Chương XXIII: Những vấn đề về hôn nhân trong cái nhìn toàn diện về con người

00:24 |
Chương XXIII:
Những vấn đề về hôn nhân
trong cái nhìn toàn diện về con người
hình internettht

1. Phúc âm theo thánh Matthêu và Marcô kể lại việc Đức Kitô trả lời cho những người Pharisêu khi họ hỏi Người về việc hôn nhân bất khả phân li. Họ tham chiếu tới luật Môsê cho phép trong một số trường hợp được trao giấy li dị. Đức Kitô nhắc họ nhớ lại những chương đầu của Sách Sáng thế, khi trả lời: «Các ông không đọc thấy điều này sao: “Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hóa đã làm ra con người có nam có nữ”,và Ngài đã phán: “Vì thế, người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt.” Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân li». Rồi nhắc đến câu hỏi của họ về luật Môsê, Người nói thêm: «Vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsê đã cho phép các ông rẫy vợ, chứ thuở ban đầu, không có thế đâu» (Mt 19,3tt; Mc 10,2tt.). Trong câu trả lời, Đức Kitô nhắc hai lần tới chữ «thuở ban đầu». Bởi thế, trong những bài phân tích chúng ta cũng đã cố gắng giải thích cái ý nghĩa sâu xa nhất của chữ «thuở ban đầu» này. Đó là gia sản đầu tiên của mỗi con người nam cũng như nữ trong thế giới. Là sự chuẩn nhận đầu tiên căn tính của con người theo lời mạc khải, là nguồn mạch đầu tiên của ơn gọi xác thực của con người như một ngôi vị được tạo dựng theo hình ảnh của chính Thiên Chúa.

2. Câu trả lời của Đức Kitô có ý nghĩa lịch sử, nhưng không chỉ mang tính lịch sử. Con người ở mọi thời đại đều nêu lên cùng một vấn đề đó. Những người thời nay cũng làm thế, nhưng trong những yêu sách của mình, họ không đề cập tới luật Môsê cho phép li dị, mà nại tới những hoàn cảnh khác và những luật lệ khác. Những câu hỏi họ nêu ra đó chất chứa nhiều vấn đề mà những người đàm đạo với Đức Kitô thời ấy không biết đến. Chúng ta biết đó là những vấn đề cụ thể có liên quan đến hôn nhân và gia đình đã được đệ trình lên Công Đồng sau cùng, lên đức Giáo hoàng Phaolô VI, và vẫn tiếp tục được trình bày thời đại sau Công Đồng, từng ngày trong những hoàn cảnh rất khác nhau. Chúng được nêu lên bởi những người độc thân, có gia đình, những người sắp kết hôn, những bạn trẻ, nhưng cũng có cả các nhà văn, nhà báo, các nhà chính trị, kinh tế và các nhà nhân khẩu học. Nói tóm lại, những vấn đề ấy được đặt ra bởi cả nền văn hóa, văn minh đương đại.

Tôi nghĩ rằng trong số những giải đáp của Đức Kitô cho những vấn đề của con người thời đại chúng ta vốn thường hay nôn nóng, giải đáp mà Người đã trả lời cho những người Pharisêu vẫn là nền tảng. Trả lời cho những chất vần đó Đức Kitô tham chiếu trước hết đến «thuở ban đầu». Có lẽ Người làm như thế một cách càng cương quyết và đi sâu vào nền tảng hơn đối với con người thời đại ngày nay. Bởi lẽ, nội tâm cũng như hoàn cảnh văn hóa của con người thời đại dường như đang rời xa cái «thưở ban đầu» ấy. Họ đang mang lấy những hình thức và chiều kích khác với hình ảnh «thưở ban đầu» của Kinh thánh trong những điểm càng ngày càng thấy rõ là xa lạ.

Thế nhưng, Đức Kitô có lẽ không chút ngạc nhiên vì những hoàn cảnh này, và tôi cho rằng Người vẫn tham chiếu đến cách đặc biệt cái «thưở ban đầu».

3. Chính vì thế, câu trả lời của Đức Kitô đòi phải được phân tích cách đặc biệt sâu xa. Thật vậy, trong câu trả lời ấy, những chân lí nền tảng và cơ bản về con người, nam và nữ, đã được nhắc đến. Đó là câu trả lời nhờ đó chúng ta thoáng thấy được cái cấu trúc của căn tính con người trong những chiều kích của mầu nhiệm tạo dựng và, đồng thời trong cả viễn tượng của mầu nhiệm cứu chuộc. Không có điều đó không có cách nào xây dựng một khoa nhân học thần học và, trong bối cảnh đó, xây dựng một khoa «thần học về thân xác» được. Từ đây mới có thể xuất hiện quan điểm kitô giáo thuần túy về hôn nhân và gia đình. Đức Phaolô VI đã cho thấy điều đó khi, trong thông điệp về những vấn đề hôn nhân và sinh sản trong ý nghĩa trách nhiệm của nó về mặt con người và đức tin, ngài nói đến «cái nhìn toàn diện về con người» (Humanae Vitae 7). Khi trả lời cho những người Pharisêu, Đức Kitô cũng đã cho những người đối thoại với Người thấy «cái nhìn toàn diện về con người» này. Không có cái nhìn đó những vấn đề liên quan tới hôn nhân và sin sản không thể có câu trả lời thích đáng. Cái nhìn toàn diện về con người đó phải được thiết lập ngay từ «thuở ban đầu».

Điều này cũng áp dụng cho não trạng ngày nay, như đã áp dụng cho những người đối thoại với Đức Kitô thời đó, dẫu theo cách khác. Chúng ta là con cháu của một thời đại, trong đó do sự phát triển của những bộ môn khác nhau, cái nhìn toàn diện này về con người có thể bị loại bỏ và thay thế bởi nhiều quan niệm thiên kiến. Những quan niệm ấy ở lại trong phương diện này hay phương diện khác của cái compositum humanum (tổ hợp nên con người), mà không đạt tới cái integrum (toàn thể) của con người, hay chúng để nó ở ngoài cảnh vực nhãn giới của chúng. Rồi, những khuynh hướng văn hóa khác nhau chiếm chỗ. Trên nền tảng những sự thật phiến diện này, những khuynh hướng ấy đưa ra những kế hoạch và những chỉ dẫn Như thế, con người trở thành một đối tượng của những kĩ thuật nhất định hơn là chủ thể chịu trách nhiệm về hành động của mình. Câu trả lời của Đức Kitô cho những người Pharisêu cũng có ý nói con người, dù nam hay nữ, là một chủ thể như thế, nghĩa là, một chủ thể quyết định về những hành động của mình dưới ánh sáng của sự thật toàn diện về chính mình, xét như là sự thật nguyên thủy, đúng hơn như là nền tảng của những kinh nghiệm đích thật của con người. Đây chính là sự thật mà Đức Kitô muốn ta tìm kiếm ngay từ «thưở ban đầu». Bởi thế chúng ta quay trở về với những chương đầu của Sách Sáng thế.

4. Khi nghiên cứu những chương này, có lẽ hơn những chương khác, chúng ta ý thức về ý nghĩa và sự cần thiết của «thần học thân xác». «Thưở ban đầu» nói tương đối ít về thân xác con người, theo nghĩa duy tự nhiên và hiện đại của từ ấy. Từ quan điểm này, trong nghiên cứu hiện tại, chúng ta đang ở một trình độ hoàn toàn tiền khoa học. Chúng ta hầu như chưa biết gì cả về các cấu trúc bên trong và về những qui luật chi phối cơ thể con người. Tuy nhiên, có lẽ bởi tính chất cổ xưa của bản văn sự mà cái nhìn toàn diện về con người, là một chân lí quan trọng, lại được mạc khải một cách hết sức đơn giản và đầy đủ. Chân lí này liên hệ đến ý nghĩa của thân xác con người trong cấu trúc của chủ thể ngôi vị. Hơn nữa, suy tư về những bản văn cổ ấy giúp ta mở rộng ý nghĩa ấy đến toàn thể lãnh vực liên chủ thể (tương quan giữa con người với con người), đặc biệt trong mối tương quan thường tồn giữa người nam và người nữ. Nhờ thế chúng ta có được một cái nhìn căn bản về mối tương quan này, một cái nhìn nhất thiết phải đặt ở nền tảng của mọi khoa học hiện nay về tính dục (theo nghĩa sinh học - sinh lý học) của con người. Điều đó không có nghĩa là ta gạt bỏ khoa học này, không màng tới những thành quả của nó. Ngược lại, khoa học có thể giúp ta hiểu biết về lối giáo dục con người phù hợp với giới tính, và về lãnh vực hôn nhân và sinh sản. Nếu quả thực là nó phải như vậy, trong mọi yếu tố của khoa học hiện nay người ta cần phải làm sao để luôn đạt tới điều căn bản và có thái độ cốt yếu kính trọng nhân vị, đối với mỗi cá nhân, dù nam hay nữ, cũng như đối với những mối quan hệ của họ.

Chính ở chỗ này suy tư về bản văn cổ Sách Sáng thế tỏ ra là không thay thế được. Đó thực sự là «khởi thủy» của thần học về thân xác. Việc thần học cũng xét tới cả thân xác không hề gây ngạc nhiên và bất ngờ cho những ai ý thức về mầu nhiệm và thực tại của nhập thể. Bởi Ngôi Lời Thiên Chúa đã nhập thể làm người, nên thân xác đi qua cổng chính vào thần học, là khoa học có đối tượng là Thiên Chúa. Nhập thể - và cả Cứu chuộc tuôn chảy ra từ đó – cũng trở thành nguồn suối cuối cùng của bí tích hôn phối. Chúng ta sẽ bàn đến đề tài này về sau cách rộng rãi hơn đúng lúc của nó.

5. Những vấn đề con người thời nay đặt ra cũng là những vấn đề của các Kitô hữu: của những người đang chuẩn bị cho bí tích hôn phối hay những người đã sống đời hôn nhân (vốn là một bí tích của Giáo hội) rồi. Những vấn đề này không chỉ là những vấn đề của khoa học, nhưng còn là những vấn đề của đời sống con người. Rất nhiều người và nhiều Kitô hữu tìm cách hoàn tất ơn gọi của mình trong hôn nhân. Rất nhiều người muốn tìm thấy ở đó con đường cứu độ nên thánh.

Đối với họ, câu trả lời của Đức Kitô cho những người Pharisêu, là những người nhiệt thành với Giao ước cũ, là đặc biệt quan trọng. Những ai tìm hoàn tất ơn gọi làm người và Kitô hữu trong hôn nhân đều được mời gọi trước hết biến thần học về thân xác này, khởi sự ở nơi những chương đầu Sách Sáng thế, trở thành nội dung của đời sống và lối sống của họ. Quả thật, điều hết sức quan trọng là, trên con đường ơn gọi này, ý nghĩa của thân xác với giới tính (nam tính và nữ tính) của nó phải được ý thức thật sâu sắc. Điều rất cần thiết là phải có một ý thức xác đáng về ý nghĩa hôn phối, ý nghĩa sinh sản của thân xác, bởi lẽ toàn thể đời sống vợ chồng phải thường xuyên toát ra sự sung mãn và tính nhân vị trong cuộc sống chung, trong hành vi ứng xử, trong tình cảm! Điều này càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết trong bối cảnh của nền văn minh hiện nay chịu áp lực của lối tư duy và nhận định theo hướng duy vật và duy lợi. Khoa sinh học – sinh lí học hiện nay có thể cho ta nhiều thông tin chính xác về tính dục con người. Thế nhưng, tri thức về phẩm giá của thân xác con người và giới tính còn cần phải được múc tận những nguồn mạch khác nữa. Một nguồn đặc biệt là chính Lời Thiên Chúa, chứa đựng mạc khải về thân xác, một mạc khải lên đến tận nguồn của «thuở ban đầu».

