Home » NS Tuấn Khanh
Quê hương này không để bán
22:34 |
Tuấn Khanh
| NS Tuấn Khanh |
Cuộc họp báo công bố nguyên nhân thảm họa biển Việt Nam giới thiệu rõ một màn trình diễn thô vụng. Formosa Hà Tĩnh đột nhiên trở thành trẻ nhỏ, được chính phủ Việt Nam dắt tay ra trước mọi người, quẹt nước mũi, khóc và nói thuộc lòng lời xin lỗi. Ngay sau đó mức bồi thường 500 triệu USD được công bố như tiếng búa tòa.
Chưa ai kịp có ý kiến, chưa ai kịp nói những khúc mắc trong lòng mình thì vài tiếng đồng hồ sau, thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã vội vàng ra lệnh lên kế hoạch để sử dụng 500 triệu USD bồi thường. Mọi thứ bị đặt vào bối cảnh như chuyện đã rồi. Số phận con người Việt Nam, biển quê hương Việt Nam cứ như việc đã rồi.
Chưa hề có cuộc điều tra nào thật sự cho biết mức tổn hại của 250km bờ biển Việt Nam bị hủy hoại, nguy hiểm tồn đọng thế nào. Hơn một triệu người phải từ bỏ cuộc sống ổn định của mình, chuyển đổi sang nghề nghiệp khác mong sống sót, rồi sẽ phải bù đắp ra sao, và bao lâu? Lịch sử ngàn năm của một quốc gia sống với biển, thịnh vượng với biển, nay phải đành gầm mặt lìa bỏ mọi thứ. Thậm chí ghê sợ hơn, là phải bỏ trống, đành buông cả một vùng quê hương mà Trung Quốc đang ngày đêm háo hức lấn chiếm. 500 triệu USD đó, có nghĩa lý gì?
Vậy câu hỏi ở đây là, những nhà lãnh đạo Việt Nam hài lòng với số tiền ấy, hay nhân dân Việt Nam đồng ý với số tiền 500 triệu USD ấy? Những lời xin lỗi và con số khoán vội ấy, chắc vẫn chưa kịp tính vào 84 ngày người dân cả nước sôi sục đòi minh bạch, bị công an, thanh niên xung phong, trật tự đô thị… đánh đập, giam cầm, kết tội theo lệnh trên vì cho là bị “xúi giục”. Ba tháng mà Bộ trưởng Tài nguyên Môi trường Trần Hồng Hà nói rằng ông “nặng trĩu”, liệu có giải quyết được những lời nói dối thô bỉ của các cấp chính quyền đã lừa gạt nhân dân về việc biển sạch và cá an toàn?
Hàng loạt ngôn luận lừa dối nhân dân như của Phó chủ tịch UBND Hà Tĩnh Đặng Ngọc Sơn hay của thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Võ Nhân Tuấn vẫn còn đó. Ai sẽ từ chức vì lòng tự trọng hay bị cách chức vì danh dự của đảng mà họ đang phục vụ? Nếu họ vẫn tiếp tục tại vị và phát ngôn, thì mọi điều lừa dối trơ tráo ấy, là chủ trương lớn của ai?
Thật bất ngờ, không phải là Formosa Hà Tĩnh xin người Việt Nam tha thứ, mà chính phủ Việt Nam lại là phía cất tiếng kêu gọi nhân dân hãy độ lượng và tha thứ. Đại nghiệp Formasa Hà Tĩnh lại cứ như trẻ nhỏ, đáng thương đến mức chính phủ Việt Nam phải đứng sau lưng, dùng phương thức cấu bám vào lòng thương người của dân tộc Việt Nam, cố dàn xếp một thảm họa. Biết tả làm sao nhỉ? Giờ đây, những người Việt bị đẩy đến khốn cùng ấy, lại phải vuốt thẳng áo rách, bị thúc đứng lên, cố mỉm cười nhân ái đến kiệt sức trên quê hương mình.
Có lẽ trong tư duy của những người lãnh đạo hiện nay, tiền là giải pháp quan trọng nhất, có thể đổi được mọi thứ. Việc đổi tương lai của người Việt bằng tiền, qua kịch bản giải quyết khủng hoảng cho Formosa, lại gợi nhớ rất nhiều về chuyện người dân bị chết nơi đồn công an, bị đánh đập vô cớ, bị nhổ vào mặt, luôn được giải quyết đơn giản bằng nụ cười thành khẩn đểu giả của kẻ gây tội, và một số tiền.
Mạng người hay số phận một quốc gia đâu thể đổi bằng tiền như suy nghĩ của những kẻ quen thói phủi tay. Tiền chỉ là đáp án của những kẻ trọc phú, lừa lọc, toa rập muốn xóa nhanh sự kiện. Việt Nam là một dân tộc có lòng tự trọng và có quốc pháp. Phương thức chọn đáp án nhanh, quy đổi đơn giản bằng tiền chính là một cách gây tổn thương cho lòng tự trọng của người Việt và sỉ nhục quốc pháp. Hãy nhớ, quê hương và tương lai dân tộc không bao giờ có thể để bị mặc cả bằng tiền!
Ông Bộ trưởng Trần Hồng Hà nói phải phải mất đến 84 ngày “đấu tranh” mới có kết quả về nguyên nhân của thảm họa. Cám ơn ông đã gợi ý: Ai trong đất nước này là loại thế lực khiến một chính phủ phải “đấu tranh” đến suốt 84 ngày? Hóa ra, có một thủ phạm nào đó, rất ghê gớm mà chính phủ phải mất đến gần 3 tháng để vượt qua. Hôm nay Formosa Hà Tĩnh đã thú nhận và cúi đầu, thì sao thủ phạm im lặng ấy, lại vẫn nấp trong bóng tối sau cuộc “đấu tranh”?
84 ngày thật mệt mỏi của Chính phủ, nhưng rồi cũng chỉ nhằm góp chung kết quả của những người dân Việt Nam bình thường đi tìm một sự thật, về một tia sáng của công lý. 84 ngày ấy, của hàng chục triệu người Việt mất ăn mất ngủ, lo toan cho số phận của mình, của biển, của cá, của quê hương. Rất nhiều người trong đó có cả câu trả lời nhanh hơn một hệ thống có hàng chục ngàn nhà khoa học, có hàng ngàn công an, dùi cui và hàng rào kẽm gai nhưng tê liệt trước thực tế.
Những câu hỏi đặt ra trong bài viết này về cuộc họp báo, có lẽ cũng không cần lời đáp, vì ai ai cũng đã hiểu. Mọi thứ đã thành một thông điệp im lặng chuyển vào dòng máu nóng thức tỉnh của mỗi đứa con da vàng trên đất nước này.
84 ngày để có kết quả của Chính phủ – chỉ xin nhắc thêm rằng đừng quên số phận những người thợ lặn bị nhiễm độc ở Vũng Áng đã chết và đang bệnh tật. Đừng quên 155 trẻ em Đông Yên vì bị chính quyền dành đất cho Formosa mà phải thất học suốt 2 năm, bên cạnh sự đe nẹt của công an. Đừng quên hàng trăm những đoàn viên thanh niên Cộng sản ngây thơ tin theo mệnh lệnh lừa dối của cấp trên để cùng nhau tắm biển vui đùa làm thí điểm. Đừng quên hàng trăm công chức, dân chúng cả tin hưởng ứng ăn cá để giúp chính quyền xóa một sự thật rằng họ và những người khác sẽ không có một tương lai.
Cũng đừng quên những con người âm thầm trong 84 ngày đó, cật lực đưa tin, ghi hình, chuyển cảnh báo đến cho người dân được biết về thảm họa. Họ dấn thân không vì tiền, cũng không vì bị xúi giục, bất chấp cả những nguy nan từ phía chính quyền để đưa bằng được sự thật đến cuộc sống. Như chiến binh Pheidippides chạy đến thành Arena để báo tin về cuộc chiến Marathon phải vượt qua rất nhiều gian truân. Còn những con người Việt Nam nhỏ nhoi ấy thì phải vượt qua mọi thứ rình rập, thậm chí là mọi loại ngôn luận từ những kẻ thù của công lý và sự thật, như Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Trương Minh Tuấn, để đốt lên những ngọn đuốc giữa đêm đen.
Có một thông điệp đánh kính trọng và cao cả được đưa đến từ những con người vô danh ấy. Hãy lắng nghe từ dòng máu và nhịp tim Việt Nam đó, thông điệp được gửi đi như sấm động: Quê hương này không để bán.
Tường trình từ thành phố bị bao vây!
00:28 |
Tuấn Khanh
Trong nhiều ngày, thành phố bị bao vây rất đỗi ngặt nghèo. Bất kỳ ai cùng đều có thể nhìn thấy điều đó, theo bước chân của người xuống đường hay chỉ nhìn lén qua khung cửa sổ với những lời thì thào.
