Home » Tham Nhũng
BÁN ĐẤT BÁN NƯỚC BÁN CẢ ĐƯỜNG ĐI
16:51 |BÁN ĐẤT BÁN NƯỚC BÁN CẢ ĐƯỜNG ĐI
Vương Trí Dũng
|
Đi
trên những bãi biển đẹp mênh mông của nước Mỹ tôi từng ngậm ngùi nghĩ
đến nhiều bờ biển rất đẹp của Việt Nam đã bị kẻ cầm quyền đem bán, đến
nỗi không nói đến việc tìm ra đường lội xuống nước để bơi là bất khả
thi, muốn đi dạo chơi trên cát cho thư thái chốc lát cũng không được
nữa. Bây giờ, đám chức sắc đã xướng lên việc bán đường đi. Nghĩa là các
vị ấy đã túng quẫn lắm rồi đấy, bao nhiêu thứ bán được trước đây, con
cái, phe nhóm họ đã ăn tiêu bằng sạch. Chao ôi, nghĩ đến mà thấy cảm
thương!
Lại nhớ chí sĩ Phan Bội Châu, ông có viết trong cuốn Việt Nam vong quốc sử
chuyện thực dân Pháp lừa dân chúng ở một vùng quê nọ bán trời cho
chúng. Bán xong thì ngồi trong nhà cũng là ngồi vào trời của Đại Pháp,
đi ra sân cũng là đi trong trời của Đại Pháp, cùng cực đến nỗi lại phải
cùng nhau vét sạch sành sanh của cải để đi chuộc trời về. Với tình thế
này, dám chắc người dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng
sắp đứng trước thảm họa bị bán trời đến nơi, bởi các ông ấy đã như
những con nghiện hêroin thời kỳ cuối, có gì mà không bán chứ.
Các
ông các bà Dương Nội và tất cả bà con những vùng miền bị cướp đất trắng
tay trong nước ta ơi! Xin hãy tính trước sớm đi, mất đất thì vẫn kéo
nhau đi ăn xin được, còn mất đường thì đội quân bị gậy biết đặt chân vào
đâu để hành nghiệp? Chắc phải xắn cao quần lội xuống các bờ mương mà đi
rồi. Nhưng đến khi mất trời thì nguy quá, chắc phải tìm sông lạch mà
lặn mà vùi, chỉ để hở hai con mắt là còn yên thôi.
Âu
cũng là cái số trời đã định từ khi ông lạc Long Quân chia tay với bà Âu
Cơ. Đang yên lành trên mảnh đất trung du của mình, bỗng hứng lên đem 50
con đi tuột xuống nước mà ở. Kể ra, Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa và
phát huy truyền thống lịch sử 4000 năm đến thế là tuyệt đỉnh. Cực lực
hoan hô!
Nguyễn Huệ Chi
|
Phát
triển kinh tế trong thời kỳ hội nhập cần sự hợp tác đầu tư
với nước ngoài là đương nhiên. Hơn thế nữa, cần phải sử dụng
công nghệ, học hỏi kỹ năng quản lý, và tận dụng vốn của nước
ngoài để thu được lợi ích nhiều nhất, nhưng phía mình lại bị
tổn thất ít nhất. Đó là bài toán tối ưu cửa miệng. Ai cũng
nói được nhưng không phải ai cũng làm được.
Nhìn
lại thực tế những gì mà chúng ta đã làm từ khi bắt đầu
chính sách mở cửa trong suốt hai mươi năm qua, thì rút ra được
một số kết luận cay đắng sau đây.
1. Chúng
ta không thu được gì nhiều và không học được gì đáng kể ngoài
việc đã bán đi tất cả những gì có thể bán
Bán đất
Những
vùng đất đai có phong cảnh đẹp hay đắc địa đều được bán cho
người nước ngoài đầu tư, thời hạn thông thường là năm mươi năm.