Thật là ý nghĩa khi Đức Kitô trả lời những vấn đề này, Người đã truyền lệnh cho con người phải quay về bằng cách nào đó đến ngưỡng cửa của lịch sử thần học của mình! Người ra lệnh cho họ đặt mình ở biên giới giữa tình trạng hạnh phúc, vô tội nguyên thủy và cái di sản của sự sa ngã lần đầu tiên. Không phải Người muốn nói với con người rằng con đường Người dẫn họ, người nam và người nữ, đi vào bí tích hôn phối, con đường cứu chuộc thân xác, phải đi qua sự phục hồi phẩm giá này (trong đó ý nghĩa đích thực của thân xác con người, đồng thời ý nghĩa nhân vị và «hiệp thông» của thân xác được thực hiện) hay sao?

6. Giờ đây, chúng ta kết thúc phần thứ nhất của suy tư về đề tài quan trọng này. Để trả lời thật thấu đáo những vấn đề, đôi khi khiến ta rất băn khoăn, về hôn nhân (và chính xác hơn, về ý nghĩa của thân xác), chúng ta không thể chỉ dừng lại ở câu trả lời của Đức Kitô cho những người Pharisêu khi Người nại đến «thuở ban đầu» (x. Mt 19,3tt; Mc 10,2tt). Chúng ta còn phải xét đến những lời tuyên bố khác nữa của Người. Trong số đó đặc biệt có hai đoạn có tính tổng hợp đặc thù. Đoạn thứ nhất, từ diễn từ trên núi, nói về những khả năng của tâm hồn con người liên hệ đến sự ham muốn xác thịt (x. Mt 5,8). Đoạn thứ hai liên hệ khi Đức Giêsu nói đến sự phục sinh trong tương lai (Mt 22,24-30; Mc 12,18-27; Lc 20,27-36).

Hai đoạn này sẽ là chủ đề suy tư kế tiếp của chúng tôi.


Xem thêm…

Chương XXII: Chu kỳ Biết – Sinh hạ và viễn tượng Sự Chết

00:15 |
Chương XXII:

Chu kỳ Biết – Sinh hạ và viễn tượng Sự Chết

1. Chúng ta đang đến hồi kết thúc phần suy tư trong đó chúng ta đã cố theo đuổi tiếng gọi của Đức Kitô gởi đến chúng ta qua Matthêu (19,3-9) và Marcô (10,1-12): «Các ông không đọc thấy điều này sao : “Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hóa đã làm ra con người có nam có nữ”, và Người đã phán: “Vì thế, người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt”?» (Mt 19,4-5). Sự kết hợp vợ chồng theo Sách Sáng thế được định nghĩa như là hành động «biết»: «Ađam ăn ở với Evà, vợ mình. Bà thụ thai và sinh ra... và nói : “Tôi đã được một người nhờ Đức Chúa”» (St 4,1). Trong những suy tư trước chúng ta đã cố gắng làm rõ nội dung của cái «biết» Thánh kinh đó. Với cái «biết» đó, con người nam cũng như nữ, không chỉ đặt tên riêng cho mình như đã làm khi đặt tên cho các sinh vật khác (animalia) và bởi đó con người sở hữu chúng, nhưng còn «biết» theo nghĩa của đoạn St 4,1 (và cả những đoạn Kinh thánh khác). Điều đó có nghĩa là con người thực hiện điều mà danh xưng «con người» muốn diễn tả: đó là thực hiện nhân tính trong con người mới được sinh ra. Bởi thế, theo nghĩa nào đó con người thực hiện chính mình, tức là, con người – nhân vị.

2. Bằng cách đó chu kì «biết-sinh hạ» của Kinh thánh khép lại. Chu kì «biết» đó được tạo thành bởi sự kết hợp các ngôi vị trong tình yêu thương, kết hợp với nhau mật thiết đến nỗi nên một xương một thịt. Sách Sáng thế vén tỏ cho chúng ta biết đầy đủ sự thật về chu kì này. Con người, nam và nữ, theo Kinh thánh nhờ «biết» nhau mà thụ thai và sinh con. Sinh linh mới đó giống con người và có thể được mang danh xưng «con người» («tôi đã được một người»). Như thế, con người, có thể nói được là, đã chiếm hữu được chính nhân tính, hay đúng hơn, chiếm lại được nhân tính. Thế nhưng, việc ấy xảy ra cách khác so với cách con người đã chiếm hữu các sinh vật khác (animali) khi đặt tên chúng. Thật vậy, khi đó con người đã trở thành chúa tể của các loài, đã bắt đầu thực hiện nội dung của mệnh lệnh Đấng Tạo Hóa: «Hãy chinh phục và thống trị mặt đất» (x. St 1,28).

3. Tuy nhiên, phần đầu của cũng mệnh lệnh ấy lại nói: «Hãy sinh sôi nẩy nở và nên đầy dẫy trên mặt đất» (St 1,28), nó mang một nội dung khác và chỉ một yếu tố khác. Trong hành động «biết» này, người đàn ông và người phụ nữ cho chào đời một hữu thể giống như họ, và có thể cùng nhau nói: «Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi» (St 2,24). Trong cái «biết» này cả hai người như «ngây ngất». Cả hai người như cùng bị mê dại vì cái nhân tính mà họ muốn diễn tả lại trong sự kết hợp và «biết» nhau, muốn sở hữu nó một cách mới mẻ. Cái nhân tính ấy được chào đời từ chính họ, từ chính nhân tính của họ, từ thân xác của người đàn ông và người đàn bà đã chín muồi cách kì diệu nơi họ. Và sau cùng, qua những chuỗi thụ thai và sinh hạ liên tiếp vốn đã có từ thuở ban đầu ấy, họ nhận được nhân tính ấy từ chính mầu nhiệm sáng tạo.

4. Theo nghĩa này, cái «biết» của Kinh thánh có thể được hiểu là «sở hữu». Có thể nhìn thấy ở đây một điều gì của Kinh thánh tương tự với «eros» hay chăng? Thật ra đây là hai lãnh vực ý niệm, hai thứ ngôn ngữ khác nhau: một của Kinh thánh và một của Platon. Phải thật thận trọng nếu chúng được dùng để giải thích cho nhau [1]. Thế nhưng, dường như trong mạc khải nguyên thủy không có ý tưởng người đàn ông sở hữu người phụ nữ, và ngược lại, như một thứ đồ vật. Nhưng đàng khác, ai cũng biết rằng do hậu quả của tội nhiễm sau khi tổ tông phạm tội, con người (đàn ông và đàn bà) phải xây dựng lại, dẫu rất khó nhọc, ý nghĩa của quà tặng trao hiến cho nhau cách vô vị lợi. Đây sẽ là chủ đề của chúng ta trong những phân tích sắp tới.

5. Mạc khải về thân xác, ở trong Sách Sáng thế và nhất là trong chương 3, tỏ lộ cách rõ ràng và ấn tượng rằng chu kì «biết-sinh hạ», vốn bén rễ sâu xa từ trong tiềm thể của thân xác con người, được đặt bên dưới qui luật của đau khổ và sự chết, sau khi tổ tông phạm tội. Thiên Chúa Giavê nói vời người đàn bà: «Ta sẽ làm cho ngươi đau đớn thật nhiều khi thai nghén; trong đau đớn, ngươi sẽ sinh con đẻ cái» (St 3,16). Ở chân trời cái chết xuất hiện trước mắt con người, cùng với mạc khải ý nghĩa sinh sản của thân xác trong hành vi của đôi vợ chồng «biết» nhau. Người đàn ông đầu tiên đặt tên cho vợ mình là Evà, «vì bà là mẹ của chúng sinh» (St 3,20), khi ông đã nghe được lời tuyên án xác định toàn bộ cái viễn ảnh của cuộc sống con người «từ bên trong» của cái biết thiện biết ác. Viễn ảnh này được xác nhận bởi những lời sau đây: «Ngươi sẽ về lại bụi đất, vì tự đất ngươi đã được rút ra. Bởi ngươi là bụi đất ngươi sẽ trở về đất bụi» (St 3,19).

Tính chất căn bản của bản án đó được xác nhận bởi chứng cớ kinh nghiệm của toàn thể lịch sử của con người trên trái đất này. Chân trời sự chết mở rộng ra trên toàn thể viễn ảnh cuộc sống con người trên trái đất, một cuộc sống vốn đã được cắm vào trong chu kì «biết-sinh hạ» nguyên thủy của Kinh thánh. Con người đã phá vỡ Giao ước với Đấng Tạo Hóa, khi hái trái cây biết thiện biết ác thì bị Thiên Chúa Giavê tách lìa khỏi cây sự sống: «Bây giờ phải làm sao cho nó đừng giương tay hái cả cây sự sống nữa mà ăn, hầu được sống mãi mãi» (St 3,22). Bằng cách đó, sự sống đã được ban cho con người trong mầu nhiệm tạo dựng không bị lấy đi. Nhưng sự sống ấy bị hạn chế ở trong biên giới của sự thụ thai, sinh nở và sự chết, và trầm trọng hơn, bị giam hãm trong viễn ảnh của tội lỗi di truyền. Tuy nhiên, sự sống ấy lại được ban cho con người, theo nghĩa nào đó, như một nhiệm vụ trong cùng chu kì luôn tái diễn. Câu nói: «Ađam ăn ở với («biết») Evà vợ mình, bà đã mang thai và sinh con» (St 4,1) giống như một dấu ấn in vào mạc khải nguyên thủy của thân xác ngay từ thuở ban đầu của lịch sử con người trên trái đất. Lịch sử này luôn được hình thành mới mẻ trong chiều kích căn bản nhất của nó gần như từ «thuở ban đầu», nhờ chính hành động «biết-sinh hạ» ấy, điều mà Sách Sáng thế đã nói tới.

6. Bởi thế, mỗi người mang trên mình mầu nhiệm của «thuở ban đầu» của mình, được nối kết chặt chẽ với ý thức vế ý nghĩa sinh sản của thân xác. Xem ra St 4,1-2 không nói về đề tài mối tương quan giữa ý nghĩa sinh sản và hôn phối của thân xác. Có lẽ ở đây chưa tới lúc, cũng không phải là nơi, giải thích mối tương quan này mặc dù trong những phân tích kế tiếp điếu ấy có vẻ rất cần thiết. Sẽ cần phải đặt lại những câu hỏi liên hệ tới sự biểu hiện xấu hổ nơi con người, xấu hổ của người nam và của người nữ, mà trước đó con người không hề kinh nghiệm. Nhưng giờ đây, chúng ta chưa để ý đến điều đó. Điều đáng chú ý vẫn còn là sự kiện «Ađam ăn ở với («biết») Evà vợ mình, bà đã mang thai và sinh con». Đây chính là ngưỡng cửa của dòng lịch sử của con người. Đây là «thuở ban đầu» của con người trên trái đất. Đứng ở ngưỡng cửa này người nam và người nữ ý thức ý nghĩa sinh sản của thân xác mình: nam tính ẩn chứa trong mình ý nghĩa của phụ tính và nữ tính ẩn chứa ý nghĩa của mẫu tính. Nhân danh ý nghĩa đó, một ngày kia Đức Kitô sẽ đưa ra một câu trả lời minh bạch cho vấn đề được đặt ra bởi những người Pharisêu (x. Mt 19; Mc 10). Mặt khác, khi đi sâu vào nội dung đơn sơ của câu trả lời ấy, chúng ta cũng đồng thời cố làm sáng tỏ bối cảnh của cái «thuở ban đầu» mà Đức Kitô tham chiếu tới. Thần học thân xác có gốc rễ từ nơi đó.

