Home » Bệnh Vô Cảm
Biện hộ cho sự vô cảm
16:40 |Biện hộ cho sự vô cảm
Vương Trí Nhàn
NHỮNG BIỂU HIỆN TẾ NHỊ
Từ dưới bãi một em nhỏ lên cầu Long Biên, cất tiếng chào khi tôi dắt xe từ cầu đi xuống. Lẽ ra tôi phải sung sướng vì gặp được một đứa trẻ ngoan mới phải. Sao lần này cứ thấy gờn gợn. Mãi mới nghĩ ra. Đứa trẻ chỉ chào lấy lệ. Em chẳng hề quan tâm tới tôi, chả đặt một thoáng tình cảm nào vào lời chào của em. Và có vẻ đó không phải là một đứa trẻ ngoan nữa, một ấn tượng bao trùm đọng lại trong tôi.
Mặc dù biết vậy, tôi vẫn không khỏi… tủi thân. Nhất là buồn cho một con người mà mình vừa gặp.
Muốn gọi đó là sự vô cảm.
Tự nhủ chung quanh mình đang có một sự vô cảm thường trực. Bận bịu quá, nhiều thứ thu hút quá, con người hiện nay không còn những xúc cảm bình thường mà con người các thế hệ trước 1945 thường trải nghiệm.
Khi nói tới sự vô cảm, dư luận hôm nay chủ yếu muốn kêu gọi lòng trắc ẩn, tức là thương xót cảm thông với những bất hạnh.
Nhưng tôi cho là lẽ ra phải nói rõ đấy là việc con người không còn đặt tình cảm suy nghĩ vào những người quanh; trừ những việc liên quan đến quyền lợi thiết thân còn không muốn biết một cái gì khác; không còn phân biệt tốt xấu theo nghĩa nhân bản; và không còn nghĩ nhiều tới tương lai. Họ rơi vào tình trạng Đã bao lần tôi không thực là tôi(Lê Đạt).
Không chỉ vô cảm trước tai họa mà còn không được vô cảm trước các tài năng, trước vẻ đẹp, trước sự cao quý của con người. Cái đó ngày càng thấy rõ là cần trong một xã hội bị thống trị bởi chủ nghĩa bình quân và tràn ngập những yếu tố vật chất.
NGUỒN GỐC CHIẾN TRANH
1427. Trong khi vây thành Đông Quan, theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, Lê Lợi không quên đặt pháp luật để trị quân cũng như quản dân.
Mười điều kỷ luật được đặt ra để răn dạy cho tướng sĩ. Ngoài những điều như phải tiến thoái theo hiệu lệnh, giữ vững hàng ngũ… đặc biệt có thêm ba điều cấm sau đây.
Điều 2 ( CẤM) Không có việc gì mà đặt chuyện ra để làm cho mọi người sợ hãi
Điều 8 ( CẤM) Tha binh đinh ( trai tráng bị động viên đi lính – VTN ) về để lấy tiền ; sổ sách mập mờ.
Điều 9 ( CẤM) Theo bụng yêu ghét của mình mà làm lòa mất công quả của người khác
( sđd, bản của nhà Tân Việt, 1951, tr 218; còn bản của nxb Thanh Hóa in 2006 thì ở tr 232)
Tình hình thực tế phải thế nào thì mới có lệnh cấm đó chứ ?!
Điều thú vị là có những căn bệnh của người xưa lại có sắc thái khá hiện đại.
Cũng trang sách trên có ghi:
Vương, tức Lê Lợi đặt ra ba điều để răn các quan:
1/Không được vô tình
2/không được khi mạn ( coi rẻ xem thường mọi người -VTN )
3/không được gian dâm
Chỗ đáng chú ý ở đây là thói vô tình ( cũng tức là vô cảm, thờ ơ… ) được đặt lên hàng đầu.
Hóa ra chiến tranh thời nào cũng vậy.
MỘT HÌNH THỨC TỰ VỆ
Tuy nhiên cũng đã đến lúc phải biện hộ cho sự vô cảm theo nghĩa thông thường.