Rõ là thành phố bị bao vây. Những hàng rào thép gai được cài chặt kiên cố vào khung sắt rực đỏ dựng lên ở nhiều lối đi. Phối cảnh có khi là tháp nhà thờ cổ hay một kiến trúc có hơn trăm năm, khiến người ta nhớ đến một cuộc tấn công nào đó vào thời Trung cổ của các đoàn quân tàn bạo Vikings đến từ Bắc Âu, mục đích để bảo vệ thịnh vượng của mình bằng cướp phá và huỷ diệt kẻ khác.
Suốt trong nhiều ngày, không chỉ Sài Gòn mà nhiều thành phố khác cũng bị bao vây. Người dân bị giam hãm trong sự sợ hãi về môi trường sống của mình đột nhiên chuyển màu u ám. Hàng hàng lớp lớp sinh vật thiên nhiên chết gục trên bờ biển. Cảnh tượng như sấm truyền về ngày tận thế. Biển trở thành cửa địa ngục. Những thợ lặn nhoi người lên mặt nước, thở gấp và qua đời không nói kịp lời ai oán.
Suốt trong nhiều ngày, nhiều thành phố bị cầm giữ trong bí mật về cái chết mà tất cả vua quan đều lánh mặt. Bọn tôi tớ nói vài lời qua loa với đám đông đang xanh xao vì lo sợ. Bọn tôi tớ ấy chạy vội về nhận bữa ăn riêng đặc cách: sạch sẽ và an toàn như đã hứa để trả công cho sự dối trá.
Suốt trong nhiều ngày, thành phố thì thầm về những khu ghetto mới lập. Có thể đó là một sân vận động, nhưng cũng có thể là một văn phòng của cơ quan địa phương. Tất cả những nơi đó đều có một điểm chung: những loài súc sinh có gương mặt người được trao hiến pháp mới về quyền cắn xé bất cứ những ai có một linh hồn.
Thời đại của thành phố với những tấm bảng tuyên truyền về đạo đức Hồ Chí Minh, là những background ngập màu sắc, tạo nên một bức tranh hùng vĩ ghi lại từng gương mặt những người Việt yêu con cá, yêu giọt nước biển và yêu một tương lai không mù mờ u ám. Họ bị bao vây, đánh đập, chà đạp. Trẻ nhỏ bị giật tóc lôi trên đường. Những thanh niên bị đấm, bị xịt hơi cay mà khi chưa hề có ý định kháng cự. Những phụ nữ bị sờ soạng và đạp vào đầu. Máu. Internet như một loại truyền hình vĩnh cửu với các buối chiếu không dứt miễn phí cho vợ con, cha mẹ… của những bọn khát máu đánh người. Họ im lặng ngồi xem, có thể xem trong bữa ăn tối, với phần ăn là một con cá vô định.
Thành phố bị bao vây không chừa ngày nào. Mọi ngôi nhà bị đánh dấu như số phận của Moses. Mọi bà tổ trưởng trở thành kẻ cướp rình mò tự do của hàng xóm. Số phận con người nhỏ nhoi như ngọn cỏ. Đức Phật ở Sài Gòn không còn ngăn nổi một cuộc chiến nhằm vào con người, mà Ajàtasattu mê đắm cưỡng đoạt Vajji, trong suy nghĩ chỉ còn nụ cười xã hội chủ nghĩa.
Thành phố không chỉ bị bao vây bởi những kẻ muốn dẫm lên đồng loại để giới thiệu mình, mà còn bị bao vây bởi những đoàn diễu hành quanh thành phố với những cái lưỡi nhọn. Nhà thơ Zbigniew Herbert có nhắc tôi rằng đó là những cái lưỡi được mài nhọn, chực chờ để dùng hiến tế đồng loại. Những trái tim dám mơ về tương lai hay dám bật ra điều mình nghĩ có thể bị treo lên trong nhiều tuần, chết khô với hoài bão.
Thành phố bị vây chặt trong ngày của Mẹ. Một ngày của mẹ đẫm máu đáng nhớ trong ký ức của những người yêu tự do. Những người đàn bà bị chà đạp trong tiếng reo hò của nắm đấm và của đoàn diễu hành lưỡi nhọn: những kẻ hèn nhát và đê tiện luôn cầm loa nói át đi sự thật, nhưng không bao giờ dám tự cật vấn về cuộc đời sâu bọ mà họ đang mang là loại sự thật gì.
Những loại đê tiện và hèn nhát đó, có thể là một kẻ nghe hóng và lập tức nói để khoe khoang sự phân tích khôn ngoan của mình, có thể là một tên chủ báo đêm đêm che mặt vào nhà thổ nhưng thích nói giọng đạo đức. Tất cả gào thét và cùng che giấu một sự thật, như là một người phụ nữ bị đánh đập trên đường phố Công xã Paris cùng con của mình. Mọi giọng hò hét bạo dâm đều lạc đi vì phấn khích do an toàn ngồi trước máy tính, chưa bao giờ dám đặt chân xuống vỉa hè để phỏng vấn một con cá, nhưng lại mừng rỡ vì mình được sơn màu công lý của kẻ mạnh.
Tôi nhớ Wislawa Szymborska, bà viết và để lại trong cuộc đời đã sống và chiêm nghiệm, về giống loài suy đồi, qua các triều đại cộng sản:
Không có gì đồi trụy hơn là suy tưởng. Cái thứ phóng túng này tràn lan như một giống cỏ dại mà gió đem lại trên một mảnh đất dành cho hoa cúc.
Không có gì là thiêng liêng đối với bọn người suy tưởng. Trâng tráo gọi mọi sự bằng tên, những phân tích bạt mạng, những tổng hợp sỗ sàng, theo đuổi như điên cuồng và phóng đãng những sự kiện trần truồng,mân mê thật bẩn thỉu những chủ đề dễ kích ứng.
Tôi viết vội bản tường trình về thành phố bị bao vây, mọi thứ được bỏ vào một cái chai, thả vào tương lai. Tôi gửi đi với niềm hy vọng chưa bao giờ mạnh mẽ hơn lúc này. Vì lẽ, cùng tiếng loa công cộng vờ điềm tĩnh kêu gọi trật tự để che giấu cho bạo lực phi nhân được kích hoạt, tôi nhận thấy những tiếng hát vang – đã ngày càng lớn – của những con người công chính về một ngày mới sẽ đến tốt đẹp hơn.
Tôi có gửi thêm trong chai một câu chuyện cổ xưa của người Ấn Độ. Câu chuyện kể về những ngày tháng thế gian dị động. Ngày tháng có rất nhiều dạng súc sinh mang hình dáng người, trà trộn vào trần thế để tung hoành nhưng chúng sớm bị phát hiện, bởi vẫn còn nguyên vẹn trái tim loài súc sinh. Tôi muốn nói rằng chúng tôi – thế hệ chúng tôi, có cả những người rất trẻ – đã từng kiêu hãnh vì thật sự là con người trọn vẹn nơi thành phố đó.
Nguồn: Tuấn Khanh's Blog
——————–
Các bản dịch thơ, do Diễm Châu, Hoàng Ngọc Biên, NXB Trình Bầy.
Phía sau ánh pháo hoa
21:22 |
Tuấn Khanh
Mấy người bạn làm việc ở thành phố, nói với tôi rằng năm nay họ muốn về quê sớm hơn thường lệ. Chỉ mới qua tuần đầu của tháng Chạp, đã thấy họ khăn gói lên đường. Hỏi ra mới biết, năm nay tiền thưởng Tết đâu có bao nhiêu, lo sợ vé xe tăng giá, ở lại thì vừa buồn, vừa thiếu cái ăn nên ai nấy lục đục về sớm. Túi tiền eo hẹp của người nghèo là kim chỉ nam tuyệt đối cho mọi thứ. Tết có thiếu thốn chút đỉnh thì ở quê nhà vẫn hơn.
![]() |
| Ảnh: kenh14 |
Nhiều năm rồi, chưa có thấy có cái Tết nào mà niềm vui trọn vẹn. Có năm người về quê chết ngộp trên xe, rồi có người bị xô xuống đường vì không đủ tiền, có người kẹt ở lại, ra đường bán hàng vặt vãnh cho qua một cái Tết… Tết Việt giờ sao luôn làm lòng người phân vân: Tiền không đủ cho gia đình, món ăn thì lo sợ độc hại, đó là chưa nói năm nào hết Tết, số thống kê người chết vì tai nạn nhiều như một cuộc chiến tranh không tuyên bố.