7. Trong con người, ý thức về ý nghĩa của thân xác và ý thức về ý nghĩa sinh sản của thân xác gặp gỡ ý thức về sự chết, có thể nói đó là viễn cảnh chắc chắn nằm sẵn nơi chúng. Tuy nhiên, chu trình «biết-sinh sản» luôn trở lại trong lịch sử con người. Trong đó, sự sống luôn đấu tranh không ngơi nghỉ với cái viễn ảnh lạnh lùng của sự chết, và luôn chiến thắng. Điều đó giống như cái lí do sự sống – vốn biểu lộ ra qua «sinh sản» - không bao giờ đầu hàng bao giờ cũng là bởi cái «biết» ấy. Với cái biết ấy, con người vượt qua nỗi cô độc của mình và lại quyết định tự khẳng định mình trong một «tha nhân». Cả hai, người nam và người nữ, khẳng định điều đó trong một con người thứ ba mới được sinh hạ. Trong sự khẳng định này, «cái biết» trong Kinh thánh xem ra có được một tầm vóc còn lớn hơn. Dường như nó có một chỗ ở trong «thị kiến» của chính Thiên Chúa, với thị kiến đó trình thuật tạo dựng con người thứ nhất (người «nam» và người «nữ» được tạo dựng «theo hình ảnh của Thiên Chúa») kết thúc. «Thiên Chúa thấy mọi sự mình đã làm ra ... thật là tốt đẹp» (St 1,31). Dẫu con người có hết mọi kinh nghiệm cuộc sống của mình, dẫu chịu nhiều đau khổ, thất vọng về chính bản thân mình, dẫu sống trong tình trạng tội lỗi, và sau cùng dẫu sống dật dờ trong viễn cảnh sự chết, nhưng «cái biết» luôn được đặt ở «khởi đầu» của cuộc «sinh hạ». Như thế, xem ra con người được tham dự vào «thị kiến» của chính Thiên Chúa : Thiên Chúa Đấng Tạo Hóa «thấy ... quả thật, điều ấy rất tốt đẹp». Ngài luôn xác nhận lại sự thật của những lời này.

------------------------------------

[1] Theo Platon, «eros» là tình yêu khao khát cái Đẹp siêu việt và bộc lộ sự khao khát vô độ hướng đến đối tượng vĩnh cửu của nó. Bởi thế, eros luôn nâng những gì thuộc phạm trù nhân bản hướng đến cảnh vực thần linh, nơi duy nhất có thể thỏa mãn nỗi hoài niệm của linh hồn vốn bị giam hãm trong vật chất. Đó là một tình yêu không lùi bước trước sức mạnh lớn lao nhất, hầu đạt tới được sự xuất thần ngất ngây của kết hợp. Do đó, đó là một tình yêu qui ngã (egocentrico), là dục vọng thèm khát dẫu nó hướng đến những giá trị cao cả (x. A. Nygren, Erôs et Agapé, vol. II, Paris 1951, pp. 9-10).

Qua các thế kỉ, qua nhiều biến đổi, ý nghĩa của «eros» đã bị hạ thấp giá trị chỉ còn mang ý nghĩa thuần túy về dục tình. Đoạn văn sau đây của P. Chauchard có vẻ thậm chí như khước từ những đặc tính về tình yêu nhân văn nơi «eros»: «Phát triển tính dục không hệ tại ở những mánh khóe kĩ thuật nhạt nhẽo, nhưng ở sự nhìn nhận đầy đủ tính tâm linh của nó, bởi lẽ eros chỉ mang tính nhân văn khi nó được Agapé ban sức sống và Agapé đòi hỏi phải được nhập thể trong Erôs» (P. Chauchard, Vices des vertus, vertus des vices, Paris 1963, p. 147).

So sánh cái «biết» của Kinh thánh và «eros» của Platon người ta thấy sự khác biệt giữa hai quan niệm này. Khái niệm của Platon dựa trên cơ sở là sự hoài niệm cái Đẹp siêu việt và sự trốn thoát khỏi thế giới vật chất. Ngược lại, Kinh thánh hướng tới thực tại cụ thể, và xa lạ đối với não trạng nhị nguyên phân biệt giữa tinh thần và vật chất cũng như không hề biết tới thái độ thù nghịch đặc biệt đối với vật chất («Và Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp»: St 1,10.12.18.21.25).

Trong khi quan niệm của Platon về eros vượt quá ranh giới của cái «biết» nhân văn trong Kinh thánh, quan niệm hiện nay thì lại xem ra quá chật hẹp. Cái «biết» Kinh thánh không giới hạn ở sự thỏa mãn bản năng hay hưởng thụ khoái lạc, nhưng đó hoàn toàn là một hành vi nhân văn, có ý hướng sinh sản, và cũng là sự biểu lộ của tình yêu liên vị (x. St 29,20; 1Sm 1,8; 2Sm 12,24).

Xem thêm…

Chương XXI: Mầu nhiệm người nữ được mạc khải trong mẫu tính

00:18 |
Chương XXI

Mầu nhiệm người nữ được mạc khải trong mẫu tính

1. Trong bài suy tư trước, chúng ta đã phân tích câu St 4,1 và cách riêng về chữ «biết», trong bản văn nguyên thủy chữ ấy được dùng để xác định sự kết hợp vợ chồng. Chúng ta cũng đã cho thấy rằng cái «biết» của Kinh thánh đó tạo nên một thứ nguyên mẫu [1] của thân xác và tính dục con người có nhân vị. Điều đó xem ra rất căn bản để hiểu con người, vốn từ «thuở ban đầu» là kẻ tìm kiếm ý nghĩa của chính thân xác mình. Ý nghĩa này là nền tảng của chính thần học thân xác. Thuật ngữ «biết» - «ăn ở» (St 2,1-2) cô đọng lại toàn thể nội dung bản văn Kinh thánh đã phân tích cho tới nay. Theo đoạn St 4,1, «con người» lần đầu tiên «biết» người đàn bà, vợ mình, qua hành vi ăn ở vợ chồng, thật ra cũng là kẻ đã đặt tên (cũng có nghĩa là «biết») các sinh vật, nhưng «khác» toàn thể thế giới các sinh vật (animalia), khẳng định mình là một nhân vị và là chủ thể. Cái «biết» mà St 4,1 nói tới không kéo con người ra xa mà cũng không thể đẩy họ ra xa sự tự ý thức vốn nguyên thủy và nền tảng. Bởi thế, dẫu cho có một quan điểm «duy tự nhiên» nào đó nói gì về điều này đi nữa, trong St 4,1 vấn đề không thể là ta chấp nhận cách thụ động sự tự khẳng định mình bằng thân xác và giới tính, chính là vì đó là vấn đề của cái «biết».

Ngược lại, đó là một khám phá xa hơn ý nghĩa của thân xác mình. Đó là một khám phá cùng nhau và nhờ nhau, giống như từ thuở ban đầu cuộc sống của con người (kẻ vốn được «Thiên Chúa tạo dựng có nam có nữ») họ sống cùng nhau và nhờ nhau. Cái biết, vốn thuộc nền tảng của sự đơn độc nguyên thủy của con người, nay nằm ở nền tảng của sự kết hợp giữa người đàn ông và người đàn bà. Đấng Tạo Hóa đã gửi kèm theo cái viễn tượng rõ ràng của việc đó trong chính mầu nhiệm tạo dựng (St 1,27; 2,23). Trong hành động «biết» này, con người xác nhận ý nghĩa của tên «Evà», tên được đặt cho vợ người, «vì nàng là mẹ của chúng sinh» (St 3,20).

2. Theo St 4,1 người «biết» là người đàn ông và người «được biết» là người đàn bà-người vợ. Điều đó như có ý nói rằng sự xác định đặc thù của người phụ nữ, nhờ thân xác và giới tính của mình, ẩn chứa điều làm nên nữ tính sâu xa của họ. Ngược lại, người đàn ông, sau khi phạm tội, là người trước tiên cảm thấy xấu hổ về sự trần truồng của mình, và là người đầu tiên nói: «con sợ hãi, vì con trần truồng, nên con lẩn trốn» (St 3,10). Chúng ta cũng cần sẽ phải quay trở lại với tình trạng tâm hồn riêng biệt của cả hai người sau khi đã mất sự trong trắng nguyên thủy. Nhưng ngay từ bây giờ chúng ta cần nhận thấy rằng trong cái «biết» mà St 4,1 nói tới, mầu nhiệm nữ tính được mạc khải và biểu lộ ra hoàn toàn nhờ mẫu tính (nghĩa là tính chất người nữ được làm mẹ), như bản văn Kinh thánh nói: «bà đã thụ thai và sinh ra». Người phụ nữ đứng trước mặt con người như một người mẹ, là chủ thể của một sự sống con người mới tượng hình và lớn lên trong dạ bà và từ đó sinh ra đời. Cũng thế, mầu nhiệm nam tính của người đàn ông, nghĩa là ý nghĩa làm đấng sinh thành và là «cha» của thân xác người nam, cũng được mạc khải ra trọn vẹn [2].

3. Thần học thân xác ở trong Sách Sáng thế rất cô đọng và nói rất ít lời. Đồng thời, ở đó cũng có những thành ngữ diễn tả nội dung căn bản, theo một nghĩa nào đó cũng là nguyên thủy và cuối cùng. Mọi người đều gặp lại mình theo cách của họ nơi hành động «biết» mà Kinh thánh nói tới. Cấu trúc người phụ nữ đuợc dựng nên khác với người đàn ông. Ngày nay chúng ta biết rằng họ khác nam giới đến tận những yếu tố quyết định về sinh học-sinh lí học sâu xa nhất. Nữ tính bộc lộ ra bên ngoài chỉ tới một mức độ nào đó, nơi cấu trúc và hình dáng cơ thể của họ. Mẫu tính bộc lộ cái cấu trúc ấy ở bên trong, như tiềm năng đặc thù của cơ quan phụ nữ. Với nét đặc thù sáng tạo, cơ quan ấy phục vụ cho việc mang thai và sinh sản con người, với sự hợp tác của người nam. «Biết» là điều kiện để sinh hạ.

Sinh hạ là một viễn tượng mà người đàn ông và người phụ nữ đưa vào trong hành động «biết» lẫn nhau. Sự «biết» vượt quá biên giới của chủ thể-khách thể, như vẻ tương quan của người đàn ông và người đàn bà đối với nhau. Vì, một đàng, cái «biết» chỉ cho ta thấy người này «biết» và đàng khác kẻ kia là người «được biết» hoặc ngược lại. Trong cái «biết» này cũng bao hàm sự hoàn thành hôn nhân, cái đặc trưng vốn được gọi là consummatum. Qua đó, cái “khách thể tính” của thân xác vốn ẩn dấu trong những tiềm năng cơ thể của người nam và người nữ được vươn tới, và đồng thời cũng chạm tới “khách thể tính” của con người “là” chính thân xác này. Nhờ thân xác, nhân vị trở thành là «chồng» và «vợ». Đồng thời, trong hành động «biết» đặc biệt này, hành động vốn nhờ đến giới tính nam và nữ gắn với nhân vị, người ta cũng khám phá ra chủ thể tính «thuần khiết» của tặng phẩm trao hiến: nghĩa là sự thực hiện chính mình trong khi trao hiến cho nhau.

4. Sinh sản có ý nghĩa do «con người và vợ mình» biết nhau trong một «người thứ ba» được sinh ra từ cả hai người. Bởi thế, cái «biết» này trở thành một sự khám phá. Theo nghĩa nào đó, đây là một mạc khải con người mới, trong con người ấy cả hai người nam và nữ, lại nhận ra nhau, nhận ra nhân tính của mình, hình ảnh sống động của mình. Trong mọi sự cả hai định đoạt nhờ thân xác và tính dục, cái biết đều khắc ghi một nội dung sống động và rất thực. Thế nên cái «biết» theo nghĩa Kinh thánh có nghĩa là sự định đoạt về «sinh học» của con người, nhờ thân xác và tính dục của họ, không còn là một cái gì thụ động, nhưng đạt tới một mức độ và một nội dung đặc biệt của những nhân vị tự ý thức và tự xác định mình. Bởi thế, nó liên hệ đến một ý thức đặc biệt về ý nghĩa của thân xác con người, gắn liền với khả năng làm cha và làm mẹ.