Hãy bắt đầu bằng một sự thực -- con người hôm nay đang chịu những áp lực rất lớn. Họ không hề được chuẩn bị để đón nhận. Muốn tồn tại họ phải giữ được thần kinh cho vững, nói như các cụ xưa, phải đắp tai cài trốc, mới có cơ may giữ được sự an nhiên tự tại bình tâm mà sống cái đời sống thông thường.
Không vô cảm thì sẽ ngớ ngẩn, sẽ phát điên. Vô cảm đã thành hình thức tự vệ.
Ví dụ như trong chiến tranh, làm sao một người bình thường có thể bình thản trước việc con em mình đi vào chiến trường với cái chết cầm như chắc chắn, chỉ may mắn lắm mới sống sót, rồi có trở về thì cũng sẽ gia nhập vào hàng ngũ của cái thế hệ vứt đi (lost generation – cái chữ mà Hemingway có công đưa vào lịch sử văn học).
Nhưng người ta vẫn phải gạt nước mắt cho con ra đi.
Có khi lại còn phải tỏ ra vui vẻ nữa.
Người ta đã trở nên vô cảm.
Sang thời phát triển nhố nhăng kỳ cục hiện nay, chứng kiến bao chuyện chướng ta gai mắt, người ta vẫn phải im lặng quay đi coi như không biết. Thấy kẻ cắp trên xe bus mà kêu lên ấy ư, anh sẽ bị trả giá ngay. Tố cáo cấp trên tham nhũng là đồng nghĩa với việc chuẩn bị sớm muộn sẽ nhận lệnh đuổi việc. Còn khi có ý định tham gia vào những vụ cứu trợ cho các vùng bị tai nạn, thì có một nguyên tắc là anh phải không được theo dõi xem các loại hàng cứu trợ đó sẽ được sử dụng ra sao.
MỘT VẤN ĐỀ CỦA ĐỜI SỐNG HIỆN ĐẠI
Vô cảm không chỉ là chuyện của người Việt mà còn là chuyện của thế giới hiện đại.
--Nhớ lại hồi còn thời chuyên chế, nhiều nhà văn Liên xô cũ kể là nhiều khi đối diện xã hội, họ thấy mà không dám nhìn kỹ, nghĩ mà không dám ghi lại, và ghi lại thì lại xé đi ngay, chỉ sợ táy máy gửi tới một tờ báo nào đó thì không những không được in ra mà còn bị các biên tập viên ở đó trình lên cấp trên và tên tuổi sẽ vào sổ đen của KGB.
-- Và đây, một cách diễn đạt về sự đầu hàng của con người hiện nay, nó đặt thái độ chấp nhận vô cảm trong xu thế không dám làm người – ngay cả ở mỗi cá nhân có suy nghĩ; và nó đúng với con người hiện đại nói chung chứ không phải người của phe nọ hay phe kia:
Thời đại chúng ta cốt yếu là một thời đại bi thảm, bởi thế chúng ta từ chối cảm nhận nó một cách bi thảm. Cuộc đại biến động đã xảy ra, chúng ta ở giữa những đổ nát, chúng ta bắt đầu xây dựng những túp lều trú ngụ tạm bợ và dấy lên chút hy vọng nhỏ bé mới. Đó là một công việc khá nhọc nhằn. Bây giờ không có một con đường bằng phẳng nào dẫn tới tương lai, nhưng chúng ta sẽ đi vòng quanh hoặc bò qua những trở ngại. Chúng ta phải sống thây kệ bao nhiêu bầu trời đã sụp.
(D.H.Lawrence, nhà văn Anh, 1885-1930 tác giả Người tình của Chatteley phu nhân).
Thây kệ ở đây chính là thói vô cảm chúng ta đang nói.
Cố nhiên vô cảm, nói theo nghĩa khá đa dạng, có phần giống như một loài thuốc đặc trị. Nếu dùng quá liều, sẽ gây chết người như chơi.