Nếu họ mang tiền đến phát triển sản xuất thì còn khả dĩ,
nhưng phần lớn đó là các dự án dịch vụ, địa ốc. Nghĩa là
họ lấy đất xây nhà để bán cho chính người Việt Nam, và tổ
chức các dịch vụ để thu tiền của chính người Việt Nam. Tiếc
thay, các dự án bán đất kiểu này, có thể mang lại sự phát
triển bề mặt, nhưng không mang lại giàu có bền vững đích thực
làm cho đất nước hùng cường.
Lấy một thí
dụ điển hình như thành phố Đà Nẵng. Không phủ nhận sự thay
đổi khang trang của thành phố và đời sống người dân phần nào
cải thiện trong thời gian đổi mới. Nhưng sau hai mươi năm mở cửa
hội nhập, nền công nghiệp Đà Nẵng có được những gì đáng giá?
Từ thí dụ của Đà Nẵng để mà suy nghĩ và không thể không xót
xa về sự phát triển của đất nước.
Bán tài nguyên
Không
cần phải liệt kê cụ thể. Không có loại khoáng sản nào mà
chúng ta không nhanh chóng đem bán. Thậm chí đến khoáng sản khai
thác lỗ và mang lại nhiều hậu quả tai hại như bô xít Tây
Nguyên mà cũng vội vã đem bán tất.
Bán nước
Không
chỉ bán khoáng sản, không chỉ bán rừng, mà chúng ta bán cả
nước sông hồ và biển. Nhiều hồ đều bị bán quyền sử dụng khai
thác trong nhiều năm. Ở Vũng Áng chúng ta bán đi cả hàng ngàn
héc ta biển. Đến Vịnh Hạ Long cũng có người muốn bán quyền
sử dụng khai thác. Bán đất, bán rừng, bán tài nguyên khoáng
sản và bán cả nước.
2. Chúng ta đã bán một cách vội vã lấy được
Nếu
bán có chọn lọc cân nhắc thì còn chấp nhận được, nhưng dưới
bình phong đầu tư phát triển, chúng ta đã bán tràn lan khắp
mọi nơi có thể. Nguyên nhân là nhiệm kỳ lãnh đạo chỉ có hạn,
nên trong nhiệm kỳ phải tìm mọi cách để bán bằng được các dự
án đất đai và tài nguyên. Hiện tượng này phổ cập ở tất cả
các tỉnh thành, từ trung ương cho đến tỉnh huyện xã.
Chẳng
hạn, mỏ sắt Thạch Khê Hà Tĩnh chưa khai thác bây giờ thì đời
cháu chắt hay nhiều trăm năm sau sẽ khai thác cũng chưa nuộn.
Vội vã chi mà phải hấp tấp bán cho nhà đầu tư Đài Loan Trung
Quốc với những ưu đãi đặc biệt và ẩn chứa những hậu quả an
ninh khôn lường? Tại sao người Đức người Pháp không đầu tư mà
lại là người Trung Quốc?
Lãnh đạo Hà
Tĩnh và Chính phủ Việt Nam có ý thức rằng mình đã vội vã
bán rẻ mạt tài nguyên mà cha ông để lại từ ngàn đời? Người
Đức người Nhật có làm giàu bằng cách bán tháo tài nguyên của
tổ tiên để lại hay không? Lãnh đạo Việt Nam có biết không khi
chính người Trung Quốc đang đi mua tài nguyên các nước khác thì
họ lại đang chắt chiu để dành nguồn tài nguyên trong nước?
3. Chúng ta đã bán dài lâu đến hết cả đời cháu chắt
Vũng
Áng đã được cho thuê 70 năm. Nghĩa là nếu bố và mẹ lúc 61
tuổi nghỉ hưu đã cho thuê đất 70 năm, thì con 41 tuổi, cháu 21
tuổi và chắt 1 tuổi, đợi đến 70 năm sau đều không được quyền
sử dụng đất. Lúc đất được trả về thì chắt đã 71 tuổi, và
người chít đời thứ 5 cũng đã 51 tuổi, mới được nhận lại
quyền sở hữu đất!
