phục sinh họp thành một tổng thể. Ngoài ra chúng ta cũng nên lưu ý rằng, trong Tân ước có những đoạn văn nói rằng Thập giá chỉ là một chặng đường dẫn đến vinh quang Phục sinh, thì cũng có những đoạn văn nói rằng Chúa Phục sinh còn mang những dấu tích của Thập giá.

Những đoạn văn nào vậy?

Điều này khá rõ nơi các tác phẩm của thánh Gioan. Ở chương 20 của Phúc âm thứ bốn, chúng ta thấy rằng khi hiện ra với ông Tôma, Chúa Phục sinh đã tỏ cho ông thấy những dấu đinh ở tay, và lỗ đâm vào cạnh sườn. Ở sách Khải huyền, Đức Kitô được mô tả như Con Chiên sát tế: Chiên ấy đã bị giết và còn mang dấu vết. Tuy nhiên ngày nay, Con Chiên đã sống lại và hiển trị, được lãnh nhận phú quý, sức mạnh, uy quyền, danh dự với vinh quang. Hơn thế nữa, Thiên Chúa còn mở tiệc cưới cho Con Chiên vơí tất cả các tôi trung của Ngài. Trong Thánh lễ, trước khi rước lễ, vị chủ tế còn lặp lại lời mời trích từ Sách Khải huyền (19,9): "Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian, phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa".

Việc liên kết bí tích Thánh Thể với Chúa Phục sinh có ảnh hưởng gì đến cuộc sống đạo của chúng ta không?

Có chứ. Trước hết, chúng ta tin rằng Chúa Kitô hiện diện trong bí tích Thánh Thể. Nói rằng Chúa Kitô hiện diện có nghĩa là Chúa Kitô ngày hôm nay, chứ không phải là Chúa Kitô của hai ngàn năm trước đây. Ngày hôm nay, Chúa Kitô hiện diện như là Đấng Phục sinh; Ngài chết trên thập giá một lần, ngài đã sống lại và không còn bao giờ phải chết nữa. Chính nhờ sự Phục sinh mà thân xác của Ngài được vinh hiển, được linh động bởi Thần khí, do đó có thể hiện diện khắp nơi khắp chốn, không còn bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Một hậu quả khác của việc liên kết Thánh Thể với mầu nhiệm Phục sinh là khi chúng ta hiệp thông với Thân mình Chúa Giêsu, thì chúng ta được kết hiệp với Chúa Giêsu trong vị thế của Đấng đã sống lại từ cõi chết và không còn chết nữa. Nói cách khác, chúng ta được kết hiệp với Thân thể của Chúa Phục sinh. Điều này không chỉ mang lại cho chúng ta niềm hy vọng mai sau sẽ được sống lại giống như Ngài, mà còn đưa chúng ta vào sự thông hiệp với Thân thể Mầu nhiệm của Chúa Phục sinh nữa. Thực vậy, khi nói đến "thân thể của Chúa Kitô", thánh Phaolô và các giáo phụ không chỉ hiểu về thân thể vật lý của Đức Kitô, mà còn mở rộng đến Hội thánh nữa. Các Kitô hữu là chi thể của thân thể Đức Kitô. Ngài là đầu của thân thể mầu nhiệm, bao gồm các tín hữu lữ hành trên trần gian, cũng như những người đã hưởng vinh quang thiên quốc. Mỗi lần cử hành Thánh Thể, chúng ta kết hiệp với Thân thể mầu nhiệm đó: chúng ta liên kết với nhau vì được chia sẻ vào thân thể phục sinh của Đức Kitô; đồng thời chúng ta cũng liên kết với những anh chị em tuy khuất bóng nhưng vẫn gần gũi với chúng ta bởi vì họ được kết nạp vào Thân thể của Đức Kitô. Đó là đạo lý về sự thông hiệp các thánh trong kinh Tin kính, và được diễn ra cách đặc biệt khi cử hành Thánh lễ.
Xem thêm…

Copyright ©THT - Được biên soạn và sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau - Ghi rõ nguồn:quatangsusong.blogspot.com/ - Khi phát hành thông tin trên trang này
Gx Đaminh | Namkna | Trung Tâm Học Vấn Đaminh | Kho tài liệu hay |