Công thức cần theo là làm sao giữ được thế bình quân giữa thái độ thản nhiên trước mọi biểu hiện tạp nham hàng ngày và cảm xúc nhạy bén thường trực trước những vấn đề lớn của cộng đồng của dân tộc. Đây là cả một thách thức với những con người luôn luôn coi các vấn đề xã hội là chuyện của bản thân, cả chuyện lớn lẫn chuyện nhỏ.
Theo Vương Trí Nhàn Blog
Chặn nguy cơ một 'xã hội chết'
21:16 |Chặn nguy cơ một 'xã hội chết'
Hồ Quang Lợi /(Tuần Việt Nam)
Mặc dù xây dựng nền tảng đạo đức xã hội luôn là điều
cốt yếu, nhưng cũng cần có những quy định pháp lý để chống bệnh vô cảm. Một xã
hội vô cảm sẽ là một "xã hội chết".
Không
khó nhận ra bệnh vô cảm, nhưng làm sao để chữa được bệnh thì không hề đơn giản.
Sự mất lòng tin trong xã hội, sự ích kỷ, tính thực dụng trong lối sống của một
bộ phận xã hội làm cho bệnh thêm nặng.
Để chữa trị căn bệnh "ung thư tâm hồn"
này, cần phải kết hợp đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết phải tạo cho xã
hội một sức đề kháng. Đó chính là việc xây dựng và không ngừng nhân lên những
yếu tố tích cực trong xã hội. Một môi trường xã hội tốt, lành mạnh sẽ tạo được
sức đề kháng cao với căn bệnh này. Ngược lại, trong một môi trường xã hội xấu,
nơi mà tiêu cực lấn át tích cực thì bệnh vô cảm sẽ lây lan.
Một xã hội vô cảm sẽ là một "xã hội chết"-
cái chết trước hết từ trong tâm hồn.
Phải bền bỉ xây dựng văn hóa ứng xử, tạo đời sống tinh
thần phong phú, mà ở đó các giá trị tinh thần, đạo đức của xã hội được xác lập
rõ ràng, thể hiện mạnh mẽ, để ai làm những điều xấu cũng phải sợ, cũng phải
ngại. Nếu cái tốt, cái thiện ở thế thượng phong, nếu ở đâu người tốt cũng biết
đoàn kết, hợp lực tạo nên sức mạnh thì ở đó chắc chắn cái xấu, cái ác sẽ từng
bước bị đẩy lùi, sự vô cảm sẽ mất dần đi.
Tất cả chúng ta đều phải day dứt trước câu hỏi: Bây
giờ đời sống của người Việt Nam
mình khấm khá hơn trước rất nhiều nhưng tại sao bệnh vô cảm lại nặng hơn?
Như thế càng thấy rõ, không phải cứ nghèo là vô cảm, không phải cứ túng là làm
liều.
Thuốc chữa bệnh vô cảm nằm ở sự truyền phổ sâu sắc
những giá trị truyền thống của dân tộc, thẩm thấu vào trong đời sống xã hội. Xã
hội càng hiện đại thì những giá trị đó lại càng cần nhân rộng, không được để
cho những làn sóng lai tạp, xô bồ che lấp, lấn át những giá trị truyền thống.
Khi bệnh vô cảm trong xã hội càng lây lan thì sự gắn
kết, tình người càng bị mai một. Xã hội cần có ngọn lửa nhân ái lan tỏa, những
người hoạn nạn càng cần ngọn lửa nhân ái sưởi ấm họ. Đó chính là tiêu chí của
một xã hội văn minh, một xã hội có đạo đức
Cuộc chiến chống bệnh vô cảm cần được triển khai trong
từng gia đình, trước hết là giáo dục con cháu bằng các hành vi ứng xử mẫu mực
của ông bà, cha mẹ, người lớn tuổi.