Cô bạn người người Bắc ngồi nhìn những ánh nắng cuối năm của miền Nam, nói rằng cô thấy nhớ nhà ghê quá. Nhưng mỗi lần về thì lòng cô lại ngổn ngang. Cuộc sống giờ rực rỡ hơn nhiều lắm, rực rỡ như một sân khấu nhưng khi hạ màn xuống thì cũng lắm quạnh hiu. Nắng vàng se se, long lanh của miền Nam cuối năm, làm cô nhớ biết bao những phông lạnh mù sương gắn những đốm hoa đào cô đơn, như những phận người lung lay trước gió.
Tết năm nay cũng vậy. Bên cạnh những bản báo cáo thành tích tự hào của nhiều thành phố, nhiều tỉnh… Thì các con số đói nghèo cũng tăng lên. Báo Tiền phong cho biết, Tổng cục Thống kê báo cáo rằng đúng mùa Tết này, Việt Nam có 5,3 ngàn hộ thiếu đói (tăng 15,2% so với tháng trước). Bản báo cáo này cho biết như vậy là có khoảng 21,4 ngàn người thiếu ăn.
Bất chấp các con số báo cáo thành đạt, luôn tăng trưởng và lợi nhuận hàng năm, so với cùng kỳ năm ngoái, số hộ thiếu đói tăng hơn 55% và số nhân khẩu thiếu đói tăng 46%. Đó là một bức tranh hiện thực mà Tổng cục Thống kê Việt Nam đã thông báo, công chính một cách đáng khen, dù có thể chưa dàn trải đủ.
Vậy là có một sự thật cần nói rõ: hôm nay, trên đất nước này, chúng ta còn rất nhiều người nghèo, còn rất nhiều cuộc đời cần được chia sẻ.
Trên các tờ báo, đầy thông tin về các tỉnh hối hả xin gạo cứu trợ, xin nợ lại tiền nộp ngân sách… nhưng lại thúc giục doanh nghiệp, từng gia đình… đóng góp để lấy tiền bắn pháo hoa đón xuân. Có tỉnh thì lập kế hoạch bắn pháo hoa lên đến tiền tỉ, có tỉnh thì vài trăm triệu đồng. Các quan chức luôn biện hộ rằng Tết đến, nếu không có pháo hoa thì thương dân chúng thiếu niềm vui. Thậm chí, loại tuyên bố này cũng có không ít người bám theo ủng hộ, với lập luận rằng dù nghèo, người đang đói cũng có quyền được hưởng thụ pháo hoa.
Thật ngạc nhiên với khả năng lãnh đạo và tư duy nghèo nàn của các quan chức, khi cho rằng pháo hoa là niềm vui cốt lõi của các vùng nghèo đói và khó khăn. Hầu như tỉnh nào cũng rập khuôn làm theo một mô hình, mà tin rằng vài phút hư ảo trên bầu trời đó, sẽ xoa dịu được phiền muộn của những người nghèo, cũng như làm giảm nhẹ đi sự quan tâm của dân chúng về việc yếu kém trong việc cầm quyền ở địa phương, khiến phải xin cứu giúp lương thực và nài nỉ, bòn rút tiền pháo hoa từ các doanh nghiệp địa phương.
Có thể các nhà lãnh đạo của từng địa phương ấy quên rằng, trong cái đói, cái rét của nhiều nơi đón mùa xuân này, nụ cười nhìn theo tiền của pháo hoa bay lên trời, có thể là những nụ cười chua chát.
Cũng có không ít lời nguỵ biện rằng không được tước đi quyền hưởng thụ của người nghèo: Họ đói nhưng họ cũng có nhu cầu xem bắn pháo hoa. Tôi đã từng chứng kiến những đứa trẻ không đủ áo mặc, đứng trên những núi rác tăm tối ở ngoại ô Thành phố Hồ Chí Minh và nhìn về ánh đèn màu rực sáng ở trung tâm, ban đêm. Giữa cái quyền được hưởng thụ sự hoa lệ xa xôi đó, chắc chắn những đứa trẻ nghèo vẫn chuộng hơn được một bữa ăn tử tế, được mặc quần áo đầy đủ và đi trên con đường đến tương lai hơn là sự ban phát ngắn ngủi và vô nghĩa.
Tôi đã chứng kiến những người bạn của mình, đến từ những vùng miền khác nhau, răng không thể nào trắng nổi vì lúc bé được cho uống trụ sinh mỗi khi bệnh. Trên vai họ không có những vết trồng trái chủng ngừa như những đứa trẻ thành phố chúng tôi. Những người bạn răng vàng ấy cũng đã từng nhìn thấy pháo hoa nhiều lần trong đời mình, nhưng cũng ao ước rằng phải chi trong đời mình từng được chủng ngừa như chúng tôi. Những ánh sáng pháo hoa mong manh ấy nếu được đổi bằng các liều thuốc cho lũ trẻ hôm qua và hôm nay thì đã có ích biết dường nào?
Quả đúng, là người nghèo, người đói cũng cần được hưởng thụ pháo hoa. Nhưng ít ra cũng không nằm trong một bối cảnh éo le như vậy. Và cũng đừng nguỵ trang cho một năm điều hành xã hội thất bại của các chính quyền địa phương bằng dăm phút pháo hoa. Người nghèo chắc chắn sẽ vui khi nhìn thấy pháo hoa, nhưng đó là một cuộc vui theo ý lãnh đạo, không có quyền lựa chọn thì đó chỉ là gán đặt.
Những người bạn công nhân của tôi vội vã về quê, chắc họ cũng không chờ đón pháo hoa lộng lẫy nơi thành phố. Mà họ chỉ muốn trong vòng tay gia đình, mà dĩ nhiên trong giấc mơ đời của họ, là một gia đình không còn đói nghèo, chứ không phải có đủ pháo hoa.
Cô bạn người Bắc của tôi nhớ hoa đào, nhớ bữa cơm với mẹ. Chắc cô ấy không mong pháo hoa bằng một bữa cơm giao thừa đầm ấm và no đủ cho gia đình mình. Đánh đổi điều ấy bằng pháo hoa – chắc là cô bạn ấy sẽ nói “không”.
Và cũng có khi, niềm vui cho người nghèo đó – như các quan chức vẫn tuyên bố, không hẳn là xác quyết từ một cuộc thăm dò chính thức nào đó, mà chỉ là lời biện minh cho những kẻ muốn được hưởng thụ, nhưng lại thích gán sự thèm khát của mình cho người khác.
Hung hãn và hèn nhát
15:19 |
Tuấn Khanh
Xã
hội Việt Nam đang rất sôi động. Một sức sống như đang bừng bừng trẻ
trung với bề ngoài của nó. Hào nhoáng. Chộn rộn. Mỗi ngày, khi trên báo
chí hay truyền hình ra một đề bài lá cải, khắp nơi nhộn nhịp tham gia
bàn tán như các cô cậu học sinh mùa thi được thử thách tâm sinh lý. Ở các
ngã tư đường, các quán nhậu, các diễn đàn facebook… đâu đâu người ta
cũng bàn tán về đề thời sự mới nhất. Một ông già hom hem ngấu nghiến hôn
cô gái trẻ được báo chí ghi lại, lập tức trở thành quốc sự. Nền dân chủ
lý sự tầm ruồng phất cao ngọn cờ ngời sáng với 2 phe: một bên thì đập
ngực đem tất cả vốn liếng đạo đức để chỉ trích, một bên thì chống nạnh,
viện dẫn mọi tư duy cấp tiến để nói rằng đó là chuyện bình thường, thậm
chí đáng yêu.
Quốc sự về nụ
hôn của một cụ già trỗi máu xuân tình dĩ nhiên không quên bàn về nước
dãi của cụ còn để lại trên gò má căng phính lông tơ của cô gái trẻ. Quốc
sự về hình ảnh đó cũng có đủ mọi lời bảo vệ bằng cách đưa ảnh một vị
lãnh tụ khác cũng hay hôn phụ nữ, đàn ông và trẻ con như một truyền
thống đáng noi theo. Dĩ nhiên, khi đã tranh luận, mỗi phe càng nói càng
hăng. Ngôn ngữ mỗi lúc một mạnh bạo, thậm chí rất hung hãn.
Sự hung hãn của
một dân chủ xã hội đầy sôi động đó cũng được mô tả bằng bản tin hơn
5000 người Việt đánh nhau đến nhập viện trong một mùa xuân cầu mong yên
lành. Sự hung hãn được chỉ định bằng việc giết heo trong lễ hội theo lối
yêu trảm (chém ngang lưng) du nhập từ đời nhà Tần phương Bắc sang Việt
Nam. Sự hung hãn được xác nhận như phần cần thiết của lễ hội mua thần
bán thánh, từ miệng của một quan chức cấp cao, phó chủ tịch Uỷ ban Nhân
Dân Sóc Sơn “Lễ hội không tổ chức phát lộc cho người dân nên ai muốn có phải cướp. Xô xát là bình thường”. Loại câu nói đủ biết hạng người nào, tri thức kiểu gì đang đứng trên đầu dân chúng.