Vậy mà có người còn dự định bán đất 99 năm, và thậm chí là 120 năm.
Nếu cha ông đều bán đất kiểu đó thì thế hệ bây giờ ở đâu?
4. Không chỉ bán đất bán nước chúng ta đang bán cả đường đi
Ai cho phép Bộ giao thông vận tải và VEC bán đường?
Những
ngày gần đây báo chí đồng loạt đưa tin rằng Tổng công ty phát
triển đường cao tốc Việt Nam đang chuẩn bị bán một số tuyến
đường cao tốc. Thoạt nghe đã rùng mình.
Khi
bán đi những khu đất, những cánh rừng, người dân buộc phải di
cư sang những nơi khác, dẫu là hẻo lánh cằn cỗi, nhưng vẫn còn
có chỗ để ở và mưu sinh.
Khi bán đi hồ
nước sông ngòi và cả từng vùng biển, người dân phải dạt sang
vùng nước khác, dẫu sóng gió nguy hiểm, nhưng vẫn còn có chỗ
để mò cua bắt cá mà tồn tại.
Nhưng nay
lại bán đi cả đường sá, quyền đi lại của người dân không còn
nữa. Không thể ngồi ở nhà, mà muốn đi ra thì phải trả tiền
theo giá tùy tiện. Ngày xưa đường nhỏ gồ ghề, chịu khó còn đi
được. Nay đường to rộng nhưng không có tiền đành phải bó chân.
Nói
một cách cụ thể hơn. Ở thôn có con đường làng dân vẫn đi lại.
Nay bỗng chốc trưởng thôn bán cho người khác xây to hơn. Ai muốn
đi phải trả phí theo giá của chủ mới. Nếu không phải lội
xuống ruộng vượt rào hay tìm đường mà đi.
Bởi vậy, người dân có quyền thét to lên rằng:
Hãy
trả đường cho dân đi, nhỏ hay xấu cũng là đường của dân, tại
sao lại lấy mất đường của dân rồi bắt dân muốn đi thì phải
trả tiền theo giá tùy ý của các ông?
Trong số tiền mà các ông xây dựng đường có bao nhiêu tiền thuế dân đóng?
Trong số tiền mà các ông xây dựng đường dân sẽ phải gánh chịu bao nhiêu nợ?
Ai cho các ông quyền lấy đất của dân làm đường rồi lại bán cho người khác?
Có ai trong Bộ Giao thông Vận tải đặt ra những câu hỏi tương tự?
Xây dựng đường cao tốc hình thức BOT ở đâu ?
Hệ
thông giao thông là huyết mạch của quốc gia. Nó không chỉ là
huyết mạch về kinh tế mà còn là huyết mạch an ninh quốc gia.
Bởi vậy quốc gia phải nắm quyền kiểm soát hệ thống giao thông
chứ không thể là người nước ngoài.
Nếu
VEC bán đường cao tốc Lào Cai – Hà Nội cho người nước ngoài,
thí dụ là Trung Quốc, thử xem điều gì sẽ xẩy ra? Trong vô vàn
khả năng có thể, chỉ xin nêu ra vài điều:
- Lệ phí có thể lên cao ngất phục vụ cho lợi ích của chủ mới, bất chấp thiệt thòi của dân địa phương.
-
Dùng lệ phí để cản trở, hoặc điều tiết luồng giao thông,
chủng loại giao thông, thời gian giao thông theo ý định của chủ
đường. Chẳng hạn như: xe Trung Quốc có thể có lệ phí khác với
xe Việt Nam, xe quân sự khác với xe dân sự, xe chở lương thực
khác với xe chở khách, xe chạy đêm khác với xe chạy ngày…
-
Khai thác đường tối đa, thu hồi vốn thật nhanh, bàn giao lại
cho nước sở tại con đường nát rách không thể sử dụng.