Tôi từng chứng kiến một việc đáng buồn: Hôm đó, chúng
tôi đang đi trên một đường phố thì thấy một cụ già gầy guộc, quần áo cáu bẩn,
ngồi bên vỉa hè chìa tay xin ăn. Một cháu bé chừng 8 tuổi đi cùng với bố mẹ liền
đưa cho cụ già gói bánh cháu đang cầm trên tay. Cụ già nói, giọng thều thào:
"Cảm ơn cháu". Lập tức, người mẹ sẵng giọng nói với cháu bé: "Ăn
mày giả vờ đấy con ạ". Cháu bé ngơ ngác không hiểu mình đã làm sai điều gì.
Cần những
quy định pháp lý
Mặc dù xây dựng nền tảng đạo đức xã hội luôn là điều
cốt yếu, nhưng cũng cần có những quy định pháp lý để chống bệnh vô cảm. Nếu
thấy bệnh nhân nguy kịch mà nhân viên y tế từ chối việc cứu chữa thì dù với bất
cứ lý do gì cũng phải bị xử lý nghiêm minh; nếu gặp người bị nạn trên đường mà
không cứu sẽ bị truy cứu với những chế tài riêng.
Trách nhiệm công vụ thể hiện đạo đức công vụ, đạo đức
xã hội. Đối với hệ thống công quyền, để trị bệnh vô cảm, cần cải cách hành
chính một cách mạnh mẽ hơn, đưa ra những quy định khoa học, cụ thể, rõ ràng về
trách nhiệm của từng người trong guồng máy công vụ để nếu một người không làm
đúng chức trách của mình thì lập tức bị bật ra khỏi hệ thống. Nếu một nền hành
chính được thực thi một cách khoa học thì sẽ dần dần sẽ tạo ra một thói quen,
buộc những ai ở trong guồng máy cũng phải làm hết chức phận của mình.
Bên cạnh việc xây dựng một nền hành chính khoa học để
quản trị tốt thì cần tăng cường giáo dục để cho những "công bộc" -
những người ăn lương của nhà nước bằng tiền đóng thuế của dân - phải cảm thấy
mình có trách nhiệm đạo đức trong việc phục vụ dân; trước những đòi hỏi, những
bức bách, thậm chí những bất hạnh của người dân thì không thể làm quay mặt làm
ngơ. Và cần tăng cường thanh tra công vụ thường xuyên, bất chợt, đột xuất dưới
nhiều hình thức khác nhau để bắt bệnh thật chính xác, kịp thời, từ đó sẽ thưởng
phạt nghiêm minh.
Không gì có thể thay thế việc khơi dậy lòng nhân ái và
dũng khí trong mỗi con người, tinh thần trách nhiệm và dũng khí của
các cơ quan chức năng trước những ngang trái và bất công.
Cần xây dựng một xã hội đồng cảm và chia sẻ. Các hoạt
động nhân đạo, từ thiện được triển khai rộng khắp là hướng tới một xã hội như
vậy.
Một xã hội vô cảm sẽ là một "xã hội chết"- cái chết trước hết từ trong tâm hồn.
Một xã hội vô cảm sẽ là một "xã hội chết"- cái chết trước hết từ trong tâm hồn.
========
Tản mạn về bệnh vô cảm xã hội chủ nghĩa
07:08 |TMSS: bài viết đáng để đọc và suy gẫm trong bối cảnh sự vô cảm lên ngôi như hiện nay!
-----------
Tản mạn về bệnh vô cảm xã hội chủ nghĩa
Đào Tiến Thi/ Văn Việt
Một chiều nọ đi tập thể dục, tôi bị ngã trẹo
chân. Thấy chỉ đau nhẹ nên hôm sau tôi vẫn đi làm. Ai ngờ càng lúc càng
đau. Cho đến chiều tối ra về thì chỗ đau đã trở nên trầm trọng, ngồi
được lên xe máy đã khó, đi được còn khó hơn, nhưng khó nhất là lúc về
đến nhà, không biết làm sao bước xuống xe được. Mặt méo xệch, răng
nghiến chặt, chân cố nhích từng tí, nước mắt muốn trào ra. Trong lúc ấy ở
tầng hầm nhà xe có ba bốn bạn trẻ cùng toà nhà, đều mục kích sự khó
khăn đó của tôi nhưng không một cô cậu nào giúp đỡ hay hỏi lấy một câu.
