TỌA ĐÀM: "XÓA BỎ ÁN TỬ HÌNH TIẾN TỚI XÃ HỘI VĂN MINH"

23:56 |
TỌA ĐÀM: "XÓA BỎ ÁN TỬ HÌNH TIẾN TỚI XÃ HỘI VĂN MINH" diễn ra sáng nay 26/1/2015 tại Sài Gon, do Diễn đàn xã hội dân sự, Nhóm làm việc (Working group) UPR Vietnam, Văn phòng Công lý& Hòa Bình SG tổ chức. Tham dự buổi Tọa đàm gồm nhiều Tổ chức xã hội dân sự độc lập tại VN, Hội đồng Liên tôn VN, và các đại diện Lãnh sự quán các nước Mỹ, Úc, Đức, Liên Âu. Đặc biệt là trong buổi tọa đàm có sự hiện diện của gia đình tử tù Hồ Duy Hải ở Long An, và gia đình tử tù Nguyễn Văn Chưởng ở Hải Dương.

Các diễn giả trong buổi Tọa đàm đều cho rằng các nước trong đó có Việt Nam nên xóa bỏ án tử hình vì các lý do thuyết phục sau:
1. Nếu chẳng may tử tù bị oan sai thì không thể nào khắc phục, mà số án oan được thống kê chiếm số % khá lớn, nhất là những nước không có tư pháp độc lập như VN.

2. Các tôn giáo như Thiên Chúa Giáo, Tinh Lành, Cao Đài cho rằng án tử hình đi ngược lại niềm tin tôn giáo.

3. Tính răn đe của án tử hình không có tác dụng, bởi những nước áp dụng nó thì tình hình tội phạm nghiêm trọng không giảm, mà còn tăng.

4. Hình thức trừng phạt tử hình như là thực hiện sự trả thù người phạm tội, chứ không phải là mang lại công lý và an ninh...

5. Mặt khác án tử hình đã vi phạm quyền sống trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền.

6. Mục tiêu của Nhà nước là không được làm cho người dân bị đau khổ hơn. Do đó khi một kẻ ác (phạm nhân) đi giết người (nạn nhân) gây đau khổ cho nạn nhân và người thân của họ, mà Nhà nước lại tử hình phạm nhân thì sẽ như là đi thực hiện một tội ác kế tiếp ?! và Nhà nước lại gây ra thêm đau khổ cho những người khác (gia đình phạm nhân...), thay vì Nhà nước có thể dùng hình phạt khác như "khổ sai chung thân" để trừng phạt phạm nhân...

Ngoài ra cón có lý do là người ngồi trong nghị trường thông qua án tử thì dễ, nhưng những người trực tiếp thi hành án (giết tử tù, người đã bị thúc thủ, bị trói), họ sẽ bị ám ảnh tội lỗi đến cuối đời vì đây không phải giết người trong chiến đấu đối đầu của tình trạng chiến tranh.
Ông Juan Zaratiegui Biurrun, Cố vấn Chính trị, Ban Chính trị, Báo chí và Thông tin (phái đoàn liên minh châu Âu) cho biết, Liên hiệp Châu Âu đã bỏ án tử hình, và những nước nào muốn kết nạp vào EU thì phải bỏ án tử hình.
Và ông cũng cho biết là Liên Âu đã lưu ý với Bộ ngoại giao VN về việc Nhà nước VN xem xét lại hai vụ án tử tù Hồ Duy Hải và Nguyễn Văn Chưởng có nhiều tình tiết nghi vấn oan sai.

Bà Felicity Sims, Lãnh sự thương mại và kinh tế của Tổng Lãnh sự quán Úc tại SG cũng cho biết Úc đã bỏ án tử hình từ khoảng hai chục năm nay...
 
Toàn cảnh buổi Tọa đàm


Toàn cảnh buổi Tọa đàm

Bà Felicity Sims, Lãnh sự thương mại và kinh tế của Tổng Lãnh sự quán Úc tại SG đang an ủi bà Nguyễn Thị Bích, mẹ của tử tù Nguyễn Văn Chưởng (đến từ Hải Dương).