Một khi chuyện
hôn hít của một ông già, chuyện đánh nhau vỡ đầu giành lộc, chuyện hung
hãn đánh nhau giữa đường rồi cùng nhập viện… nay đã trở thành quốc sự
hạng một, chiếm lĩnh mọi sự quan tâm của quốc dân, thì đó cũng là một
chỉ dấu của con đường đến mạt vận.
Người Việt hôm
nay dường như rất hung hãn trong những chuyện tự do ngôn luận dân chủ
tầm ruồng, bỏ quên hay tránh né về những điều nguy ngập khác, rằng Trung
Cộng đã dựng xong sân bay, pháo đài… trên biển, có thể đánh chiếm Sài
Gòn trong 24 giờ. Thế nhưng tướng quân đội Việt Nam thì tâm tư tha thiết
kêu gọi dân chúng không nên ghét bỏ kẻ đang lăm lăm cướp – giết tổ quốc
mình.
Người Việt hôm nay dường như rất hung hãn trong cách dùng
mọi học thuật để chứng minh đối phương đồi bại hay tiến bộ trong những
điều chỉ đáng liếc qua và lãng quên, nhưng giỏi cười qua loa với chuyện
các dự án bauxite thua lỗ trầm trọng mà vẫn phải tiếp tục, ngày đêm giao
nộp sang biên giới, giỏi giả lơ khi giá xăng được tuyên hô sẽ lên giá
không cần lý do, khi dầu thế giới chỉ có giá 50 USD/ thùng – mức giá
thấp nhất từ trước đến nay.
Người Việt hôm nay dường như đủ hung
hãn chém con heo ra nhiều mảnh, reo hò và tắm máu như thời các bộ lạc
dã man, nhưng hèn nhát câm miệng không dám bàn về tài sản các quan chức
tham nhũng đang đục ruỗng tổ quốc mình. Người ta im lặng hèn nhát khi
nghe những kẻ như Trần Văn Truyền chỉ bị kỷ luật giơ cao đánh khẽ, còn
những người tố cáo cái ác như ông Cao Kim Hoa, báo Người Cao Tuổi, đang
lao đao giữa trùng vây vô lại.
Cái cần phải
hung hãn, thì người ta đang chọn cách hèn nhát. Cái cần phải hèn đi thì
người ta ồ ạt xông lên: hung hãn giành giật thức ăn buffet, hung hãn
trói đánh kẻ trộm chó, hung hãn phán xét, nguyền rủa chung quanh như bản
thân mình là hiện thân của ngọn cờ đầu nhân nghĩa.
Hung hãn và hèn
nhát, hai mặt đối lập của số đông trong một nước, cho thấy sự sục sôi
của chủ nghĩa duy lợi đang lây lan như một loại virus trọng bệnh, mà tỷ
lệ nghịch với làn sóng đó, là sức sống còn cho một quốc gia.
Tham khảo thêm:
Nghe Xuân ca, nhớ nhạc sĩ Phạm Duy
19:10 |TMSS: quyền sống không chỉ là được sống theo nghĩa thân xác này còn tồn tại nhưng còn là sống trọn vẹn kiếp người trong tự do. Có lẽ đây cũng là điều mà Phạm Duy hay hôm nay NS Tuấn Khanh cũng đau đáu chia sẻ trong bài viết này.
------------------------------------
NS Tuấn Khanh
Chỉ đến khi một người bạn buồn buồn, nâng ly champagne và nhắc,
tôi mới giật mình nhớ rằng đã 2 năm ngày mất nhạc sĩ Phạm Duy. 2 năm
thoáng qua thật nhanh. 2 năm tre đã tận, măng thì vụng dại, người Việt
đã không có gì hay ho hơn trong âm nhạc, và vẫn phải lặng người khi ngồi
nghe lại những bài hát của một người tự nhận mình là người hát rong
bằng tiếng Việt, từ thế kỷ trước. Tưởng niệm một thiên tài, tự mình mở
lại bài Xuân Ca, tôi lại thấy trong đó muôn ngàn ngậm ngùi, không chỉ
cho người đã khuất mà cho một nước Việt mong manh mờ ảo.
Nhắc về Phạm Duy, có rất nhiều người thích nói về tục lụy trong đời
ông, nhưng tất cả thì vẫn phải lắng nghe. Âm nhạc của Phạm Duy là tiếng
lòng, là sách giáo khoa quốc túy, là câu chuyện kể đẫm gió bụi trần gian
của kẻ hát rong đi qua chiến tranh và nội loạn. Và dù như thế nào,
trong âm nhạc của Phạm Duy luôn văng vẳng một lời kêu gào ham muốn được
sống, được chạm vào một cảm giác của cõi trần gian, khao khát yêu thương
và hoan lạc với đời.
Xuân tôi ơi sức Xuân tôi còn khát khao
Dù nay, dù mai cũng như mọi ai chết trong địa cầu
Xuân muôn năm có ta Xuân còn hỡi Xuân
Thì xin, thì Xuân hãy cho tình nhân sống thêm vài lần
Câu hát về mùa xuân của Phạm Duy như hờn trách, như đau vì phải đời
người phai tàn theo năm tháng khi trái tim vẫn ngùn ngụt đam mê. Nghe
như có cái gì đó vọng lại từ đời mình, vọng lại từ những điều phù du yêu
dấu mà chính mình đã trãi qua. Cuối những năm 90, khi làm quen và trò
chuyện với ông, tôi mới nhận ra rằng sự tha thiết với cuộc sống vẫn cấu
cào ông, bất kể lúc nào. Có lần, buổi xế chiều ở Việt Nam, tức đã rất
khuya ở Mỹ, bất ngờ Phạm Duy gọi điện thoại về. Giọng ông thì thầm và
đau đáu “Ở Việt Nam còn ai nghe nhạc tôi không?”. Tim tôi thắt lại. Tôi
đã phải nói với ông rất nhiều rằng chính quyền và những quan chức dùng
bộ máy kiểm duyệt như một thứ hình phạt tùng xẻo với đồng loại mình thì
vẫn ráo riết thô bỉ, nhưng người dân vẫn đứng ngoài những điều đó, và họ
vẫn nghe, hát mỗi ngày. Nhưng dù vậy, có lẽ ông vẫn chưa tin lắm, tự
tay ông chép ra hàng loạt đĩa CD trên máy tính các bài hát của mình và
nhờ Duy Cường mang về đưa cho tôi, dặn rằng nếu có ai muốn nghe nhạc
Phạm Duy thì giúp ông, chia sẻ với họ.
Năm 2004, khi có cái lệnh quái gở về việc tất cả nghệ sĩ trên nước
Việt phải thi lấy giấy chứng nhận hành nghề, Sở Văn Hóa Thông Tin ở Sài
Gòn tổ chức các buổi giảng về chính trị bắt buộc tại rạp Hưng Đạo (đường
Nguyễn Cư Trinh, quận 1). Nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn, lúc đó là quyền giám
đốc Sở, đã tuyên bố đanh thép rằng có 4 cái tên được coi như xử bắn vắng
mặt, ai âm mưu chơi nhạc, truyền bá sẽ bị liên lụy, đó là Phạm Duy,
Hoàng Thi Thơ, Việt Dzũng, Nguyệt Ánh. Thế nhưng chúng tôi vẫn chơi Đưa
em tìm động hoa vàng, vẫn hát Tạ tình, và vẫn nghe Một món quà cho quê
hương. Âm nhạc vượt mọi rào cản và sợ hãi, dù bị hiến tế cho những mưu
đồ chính trị. Lúc đó, chúng tôi nghe chuyện Lộc Vàng ở Hà Nội đi tù vì
hát nhạc vàng, và ở Sài Gòn thì chúng tôi chứng kiến những bào hát cũ
trước tháng 4-75 bị gạch khỏi danh sách sản xuất của các hãng băng đĩa
nhà nước. Cũng lúc đó, tôi nhận được những bài hát mới của nhạc sĩ Phạm
Duy sáng tác rồi gửi về, trong đó có những bài phổ thơ từ những bài thơ
tình rất mới của nhà thơ Hoàng Hưng. Ông ký tên trên các bài hát mới với
bút danh là “Y Du”, tức tách từ chữ “Duy” và nói rằng nếu tôi nếu có
dịp thì cứ xuất bản, đừng ngại chuyện tác quyền. Lúc đó, cầm những bài
hát mà lòng tôi buồn vô hạn. Âm nhạc cứ phải lẩn khuất, âm nhạc chạy
trốn phục binh. Lời hát cứ phải cất lên trong vết cắt kẽm gai ứa máu.