Họ chăm chú đi nhanh về phía thang máy, sợ lỡ chuyến lên.
Cuối cùng thì tôi cũng xuống xe được và cố gượng
đi cà nhắc, vai vẫn khoác chiếc cặp đi làm to đùng. Một cô gái chừng 25 –
30 tuổi dáng cao lớn, khoẻ mạnh, lướt qua tôi rất thản nhiên. Trong lúc
cô ta đứng chờ thang máy, tôi cũng kịp cà nhắc đến và cùng lên. Suốt
thời gian đi chung thang máy, cô ta cũng không thăm hỏi tôi một câu.
Những người ở cùng một toà nhà còn như thế, với
những người ở cùng khu chung cư thì còn lạnh nhạt hơn. Cách đây hơn ba
tháng, con trai tôi đi ngược chiều đoạn đường chỗ cổng ra của chung cư
và bị công an giao thông bắt. Tuy nhiên do hai anh công an bắt bằng cách
đâm xe máy chặn đầu nên con tôi phê bình. Hai bên còn đang tranh luận
thì một thanh niên lạ mặt xông vào tát luôn con tôi rồi thản nhiên lên
xe, trước mặt hai anh công an. Sự việc xảy ra ngay cổng khu chung cư,
cho nên người trong chung cư kéo ra xem rất đông và vợ chồng tôi cũng
kịp đến. Chúng tôi không cãi gì việc con tôi vi phạm giao thông mà chỉ
yêu cầu lập biên bản về việc kẻ lạ mặt ngang nhiên đánh người. Thế nhưng
hai anh công an (về sau có cả sếp trưởng, sếp phó của họ đến), tìm mọi
cách để từ chối việc lập biên bản. Hai bên tranh cãi cả hai tiếng đồng
hồ. Đáng buồn là người trong chung cư đổ ra đông như thế (trong đó có cả
một số người là hàng xóm khá thân quen) và yêu cầu của chúng tôi chính
đáng như thế, nhưng chỉ đúng có một bà có tuổi ủng hộ chúng tôi và một
thanh niên giúp chúng tôi viết biên bản. Nhưng trước sự đe doạ của công
an mà hai người này rồi cũng phải rút lui. Cuối cùng chỉ còn đúng ba
người của gia đình chúng tôi đương đầu với công an, mà công an thì mỗi
ngày được tăng thêm lực lượng, cả sắc phục lẫn trong vai “quần chúng tự
phát” để áp đảo chúng tôi.
Ấy là chuyện của chính chúng tôi và vừa mới xảy
ra gần đây. Còn trên báo chí hằng ngày, ta bắt gặp vô vàn các câu chuyện
về các hành vi sai trái hoặc tội ác nhưng những người có liên quan lại
thản nhiên mặc kệ hoặc thậm chí kiếm chác ngay trên sự rủi ro của đồng
loại. Nào cảnh kẻ gây tai nạn bỏ mặc nạn nhân. Nào cảnh người ngã xe
máy, tiền rơi ra bị người đi đường lao đến tranh cướp. Nào cảnh tài xế
chở bia bị đổ, dân hai bên và người đi đường đổ đến hôi bia. Nào cảnh
người bị cướp đồ giữa phố nhưng không một ai giúp đỡ. Nào cảnh công an
giao thông đuổi đánh người không có mũ bảo hiểm dẫn đến trọng thương
hoặc chết. V.v và v.v.
Khoảng năm 1987, khi mới có trào lưu đổi mới ở
các nước xã hội chủ nghĩa, tôi đọc một bài báo của nhà văn Liên Xô nhan
đề là “Lòng nhân ái”, trong đó ông kể một lần ông bị ngã trên đường phố
mà không một ai đỡ ông dậy. Rồi ông nghĩ đến hiện tượng người ăn xin bị
hoàn toàn bỏ rơi trong chế độ Xô viết, trong khi đó ông nhớ lại thời
niên thiếu (dưới chế độ Nga hoàng), mỗi khi theo cha đi ra phố mà gặp ăn
xin, người cha đều đưa tiền cho cậu bé đem đến biếu người ăn xin một
cách cung kính.