Ông Juan Zaratiegui Biurrun, Cố vấn Chính trị, Ban Chính trị, Báo chí và Thông tin (phái đoàn liên minh châu Âu), cũng diễn giả chính Nguyễn Quang A trao đổi với ông Nguyễn Trường Chinh. Ảnh 5: Bà Leonie Radosta, đại diễn Lãnh sự quán Đức tại tp.HCM trao đổi cùng vợ chồng ông Nguyễn Trường Chinh, bố mẹ tử tù Nguyễn Văn Chưởng.

Bà Leonie Radosta, đại diễn Lãnh sự quán Đức tại tp.HCM trao đổi cùng vợ chồng ông Nguyễn Trường Chinh, bố mẹ tử tù Nguyễn Văn Chưởng.

Ông Garrett Harkins viên chức chính trị, Tổng Lãnh sự quán Mỹ trao đổi với gia đình tử tù Hồ Duy Hải, Long An.

  Bài và ảnh:  Fb Bang Tran
Xem thêm…

Án tử hình oan và làn sóng cải cách luật pháp ở Trung Quốc (phần 3 và hết)

02:31 |

Nguyễn Huyền Trang

 Các bản án oan sai cho thấy nhiều lỗ hổng trong hệ thống pháp lý của Trung Quốc, từ việc dùng cực hình, bức cung nghi can, đến việc sử dụng pháp luật làm công cụ trả đũa luật sư biện hộ, đến sự thiếu độc lập và vô tư trong hoạt động xét xử giữa ba bên điều tra, công tố và tòa án. Luật Khoa tạp chí xin giới thiệu phần cuối báo cáo về cải cách tư pháp ở Trung Quốc: Những bài học từ các vụ án oan sai.
Để khắc phục những sai sót dẫn đến các vụ án oan sai, Trung Quốc cần hướng đến một giải pháp cải cách pháp lý toàn diện, thúc đẩy hệ thống tranh tụng thay thế cho hệ thống tố tụng và minh bạch hóa hoạt động điều tra, xét xử.
Cải cách toàn diện hệ thống pháp lý
Trung Quốc cần một hướng tiếp cận toàn diện để đặt dấu chấm hết cho lề lối làm việc truyền thống. Đất nước này cần cải cách toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự bởi việc đưa ra các biện pháp ngăn ngừa tình trạng kết án oan sai sẽ là bất khả nếu như cải cách hoạt động tố tụng hình sự không đi liền với cải cách toàn bộ hệ thống pháp lý.
Trước hết, cần có một sự chuyển đổi giá trị trong các cuộc cải cách pháp lý của Trung Quốc. Thay vì tập trung vào mục đích trấn áp, kiểm soát tội phạm, cải cách pháp lý ở đất nước này cần hướng đến sự cân bằng giữa mục đích duy trì trật tự xã hội và bảo vệ quyền cũng như lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan. Văn hóa trấn áp, kiểm soát tội phạm là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng mô hình tranh tụng chưa phát huy được hiệu quả trên thực tế, dù đã được đưa vào luật từ năm 1996.
Ngoài ra, như có thể thấy qua các vụ án oan sai ở Trung Quốc, một nguyên nhân khiến người vô tội phải nhận án oan là hoạt động điều tra, xét xử thường được thực hiện trên giả định có tội thay vì vô tội. Vì giả định có tội, nên lực lượng điều tra tìm mọi phương cách để thu thập chứng cứ có lợi cho hướng điều tra của mình, bất kể phương cách đó vi phạm pháp luật. Cả She Xianglin và Zhao Zouhai đều bị dùng cực hình – họ bị thẩm vấn liên tục suốt một thời gian dài, không được nghỉ ngơi, không được ăn uống đủ, thậm chí bị đánh đập, hăm dọa. Cũng vì giả định có tội, nên các thẩm phán có xu hướng “thà giết nhầm còn hơn bỏ sót”, sẵn sàng kết án người vô tội, thay vì tuyên trắng án khi vụ án xuất hiện những dấu hiệu đáng ngờ.
Có nhiều ý kiến cho rằng trở ngại lớn nhất mà Trung Quốc phải đối mặt không phải là đưa ra các điều luật mới, mà là ở việc triển khai các điều luật đó. Vì vậy, để các cải cách pháp lý phát huy hiệu quả, những động cơ khiến cơ quan điều tra, công tố và tòa án tập trung vào mục tiêu đạt được tỷ lệ phá án, xử án cao phải được loại bỏ. Thực thi công lý cần phải là mục tiêu cao nhất trong công tác điều tra, xét xử.
 