5. Toàn thể cấu trúc bên ngoài của thân xác người phụ nữ, sắc đẹp riêng của họ, những phẩm chất với sức hấp dẫn luôn luôn vốn hiện diện ở khởi đầu của cái biết mà St 4,1-2 nói tới («Ađam biết Evà vợ mình»), đều liên kết chặt chẽ với mẫu tính (việc làm mẹ). Kinh thánh (rồi đến Phụng vụ), với tính đơn giản của nó, đã tôn kính và ca tụng qua hàng thế kỉ «dạ đã cưu mang Thầy và vú đã cho Thầy bú» (Lc 11,27). Đó là những lời ca ngợi khen mẫu tính, nữ tính, thân xác người nữ, và là diễn tả tiêu biểu của tình yêu sáng tạo. Và đó là những lời lẽ trong Tin mừng nói về Mẹ của Đức Kitô, là Đức Maria, Evà thứ hai. Mặt khác, người đàn bà thứ nhất, khi bộc lộ ra lần đầu tiên một thân xác đã chín chắn để làm mẹ, khi bà «thụ thai và hạ sinh», đã thốt lên: «Tôi có được một người nhờ Đức Chúa» (St 4,1).

6. Những lời ấy diễn tả tất cả chiều sâu thần học của nhiệm vụ sinh thành-sinh sản. Thân xác người phụ nữ trở thành nơi chốn của sự thụ thai con người mới [3]. Trong dạ của người, kẻ được thụ thai mặc lấy hình hài nhân loại của riêng mình, trước khi được sinh ra đời. Sự thuần nhất về thể chất giữa người nam và người nữ lần đầu tiên được diễn tả bằng những lời sau đây: «Đây là xương bởi xương tôi và thịt bởi thịt tôi» (St 2,23). Lần này, sự thuần nhất ấy lại được xác nhận qua lời của người phụ nữ-người mẹ đầu tiên: «Tôi đã được một con người». Người phụ nữ đầu tiên khi sinh hạ ý thức trọn vẹn mầu nhiệm tạo dựng đã được tân tạo qua sự hạ sinh một con người. Bà cũng ý thức tràn đầy sự dự phần vào công trình của Thiên Chúa sáng tạo và của chồng mình, vì bà nói: «Tôi có được một người nhờ Đức Chúa».

Không thể nhầm lẫn giữa các bình diện về hoạt động của các nguyên nhân. Cha mẹ đầu tiên thông truyền cho mọi người làm cha mẹ cái sự thật nền tảng về sinh hạ con người theo hình ảnh của Thiên Chúa, theo qui luật tự nhiên. Họ thông truyền sự thật ấy cả sau khi đã phạm tội, cùng với hậu quả của cây biết thiện biết ác và như ở tại điểm khởi đầu của mọi kinh nghiệm «lịch sử». «Hình ảnh của Thiên Chúa» - là Đấng đã tạo dựng nhân tính của con người đầu tiên: «Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh mình,... Ngài đã tạo dựng họ có nam có nữ» (St 1,27) - được tái hiện mỗi lúc trong con người mới chào đời đó (được sinh ra từ người phụ nữ và là người mẹ nhờ công trình của người đàn ông cũng là người cha).

7. Dẫu cho có sự khác biệt rất sâu xa giữa tình trạng vô tội nguyên thủy và tình trạng đã mang tội tổ tông truyền, «hình ảnh của Thiên Chúa» vẫn là nền tảng của tính liên tục và thống nhất nơi con người. Cái «biết» mà St 4,1 nói tới là hành động nguyên thủy làm phát sinh hữu thể. Đúng hơn, khi hợp nhất với Đấng Tạo Hóa, «biết» làm chào đời một con người mới. Trong tình trạng đơn độc siêu nghiệm của mình, con người đầu tiên đã biết và đặt tên cho các sinh vật (animalia), nghĩa là sở hữu thế giới hữu hình vốn được dựng nên cho nó. Chính con người đó, là nam và là nữ, đang khi biết nhau trong cộng đoàn các ngôi vị hiệp thông đặc biệt này, trong đó họ kết hợp với nhau mật thiết đến độ nên «một xương một thịt», cũng làm nên nhân tính. Nghĩa là, họ xác nhận lại và làm mới cuộc hiện hữu của con người, như hình ảnh của Thiên Chúa. Điều này xảy ra mỗi khi cả hai người, đàn ông và đàn bà, lấy lại được, nếu nói được như vậy, cái hình ảnh này từ mầuu nhiệm tạo dựng và chuyển thông hình ảnh ấy «với sự trợ giúp của Đức Chúa là Thiên Chúa».

Những lời của Sách Sáng thế nói là một chứng từ của sự kiện lần đầu tiên sinh ra một con người trên trái đất này. Những lời ấy cũng hàm chứa tât cả những gì có thể nói và phải nói về phẩm giá của việc sinh hạ một con người.

---------------------------

[1] C.G. Jung mô tả các nguyên mẫu (archetipi) như là những mô thức «tiên thiên» (a piori) của các chức năng khác nhau của linh hồn: nhận biết các mối tương quan, tưởng tượng sáng tạo. Những mô thức được lấp đầy nội dung bởi những chất liệu là kinh nghiệm. Những mô thức ấy không trơ ì thụ động nhưng chất chứa tình cảm và xu hướng (xin xem Die psychologischen Aspekte des Mutterarchetypus, «Eranos», 6 [1938], tt. 405-409).

Theo quan điểm này, người ta có thể gặp một nguyên mẫu ở nơi tương quan nam-nữ, là mối tương quan dựa trên cơ sở con người với hai giới tính nam-nữ bổ túc cho nhau. Nguyên mẫu ấy sẽ được lấp đầy nội dung bằng kinh nghiệm cá nhân và tập thể, và có thể khởi động chức năng tưởng tượng sáng tạo bằng những hình ảnh. Cần phải xác định rằng: nguyên mẫu a) không bị giới hạn cũng không được đề cao trong quan hệ thân xác, nhưng đúng hơn nó bao gồm mối quan hệ dựa trên sự «biết» nhau; b) chất chứa xu hướng: khát vọng-sợ sệt, hiến dâng-chiếm hữu; c) nguyên mẫu như là nguồn suối («Urbild») tạo ra những hình ảnh («Bilder»).

Khía cạnh thứ ba giúp ta chuyển qua khoa lí giải (ermeneutica), trong thực tế là khoa giải thích các bản văn Kinh thánh và Truyền thống. Ngôn ngữ tôn giáo nguyên thủy có đặc tính biểu tượng (x. StÄhlin, Symbolon, 1958; I. Macquarrie, God Talk, 1968; T. Fawcett, The Symbolic Language of Religion, 1970). Trong số những biểu tượng, ngôn ngữ tôn giáo thích dùng những cái mang tính căn nguyên hay mẫu mực, là những biểu tượng mà chúng ta có thể gọi là nguyên mẫu. Bởi thế, trong số đó Kinh thánh dùng biểu tượng mối quan hệ vợ chồng, cụ thể là ở bình diện của cái «biết» như được mô tả.

Một trong những bài thánh thi Kinh thánh dùng nguyên mẫu hôn nhân áp dụng cho các quan hệ của Thiên Chúa với dân của Ngài, mà ở cao điểm có dùng đến động từ đã bình giải : «ngươi sẽ biết Đức Chúa» (Hs 2,22; weyada‘ta ’et Yhwh; được nhấn mạnh trong câu «ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Chúa» = wyd‘t ky ’ny Yhwh: Is 49,23; 60,16; Ed16,62 là ba bài thánh thi «hôn phối»). Từ đó xuất phát một truyền thống văn chương đạt tới cao điểm trong thư của thánh Phaolô Ep 5 áp dụng cho mối quan hệ của Đức Kitô với Hội thánh; rồi đến truyền thống của các Giáo phụ và truyền thống của các nhà thần bí lớn (ví dụ như Llama de amor viva của thánh Gioan Thánh Giá).

Trong khảo luận Grundzüge der Literatur und Sprachwissenschaft, vol.I, München 19764, p.462, người ta định nghĩa các nguyên mẫu như sau: «đó là những hình ảnh và động lực xa xưa, mà theo Jung, hình thành nên nội dung của vô thức tập thể chung của mọi người. Chúng đưa ra những biểu tượng, mà ở mọi thời và ở mọi dân tộc, làm cho những gì quan trọng có tính quyết định đối với nhân loại liên quan đến tư tưởng, tưởng tượng và bản năng, trở nên sống động tượng hình».

Freud xem ra không dùng đến khái niệm nguyên mẫu. Ông thiết lập một hệ thống biểu tượng hay qui tắc của các mối tương ứng cố định giữa những hình ảnh hiện thực-hiển lộ và những tư tưởng tiềm tàng. Ý nghĩa của các biểu tượng là cố định, dù không duy nhất. Chúng có thể rút gọn được thành một tư tưởng cuối cùng (không thể rút gọn được nữa) quen thuộc với một kinh nghiệm tuổi thơ nào đó. Những biểu tượng này là nguyên sơ và mang tính chất tính dục (nhưng ông không gọi chúng là những nguyên mẫu). Nên xem tác phẩm của T. Todorov, Théories du symbol, Paris 1977, 317tt; và J. Jacoby, Komplex, Archetyp, Symbol in der Psychologie C.G. Jungs, Zürich 1957.

[2] Phụ tính (tính chất người làm cha) là một trong những khía cạnh quan trọng nhất của nhân tính trong Sách thánh.

Đoạn St 5,3 : «Ađam... sinh ra một người con trai giống như ông, theo hình ảnh ông» rõ ràng nối kết lại với trình thuật tạo dựng con người (St 1,27; 5,1) và có vẻ như muốn gán cho người cha thế gian sự tham dự vào công trình của Thiên Chúa qua việc thông truyền sự sống, và có lẽ cả niềm vui người ta thấy có trong câu nói: «và này đây, Thiên Chúa thấy mọi sự Ngài đã làm ra quả là rất tốt đẹp» (St 1,31).

[3] Theo đoạn văn St 1,26 «tiếng gọi» đi vào hiện hữu cũng đồng thời là sự thông truyền cái hình ảnh, họa ảnh (giống) của Thiên Chúa. Con người phải tiến hành việc thông truyền hình ảnh này bằng cách tiếp tục công trình đó của Thiên Chúa. Trình thuật sinh hạ Sết nhấn mạnh khía cạnh này: «Khi ông Ađam được một trăm ba mươi tuổi, thì ông sinh ra một người con trai giống như ông, theo hình ảnh ông, và đặt tên là Sết» (St 5,3).

Vì Ađam và Evà vốn là hình ảnh Thiên Chúa, cho nên Sết kế thừa từ cha mẹ mình cái họa ảnh này để rồi thông truyền tiếp cho những con người khác.

Tuy nhiên, trong Kinh thánh mỗi ơn gọi đều kết hợp với một sứ mạng. Do đó, ơn gọi đi vào hiện hữu (làm người) đã được tiền định sứ mạng tiếp nối công trình của Thiên Chúa : «Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi;trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh ngươi hiến ngươi» (Gr 1,5; x. thêm Is 44,1; 49,1.5).