Khi đó, còn đang làm việc ở báo Tuổi Trẻ, tôi hỏi ý người chủ biên
của mình là nhà báo Đoàn Khắc Xuyên về việc có nên làm một bài phỏng vấn
nhạc sĩ Phạm Duy hay không. Anh Xuyên trầm ngâm một hồi, rít thuốc, nói
“thôi cứ làm đi, nhưng để đó, rồi sẽ đến lúc”. Tôi gửi 41 câu hỏi cho
nhạc sĩ Phạm Duy với niềm hy vọng rằng một ngày nào đó, ông sẽ lên tiếng
dõng dạc quan điểm của mình trên báo chí trong nước. Ấy vậy mà, 2 năm
sau khi ông mất, khi xem lại những câu hỏi đó, tôi biết còn rất lâu nữa,
mới “đến lúc” như tôi và người chủ biên của mình hy vọng. Ngay khi ông
về nước, cười nói và bước qua những trò tuyên truyền chính trị, như cách
của một người già chìu lòng bọn trẻ con ngu ngốc để được yên, ông vẫn
giữ nguyên trên website của mình phần trả lời cho tôi, với sự dứt khoát
“Tôi chưa bao giờ là người Cộng Sản”.
Những lần gặp hiếm hoi, khi nhạc sĩ Phạm Duy đã quyết định về sống ở
Việt Nam, cho tôi một cảm giác rằng ông như đang hát phần Nắng chiều rực
rỡ trong đời mình, xuôi tay và chấp nhận mọi thứ để được nằm lại ở miền
quê hương tinh khiết trong trái tim ông. Con ngựa hoang tự do và mỏi
mệt chỉ mong được uống nước ở dòng sông cũ và không mong gì hơn là nghe
thấy âm nhạc của mình vang lên trong lòng dân tộc.
Tôi nghe Xuân Ca và nhớ lại một câu trả lời của ông mà bật cười một
mình. Phạm Duy ra đi để lại một gia tài âm nhạc cho đời Việt, để lại một
tính cách tự do ngông cuồng đủ cho các cuộc tán gẫu không thể dừng. Khi
tôi hỏi ông rằng có sự lý giải nào cho sự khác biệt giữa một Phạm Duy
đầy triết lý với những bài ca tâm linh, thanh thoát và một Phạm Duy rất
đời thường qua các bài tục ca hay không, ông trả lời rằng “Là nghệ sĩ mà
tự giam mình vào những đề tài hạn chế thì chán bỏ mẹ ! Nhưng đừng tưởng
rằng chỉ vì muốn thay đổi đề tài mà tôi soạn tục ca sau khi soạn tâm
ca. Tục ca rất đứng đắn (seriously). Hơn nữa nó phản ảnh đúng cái thời
đại mà ai cũng muốn văng tục”.
Kỷ niệm 2 năm, ngày mất nhạc sĩ Phạm Duy
(27-1-2013 / 27-1-2015)
(27-1-2013 / 27-1-2015)
Cafe cuối năm, internet
15:13 |
Tuấn Khanh
![]() |
| Tranh Internet |
Những buổi sáng cafe ở Sài Gòn 10 năm trước cho đến nay dường như
vẫn không có gì thay đổi. Vẫn ly cafe nhạt đó, những câu chuyện hỏi han
nhau lệ thường, những cuộc tranh cãi vu vơ giữa người với người để chứng
minh sự tồn tại như lẽ thật trên trần gian. Khác chăng là những đứa trẻ
đánh giày nhiều hơn, những người già vé số tuyệt vọng hơn. Và đặc biệt
lượng người trầm ngâm với điện thoại hay máy tính bảng ở mọi góc, ở mỗi
giờ.
Thế giới đã khác, những tờ báo giấy mòn mỏi và chậm chập như những
chuyến xe liên tỉnh không đến kịp thời gian. Con người Sài Gòn hôm nay
ngồi chạm lướt vào hiện tại tức thì để nói về cuộc sống của mình, buồn
phiền hay vui cười những tin tức chớp tắt từng giờ. Sài Gòn ngồi một chỗ
có thể nhìn mọi nơi, nghe những chuyển động của người Việt, có thể cười
cợt với những vận may hạnh phúc và cũng có thể chết lặng với những đảo
điên của giống nòi.
Lại một buổi sáng như mọi buổi sáng ở Sài Gòn, anh bạn làm trong
ngành toà án nói rằng từ internet, tin tức liên quan về luật pháp có thể
những người quan tâm đến stress nặng. Anh bạn làm báo thì kể có lúc anh
đọc tin, thấy những trái ngang đến mức bị trầm uất, ngồi hàng giờ ở nhà
mà không nói tiếng nào, đến mức gia đình lo sợ.
Là người, chắc không ai quên được vụ thảm sát công dân Ngô Thanh Kiều
ở Phú Yên (2014), mà thủ phạm lại là 5 công an viên do bức cung, nhục
hình, bất chấp nạn nhân kêu oan. Tin tức về sự kiện này thoạt đầu, báo
chí không đưa nhiều, thậm chí nương nhẹ, giấu bớt phần tội ác của các
công an viên. Thế nhưng tin tức trên internet bùng nổ lên tiếng, mang đi
hình ảnh những đứa trẻ đeo khăn tang, người vợ mang bức hình thi thể
dập nát của chồng mình kêu oan trước những ánh mắt nhân viên an ninh
trừng trừng vô hồn đe doạ. Có một bức ảnh được truyền đi trên mạng, cho
thấy đứa trẻ đang hôn vào di ảnh của cha mình. Nhiều người đã bật khóc
vì khoảnh khắc đó. Nhiều người như anh bạn làm ở ngành toà án hay nhà
báo của tôi, và cả tôi đã nhưng nghẹt thở khi nhìn thấy. Tíc tắc của
hình ảnh đó có thể theo tôi đến tận cuối đời như một lời nhắc nhở rằng
xứ sở mình, người Việt mình đã oan khiên như thế nào, và may mắn thay,
nếu không có internet, những điều như thế này sẽ không bao giờ chạm được
vào đời thường để được sẻ chia công lý.
Tin tức trên internet như một cuộc cách mạng thầm lặng và vĩ đại đã
thay đổi đất nước này, dù không phải ai cũng hân hoan đón chào nó. Trước
khi có internet, mọi thứ bị kềm hãm trong truyền hình và báo giấy, trở
thành một lá bài ma thuật muôn mặt với công chúng.
Những người bạn ngồi cafe gợi nhớ ngày tháng mọi thứ lệ thuộc vào các
bản tin nhanh. Từ bóng đá cho đến các sự kiện thế giới như Đông Âu và
Liên Xô sụp đổ, chiến tranh Vùng Vịnh… Dòng người nôn nao đứng trước
Thông Tấn Xã VN chờ mua vào lúc 4g chiều – những ngày tháng đó đã nói
hết mọi điều. Những bản tin một chiều, bị kiểm duyệt và thậm chí bóp méo
đã được nâng niu, bàn tán từng ngày. Cuộc sống trong một cái nồi đậy
nắp kín vẫn luôn đau đáu ngóng chờ một giây phút nào đó để nhìn thấy bầu
trời bên ngoài. Hôm nay thì mọi thứ đã thay đổi, dù cá mập có xuất hiện
từng đàn theo ước hẹn trước để cắn các dây cáp quang dưới lòng biển,
internet xoay tròn tìm kiếm, người ta vẫn tìm thấy đủ cách để tiếp nhận
thông tin quanh mình.
Không thể nào dừng được thông tin đến với mọi người, và càng không
thể che đậy hay ngăn chận. Vụ thảm sát ở Phú Yên lộ dần bộ mặt của các
ác và sự thống trị như cát cứ của chính quyền địa phương, đặc biệt là
ngành công an ở đó. Và cũng nhờ đó, mà người ta biết đến chân dung của
một người luật sư trẻ đáng kính trọng, Võ An Đôn.
Hãy hình dung vào 10 năm trước, nếu vụ án oan này xảy ra mà không có
internet, có lẽ số phận gia đình của nạn nhân Ngô Thanh Kiều sẽ nguy nan
biết mấy trước sự bao che, cấu kết lộ rõ ở vùng đất đó. Và luật sư Võ
An Đôn chắc cũng sẽ bị xô vào một góc tối khác, nơi công lý chỉ còn một
hình hài rách rưới và cam chịu.
Có thể anh Võ An Đôn cũng có một trái tim bình thường như mọi con
người khác. Anh cũng biết sợ hãi và biết mình đang đối diện với điều gì.
Khi bị cáo công an Lê Minh Phát nổi giận, đạp ghế và chửi bới trước toà
khi nghe án tù 6 năm của mình cho tội giết người, nhiều người đã lo sợ.