Bức ảnh nổi tiếng của Reuteurs: Một tử tù nữ, người Quảng Châu, gào thét trước giờ hành hình.
Xây dựng hệ thống pháp lý minh bạch, độc lập
Không chỉ giúp khôi phục niềm tin của người dân vào hệ thống pháp lý, tăng cường tính minh bạch còn là điều kiện cần để tránh tình trạng xử oan người vô tội. Ngoài ra, minh bạch hóa hoạt động điều tra, xét xử cũng cho phép giám sát toàn hệ thống pháp lý một cách hiệu quả và rộng khắp, từ đó tránh được tình trạng lạm dụng chức quyền từ phía các nhà chức trách.
Như có thể thấy, một dấu hỏi nổi bật hẳn lên trong các vụ án oan sai là những lời phản cung của bị can tại tòa. Trong vụ Zhao Zhouhai, Zhao đã nhận tội tất cả 9 lần. Nhưng sau mỗi lần kết thúc thẩm vấn, Zhao đều phản cung và cho biết đã bị tra tấn cho đến khi chịu nhận tội. Để tránh tình trạng bức cung, việc ghi hình các phiên thẩm vấn và phát lại băng hình thẩm vấn như một chứng cứ phục vụ xét xử là cần thiết.
Tiến trình minh bạch hóa cũng cần được thúc đẩy qua việc tăng cường hơn nữa vai trò của luật sư biện hộ trong thủ tục tái thẩm án tử hình. Làn sóng cải cách pháp lý năm 2010 của Trung Quốc được đánh dấu bằng sự kiện Tòa án Nhân dân Tối cao khôi phục quyền tái thẩm các bản án tử hình. Tuy nhiên, thủ tục tái thẩm vẫn còn thô sơ và nhiều thiếu sót. Các tòa tái thẩm thường được tổ chức kín, thiếu hẳn thông tin từ phía biện hộ. Vì vậy, để hạn chế nguy cơ xảy ra án oan, các luật sư cần được tham gia và thực hiện vai trò biện hộ trong các phiên tòa tái thẩm.
Mối quan hệ khăng khít của cơ quan điều tra, công tố và tòa án, và sự lệ thuộc của các cơ quan này vào ủy ban nội chính cũng là một yếu tố khác làm tăng nguy cơ xảy ra án oan sai ở Trung Quốc. Từ lâu, mối quan hệ giữa cơ quan điều tra, công tố và tòa án đã được ví như ba chân kiềng, tuần tự và phối hợp cùng nhau trong hoạt động trấn áp, kiểm soát tội phạm. Thiếu sự kiểm tra và cân bằng, các cơ quan này không thể thực hiện tốt vai trò bảo vệ công lý, và thường đứng về cùng một phe trong cuộc chiến pháp lý với bị can và luật sư biện hộ.
Sự can thiệp của các ủy ban nội chính vào tiến trình tố tụng cũng đặt ra sức ép, buộc các cơ quan điều tra, công tố và tòa án phải phá án, xử án nhanh. Nếu không có áp lực từ ban nội chính địa phương, rất có thể She Xianglin sẽ không phải ngồi tù suốt cả chục năm. Nhiều nhân chứng lương tâm nhìn thấy vợ She bỏ đi, thậm chí có người đã giúp vợ She bắt đầu cuộc sống mới ở nơi khác, tuy nhiên tình tiết này không được cơ quan xét xử xem là chứng cứ của vụ án. Hệ thống pháp lý giống như một chiếc băng chuyền lắp ráp sản phẩm, và áp lực từ các ủy ban nội chính là nguồn thúc chiếc băng chuyền đó phải chạy thật nhanh để đi đến phán quyết, bất kể có những dấu hiệu cho thấy bị cáo có thể là người vô tội.
Các lỗ hổng pháp lý đưa đến nhiều hệ lụy, và việc kết án, thi hành án tử hình oan là hệ lụy mà người ta không thể sửa sai hay làm lại. Ngay cả khi những khuyến nghị cải cách trên được thực hiện, các bản án oan sai vẫn là một thực tế khó tránh. Vì vậy, xóa bỏ hoàn toàn án tử hình là tiến trình cần sớm được triển khai. Trong đó, những việc cần làm ngay trước mắt là hoãn thi hành các bản án tử hình đã tuyên và ngừng áp khung hình phạt tử hình, thay bằng hình phạt chung thân.
Lược dịch và tham khảo từ bài viết Death Penalty Reforms in China: Lessons from Wrongful Convictions? của tác giả JIANG Na và Trial in China Tests Limits of Legal System Reform (New York Times, 2011).