- Nắm được số liệu, quy luật, và thực tế dòng vận tải giao thông của một vùng lãnh thổ nước khác.
- Nước sở tại mất quyền chủ động trong những trường hợp thiên tai, nhân đạo, chiến tranh…
Bởi
vì thế, các quốc gia rất hạn chế trong việc cho người nước
ngoài tham gia xây dựng giao thông dưới dạng BOT. Muốn cho các
đối tác nước ngoài tham gia xây dựng giao thông dưới hình thức
BOT, nước sở tại rất cân nhắc trên các phương diện sau:
-
Chọn tuyến đường thúc đẩy phát triển được kinh tế cục bộ
(chẳng hạn của một hòn đảo, một đặc khu, một phần thành
phố…)
- Chọn tuyến đường ngắn đầu tư đắt,
chủ yếu là rút ngắn thời gian đi lại, tăng lưu lượng giao thông
đột biến, vì thế có thể xây dựng nhanh và thu hồi vốn theo
đúng thời hạn.
- Tuyến đường thường chỉ có giá trị cục bộ và không là duy nhất.
- Tuyến đường ít phương hại đến an ninh quốc gia.
-
Tuyến đường BOT phải được thông tin đầy đủ và rộng rãi cho
các đối tác thừa năng lực, trong một thời gian đủ dài trước
khi triển khai, để đối tác tìm hiểu nghiên cứu, cũng như để
nước sở tại có nhiều đối tác tiềm năng cho việc chọn lựa.
VEC có bán đúng giá?
Phải thẳng thắn nêu ra những nhận xét sau khi giao cho VEC bán đường cao tốc:
1. VEC không đủ tầm và năng lực để đánh giá lựa chọn đối tác.
2. VEC không có khả năng xác định đúng giá.
3. VEC không bán đúng giá vì lợi ích cục bộ.
Một
thực tế đáng buồn cho Việt Nam, ở nhiều nơi trong các cơ quan
nhà nước, là cấp trưởng phải quay lại hỏi cấp phó, cấp phó
phải quay lại hỏi chuyên viên.
Tờ giấy
nhắc Thứ trưởng con số 34. 000 tỷ cho sách giáo khoa, cũng như 2
tỷ USD đầu tư sân bay Long Thành của ADPi “do nhầm lẫn đánh
máy” là những dẫn chứng cay đắng, rằng người lãnh đạo chẳng
nắm được bản chất vấn đề.
Bán quyền thu phí đường – rước người ngoài đến bóc lột
Khi
không có tiền thì phải kêu gọi đầu tư dưới hình thức BOT.
Điều lạ ở Việt Nam là xây dựng xong đường cao tốc lại bán cho
người ngoài quản lý khai thác. Ở đây có hai điều có thể nói
là “thông minh” khác người.
Một là, đã
đầu tư xong chỉ quản lý thu phí, tại sao VEC lại phải bán
quyền thu phí cả gói. Tiếng là lấy vốn để đầu tư nơi khác,
nhưng kỳ thực còn một lý do nữa quan trọng hơn nhiều. Đó là
khi bán trọn gói, có thể đút túi phần trăm một tổng tiền
lớn một lần và mất hút. Còn chờ thu phí hàng năm mới lấy
được một phần lời, thì đến bao giờ cho xong. Hơn nữa, nhiệm kỳ
có hạn, các nhiệm kỳ sau là của người khác. Quả đúng là một quyết sách “thông minh” khác người.
Hai
là, nhà đầu tư nước ngoài khi trả một gói để lấy quyền thu
phí đường, họ không mang lại lợi ích gì cho kinh tế Việt Nam,
vì chính họ không tham gia xây dựng đường như hình thức BOT.