Thiên Chúa không chỉ kêu gọi đi vào hiện hữu, mà còn nâng đỡ và phát triển sự sống ngay từ phút giây đầu tiên tượng hình trong thai bào: «Đưa con ra khỏi thai bào – vòng tay mẹ ẵm Chúa trao an toàn. Chào đời con được dâng cho Chúa, được Ngài là Chúa tự sơ sinh» (Tv 22,10.11; x. Thiên Chúa 139,13-15).

Tác giả Kinh thánh chú tâm vào chính sự kiện quà tặng sự sống. Cách thức sự kiện ấy xảy ra như thế nào không phải là bận tâm hàng đầu và điều đó chỉ xuất hiện trong những quyển sách về sau (x. G 10,8.11; 2Mcb 7,22-23; Kn 7,1-3).


[1] Ý hướng tính xác định bản chất của cái biết của con người. Đặc biệt, nó chỉ sự hợp nhất giữa người biết với đối tượng được nhận biết, được xác định nơi chủ thể khi tâm trí người ấy hiện sáng lên ý niệm. Bởi thế, ý hướng tính chỉ một sự phù hợp sâu xa giữa tâm trí và thực tại (Thánh Thomas gọi đó là adaequatio).

Xem thêm…

Chương XX Ý NGHĨA CỦA SỰ "BIẾT" THEO KINH THÁNH TRONG CUỘC SỐNG HÔN NHÂN

23:24 |
Chương XX

Ý NGHĨA CỦA SỰ "BIẾT" THEO KINH THÁNH
TRONG CUỘC SỐNG HÔN NHÂN


Cùng với những phân tích về thuở ban đầu mà Kinh thánh nói tới, chúng tôi muốn nói thêm một chút về một đoạn văn ngắn rút ra từ chương IV của Sách Sáng Thế. Muốn thế, trước hết chúng ta cần phải nhắc lại những lời của Đức Giêsu Kitô nói trong cuộc đối thoại với những người Biệt Phái (x. Mt 19 và Mc 10) [1], vì những suy tư của chúng ta ở trong phạm vi ấy. Những lời ấy liên hệ tới bối cảnh cuộc sống con người, theo đó cái chết và sự hủy hoại thân xác gắn liền với nó (như những lời St 3,19: «ngươi sẽ trở về với đất bụi») đã trở thành số phận chung của con người. Đức Kitô đã qui chiếu về «thuở ban đầu», về chiều kích nguyên thủy của mầu nhiệm tạo dựng, khi mà chiều kích này đã bị đảo lộn bởi mầu nhiệm tội lỗi (mysterium iniquitatis), và, cùng với tội lỗi, bởi cái chết. (mysterium mortis). Tội lỗi và cái chết đã bước vào lịch sử con người, một cách nào đó, qua chính tâm điểm của sự hợp nhất mà người đàn ông và người đàn bà đã tạo lập «từ thuở ban đầu», họ vốn được tạo dựng và kêu gọi trở thành «một xương một thịt» (St 2,24). Từ những suy tư ban đầu, chúng ta đã thấy rằng khi qui chiếu đến «thuở ban đầu», Đức Kitô, theo nghĩa nào đó, dẫn chúng ta đi quá giới hạn của tình trạng tội lỗi gia truyền của con người để đến tình trạng vô tội nguyên thủy. Bằng cách đó Người giúp ta khám phá được tính liên tục và sự kết nối đang có giữa hai tình trạng. Nhờ đó mà có được tấn tuồng về con người nguyên thủy, cũng như mạc khải mầu nhiệm con người cho con người lịch sử.

Điều đó cho phép chúng ta chuyển qua phân tích cuối cùng, sau khi đã làm một số phân tích liên quan tới tình trạng vô tội nguyên thủy. Đó là phân tích «sự nhận biết và sinh sản». Xét theo chủ đề, nó liên hệ gần gũi với sự chúc lành cho sự sinh sôi nảy nở trong trình thuật tạo dựng thứ nhất của con người nam và nữ (St 1,27-28). Đàng khác xét về lịch sử, nó đã được đưa vào trong khung trời của tội lỗi và sự chết. Như Sách Sáng Thế dạy (St 3), tội lỗi và sự chết đã ghi dấu trên ý thức về ý nghĩa của thân xác con người, cùng với sự đổ vỡ Giao ước thứ nhất với Đấng Tạo Hóa. 

2. Trong St4, và vẫn trong bối cảnh của bản văn Giavít, chúng ta đọc thấy : «Con người (Ađam) ăn ở với Eva, vợ mình. Bà thụ thai và sinh ra Cain. Bà nói : “Nhờ Đức Chúa, tôi đã được một người”. Bà lại sinh ra Abel, em ông» (St 4,1-2). Nếu chúng ta nối kết sự kiện đầu tiên sinh ra một con người trên trái đất với «cái biết», chúng ta làm thế trên cơ sở dịch sát nghĩa bản văn. Theo đó, sự kiện vợ chồng «ăn ở» với nhau được xác định như là «biết» nhau. Thật vậy, bản dịch được trích ở đây nói : «Con người ăn ở với Eva, vợ mình», đang khi đó nếu dịch sát mặt chữ phải là : «Con người biết Eva, vợ mình», phù hợp hơn với thuật ngữ do thái (sêmít) jada‘ [2]. Người ta có thể thấy ở đây dấu hiệu của một sự nghèo nàn của ngôn ngữ cổ, thiếu các thành ngữ để xác định những dữ kiện khác nhau. Tuy nhiên, hoàn cảnh ấy vẫn rất có ý nghĩa, vì trong đó người chồng và người vợ kết hợp với nhau thâm sâu đến độ giữa họ chỉ là «một xương một thịt», hoàn cảnh đó lại được định nghĩa như là một sự «biết» nhau. Như thế, từ một hoàn cảnh xem ra rất nghèo nàn về ngôn ngữ lại xuất hiện một chiều sâu đặc biệt về ý nghĩa. Điều ấy được rút ra từ chính tất cả những ý nghĩa đã phân tích cho tới nay.

3. Hiển nhiên điều ấy cũng quan trọng đối với cách suy nghĩ «nguyên mẫu» của chúng ta về con người với thân xác có giới tính là nam là nữ của nó, tức là một thân xác có tính dục. Như thế, qua thuật ngữ «biết» được dùng ở St 4,1-2 cũng như vẫn thường được dùng trong Kinh thánh, ta thấy tương quan vợ chồng của người nam và người nữ - tức là sự kiện họ trở nên «một xương một thịt» nhờ sự khác biệt giới tính của họ - đã được nâng lên và đưa vào chiều kích đặc biệt của các ngôi vị. St 4,1-2 chỉ nói người đàn ông «biết» người đàn bà, như muốn nhấn mạnh trước hết hành động của người đàn ông. Nhưng người ta vẫn có thể nói cả hai người, đàn ông và đàn bà, cùng «biết» nhau qua thân xác và giới tính của họ. Cùng một kiểu nói như thế ta có thể đọc thấy trong cũng chương 4 của Sách Sáng thế (vd. St 4,17; 4,25). Ngôn ngữ vẫn tiếp tục được dùng thậm chí cho tới biến cố Truyền Tin trong những lời lẽ của đức Maria thành Nadarét : «Việc ấy sẽ xảy ra cách nào vì tôi không biết đến việc vợ chồng» (Lc 1,34).

4. Như thế chữ «biết» của Kinh thánh xuất hiện lần đầu tiên ở đoạn St 4,1-2. Nó diễn tả trực tiếp một đàng là ý hướng tính của con người[1] (vì đó là đặc tính của cái biết), và đàng khác, diễn tả tất cả thực tại vợ chồng sống chung và hợp nhất, trong đó người đàn ông và người đàn bà nên «một xác thịt».

Khi nói về cái «biết», dẫu là do sự nghèo nàn về ngôn ngữ, Kinh thánh cho thấy cái yếu tính sâu xa nhất của thực tại đời sống hôn nhân. Yếu tính này xuất hiện như là một yếu tố đồng thời cũng là một kết quả của các ý nghĩa ấy, dấu vết của chúng đã được cố gắng liên tục dõi theo ngay từ đầu việc nghiên cứu. Đó thật ra là một phần của ý thức về ý nghĩa của thân xác của mình. Trong St 4,1, người nam và người nữ một khi đã trở nên «một xác thịt» có kinh nghiệm đặc biệt về ý nghĩa của thân xác mình. Như thế, họ như cùng trở nên một chủ thể duy nhất của hành động và kinh nghiệm đó, dẫu rằng họ vẫn là hai chủ thể thực sự khác biệt trong sự hợp nhất ấy. Chúng ta có thể khẳng định, theo một nghĩa nào đó, rằng «người chồng biết vợ mình» hoặc cả hai vợ chồng «biết nhau». Họ mạc khải cho nhau cái «tự ngã» (cái tôi) sâu xa nhất của mình, nhờ chính giới tính khác biệt nam và nữ của mình. Như thế, quả là độc đáo, người đàn bà được «trao ban» cho người đàn ông để được biết, và người đàn ông cũng được ban cho người đàn bà để được biết.

5. Nếu phải giữ sự liên tục của những phân tích mà chúng ta đã làm cho đến nay (đặc biệt đối với những phân tích cuối cùng, trong đó con người đã được giải thích theo chiều kích trao hiến), chúng ta cần chấp nhận rằng theo sách Sáng thế, datum (dữ kiện /cái đã được ban cho khi tạo dựng) donum (tặng phẩm /trao hiến) là như nhau.

Thế nhưng, St 4,1-2 nhấn mạnh đặc biệt đến datum. Trong hành động «biết» của vợ chồng, người nữ «được ban cho» người nam và người nam được ban cho người nữ, vì thân xác và giới tính đi trực tiếp vào trong chính cấu trúc và nội dung của cái «biết» này. Thế nên, thực tại của hành vi kết hợp vợ chồng, trong đó người nam và người nữ trở nên «một xác thịt», tự thân hàm chứa một sự khám phá mới, và theo một nghĩa nào đó là dứt khoát, về ý nghĩa của thân xác con người với giới tính nam và nữ của mình. Nhưng phải chăng bàn về khám phá ấy mà chỉ nói đến sự «sống chung về phương diện tính dục» thôi sao? Cần phải thấy rằng mỗi người, nam cũng như nữ, không chỉ là một đối tượng thụ động, được định bởi thân xác và giới tính của người ấy, và như thế có nghĩa là, được xác định «bởi thiên nhiên». Trái lại, chính vì họ là đàn ông và là đàn bà, mà mỗi người được «trao ban» cho người kia như một chủ thể duy nhất và độc đáo, như một «cái tôi», như một nhân vị. Giới tính không những quyết định về cá thể tính thể lí của con người, mà đồng thời còn xác định căn tính ngôi vị cụ thể của người ấy. Và chính trong căn tính ngôi vị cụ thể ấy, như một «cái tôi» là nam hay là nữ, mà con người được «biết», nhờ những lời xác minh của St 2,24: «người đàn ông... kết hợp với vợ mình và cả hai nên một xương một thịt». Cái «biết» mà St 4,1-2 và mọi bản văn Kinh thánh sau đó nói tới, chạm tới những cội rễ thâm sâu nhất của căn tính cụ thể ấy của người đàn ông hay người đàn bà, vốn được định hình nhờ giới tính của họ.Điều đó có nghĩa là biết một ngôi vị vừa duy nhất vừa độc đáo.

Bởi thế, quả là đã không vô ích khi suy tư về nội dung phong phú của bản văn kinh thánh trích dẫn và động từ «biết»; dù xem ra thiếu sự xác định chính xác từ ngữ, nhưng nó đã giúp ta dừng lại ở chiều sâu rộng của một khái niệm mà ngôn ngữ thời đại chúng ta, dẫu rất chính xác mà lại hay khiếm khuyết.