Và chắc anh Võ An Đôn cũng có một tíc tắc bất an nào đó. Ai cũng hiểu
hành động của viên công an giới thiệu một bộ mặt khác của Phú Yên, nơi
công an là trời, là núi cao, là cát cứ trong sự sợ hãi của dân chúng. Cú
đạp của viên công an chỉ là sự bày tỏ rằng vì sao có một loại công lý
nào đó có thể chạm được đến họ.
Vụ án kết thúc, nhưng đến năm 2015, cuộc trả thù đánh với vẫn dai
dẳng, khi các cơ quan tư pháp tỉnh Phú Yên liên hiệp với nhau loay hoay
tìm cách rút thẻ hành nghề của luật sư Võ An Đôn. Thậm chí đòi thanh tra
nơi làm việc của luật sư Đôn để “quét nhà ra rác”. Nhưng may sao, câu
chuyện này với các mặt phải-trái của nó đã nhiều đến mức mọi người đứng
về vị luật sư cô đơn ngay trên quê mẹ của mình. Bộ mặt quyền lực cát cứ
và dẫm đạp lên cả đồng loại mình bị xé toạc ra, lộ ra giòi bọ nhun nhúc
trong đó. Nhưng cũng từ đó, những người biết chuyện lại thêm sự lo ngại,
rằng cuộc chiến đó chưa yên, quyền lực đó vẫn sẽ âm mưu phục kích công
dân tử tế của mình một ngày nào đó để kiểm soát mọi thứ.
Tôi chưa một lần gặp mặt luật sư Đôn, chỉ thấy anh qua hình ảnh.
Trong sự rắn rỏi và quyết liệt của anh, dường như tôi còn nhìn thấy sự
liều chết của một kẻ đánh bom, muốn phá tan các bức tường che đậy tội
ác, bứt đứt những bàn tay đang nắm chặt với nhau vượt qua các giá trị
luân lý và nhân tính. Hôm nay, một phần bóng tối đó bị đẩy lùi không chỉ
bằng sự cao quý trong trái tim luật sư Đôn, mà còn cả truyền thông nhà
nước lẫn tự do cũng lên tiếng. Internet mang đi xa câu chuyện nhức nhối
đó, các câu chuyện cafe chia sẻ mạnh mẽ hơn. Sài Gòn xa Phú Yên hàng
trăm cây số, nhưng rất gần bởi cùng sự căm giận cho số phận con người.
Những buổi sáng trôi qua chầm chậm, giật mình lại thấy đã cuối năm.
Những câu chuyện từ internet thì dồn dập đến mức khó mà nhớ hết được,
nhất là khi mảnh đất Việt Nam này sáng nào mà không đọc thấy một chuyện
đáng ngậm ngùi. Trong tập cuối bộ phim Rurouni Kenshin, thầy của tay
lãng khách sát thủ đã nói rằng “sao nhìn con như đang mang giùm nỗi đau
cho cả đất nước này vậy.” Nhìn mặt của nhiều người tiếp nhận tin tức
buổi sáng cafe hôm qua và hôm nay, vẫn có thể thấy được những điều u uất
đó lởn vởn chung quanh. Nhưng nếu không là vậy, hoá ra, chúng ta đã trở
thành loài súc vật công cụ vô tri sao?
Tôi chép lại câu chuyện này như một thứ nhật ký, bằng một niềm hy
vọng nhen nhúm. Những ghi chép này như một thứ nhật internet ghi lại sức
mạnh của chính nó, ghi lại con người đã ra sao từ đó, và ghi lại một
phần những câu chuyện không bao giờ được quên lãng trên đất nước này.
Đây là một lời cảm ơn thầm lặng của tôi đến luật sư Võ An Đôn và chia
sẻ đến gia đình của nạn nhân Ngô Thanh Kiều. Và đây cũng là lời cảm ơn
đến những ai đã từng chia sẻ câu chuyện này và biến nó thành một sức
mạnh công lý của chúng ta.
Có mẹ, trong đêm dài trên quê hương
21:54 |
TMSS: Người mẹ nhỏ nhắn này không ngừng đi kêu oan cho con mình. Bà đã trường mặt ra với đời nhận mình là mẹ của tử tù và vững bước trên đường tìm công lý cho con. Năng lượng tình thương của người mẹ thật lớn lao. Mẹ mới là bác sĩ đầu tiên của con người. Bác sĩ xây dựng và bảo vệ sự sống đích thức. Hỡi các bà mẹ, hãy nhìn và hãy coi bà mẹ này! Hãy sử dụng thứ năng lượng chữa lành tuyệt diệu này thay vì hủy diệt lẫn nhau! Chúc mừng hai mẹ con vì khi đăng bài này, án tử đã được hoãn lại. Xin Chúa cho án này được hủy và cho mẹ con sớm được đoàn tụ trong an bình và tình yêu của đồng loại! Kính chúc!
-----------------------------------------
Nhạc sĩ Tuấn Khanh
![]() |
| Ảnh: chuaccuuthe.com |
Đêm ngày 5 tháng 12, chắc sẽ có 2 người không thể nào ngủ được, đó là
hai mẹ con tử tù Hồ Duy Hải. Họ không nhìn thấy nhau, nhưng những giọt
nước mắt chảy xuống sẽ có cùng một cảm xúc của đau thương và hy vọng.
Anh Hải chắc hẳn phải khóc ngàn lần, và cám ơn tạo hóa đã ban tặng
cho anh một bà mẹ tuyệt vời. Người mẹ rất đỗi bình thường như hàng triệu
người mẹ Việt Nam trên đất nước này, nhưng giữa nguy khốn, bà hóa thân
thành Phật Bà Quán Thế Âm, hóa thân thành Mẹ Maria, hóa thân thành một
kẻ điên khùng bất chấp tính mạng… để lăn xả vào giòng tuyệt vọng, kéo
đứa con mình khỏi án tử hình.
Người đàn bà với khuôn mặt không có gì đáng nhớ ấy đã khiến thế giới
phẳng của những người viết và đọc tiếng Việt phải xao xuyến. Chỉ trong
một vài ngày, gần như hình ảnh của một phụ nữ chan chứa lệ với tấm biểu
ngữ kêu oan cho con mình đã được chuyền đi từng trang facebook, trở
thành một sự kiện nóng bỏng đến mức giới truyền thông nhà nước cũng phải
quan tâm và cùng lên tiếng đòi xét lại vụ án của tử tù Hồ Duy Hải.
Nếu là một kịch bản phim, thì đó là một bộ phim nghẹt thở cho đến
phút cuối. Ngay khi những dòng chữ viết tay của ông Lê Quang Hùng, Phó
Chánh Án tòa án Nhân Dân tỉnh Long An xác nhận việc ngưng thi hành án
vào chiều ngày 4 tháng 12, mọi thứ bùng nổ thành một niềm vui chung của
đám đông. Trong rất nhiều ngày, Tòa án uy nghi của tỉnh Long An vẫn lạnh
lùng im lặng trước tiếng kêu gào lạc giọng của bà mẹ về những điều oan
ức bị gán trong cáo trạng, dẫn đến án tử của con mình. Trong những bản
video ghi lại, tràn ngập người xem trên You Tube, cho thấy bà Nguyễn Thị
Loan bị xô đẩy bởi công an gác cổng, bị miệt thị bởi các bài báo chủ
trương tuân phục các án lệnh mà không tìm hiểu.
Mỉa mai thay, bà mẹ đó đã làm tất cả, tìm đủ mọi chứng cứ cho thấy
kết quả điều tra bị đánh tráo, lẫn các kết luận sai về mẫu máu, tóc vân
tay… của con mình để xin trình lên tòa án, xin được xét lại những điều
kỳ lạ đang áp đặt cho con bà. Một người đàn bà nhỏ nhắn, yếu đuối đã
hành động như thay một bộ máy tư pháp để chỉ xin những người có trách
nhiệm ghé mắt qua. Bà Loan đã trãi qua nhiều đêm rất dài không ngủ, bà
đã khóc cạn nước mắt. Đổi lại, bà chỉ nhận được một câu trả lời từ phía
tòa là muốn con mình được xử tử bằng súng hay tiêm thuốc độc.
Từ câu chuyện của người tử tù Nguyễn Thanh Chấn cho đến Hồ Duy Hải,
quy trình tố tụng của tòa án Việt Nam đang bộc lộ những mảng tối ghê sợ.
Ép cung, tra khảo, thay đổi kết quả điều tra… tất cả mọi thứ lộ dần.
Con người không tìm thấy công lý trước tòa án của quê hương mình, mà chỉ
thấy sự sợ hãi và nhận thức rõ thêm thân phận mình không là gì. Lúc
này, đang có bao nhiêu án oan đang rãi khắp các trại giam Việt Nam? Bao
nhiêu tử tù đang cay đắng vì không thể tìm thấy công lý cho mình? Đêm 5
tháng 12, Hồ Duy Hải có thể đã khóc trong trại giam vì hạnh phúc tạm
thời, nhưng có bao nhiêu tù nhân đang âm lặng rơi nước mắt đau tủi cho
phận mình?