Chẳng qua họ trả trước tiền để thu lại gốc và lời theo quyền
đặt phí của họ mà người dân Việt Nam là người cuối cùng phải
gánh chịu. Đây cũng là một nước cờ khác người. Chỉ không thể
gọi là thông minh được, vì thực chất là cõng rắn cắn gà nhà, là rước người về bóc lột dân mình.
Một
điều cần lưu ý là nếu VEC là công ty tư nhân, VEC phải mua đất
của dân để làm đường, VEC có vốn riêng thế chấp để vay tiền
đầu tư, thì VEC muốn làm gì thì làm, VEC muốn bán cho ai với
giá nào thì VEC bán.
Nhưng VEC là công
ty nhà nước; VEC lấy đất của dân với giá đền bù rẻ mat; VEC
lấy tài sản nhà nước thế chấp để vay tiền. Tất cả tài sản
của VEC chính là của dân. Vì thế, cả VEC lẫn Bộ Giao thông vận
tải không có quyền muốn bán đường cao tốc nào thì bán, muốn
bán cho ai thì bán, và muốn bán với giá nào thì bán.
Có ai trong số lãnh đạo Bộ Giao thông vận tải ý thức được sự khác biệt mang tính nguyên tắc này không?
Từ những điều đã nêu trên, xin được gửi tới lãnh đạo Việt Nam hai kết luận sau đây.
1. Việt Nam không cần sự phát triển vội vã bằng cách bán hết mọi thứ
Chúng
ta muốn trở thành con rồng. Chúng ta muốn có tốc độ phát
triển GDP nhanh nhất châu Á. Hậu quả là chúng ta bán vội vã,
bán tống tháo những gì có thể bán được để mua lấy một sự
phát triển bề ngoài giả tạo. Người xưa đã dạy, muốn tiến
nhanh thì phải đi chậm. Xin hãy nhớ kỹ điều này.
2. Chính
sách “Sở hữu đất đai toàn dân” là căn nguyên dẫn đến sự tàn
phá nền kinh tế quốc dân và làm phương hại đến an ninh quốc
gia.
Ai
cũng thấy tại vạ của chính sách sở hữu toàn dân. Bán đất
bán rừng bán tài nguyên bán đường đi bán nước, bán nhiều năm
cho đến tận đời cháu chắt chít – tất cả là do sở hữu đất đai
toàn dân mà ra cả.
Rồi sẽ vội vã cổ
phần hóa. Tài sản toàn dân sẽ bị các nhóm thâu tóm với giá
bất công rẻ mạt. Một thể chế bất công mới đã và đang được
hình thành.
Chừng nào chưa xóa bỏ sở hữu
toàn dân, nhất là sở hữu đất đai, thì chừng đó đất nước
không chỉ bị tàn phá khánh kiệt, mà người dân còn phải quay
về thời bị làm thuê bóc lột, chỉ là ở mức độ khác và dưới
tấm áo choàng khác mà thôi.
Xin hãy vì
quyền lợi quốc gia dân tộc mà dũng cảm tiến hành những cải
cách căn bản, trong đó có quyền tư hữu đất đai.
V.T.D.
Tác giả gửi BVN
Theo boxitvn
Khi người dân tham nhũng
06:57 |Khi người dân tham nhũng
Alan Phan
Nếu quan chức phải lo giấu của cải, rửa tiền khi tham nhũng,
thì các tư nhân làm giàu qua sự chiếm đoạt các tài sản công lại được
trưng bày và vinh danh trên nhiều mạng truyền thông, hãnh diện với những
chiến lợi phẩm.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Trong một cuộc mạn đàm với các viên chức cao cấp của thành phố Hồ Chí
Minh về vấn đề mỹ quan của thành phố và việc bảo vệ môi trường sinh
hoạt của người dân, tôi đã đưa ra một đề nghị mà tôi dám bảo đảm là hoàn
toàn không tốn kém gì cho ngân sách và sẽ làm thành phố tươi đẹp gấp
trăm lần hiện nay. Trên hết, giải pháp này có thể thực hiện và hoàn tất
chỉ trong vài tháng. Mọi người đều hào hứng lắng nghe.