Cũng thời gian đó, tôi đọc một bài ký của một nhà
văn Việt Nam trong đó tác giả kể một lần đi qua phà, gặp một người ăn
xin, ông lấy tiền ra cho liền bị người bạn đi cùng, một cán bộ lãnh đạo,
phê bình. Vì người cán bộ ấy cho rằng việc này cần chờ chính sách của
Đảng và Nhà nước, chứ không được làm từ thiện tuỳ tiện, dễ bị lợi dụng!
Phải chăng mọi thứ “đã có Đảng và Nhà nước lo”
nên mỗi người không có trách nhiệm gì hết và “lòng nhân ái” là cái “vớ
vẩn” của “xã hội tư bản thối nát”? Và đây là một ví dụ về lòng nhân ái
“vớ vẩn” ấy.
Cách đây mấy năm, tôi có đọc một bài báo của một
Việt kiều (nếu tôi không nhầm thì bài đăng trên báo Văn nghệ) trong đó
tác giả kể một vụ tai nạn của chính ông ở nước sở tại. Khi tai nạn xảy
ra, tất cả mọi người đi đường đều dừng lại để giúp đỡ. Xe cảnh sát, xe
cứu thương, xe cứu hoả tíu tít xuất hiện làm nhiệm vụ. Cho nên tại nạn
được khắc phục kịp thời và rất hiệu quả.
Trở lại xã hội ta hiện nay, trên báo chí hằng
ngày, ta thấy tràn lan các chuyện tai nạn giao thông và chuyện “cướp –
giết – hiếp” nhưng không có sự sốt sắng của lực lượng chức năng cũng như
của xã hội. Phải chăng vì nó xảy ra quá nhiều? Nhưng điều nguy hiểm
hơn, là người ta lại như là quảng bá các sự việc ấy. Những người bán báo
rong mở loa hết cỡ khắp các phố để quảng cáo các câu chuyện tai nạn và
chuyện “cướp – giết – hiếp”, coi đấy là nội dung hay nhất của số báo.
Báo giấy đã nhiều chuyệ giật gân, báo mạng còn nhiều hơn. Mà toàn là các
báo mạng chính thống, “lề phải”.
Quan sát xung quanh, tôi có cảm giác người ta coi
những câu chuyện về tội ác (kẻ phạm tội lẫn nạn nhân) như các câu
chuyện giải trí. Hoặc có ai đó bức xúc thì chỉ chửi rủa kẻ thủ phạm chứ
không chịu tìm hiểu ngọn nguồn. Nghĩa là sau những kẻ vô cảm làm điều ác
thì đến lượt báo chí vô cảm đăng bài, và sau đó cả thiên la địa võng
người đọc cũng hầu như vô cảm: nghe mà không phản ứng gì. Trong số người
đọc đó có hàng nghìn cán bộ lãnh đạo, hàng vạn thầy cô giáo, giảng
viên, tiến sỹ, giáo sư, văn nghệ sỹ,… nhưng thử hỏi có được mấy phần
trăm còn động lòng đau đớn? Như vậy thì HIỆN TƯỢNG VÔ CẢM đã trở thành
BỆNH VÔ CẢM vô cùng trầm trọng và có lẽ vô phương cứu chữa!
Sự vô cảm của con người thì thời nào cũng có và
xã hội nào cũng có. Nhưng ở xã hội xã hội chủ nghĩa nó có màu sắc khác
thường như trên kia đã mô tả. Con người đã đến độ bất lực, chấp nhận cái
ác và thờ ơ trước cái đáng thương. Có một gia đình nọ, ông bố là một sỹ
quan cao cấp của ngành công an, luôn dặn con rằng: khi đi đường, dù gặp
bất cứ chuyện bất công ngang trái nào, dù nó xảy ra với chính con, thì
con hãy nhẫn nhịn và nhanh chóng thoát khỏi, dứt khoát không đấu tranh
đúng sai thua được, đấy là cách duy nhất để bảo toàn cho mình.