------------------
[1] Cần lưu ý sự kiện sau đây. Trong cuộc trao đổi với những người Biệt Phái (Mt 19,7-9; Mc 10,4-6), Đức Kitô đã trình bày trong quan điểm liên hệ tới việc thực hành Luật Môsê về cái gọi là «ly thư» (giấy ly dị). Những lời tuyên bố của Đức Kitô «vì lòng các ông đã ra chai đá» phản ánh không chỉ «chuyện các tâm hồn», mà còn phản chiếu toàn bộ hệ thống Lề Luật thực tế của Cựu ước, vốn luôn tìm «sự thỏa hiệp» với con người trong lãnh vực rất tế nhị này.

[2] «Biết» (jada‘), trong ngôn ngữ Kinh thánh, không chỉ có nghĩa là một cái biết thuần trí thức, nhưng còn có nghĩa là một kinh nghiệm cụ thể, chẳng hạn như kinh nghiệm về đau khổ (x. Is 53,3), về tội lỗi (Kn 3,13), về chiến tranh và hòa bình (Tl 3,1; Is 59,8). Từ kinh nghiệm này còn kéo theo một phán đoán luân lí: «biết điều thiện biết điều ác» (St 2,9-17).

Cái «biết» bước vào trong lãnh vực của các mối tương quan liên vị khi nó liên hệ tới tình liên đới trong gia đình (Đnl 33,9) và đặc biệt các tương quan vợ chồng. Chính trong khi nói tới hành động vợ chồng, thuật ngữ ấy nhấn mạnh tới tình phụ tử của những nhân vật nổi danh và con cái của họ (St 4,1.25; 4,17; 1Sm 1,19), như những dữ kiện hợp pháp cho gia phả, là điều mà truyền thống tư tế (sự thừa tự trong dân Israel) đã rất coi trọng.

Nhưng cái «biết» cũng có thể có nghĩa chỉ mọi mối quan hệ tính dục khác, kể cả những quan hệ bất hợp pháp (x. Ds 31,17; St 19,5; Tl 19,22).

Trong hình thức tiêu cực, động từ này chỉ việc kiêng khem các quan hệ tính dục, đặc biệt khi nói tới các cô gái trinh nữ (x. vd. 1V 2,4; Tl 11,39). Trong lãnh vực này, Tân ước dùng hai người do thái, khi nói về Giuse (Mt 1,25) và Maria (Lc 1,34).

Một ý nghĩa đặc biệt về khía cạnh quan hệ hiện sinh của cái «biết» khi chủ thể hay đối tượng của nó là chính Thiên Chúa (vd. Tv 139; Gr 31, 34; Hs 2,22; và Ga 14,7-9; 17,3).

Xem thêm…

Chương XIX VỚI BÍ TÍCH THÂN XÁC CON NGƯỜI CẢM THẤY MÌNH LÀ CHỦ THỂ CỦA SỰ THÁNH THIỆN

23:20 |
Chương XIX

VỚI BÍ TÍCH THÂN XÁC CON NGƯỜI CẢM THẤY
MÌNH LÀ CHỦ THỂ CỦA SỰ THÁNH THIỆN

 

1. Sách Sáng thế cho thấy rằng cả hai người đàn ông và người đàn bà đã được tạo dựng nên cho cuộc hôn phối: «...Người đàn ông sẽ lìa bỏ cha mẹ và gắn bó với vợ mình và cả hai sẽ nên một xương một thịt» (St 2,24).

Từ đó một viễn tượng sáng tạo lớn lao được mở ra cho cuộc sống nhân loại, được đổi mới luôn nhờ «sinh sản» hay «tự sản». Viễn tượng đó bám rễ sâu vào trong tâm thức của nhân loại và cả trong ý thức đặc biệt của con người về ý nghĩa hôn phối của thân xác có giới tính nam và nữ. Người đàn ông và người đàn bà trong mầu nhiệm tạo dựng là tặng phẩm được trao ban cho nhau. Sự vô tội nguyên thủy biểu lộ và đồng thời xác định ethos hoàn hảo của tặng phẩm.

Chúng ta đã nói điều đó trong chương trước. Qua ethos của tặng phẩm, ta thấy lộ ra một phần của vấn đề về «chủ thể tính» (soggettività) của con người, kẻ được tạo dựng theo hình ảnh giống như Thiên Chúa. Trong trình thuật tạo dựng (đặc biệt là trong đoạn St 2,23-25) hẳn là «người đàn bà» không chỉ là «một đối tượng» hay một đồ vật (oggetto) đối với người đàn ông. Cả hai trước mặt nhau dù vẫn hoàn toàn là những đối tượng thọ tạo, nhưng người kia là «xương của xương tôi, thịt của thịt tôi», và là người khác giới với tôi (đàn bà/đàn ông), và cả hai trần truồng. Chỉ có một sự trần truồng làm người phụ nữ thành một «đối tượng» hay một sự vật cho người đàn ông (ham muốn) và ngược lại, mới là nguồn của mọi xấu hổ. Việc cả hai người «không cảm thấy xấu hổ» có nghĩa là người đàn bà đã không là «một đồ vật» (đối tượng) đối với người đàn ông, và ngược lại người đàn ông cũng như thế đối với người đàn bà. Sự trong trắng/vô tội trong tâm hồn cũng như «lòng trong sạch» của người này, một cách nào đó, đã không thể hạ thấp người kia xuống chỉ như một đồ vật một đối tượng. Nếu như «họ không cảm thấy xấu hổ», thì điều đó có nghĩa là họ sống cách sâu xa tâm thức trao ban (coscienza del dono), họ ý thức ý nghĩa hôn phối của thân xác của nhau, qua đó sự tự do của trao ban được diễn tả ra và toàn thể sự phong phú nội tâm của con người như là chủ thể (soggetto) được hiển lộ. Cái «tôi» (tự ngã) của mỗi người, người đàn ông và người đàn bà, đi sâu vào bên trong nhau như thế, như làm cho con người chủ thể không thể hạ giá người khác thành một «đồ vật» được. Điều đó bộc lộ cái dung mạo chủ thể của tình yêu ấy. Có thể nói rằng tình yêu này là «khách quan» (oggettivo) ở tận chiều sâu, vì nó được nuôi dưỡng bởi chính «tính khách quan» (oggettività) của tặng phẩm dành cho nhau.

2. Sau khi con người, nam và nữ, đầu tiên phạm tội, họ sẽ mất ân sủng vô tội nguyên thủy. Việc khám phá ra ý nghĩa hôn phối của thân xác đối với họ sẽ không còn là một thực tại đơn giản của mạc khải và ân sủng. Thế nhưng, ý nghĩa ấy sẽ vẫn còn như là một cam kết mà ethos của tặng phẩm trao ban cho con người, được ghi khắc sâu xa trong tâm hồn con người, như là tiếng vọng lại của sự vô tội nguyên thủy. Từ ý nghĩa hôn phối ấy tình yêu con người sẽ hình thành, trong sự thật bên trong của nó và trong sự xác thực chủ quan của nó. Nhờ bức màn của xấu hổ, con người sẽ tái khám phá liên tục chính mình như người bảo vệ mầu nhiệm chủ thể, nghĩa là mầu nhiệm của sự tự do trao ban. Như thế là để bảo vệ nó để không bị rơi vào bất kì quan điểm nào xem tặng phẩm chỉ như là một đối tượng (sự vật) thuần túy.

3. Nhưng giờ đây, ta thấy mình đang đứng trước bậc thềm của lịch sử thế trần của con người. Người đàn ông và người đàn bà vẫn còn chưa bước qua thềm nhà ấy để hướng tới nhận thức thiện và ác. Họ vẫn còn ngụp lặn trong mầu nhiệm tạo dựng, và thấp thoáng trong cõi thâm sâu của mầu nhiệm ẩn chứa trong tâm hồn họ là sự trong trắng, ân sủng, tình yêu và sự công chính : «Thiên Chúa thấy mọi sự Ngài đã làm ra quả là rất tốt đẹp!» (St 1,31). Con người xuất hiện trong thế giới hữu hình này như một diễn tả cao nhất của tặng phẩm thần linh, bởi lẽ nó mang trong mình chiều kích nội tâm của tặng phẩm. Và với nó, con người đem vào thế giới cái họa ảnh (giống) đặc biệt của Thiên Chúa nơi bản thân mình. Với nó, con người siêu vượt và thống trị trên cả cái “sắc tướng” (visibilità) của mình trong thế gian, trên cả xác thịt của mình, giới tính nam-nữ của mình, sự trần truồng của mình. Một phản ảnh của họa ảnh này còn là sự ý thức nguyên thủy về ý nghĩa hôn phối của thân xác, thấm nhập bởi mầu nhiệm vô tội nguyên thủy.

4. Như thế, trong chiều kích đó, một bí tích nguyên thủy được thiết lập, được hiểu như là dấu chỉ thông truyền một cách hữu hiệu mầu nhiệm vô hình ẩn giấu nơi Thiên Chúa từ muôn thuở, vào trong thế giới hữu hình này. Đây là mầu nhiệm của Sự Thật và Tình Yêu, mầu nhiệm của sự sống thần linh, mà con người được tham dự thực sự. Trong lịch sử của con người, sự vô tội nguyên thủy khai mào sự tham dự này và nó cũng là nguồn mạch của hạnh phúc nguyên thủy. Bí tích, như là dấu chỉ hữu hình, được thiết lập với con người xét như là một «thân xác», nhờ giới tính nam và giới tính nữ «hữu hình» của mình. Thật vậy, thân xác và chỉ có thân xác, mới có khả năng làm cho điều vô hình – như cái tâm linh và thần linh – thành hữu hình. Thân xác đã được tạo dựng để chuyển giao vào trong cái thực tại hữu hình của thế giới, mầu nhiệm được giấu kín từ muôn thuở nơi Thiên Chúa, và như thế nó là dấu chỉ của mầu nhiệm ấy.

5. Do đó, trong con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, chính bí tích của tạo thành, bí tích của thế giới, theo nghĩa nào đó, đã được tỏ lộ ra. Quả thật, con người nhờ thân xác với giới tính nam-nữ của nó đã trở thành dấu chỉ hữu hình của nhiệm cục Sự Thật và Tình Yêu, có nguồn mạch nơi chính Thiên Chúa và đã được tỏ lộ ra trong mầu nhiệm tạo thành. Trên nền hậu cảnh rộng lớn này mà chúng ta hiểu trọn vẹn hơn những lời căn bản của bí tích hôn phối, được trình bày trong câu St 2,24 («người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt»). Trên nền rộng lớn này mà chúng ta hiểu hơn nữa rằng những lời của câu St 2,25 («con người và vợ mình, cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau»), nhờ ý nghĩa nhân học sâu xa của những lới ấy, diễn tả sự kiện rằng cùng với con người sự thánh thiện cũng đi vào thế giới hữu hình, một thế giới được tạo dựng cho con người. Bí tích thế giới, và bí tích con người trong thế giới, xuất phát từ nguồn suối thần linh là sự thánh thiện, và đồng thời nó được thiết lập cho sự thánh thiện. Sự vô tội nguyên thủy, nối kết với kinh nghiệm về ý nghĩa hôn phối của thân xác, là chính sự thánh thiện, vốn là điều giúp con người diễn tả mình ra cách sâu xa với thân xác của mình, và điều đó có được chính là nhờ sự «thành thật trao hiến» chính bản thân mình. Ý thức trao hiến là điều kiện, như trong trường hợp ở đây, của «bí tích thân xác». Nơi thân xác mình, của một người nam hay của một người nữ, con người cảm thấy mình là chủ thể của sự thánh thiện.