Tôi tiếp tục, “Hiện nay tôi chắc đến 95% hè đường của thành phố
đang được chiếm dụng một cách phi pháp để làm bãi đậu xe máy,
nơi bán hàng rong, hoặc là chỗ để lấn đất từ nhà riêng… Nếu tất cả hè
đường đều được dọn sạch, quang đãng và để dành cho người bộ hành như mọi
thành phố văn minh khác khắp thế giới, bộ mặt của thành phố Hồ Chí Minh
sẽ đổi khác hoàn toàn: cảnh quan sẽ đẹp hơn, đường phố sẽ trật tự hơn
và ô nhiễm từ tiếng động và không khí sẽ ít hơn.”
Một quan chức thắc mắc, “Nhưng chúng ta sẽ xử lý thế nào với chỗ
đậu xe cho cả triệu chiếc xe máy? Và ảnh hưởng đến việc mưu sinh của các
bạn hàng rong sẽ như thế nào?“
Tôi giải thích là cả trăm ngàn mặt tiền căn phố đang được để trống;
cho nên, các chủ nhà này sẽ biến chúng thành những bãi đậu xe có trả
tiền, đem thêm một số lợi tức cho rất nhiều người. Thực ra, hiện nay,
các tay thầu tư nhân đã chiếm dụng bất hợp pháp các lề đường để làm chỗ
đậu xe có trả tiền và ăn chia lại với các quan chức của khu phố. Chúng
ta chỉ bắt các người sử dụng xe máy phải cho xe vào trong để làm sạch hè
đường.
Còn vấn đề các bạn hàng rong, những thành phố như Bangkok hay Kuala
Lumpur đều có những khu thương mại rẽ tiền do các tư nhân đầu tư xây
dựng, không hề thiếu chỗ để buôn bán. Các khu thương mại này sẽ cải tiến
điều kiện vệ sinh công cộng cũng như gia tăng chất lượng của mỗi món
hàng nhờ sự kiểm soát hữu hiệu hơn của cơ quan công lực.
Một ảnh hưởng rất tích cực nữa là khi gặp khó khăn và tốn kém trong
việc gửi xe, người dân sẽ ít dùng xe máy hơn và quay về với các phương
tiện giao thông công cộng hay tản bộ. Việc này sẽ giảm bớt ô nhiễm về
không khí, về tiếng động cũng như nạn kẹt xe.
Tuy nhiên, đề nghị này đã không đi xa hơn vì vị quan chủ tọa đã phán quyết, “Đây là một giải pháp không thực hiện được.” Khi
tư duy đã buộc chặt vào một kết luận, trước khi có nghiên cứu và tranh
luận sâu rộng, thì mọi sáng tạo chỉ là một vận động hoàn toàn vô ích.
Nhưng vấn đề chiếm dụng phi pháp hè đường này của mọi tầng lớp nhân dân hé lộ một vấn nạn lớn hơn của Việt Nam: Đó
là sự tham nhũng của chính những người đang mang quyền làm chủ đất
nước. Chuyện tham nhũng của quan chức đã gây rất nhiều tranh cãi trên
trên khắp các mạng truyền thông, nhưng không mấy ai buồn nhắc đến một sự
nhũng lạm còn tốn kém cho tài sản quốc gia gấp ngàn lần từ phía tư nhân
và người dân thường.
Nhưng với người dân, nếu họ không có quyền lực gì thì làm sao xếp hạng các hành vi của họ vào loại tham nhũng?
Trước hết, theo định nghĩa của danh từ, “tham nhũng” là một hành xử
thiếu đạo đức và lương thiện, lạm dụng chức vụ, quyền lực hay tình thế
để chiếm đoạt tài sản hay lợi ích công cộng một cách phi pháp. Như vậy,
dù không có chức vụ hay quyền lực, nhưng nếu người nào dựa trên tình thế
để chiếm đoạt tài sản công, người ấy cũng phải được coi như là một tội
phạm hay đồng lõa tham nhũng.