Có tin rằng, lệnh hoãn thi hành án ngày 4 tháng 12, không phải đến
tay bà Loan đầu tiên, mà đến trước ở giới truyền hình. Thậm chí, người
ta đã định chỉ đến giờ phát hình buổi tối mới công bố như một show diễn
gây xúc động, tạo bất ngờ cho bà Loan. May thay sự đồi bại giả định đó
đã không diễn ra.
Nếu phải cảm ơn ai đó cho phần đầu của vở kịch công lý này, thì đó là
đám đông vô danh trên thế giới phẳng. Họ đã làm tất cả để cứu sống một
mạng người, đã cùng rơi nước mắt và khổ đau cùng một bà mẹ quê chưa bao
giờ giáp mặt trước đó. Trong những đêm đầu tháng 12, đến tận 2 giờ sáng
vẫn có những status mới trên facebook truyền tin, kêu gọi, nhắc nhau ký
tên vào bản petition đòi xét lại vụ án Hồ Duy Hải. Hành động của viên
phó chánh án hay ông chủ tịch nước rất thức thời khi quyết định hoãn
phiên xử tử, nhưng mặt khác, đó cũng là một chiến thuật, tránh một cuộc
khủng hoảng cho một hệ thống đã lụn bại trước sự tức giận của đám đông
ngày càng lớn và khó kiểm soát.
Nhưng câu chuyện vẫn chưa dừng ở nơi đây. Hoãn thi hành án, tức làm
giảm sự căng thẳng của vấn đề, nhưng chưa có nghĩa là công lý đã được
thực thi. Mọi thứ vẫn còn ở phía trước. Đêm vẫn còn rất dài trên quê
hương này, và trong trái tim lương thiện của mỗi con người Việt Nam vẫn
cần thắp lên một tia sáng cho hy vọng và công lý. Có lẽ chúng ta vẫn sẽ
còn thấy bà Nguyễn Thị Loan ôm biểu ngữ đứng trước tòa nhiều ngày tháng
nữa, cho đến khi sự thật được tìm thấy. Hãy cảm ơn bà mẹ đó, và ngưỡng
mộ như đó là mẹ mình. Vì khi bị bao vây giữa đêm đen tuyệt vọng, ơn trên
đã ban tặng cho chúng một thiên thần với tên gọi là mẹ.
Kể cả những viên công an đã xô đẩy bà Loan trước cổng tòa án, các tác
giả bài viết phụ họa cho án tử của Hồ Duy Hải, thậm chí cả những nhân
viên đã làm sai quy trình trong vụ án của Hồ Duy Hải… hãy tự cám ơn đời
mình, vì một lần được chứng kiến điều kỳ diệu từ người mẹ.
Từ những gì đã mất
15:39 |Từ những gì đã mất
Nhạc sĩ Tuấn Khanh
Nhậu say trong một buổi tiệc, viên phó công an xã đi đến nơi có 2
người phụ nữ không hề quen biết đang ngồi, và ôm hôn. Khi bị phản ứng,
viên công an này lại tiếp tục ôm hôn người thứ hai, đồng thời nói chắc
nịch và thách thức rằng muốn biết ông ta “là ai” thì cứ lên công an xã.
Tức giận vì sự càn quấy này, hai người phụ nữ đi lên công an xã Giao
Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, nơi họ cư ngụ để hỏi cho ra lẽ.
Không ngờ tất cả những viên chức nơi đó dù chưa kịp nghe lý lẽ, đã đều
đứng về phe viên công an, nạt nộ họ như tội phạm. Thậm chí, sau đó công
an ở xã còn còng tay họ và lên gối vào mặt người phụ nữ dám lên tiếng về
quyền của mình. Câu chuyện được kể lại, tưởng chừng như trong một vở
tuồng tố cáo chế độ phong kiến xa xưa nào đó, thế nhưng mỉa mai thay,
lại mới vừa diễn ra trước đám đông dân chúng trong một ngày tháng 11
này.
Những câu chuyện kể như vậy cứ xuất hiện ngày càng nhiều trên các
trang báo. Nhiều như trên một gương mặt của một xã hội xuất hiện những
vết thẹo không thể xoá và quay quắt. Những vết thẹo làm căng thêm nỗi
đau về một xã hội ngày càng bất an, trong đó, thật khó tả khi nỗi bất an
lại xuất hiện từ quyền con người của phụ nữ Việt Nam đang ngày càng
mong manh trong thời hiện đại. Trong lời tâm sự của chị Nguyễn Thị Mai
Thy, sinh năm 78, khi thấy tất cả cán bộ và công an ở trụ sở tay bắt mặt
mừng với nhau và nạt nộ chị, chị Thy và người bạn đã “ngao ngán và biết
chắc có thưa, trình bày thế nào cũng không ăn thua”. Khổ nổi, danh dự
và niềm tin vào lẽ phải vẫn thúc đẩy chị lên tiếng và gánh lấy hậu quả.
Cũng trong những ngày đầu tháng 11, tin tức cho hay một ca sĩ nữ có
tên tuổi ở Việt Nam sang Mỹ trình diễn, đã nhờ luật sư gửi thư đến một
toà báo lớn ở thành phố Westminter, Mỹ để khởi kiện vì có bài viết mô tả
về đêm diễn của cô với cộng đồng người Việt khiến cô không thấy hài
lòng. Đơn kiện này đòi tờ báo phải xin lỗi, dựa trên quyền danh dự cá
nhân và nghề nghiệp của cô. Điều đáng nói là, người ca sĩ này trước đó ở
Việt Nam, nhiều năm liền cô bị báo chí và vài cá nhân trong ngành thời
trang phê bình, tấn công thậm tệ, nhưng không thể nào đáp trả được. Ngay
trong một xã hội mà lúc nào hình ảnh người phụ nữ cũng được ngợi ca là
bình đẳng và phát triển, một ca sĩ tên tuổi cũng từng phải ngậm đắng
nuốt cay chịu đựng khi bị chà đạp, thì thử hỏi tại miền tỉnh lỵ xa xôi,
một phụ nữ vô danh sẽ phải làm gì khi bị bủa vây xúc phạm?
Phải chăng những người phụ nữ phải đi thật xa mới tìm thấy được công
lý cho đời mình? Những dòng tin về các người chồng Đài Loan, Hàn Quốc
đánh vợ Việt Nam phải ra toà, phải bồi thường… có khi lại là một niềm an
ủi cho phụ nữ Việt Nam mỗi ngày vẫn nhìn thấy các bài diễn văn vô nghĩa
về quyền bình đẳng giới, quyền của phụ nữ. Một người có quê cũng từ Bến
Tre lưu lạc lên thành phố, kể rằng chị từng có quán cà phê yên ổn. Cho
đến một ngày viên công an xuất hiện với nghi ngờ rằng chị bán ma tuý.
Trong phòng thẩm vấn, chị bị đánh bằng những cuốn sách dày vào hai thái
dương đến ngất đi mà không biết vì sao. Sự việc sau đó tìm ra thủ phạm,
nhưng chị không hề có được một lời xin lỗi, thậm chí còn bị đe doạ là
không được lên tiếng với bất cứ ai, ngay tại quê nhà của mình.
Có thể cuộc sống đã khiến con người quen với băng-rôn, quen với tiếng
vỗ tay ồn ào huyễn ảo… và rồi chỉ còn biết thì thầm với những nghịch
cảnh bất toại diễn ra trước mắt mỗi ngày. Trong những bài báo mô tả về
việc khám phá các động mại dâm, hình ảnh và tên tuổi của những cô gái
đang bị coi là kẻ xấu luôn được trần trụi giới thiệu, minh bạch như một
khoái cảm của một nền báo chí nhiều nhục dục hơn công lý. Quyền và phẩm
giá của phụ nữ Việt sẳn sàng bị trả về không, mỗi khi có cơ hội. Gần
đây, việc khám phá một nhóm nam nữ vị thành niên ở Đà Nẳng sống quan hệ
chung chạ lẫn nhau, báo chí không ngại ngần khi rõ tên họ, năm sinh từng
em, trong đó có những em chỉ vừa 15, 16 tuổi. Chắc chắn dù có bị trừng
phạt, những đứa trẻ đó mãi mãi không còn bao giờ tin vào hai chữ “giáo
dục”, một khi chúng đã không còn tìm thấy bàn tay nâng đỡ mà chỉ có sự
chà đạp thú tính và không thương tiếc.