Mới nghe thì ta trách người sỹ quan công an nọ.
Nhưng ta có thể thông cảm cho ông vì sự vô cảm ở đây là sự vô cảm “bắt
buộc”, là cách tự bảo vệ duy nhất, bởi ông ấy biết rõ luật pháp vô nghĩa
như thế nào.
Trong sách Tiếng Việt lớp 3 hiện hành có bài
“Khuất phục tên cướp biển” (truyện của Xti-ven-xơn). Truyện kể rằng có
một tên cướp biển hung hãn say rượu có những hành vi ngang ngược ở một
quán trọ mà không ai dám động đến hắn. Nhưng bác sỹ Ly, người đang thăm
bệnh ông chủ quán, dám yêu cầu hắn đi nơi khác. Tên cướp biển rút dao ra
đe doạ. Bác sỹ không lùi bước, dõng dạc tuyên bố rằng: “Nếu anh không
cất dao, tôi quyết làm cho anh bị treo cổ trong phiên toà sắp tới”. Hai
người gườm gườm nhìn nhau, và cuối cùng tên cướp biển phải tra dao vào
vỏ và ngồi im. Tại sao ông bác sỹ “trói gà không chặt” lại thắng tên
cướp biển? Ấy là nhờ có chỗ dựa là toà án, nơi thực thi công lý, không
tha cho bất cứ kẻ phạm tội nào.
Nếu câu chuyện trên xảy ra ở xã hội ta hiện nay
thì rõ ràng không ai dám hành động như ông bác sỹ, vì người ta không tin
tưởng ở toà án.
Trong những cuộc làm việc chính thức và không
chính thức với các anh an ninh, họ thường dùng tình cảm để khuyên tôi
đừng tham gia vào các hoạt động xã hội. Lý do là “sức khoẻ chú/ anh kém
rồi”, là “nên tập trung lo cho gia đình”. Như vậy từ một chế độ người ta
tìm mọi cách tước bỏ các nhu cầu cá nhân để hướng nó phục vụ cho xã hội
(“mỗi người vì mọi người”, “tất cả vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”,…) thì
ngày nay người ta lại làm ngược lại, là khuyến khích lòng ích kỷ, phê
phán và ngăn chặn các hoạt động hướng tới lý tưởng xã hội.
Cho nên chúng tôi đặt ra khái niệm “vô cảm xã hội
chủ nghĩa” thiết nghĩ là không “oan” chút nào, vì nó có những đặc trưng
rất rõ rệt của thói vô cảm trong chế độ này. Vả lại, đã có các khái
niệm như “đạo đức xã hội chủ nghĩa”, “lòng nhân ái xã hội chủ nghĩa”
(hay “nhân ái vô sản”), “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”,… thì khái niệm “vô
cảm xã hội chủ nghĩa” là hoàn toàn hợp logic và thực tế đã chứng minh rõ
ràng.
Và như vậy bệnh vô cảm có nguyên do từ thể chế
chính trị chứ không thể giải thích loanh quanh từ những khía cạnh đạo
đức truyền thống hay của nền giáo dục. Còn nếu cắt nghĩa từ giáo dục thì
cuối cùng vẫn phải quay về chính thể để lý giải. Chúng ta hãy nghe
Montesquieu[1] nói về hai nền giáo dục như sau:
Giáo dục trong chính thể chuyên chế
“Trong chính thể quân chủ, giáo dục chỉ tìm cách
nâng cao trái tim. Trong chính thể chuyên chế, giáo dục chỉ tìm cách hạ
thấp trái tim. Ở đây giáo dục phải là một công cụ nô dịch. Cái đó cũng
sẽ là một điều hay ngay trong hệ thống những người chỉ huy, không một ai
vừa là kẻ độc tài mà lại không đồng thời là người nô lệ. Sự phục tùng
tuyệt đối đòi hỏi sự ngu dốt của người thừa hành, và cả sự ngu dốt của
người chỉ huy. Anh ta không cần phải hiểu rõ, không cần phải hoài nghi,
không cần phải lý giải. Anh ta chỉ cần muốn”.