6. Với ý thức về ý nghĩa thân xác của mình đó, con người nam cũng như nữ, bước vào thế giới như một chủ thể của sự thật và tình yêu. Có thể nói rằng đoạn St 2,23-25 tường thuật lại lễ hội đầu tiên của nhân loại với kinh nghiệm nguyên thủy tròn đầy về ý nghĩa hôn phối của thân xác. Đó là một lễ hội của nhân loại với nguyên ủy phát xuất từ những nguồn mạch Sự Thật và Tình Yêu thần linh tuôn đổ vào trong chính mầu nhiệm tạo thành. Dẫu từ rất sớm sủa, biên giới của tội lỗi và sự chết đã lan rộng trên cánh đồng của lễ hội nguyên thủy ấy (St 3), nhưng ngay từ mầu nhiệm tạo thành chúng ta đã kín múc được một niềm hy vọng đầu tiên. Đó là, hoa trái của chương trình của Thiên Chúa (nhiệm cục thần linh) về Sự Thật và Tình Yêu, vốn được mạc khải «từ thuở ban đầu», là Sự Sống chứ không phải Sự Chết, là «ơn gọi hưởng vinh quang» chứ không phải là sự tiêu diệt của thân xác con người vốn được tạo dựng theo «hình ảnh của Thiên Chúa» (x. Rm 8,30).
Xem thêm…

Chương XVIII SỰ VÔ TỘI NGUYÊN THỦY VÀ TÌNH TRẠNG LỊCH SỬ CỦA CON NGƯỜI

23:16 |
Chương XVIII

SỰ VÔ TỘI NGUYÊN THỦY VÀ
TÌNH TRẠNG LỊCH SỬ CỦA CON NGƯỜI

1. Chúng ta tiếp tục suy tư trên cơ sở giả thiết tất cả những gì đã gặt hái được cho tới nay qua những phân tích trước đây. Chúng phát xuất từ câu trả lời của Đức Giêsu cho những kẻ chất vấn Người (Tin mừng thánh Matthêu 19,3-9, và thánh Marcô 10,1-12), về vấn đề hôn nhân, về sự bất khả phân ly và tính duy nhất của hôn nhân. Thầy Giêsu đã khuyên họ xem xét kĩ lưỡng điều vốn có từ «thuở ban đầu». Và chính nhờ đó, trong những bài suy tư của chúng ta cho đến nay, chúng tôi đã cố tạo lại cách nào đó cái thực tại hiệp nhất, hay đúng hơn, hiệp thông ngôi vị, vốn được đôi bạn nam nữ sống từ «thuở ban đầu». Kế đến, chúng tôi đã thử đi sâu vào nội dung súc tích của câu St 2,25: «Bấy giờ, con người và vợ mình, cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau».

Những lời đó nói đến hồng ân về sự vô tội (hay trong trắng) nguyên thủy, đồng thời tỏ lộ đặc tính của nó một cách tổng hợp. Trên cơ sở ấy, thần học đã xây dựng hình ảnh tổng thể về sự trong trắng và công chính nguyên thủy của con người trước khi có tội nguyên tổ, bằng cách áp dụng phương pháp khách thể hóa, vốn là đặc thù của siêu hình học và của nhân học siêu hình. Trong bài phân tích này, chúng tôi nghiêng về việc xét đến khía cạnh chủ thể tính nhân văn hơn. Vả lại, mặt ấy xem ra gần gũi với các bản văn nguyên thủy hơn, nhất là trình thuật thứ hai về tạo dựng, tức bản văn Giavít.

2. Không như một số chú giải nào đó, điều sau đây xem ra là khá rõ ràng: đó là «kinh nghiệm về thân xác» - điều mà chúng ta có thể rút ra từ các bản văn cổ St 2,23 và St 2,25 – cho thấy con người đã đạt tới một mức độ «tâm linh hóa» khá cao nào đó rồi, khác với tình trạng cũng bản văn ấy nói tới sau khi phạm tội nguyên tổ (St 3), tình trạng mà chúng ta đã biết đến từ kinh nghiệm của con người «lịch sử». Trong tình trạng nguyên thủy đó, con người sống một mức độ tâm linh rất khác, hình thành nên bởi những sức mạnh bên trong chính con người phối hợp với nhau, khác với tình trạng hiện nay. Con người nguyên thủy sống tương quan giữa xác và hồn như ở một mức độ khác, một tỉ lệ cân xứng nội tại giữa các cảm giác, tình cảm và tâm linh ở tầm mức khác, nghĩa là những giác quan nội tại qui hướng về các ơn huệ của Chúa Thánh Thần ở một tần suất khác. Tất cả những điều ấy thích ứng và đồng thời xác định tình trạng vô tội nguyên thủy của con người, và cũng giúp ta hiểu hơn trình thuật của Sáng thế. Thần học cũng như Huấn quyền của Giáo hội đã cho những chân lí nền tảng này một hình thức riêng [1].

3. Trong khi phân tích cái «thuở ban đầu» theo hướng thần học thân xác, chúng ta dựa trên lời của Đức Kitô, những lời chính từ miệng Người đã tham chiếu đến «thuở ban đầu». Người nói : «các ông không đọc thấy điều này sao: “Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hóa đã làm ra con người có nam có nữ?”» (Mt 19,4). Như thế, Người đã truyền cho chúng ta và vẫn luôn truyền cho chúng ta hãy quay về với mầu nhiệm tạo dựng sâu thẳm. Và chúng ta đã làm điều đó với ý thức trọn vẹn về ơn huệ tình trạng vô tội nguyên thủy, tình trạng riêng của con người trước khi phạm tội. Dẫu có hàng rào ngăn cách không thể vượt qua giữa chúng ta với tình trạng của con người nam và nữ xa xưa lúc bấy giờ (nhờ ơn huệ của tình trạng ân sủng gắn liền với mầu nhiệm tạo dựng), tình trạng cả hai người vốn là quà tặng cho nhau, thế nhưng chúng ta cũng thử tìm hiểu tình trạng vô tội nguyên thủy ấy như thế nào trong mối liên hệ với tình trạng «lịch sử» của con người sau khi phạm tội : «status naturae lapsae simul et redemptae» (tình trạng của bản tính vừa đã sa ngã vừa được cứu chuộc).

Từ tình trạng «hậu nghiệm lịch sử» (a posteriori storico), chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa nguyên thủy của thân xác, và mối liên hệ giữa thân xác với bản tính vô tội nguyên thủy trong «kinh nghiệm thân xác», như đã được trưng ra một cách thật ý nghĩa trong trình thuật của Sách Sáng thế. Chúng ta kết luận rằng điều quan trọng và thiết yếu là xác định mối liên hệ này, quan trọng không những đối với «tiền sử thần học» của con người trong đó cuộc sống lứa đôi hầu như được thấm nhập hoàn toàn bởi ân sủng vô tội nguyên thủy. Nó còn quan trọng thiết yếu vì có thể mạc khải cho chúng ta biết những cội rễ thường tồn của ethos [thiên hướng – N.D.] của thân xác, về phương diện nhân văn và (nhất là) về thần học.

4. Con người bước vào trong thế giới, và có thể nói, đã đi vào mạng lưới thâm sâu nhất của tương lai và lịch sử mình, với ý thức về ý nghĩa hôn phối của thân xác mình, một thân xác với giới tính nam và nữ của mình. Sự vô tội nguyên thủy bộc lộ ý nghĩa ấy làm nên tình trạng «đạo đức» (etica) và hơn thế nữa, về phần mình, nó làm nên tương lai của ethos con người. Điều ấy hết sức quan trọng đối với thần học thân xác. Đó là lí do tại sao chúng ta phải xây dựng thần học thân xác này «từ thuở ban đầu», trong khi theo đuổi cẩn thận những lời chỉ dẫn của Đức Kitô.

Trong mầu nhiệm tạo dựng, người đàn ông và người đàn bà được Đấng Tạo Hóa «trao ban» cho nhau một cách đặc biệt. Điều đó không chỉ ở trong phạm vi cặp vợ chồng đầu tiên và sự hiệp thông ngôi vị đầu tiên, nhưng trong toàn bộ viễn tượng của cuộc sống và gia đình nhân loại. Sự kiện căn bản của cuộc sống con người trong mọi giai đoạn của lịch sử của mình, đó là Thiên Chúa «đã tạo dựng họ có nam có nữ», và quả thật Ngài luôn luôn tạo dựng con người với cách thức như thế và luôn luôn là như thế. Hiểu những ý nghĩa nền tảng ẩn chứa trong chính mầu nhiệm tạo dựng, cũng như ý nghĩa hôn phối của thân xác (và những điều kiện nền tảng của ý nghĩa ấy) là điều quan trọng và thiết yếu để biết con người là ai và con người phải là ai, và từ đó biết phải tổ chức sinh hoạt của mình như thế nào. Đó là điều thiết yếu và quan trọng cho tương lai của ethos con người.

5. Đoạn St 2,24 cho thấy rằng cả hai người đàn ông và người đàn bà đã được tạo dựng nên cho cuộc hôn phối: «bởi thế, người đàn ông sẽ lìa bỏ cha mẹ và gắn bó với vợ mình và cả hai sẽ nên một xương một thịt». Từ đó mở ra một viễn tượng sáng tạo lớn lao. Chính viễn tượng cuộc sống của con người ấy được liên tục làm cho mới nhờ «sự sinh sản» [procreazione] (hoặc ta cũng có thể nói, nhờ «sự tự sản» [autoriproduzione]). Viễn tượng đó bám rễ sâu vào trong tâm thức của nhân loại (x. St 2,23) và trong ý thức đặc biệt về ý nghĩa hôn phối của thân xác (St 2,25). Người đàn ông và người đàn bà, trước khi là chồng là vợ (cụ thể điều đó chỉ được nói tới ở St 4), từ mầu nhiệm tạo dựng họ xuất hiện trước hết như là anh em chị em trong cùng nhân tính. Hiểu ý nghĩa hôn phối của thân xác với giới tính nam và nữ của nó biểu lộ cho người ta thấy sự tự do thâm sâu của họ, sự tự do của trao ban.

Từ đó khai mào sự hiệp thông các ngôi vị, trong đó người ta gặp gỡ nhau và trao ban cho nhau hoàn toàn với trọn vẹn con người chủ thể mình. Như thế cả hai triển nở như là những con người–chủ thể, và giúp nhau triển nở qua thân xác và qua sự «trần truồng» mà không bị xấu hổ. Trong sự hiệp thông các ngôi vị đó, sự đơn độc nguyên thủy thâm sâu (của con người đầu tiên và của tất cả mọi người) được bảo đảm hoàn toàn, nhưng đồng thời sự đơn độc ấy một cách kì diệu được thấm nhập và mở rộng ra bởi tặng phẩm tha nhân. Nếu người đàn ông và người đàn bà không còn là tặng phẩm vô cầu trao ban cho nhau như xưa kia nữa trong mầu nhiệm sáng tạo, bấy giờ họ sẽ nhận ra nhau rằng mình «trần truồng» (x. St 3). Và bấy giờ nảy sinh trong tâm hồn họ sự xấu hổ vì trần truồng, là điều mà họ chưa từng cảm thấy trước đó trong tình trạng vô tội nguyên thủy. Sự vô tội nguyên thủy vừa bộc lộ vừa tạo nên ethos hoàn hảo của tặng phẩm trao ban. Chúng ta sẽ còn trở lại luận cứ này.

-------------------------
[1] «Si quis non confitetur primum hominem Adam, cum mandatum Dei in paradiso fuisset transgressus, statim sanctitatem et justitiam, in qua constitutus fuerat, amisisse... anathema sit» (Conc. Trident., Sess. V, can. 1, 2; D.B. 788, 789). (Dịch: «Nếu ai không tuyên tín rằng Ađam, con người đầu tiên, sau khi đã phạm giới răn của Chúa trong vườn địa đàng và lập tức mất đi sự thánh thiện và sự công chính mà Chúa đã thiết lập... thì bị tuyệt thông» (Cđ Trentô, kỳ họp thứ 5 (17/6/1546), điều 1, 2; DB 788, 789).