Một trong những kiểu hình ảnh không khó gặp trên các trang mạng, là
khi các cô gái bị bắt vì tội mại dâm hay bia ôm… nhiều cô gái không còn
một mảnh vãi che thân phải chịu đựng cho máy quay phim chĩa vào người
soi mói một cách bỉ ổi. Hoặc cũng thiếu những hình ảnh các cô gái gục
đầu che mặt trong quán bar, nhà nghĩ khi công an ập vào. Nếu đó là những
bức ảnh “nghiệp vụ”, thì tại sao lại có thể lọt ra ngoài và được phát
tán với một niềm khoái cảm như vậy? Trên những bài báo mô tả về mại dâm,
người đọc giờ chỉ còn nhìn thấy sự mô tả tồi tệ như mua vui về những
người phụ nữ hơn là tìm hiểu với trái tim con người. Những kẻ mua dâm
luôn được che chở, còn những người bán dâm thì bị hành hình bởi ngôn từ
và hình ảnh. Có lẽ vì vậy mà nhiều năm nay, người Việt không còn khả
năng nói về người Việt đủ nhân ái bằng một phóng sự của nhà báo Pháp
Mathieu Bruckmuller trên tờ The 20 Minutes, khi buồn bã mô tả về những
người phụ nữ nghèo khó ở quận 6, Sài Gòn, bán dâm để lấy 3,4 USD trên
những chiếc chiếu tạm, gần đó là những đứa con của họ.
Dĩ nhiên, cuộc sống luôn có hai mặt của nó. Thế nhưng nếu hai mặt là
hai cực nằm xa thăm thẳm nhau, thì lại là một khía cạnh khác giới thiệu
về một căn bệnh của xã hội thích giả tạo và chối từ sự thật. Bớt đi
những khẩu hiệu hừng hực về giá trị và quyền của phụ nữ, dành thêm thời
gian thật để tôn trọng phẩm giá và công lý vốn đã quá mong manh cho
những người em, người mẹ, người chị… là điều cần thiết lúc này. Biết
trân trọng quyền con người, thật sự, ở từng sự kiện nhỏ nhất, đôi khi là
cách gần nhất để dựng lại nền móng đã hoang tàn. Những nền móng của sự
tử tế và nhân cách tốt đẹp của người Việt hôm nay, mong manh và dường
như đang mất.
________________________
Tham khảo
Tham khảo
Ghi chép về những cái tên
15:35 |Ghi chép về những cái tên
"Ở đâu cũng cũng vậy. Nếu anh được gọi là công dân mà không có đủ quyền cho riêng đời mình thì còn gì là văn minh?”
Nhạc sĩ Tuấn Khanh
Trên đường rong ruỗi, ngẫu nhiên quen biết một anh bạn người Việt
từng là triệu phú ở Pháp. Anh kể cho tôi nghe chuyện anh làm ăn cực nhọc
trong hơn chục năm, may mắn trúng nhiều thương vụ, và trở thành triệu
phú ở độ tuổi 30. Thế nhưng chẳng may khi đến Mỹ, lao vào Las Vegas chơi
đỏ đen, anh trắng tay và phải làm lại từ đầu.
Anh bạn kể chuyện đời, rồi nói chuẩn bị đi đổi tên “xả xui”, bắt đầu
một cuộc đời mới. Chuyện đổi tên ở nhiều nước trên thế giới rất dễ dàng,
có nơi chỉ cần 15 phút, có nơi khó khăn thì khoảng 1 giờ. Ai thích đổi
tên gì thì tuỳ. Thậm chí đặt một cái tên nghe như Châu Phi hay Trung
Đông cũng chẳng sao.
Ngạc nhiên về một hệ thống hành chánh cho phép thay đổi danh tính quá
nhanh gọn như vậy, tôi tò mò hỏi thêm thì bị anh bạn cười chọc. “Đó là
quyền của mỗi cá nhân. Ở đâu cũng cũng vậy. Nếu anh được gọi là công dân
mà không có đủ quyền cho riêng đời mình thì còn gì là văn minh?”, anh
bạn này nói.
Câu chuyện gợi nhớ về nghĩa trang đồng nhi ở Gia Lai. Nghĩa trang của
một người bạn tự bỏ tiền ra xây từ nhiều năm trước, nay thì hai bên đồi
đã có hàng chục ngàn ngôi mộ nhỏ. Những dãy mộ được phân biệt giới tính
bằng cách nếu là nam thì sơn xanh, nếu là nữ thì sơn màu hồng. Anh bạn
không đủ sức đặt tên riêng cho vô số những sinh linh bị lìa bỏ trước khi
nhận biết thế gian như vậy, nên trên các bia chỉ ghi chung Nguyễn Vô
Danh và Nguyễn Thị Vô Danh. Một chiều mưa rất lạnh và âm u, đứng giữa
nghĩa trang đó, tôi tự hỏi nếu như từ lớp lớp mộ phần đó, những đứa trẻ
hồi sinh, chúng sẽ rũ bùn đất, đứng dậy, ùa chạy vào cuộc đời hay nhẫn
nại xếp hàng để chờ được đặt một cái tên đúng cho mình?
Nghĩa trang đó cũng không có tên, người bạn lập nên nghĩa trang cũng
từ chối giới thiệu tên mình ra ngoài. Hàng ngàn sinh linh nằm trên những
ngọn đồi và hoa dại cũng không có tên. Những cái tên không làm nên cuộc
sống. Tên chỉ thật sự là việc xác lập ước lệ quyền nhân thân, xác lập
sự khác biệt tương đối của cuộc sống giữa người với người. Nhưng ở ngọn
đồi đó, ngay cả những cái chết cũng không cần có tên để giới thiệu sự
tồn tại.
Dự luật đòi phải pháp lý hoá, quy chuẩn những cái tên phải thuần Việt
của đại biểu Nguyễn Thị Nhung trước quốc hội, cuối tháng 10 mới đây, đã
khiến nhiều người phải ngẫm nghĩ và mỉm cười. Chỉ mới là cái tên thôi,
giờ đây đã là gánh nặng mỏi mệt và nhiêu khê thủ tục của một kiếp sống.
Tên không còn là tên, mà tên đã trở thành một mã số chuẩn được chấp
nhận. Rồi biết đâu, nay mai, thành công của dự luật này sẽ thúc đẩy sự
việc phát sinh dự luật thuần Việt cho súc vật, không được đặt tên người
cho chó mèo?
Cũng ở Gia Lai, câu chuyện về những đứa trẻ mồ côi may mắn có được
tên trên giấy tờ có thể sẽ gợi mở được nhiều điều để suy ngẫm. Vài năm
trước, một Dì phước (soeur) trẻ chăm sóc trẻ mồ côi ở Cô nhi viện trên
thành phố Pleiku kể rằng mỗi năm, nơi này cứu không biết bao nhiêu trẻ
bị bỏ rơi. Có những đứa trẻ người dân tộc thiểu số bị chôn sống theo mẹ,
khi cứu được thì phải mất gần cả 2 tuần lễ những vết kiến lửa ăn quanh
mắt mới gần lành.
Những đứa trẻ này khi 15 tuổi, được cô nhi viện dẫn đi làm giấy tờ
cũng gặp không phải là dễ. Rất nhiều em bị từ chối không cấp chứng minh
nhân dân với lý do không khai sinh, không rõ nhân thân. Các dì phước
phải nhờ những người dân tộc đứng ra nhận chúng làm con, lấy họ người
dân tộc để có mảnh giấy ra đời. Rất nhiều đứa trẻ người Kinh đã mang
những cái họ không thuần Việt vì nhiều người dân tộc thiểu số của họ có
họ theo tên thánh, hay những cái họ bằng tiếng Pháp, tiếng Anh… truyền
đời từ những ngày đầu bước vào thế giới văn minh đến nay. Cũng may là
chúng đã bước vào đời, dù cái tên không thuần Việt.
Tôi lại nhớ cuốn sách mình vừa đọc của tác giả Trà Vigar, nhớ những
bức ảnh của Ina Jara, nhớ giọng ca Ksor Đức, Danh Nay, David Boo… Những
người bạn dân tộc thiểu số trên đất nước này, với suy nghĩ rằng những
cái tên của họ đa dạng và đẹp đẽ, chứ không phải là những cái tên để đón
nhận sự phán xét.
Khi viết đến những dòng cuối của bài viết này, tôi nhìn thấy một
người Mỹ già cầm tấm bảng xin tiền, ghi trên đó là một người không nhà
cần giúp đỡ. Bỏ vào tay ông mấy đồng, hỏi thăm tên ông. Người ăn xin đó
lịch sự hỏi lại tên, và tò mò “anh là Trung Quốc hay Nhật”. Sau khi biết
là người Việt, ông ta cẩn thận hỏi lại cái tên, vì khó đọc “Kane?”. Tôi
gật đầu cười và bước đi. Cái tên có quan trọng gì đâu, chỉ cần biết tôi
là một người Việt, đã tốt rồi.