Tội trốn thuế cũng có thể được coi là tham nhũng vì một phần thu nhập
đáng lẽ phải nộp vào ngân sách nhà nước thì đã được cho vào túi riêng.
Ô nhiễm môi trường làm hư hại tài sản công để làm lợi cho thu nhập của mình cũng là một hình thái tham nhũng.
Các chiếm đoạt này không chỉ ngưng lại ở hè đường các thành phố.
Những tài sản công từ một vật dụng nhỏ nhoi như chiếc kẹp giấy tờ hay
bút chì trong văn phòng, trường học… đến những thửa đất lớn lao cạnh
biển hay sông hồ đã được chính người dân thỏa hiệp với quan chức để phân
chia làm tài sản riêng của mình.
Chuyện phá rừng, khai thác khoáng sản lậu để bán ra nước ngoài, hay
chuyện toa rập để hạ giá cổ phiếu của các công ty quốc doanh trước khi
mua lại… là những hành vi hoàn toàn do tư nhân đạo diễn và lợi dụng.
Nếu quan chức phải lo giấu của cải, rửa tiền khi tham nhũng,
thì các tư nhân làm giàu qua sự chiếm đoạt các tài sản công lại được
trưng bày và vinh danh trên nhiều mạng truyền thông, hãnh diện với những
chiến lợi phẩm từ máy bay riêng đến siêu xe đến các chân dài.
Hiện tượng “cổ phần hóa” hay “biến tài sản công thành riêng”,
nhập khẩu từ Đông Âu và Trung Quốc, đang được mọi người dân, từ nghèo
đến giàu coi như là một trò chơi thú vị, phải thắng bằng mọi giá.
Khi sự nhũng lạm đã trở thành thói quen và chấp nhận khắp nơi,
thì tài sản công sẽ còn biến mất dài dài vào các túi tham không đáy của
xã hội.
Tôi cho sự tham nhũng này còn đáng sợ hơn nạn tham nhũng dựa trên
chức quyền vì gốc rễ của hình thái tham nhũng này bám chặt vào tư duy
của người dân và không được ai coi như một vấn đề cần giải quyết.
Nếu mỗi một mét vuông đất ở thành phố Hồ Chí Minh có giá trung bình
là 30 triệu đồng và diện tích hè đường chỉ 1% của toàn thành phố
(2.095km2), thì tổng số tài sản công bị chiếm đoạt đã lên đến 600
ngàn tỷ VND hay 30 tỷ USD. Nếu tính hết tất cả hè đường của các tỉnh
thành toàn quốc, con số này phải lớn gấp ngàn lần các con số tham nhũng
từ chức quyền. Và nếu chúng ta cộng luôn những nhũng lạm khác về đất
đai, tài sản, cũng như các hồ sơ gian dối về trợ cấp xã hội, dự án công
của người dân?
Theo giáo sư James Garfield (1877), nguồn gốc của mọi tham nhũng bắt
đầu từ 2 tư duy: lòng tham của con người luôn luôn muốn có “những bữa
ăn miễn phí” và sự bất tuân pháp luật hay sự coi thường lợi ích xã hội
một cách đại trà.
Tư duy thứ nhất là quan điểm “miễn phí” (something for nothing),
không những chỉ phổ biến tại Việt Nam mà còn hiện diện trên mọi quốc gia
giàu nghèo. Âu Mỹ nổi tiếng với những chương trình xã hội lấy tiền thuế
của người dân có thu nhập để trả tiền cho những kẻ ăn không ngồi rồi.
Những lạm dụng về trợ cấp xã hội, thất nghiệp, y tế, nhà ở, thực phẩm…
đã được báo động hằng ngày trên các mạng truyền thông Âu – Mỹ. Tuy
nhiên, số người dân nghèo luôn luôn nhiều hơn số người giàu nên các
chính trị gia Âu – Mỹ vẫn phải tiếp tục các chương trình này để kiếm
phiếu từ cử tri.