Xem thêm…

Chương XVII: Sự trao hiến tặng phẩm xác thân cho nhau tạo nên một mối hiệp thông đích thực

23:13 |
Chương XVII:

Sự trao hiến tặng phẩm xác thân cho nhau tạo nên một mối hiệp thông đích thực


 1. Chúng ta tiếp tục khảo sát cái «thuở ban đầu» ấy, điều mà Đức Giêsu đã nhắc tới trong khi trao đổi với những người Pharisêu về chủ đề hôn nhân. Suy tư ấy đòi hỏi chúng ta phải vượt qua bên kia ngưỡng cửa của lịch sử con người và đạt tới tình trạng trong trắng nguyên thủy. Để tìm hiểu ý nghĩa của sự trong trắng ấy, theo cách nào đó chúng ta đã đứng trên nền tảng của kinh nghiệm của con người «lịch sử», dựa trên nền móng là chứng từ của tâm hồn, của ý thức (tâm thức).

2. Dựa theo phương pháp «hậu nghiệm lịch sử» chúng ta cố gắng xây dựng lại tính đặc thù của tình trạng trong trắng nguyên thủy ẩn chứa trong kinh nghiệm về thân xác của nhau và về ý nghĩa hôn phối của thân xác ấy, theo những gì mà St 2,23-25 đã chứng nhận. Hoàn cảnh mô tả ở đây cho ta thấy cái kinh nghiệm hồng phúc về ý nghĩa của thân xác, mà trong mầu nhiệm tạo dựng con người có đạt thấu được, có thể nói, là nhờ sự bổ sung cho nhau giữa hai yếu tố nam và nữ. Thế nhưng, ở nguồn cội của kinh nghiệm này phải có sự tự do nội tâm, một sự tự do của trao hiến hợp nhất đặc biệt với sự trong trắng đó. Ước muốn của con người từ thuở ban đầu là trong trắng, và như thế, họ dễ dàng trao hiến thân xác (với khác biệt giới tính) cho nhau như tặng phẩm ngôi vị. Bởi thế, sự trong trắng mà St 2,25 xác nhận có thể được định nghĩa như là sự trong trắng của kinh nghiệm về thân xác của nhau. Câu : «cả hai người, nam và nữ, trần truồng mà không cảm thấy xấu hổ» diễn tả sự trong trắng trong kinh nghiệm trao hiến thân xác mình cho nhau, một sự trong trắng khơi dậy ước muốn trong lòng trao cho nhau tặng phẩm chính con người của mình, đó là sự cụ thể hóa ý nghĩa hôn phối của giới tính (nam và nữ). Vậy, để hiểu được sự trong trắng của kinh nghiệm trao thân cho nhau, chúng ta phải cố làm rõ sự trong trắng trong sự trao hiến cho nhau tặng phẩm ngôi vị hệ tại ở điều gì. Quả thật, sự trao nhận cho nhau ấy là nguồn suối thật của kinh nghiệm về sự trong trắng.

3. Chúng ta có thể nói rằng một tâm hồn trong trắng trong khi trao hiến cho nhau (nghĩa là với ý hướng ngay lành) hệ tại ở sự người này «chấp nhận» người kia, một sự chấp nhận tha nhân tương hỗ như thế tương hợp với chính bản chất của tặng phẩm. Bằng cách đó, sự trao tặng cho nhau tạo nên mối hiệp thông các ngôi vị. Bởi thế, vấn đề là ở chỗ «tiếp đón» tha nhân và «chấp nhận» tha nhân. Đó chính là vì trong mối quan hệ tương hỗ này, điều mà St 2,23-25 nói tới, người đàn ông và người đàn bà trở thành tặng phẩm cho nhau, họ trao hiến cho nhau thật sự và cụ thể nhờ thân xác, một thân xác với giới tính là nam hay là nữ, của họ. Bởi thế, vấn đề là ở chỗ «chấp nhận» hay «tiếp đón» đó. Đó là điều diễn tả và bảo vệ ý nghĩa của sự trao hiến khi trần truồng trước mặt nhau và làm cho phẩm giá của tặng phẩm ngôi vị đối với nhau trở nên sâu sắc hơn. Phẩm giá đó tương ứng cách sâu xa với sự kiện Đấng Tạo Hóa đã tạo dựng (và vẫn còn tiếp tục tạo dựng) con người nam và nữ «vì chính họ». Sự trong trắng của «tâm hồn» và sự trong trắng của kinh nghiệm mang ý nghĩa là ta tham dự vào ý muốn hiện thực muôn đời miên viễn của Thiên Chúa.

Điều nghịch lại với sự «tiếp đón» hay «chấp nhận» tha nhân ấy như một tặng phẩm trao hiến có lẽ là sự tư hữu hóa chính tặng phẩm và như thế biến thành một cuộc đổi chác qua lại và thậm chí biến tha nhân thành một thứ «đồ vật cho tôi hưởng dùng» (đối tượng của dục vọng, của «chiếm hữu bất chính», vv...).

Chúng ta sẽ không bàn đến ở đây cách riêng biệt những phản đề (cái nghịch lại với sự trao hiến) rất đa dạng và có thể thấy trước. Thế nhưng, trong bối cảnh của đoạn St 2,23-25, cần nhận thấy rằng một hành động cưỡng bức tha nhân phải trao hiến và xem tha nhân thuần túy như một «đồ vật cho tôi hưởng dùng» như thế là đánh dấu một khởi đầu cho sự xấu hổ. Quả thật, sự xấu hổ tương ứng với một đe dọa làm tổn thương sự trao hiến trong nơi thân mật riêng tư và biểu lộ một tâm hồn sa ngã hết trong trắng trong kinh nghiệm về nhau.

4. Theo St2,25, «người đàn ông và người đàn bà không cảm thấy xấu hổ». Điều này cho phép ta đi tới kết luận rằng việc trao thân cho nhau được thực hiện (với toàn thể nhân tính, tức là với cả xác-hồn và giới tính khác biệt, của họ) trong điều kiện đặc trưng nội tâm (sự trong trắng) của hành vi tự hiến và tiếp nhận tha nhân như tặng phẩm được bảo toàn. Hai chức năng này của sự trao đổi hỗ tương gắn kết với nhau thật sâu xa trong toàn bộ quá trình «tự hiến». Hành động trao ban và đón nhận đi sâu vào trong nhau đến độ chính khi cho là nhận, và nhận trở thành cho đi.

5. St 2,23-25 cho phép ta suy diễn ra điều này, đó là: người đàn bà, kẻ được Đấng Tạo Hóa «trao ban» cho người đàn ông trong mầu nhiệm tạo dựng, nhờ sự trong trắng nguyên thủy nàng được «tiếp nhận», tức là được chấp nhận bởi người đàn ông như quà tặng. Về điểm này, bản văn kinh thánh hoàn toàn sáng sủa và rõ ràng. Đồng thời, sự đón nhận và chính cách thức đón nhận nàng từ phía người đàn ông có thể nói trở thành như là một sự trao hiến đầu tiên. Nói cách khác, người đàn bà, trong khi trao hiến mình (từ thuở ban đầu của mầu nhiệm tạo dựng khi người đàn bà được Đấng Tạo Thành trao ban cho người đàn ông) cũng đồng thời «tái khám phá chính bản thân mình», nhờ sự kiện nàng đã được chấp nhận và tiếp đón và nhờ cách thức mà người đàn ông đã đón nhận nàng. Thế đó, nàng khám phá lại chính mình chính khi mình hiến thân («nhờ sự chân thành tự hiến chính bản thân mình», Gaudium et spes 24), khi qua nhân tính và nữ tính của mình nàng được đón nhận như Đấng Tạo Hóa đã yêu thương tạo dựng nàng «vì chính nàng». Khi được đón nhận như thế toàn thể phẩm giá của một tặng phẩm được bảo đảm, nhờ hiến dâng bản thân trong toàn thể sự thật con người và thân xác nữ tính như thực tại vốn có của nàng, nàng đạt tới cõi thâm sâu riêng tư nhất của con người mình và sở hữu mình toàn vẹn. Ngoài ra, việc tìm gặp lại chính mình khi hiến thân trở nên một suối nguồn cho một sự tự hiến mới như hoa trái của một ý thức về tặng phẩm càng ngày càng đậm sâu hơn. Điều ấy phát triển là nhờ nội tâm sẵn có khuynh hướng trao hiến và trong điều kiện gặp được một sự đón nhận cũng như thế hay thậm chí sâu sắc hơn.

6. Trình thuật thứ hai xem ra muốn gán cho con người (người nam) từ «thuở ban đầu» chức năng của kẻ trước hết đón nhận tặng phẩm (x. nhất là St 2,23). Người phụ nữ «thuở ban đầu» được phó giao cho chàng chăm sóc, để ý, ân cần để «tâm» đến. Ngược lại, người nam theo nghĩa nào đó phải bảo đảm tiến trình trao nhận sự trao hiến, sự trao ban và sự đón nhận xâm nhập vào bên trong của nhau, và chính nhờ sự đi lại đó tạo nên mối hiệp thông các ngôi vị.

Nếu như, trong mầu nhiệm tạo dựng người phụ nữ là kẻ đã «được ban» cho người đàn ông, thì về phần mình, người đàn ông, khi đón nhận nàng như tặng phẩm với toàn vẹn sự thật về con người và nữ tính cuả nàng và nhờ thế mà làm cho nàng phong phú, cũng được nên phong phú. Người đàn ông được phong phú không chỉ nhờ nàng (kẻ đã hiến ban cho chàng chính con người với nữ tính của mình), mà còn nhờ sự trao hiến chính mình. Sự trao hiến từ phía người đàn ông đáp trả sự trao hiến của người phụ nữ, đối với chàng, làm cho mình thêm phong phú. Thật vậy, nó bộc lộ điều như là bản chất đặc thù của nam tính của chàng, điều ấy qua thực tại thân xác với giới tính của mình người ấy đạt tới cõi riêng tư sâu thẳm nhất của sự «sở hữu chính mình». Nhờ đó, chàng có khả năng trao hiến chính mình cũng như đón nhận tặng phẩm tha nhân. Bởi thế, người đàn ông không những đón nhận tặng phẩm, nhưng đồng thời còn được đón nhận bởi người nữ như một tặng phẩm, khi chàng biểu lộ cái yếu tính thiêng liêng nam giới tiềm ẩn của mình ra, cùng với toàn thể sự thật của thân xác và giới tính của mình. Bởi được đón nhận và đón tiếp như thế tặng phẩm nam tính của mình, chàng được phong phú thêm. Kế đến, sự đón nhận ấy (ở đó người đàn ông tìm gặp lại chính mình qua sự «chân thành tự hiến») trở thành ở nơi chàng một nguồn suối cho người phụ nữ được giàu thêm cách sâu sắc hơn. Sự trao đổi ấy có qua có lại (tính tương hỗ). Và trong đó những hiệu quả phát sinh cho nhau giữa sự «chân thành trao hiến» và «tìm gặp lại chính mình» được bộc lộ ra và tăng trưởng.

Bằng cách ấy, theo dấu vết của «cái hậu nghiệm lịch sử» - và nhất là theo dấu vết của trái tim con người – chúng ta có thể tái tạo và như là thiết lập lại sự trao hiến qua lại cho nhau tặng phẩm nhân vị, vốn đã được mô tả trong bản văn cổ hết sức phong phú và sâu sắc của sách Sáng thế.
Xem thêm…

Copyright ©THT - Được biên soạn và sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau - Ghi rõ nguồn:quatangsusong.blogspot.com/ - Khi phát hành thông tin trên trang này
Gx Đaminh | Namkna | Trung Tâm Học Vấn Đaminh | Kho tài liệu hay |