“Trong một nước chuyên chế, mỗi gia đình là một
vương quốc riêng rẽ. Giáo dục ở đây chủ yếu nói về cách ăn ở với người
khác nên rất hạn chế, chỉ quy vào một điểm là đưa sự sợ hãi vào trái tim và đưa ít nhiều nguyên tắc thật đơn giản của tôn giáo vào đầu óc […] Giáo dục ở đây, theo một cách nào đó, là con số không. Phải tước bỏ tất cả để đưa vào đầu óc người ta một cái gì, và bắt đầu biến một thần dân xấu thành một nô lệ tốt”.
Giáo dục trong chính thể cộng hoà
“Trong chính thể cộng hoà, người ta cần đến tất
cả sức mạnh của giáo dục. Sự sợ hãi trong chính thể chuyên chế là do sự
trừng phạt và đe doạ mà sinh ra […] Nhưng đạo đức trong chính thể cộng
hoà lại là sự đấu tranh với bản thân mình”.
“Có thể định nghĩa đạo đức chính trị là tình yêu luật pháp và tình yêu tổ quốc.
Tình yêu ấy đòi hỏi luôn luôn đặt lợi ích chung lên lợi ích cá nhân.
Tình yêu ấy đặc biệt phù hợp với các chính thể dân chủ. Ở đây, vận mệnh của chính thể được giao cho mỗi công dân, mà chính thể là đủ mọi thứ trên đời, muốn bảo vệ nó thì phải yêu mến nó”.
“Trong chính thể cộng hoà, tất cả tuỳ thuộc ở
tình yêu trong sáng nói trên, do đó mà phải quan tâm đến giáo dục. Muốn
cho trẻ có được tình yêu luật pháp và tình yêu tổ quốc thì điều chắc
chắn là các ông bố trong gia đình phải có tình yêu ấy đã”.
“Thầy giáo truyền kiến thức cho học trò, thì phải
gợi cho các em sự đam mê, hứng thú. Người ta không làm được điều này là
vì sự giáo dục trong gia đình đã bị huỷ hoại bởi những tình cảm ngoại lai. Không phải người ta sinh ra đã mất gốc mà vì những con người thành nhân[2] trước đó đã bị hư hỏng”.
Có lẽ với những diễn giải dễ hiểu của Montesquieu
như trên thì không cần phân tích gì thêm. Nếu những nhà lãnh đạo nhà
nước cộng sản Việt Nam hôm nay vẫn nhận thể chế hiện hành là chính thể
cộng hoà (thể hiện ngay ở tên nước) thì phải xây dựng nền giáo dục trong
đó “đạo đức chính trị là tình yêu luật pháp và tình yêu tổ quốc”,
một thứ luật pháp mà bản chất là khế ước xã hội (chứ không phải do nhà
cầm quền tự ý đặt ra) và một tổ quốc của nhân dân (chứ không thể bắt ép
thành một một thứ “tổ quốc xã hội chủ nghĩa”). Nhà nước cộng sản muốn
người dân phải bảo vệ chế độ (như ông Tổng Bí thư thường nhắc nhở) thì
“vận mệnh của chính thể” phải được “giao cho mỗi công dân”. Còn nếu ngay
cả tình yêu tổ quốc cũng “đã có Đảng và Nhà nước lo” thì tất yếu các
công dân sẽ hoàn toàn vô cảm và cũng không có lý do gì để chê trách họ.
TMSS Đăng lại theo Quechoa
[1] Các đoạn trích dưới đây đề lấy từ cuốn Bàn về tinh thần pháp luật, Hoàng Thanh Đạm dịch, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, 2006.
[2] Thành nhân: cha mẹ (chú thích của người dịch).