Cũng vì sự tiêu xài quá mức cho các chương trình xã hội mà các chính
phủ Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha… gây quá nhiều nợ nần và phải cắt
bớt ngân sách. Nhưng tinh thần miễn phí đã ăn sâu vào trí não của người
dân nên các cuộc biểu tình tại các nơi này để phản đối việc cắt ngân
sách sẽ tiếp tục dài dài trong nhiều năm tới.
Dù sao, ở trường hợp này, sự chiếm đoạt tài sản công để chia riêng cho một thiểu số vẫn nằm trong khuôn khổ luật pháp.
Còn tư duy bất tuân pháp luật và coi thường lợi ích xã hội thì hiện
rõ tại các quốc gia có dân trí thấp kém hơn. Tại các nơi này, người dân
dùng đủ mọi cách để chiếm dụng tài sản công bằng đủ mọi hình thức và
phương tiện, bất chấp đến pháp luật cũng như hậu quả tai hại cho xã hội.
Nhỏ nhất thì chỉ là xả rác bừa bãi, ăn cắp cây cảnh của công viên, dán
biểu ngữ quảng cáo ở cột đèn hay “cầm nhầm” một vài món đồ ở thư viện,
bệnh xá. Nặng hơn một chút là bầy bán hàng rong tại cầu đường, hè phố,
sử dụng công xa hay kho bãi chính phủ vào mục đích riêng, hay lấy trộm
vật liệu và thiết bị tại các công trường xây dựng của nhà nước.
Và như đã nói ở trên, tệ nhất là nạn chiếm đất công hay phá rừng,
khai thác khoáng sản lậu, mánh mung để mua tài sản công với giá rẻ,
lobby (vận động cửa hậu) để có đặc quyền đặc lợi cho mình và phe nhóm
mình… Tư duy này phát triển mạnh khi chúng đi đôi với một cơ chế chính
trị phức tạp, dễ bị lạm dụng bởi quan chức cũng như người dân.
Nhiều người Việt khi đến Âu – Mỹ đã ngạc nhiên khi thấy mọi người lái
xe kiên nhẫn chờ đèn xanh trước khi vượt qua ngã tư, dù giữa đêm khuya
vắng vẻ, không có một chiếc xe nào qua lại trên khúc đường. Chuyện vượt
đèn đỏ ngay cả khi xe trái chiều đang tấp nập trong giờ cao điểm là
chuyện bình thường ở xã hội Việt. Sự tôn trọng pháp luật ngay cả
khi không có cảnh sát công an hiện diện, hay không có nguy cơ bị bắt
giữ, phải ăn sâu vào tâm trí của người dân để xã hội có một chuẩn mực
đạo đức tối thiểu. Vì thực sự, đạo đức và dân trí của một xã hội là một
tổng hợp đạo đức và dân trí của từng cá nhân. Sự thay đổi tư duy và thói
quen của mỗi người dân thường là bước khởi đầu và điều kiện tất yếu cho
một xã hội văn minh, lành mạnh và hài hòa.
Khi người dân trách cứ các quan chức về tham nhũng, mọi người trong
chúng ta phải hỏi lại chính mình là sự trong sạch và đạo đức cá nhân
mình đã thể hiện đầy đủ chưa? Bởi vì nói cho cùng, khi chẩn bệnh, chúng
ta phải phân biệt đâu là gốc rễ của căn bệnh và đâu là biến chứng. Cả
trăm năm trước, Von Goethe đã hiểu rằng, “chính phủ tốt nhất là
khi họ để người dân tự cai quản mình.” (The best government is that
which teaches us to govern ourselves.) Bởi vì người dân luôn luôn xứng
đáng với chính phủ mình đã chọn, dù bằng lá phiếu hay bằng sự thờ ơ.