Nguyễn Huyền Trang
- Các bản án oan sai cho thấy nhiều lỗ hổng trong hệ thống pháp lý của Trung Quốc, từ việc dùng cực hình, bức cung nghi can, đến việc sử dụng pháp luật làm công cụ trả đũa luật sư biện hộ, đến sự thiếu độc lập và vô tư trong hoạt động xét xử giữa ba bên điều tra, công tố và tòa án. Luật Khoa tạp chí xin giới thiệu phần cuối báo cáo về cải cách tư pháp ở Trung Quốc: Những bài học từ các vụ án oan sai.
Để khắc phục những sai sót dẫn đến các vụ án oan sai, Trung Quốc cần hướng đến một giải pháp cải cách pháp lý toàn diện, thúc đẩy hệ thống tranh tụng thay thế cho hệ thống tố tụng và minh bạch hóa hoạt động điều tra, xét xử.
Cải cách toàn diện hệ thống pháp lý
Trung Quốc cần một hướng tiếp cận toàn diện để đặt dấu chấm hết cho lề lối làm việc truyền thống. Đất nước này cần cải cách toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự bởi việc đưa ra các biện pháp ngăn ngừa tình trạng kết án oan sai sẽ là bất khả nếu như cải cách hoạt động tố tụng hình sự không đi liền với cải cách toàn bộ hệ thống pháp lý.
Trước hết, cần có một sự chuyển đổi giá trị trong các cuộc cải cách pháp lý của Trung Quốc. Thay vì tập trung vào mục đích trấn áp, kiểm soát tội phạm, cải cách pháp lý ở đất nước này cần hướng đến sự cân bằng giữa mục đích duy trì trật tự xã hội và bảo vệ quyền cũng như lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan. Văn hóa trấn áp, kiểm soát tội phạm là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng mô hình tranh tụng chưa phát huy được hiệu quả trên thực tế, dù đã được đưa vào luật từ năm 1996.
Ngoài ra, như có thể thấy qua các vụ án oan sai ở Trung Quốc, một nguyên nhân khiến người vô tội phải nhận án oan là hoạt động điều tra, xét xử thường được thực hiện trên giả định có tội thay vì vô tội. Vì giả định có tội, nên lực lượng điều tra tìm mọi phương cách để thu thập chứng cứ có lợi cho hướng điều tra của mình, bất kể phương cách đó vi phạm pháp luật. Cả She Xianglin và Zhao Zouhai đều bị dùng cực hình – họ bị thẩm vấn liên tục suốt một thời gian dài, không được nghỉ ngơi, không được ăn uống đủ, thậm chí bị đánh đập, hăm dọa. Cũng vì giả định có tội, nên các thẩm phán có xu hướng “thà giết nhầm còn hơn bỏ sót”, sẵn sàng kết án người vô tội, thay vì tuyên trắng án khi vụ án xuất hiện những dấu hiệu đáng ngờ.
Có nhiều ý kiến cho rằng trở ngại lớn nhất mà Trung Quốc phải đối mặt không phải là đưa ra các điều luật mới, mà là ở việc triển khai các điều luật đó. Vì vậy, để các cải cách pháp lý phát huy hiệu quả, những động cơ khiến cơ quan điều tra, công tố và tòa án tập trung vào mục tiêu đạt được tỷ lệ phá án, xử án cao phải được loại bỏ. Thực thi công lý cần phải là mục tiêu cao nhất trong công tác điều tra, xét xử.
Bức ảnh nổi tiếng của Reuteurs: Một tử tù nữ, người Quảng Châu, gào thét trước giờ hành hình.
Bức ảnh nổi tiếng của Reuteurs: Một tử tù nữ, người Quảng Châu, gào thét trước giờ hành hình.
Xây dựng hệ thống pháp lý minh bạch, độc lập
Không chỉ giúp khôi phục niềm tin của người dân vào hệ thống pháp lý, tăng cường tính minh bạch còn là điều kiện cần để tránh tình trạng xử oan người vô tội. Ngoài ra, minh bạch hóa hoạt động điều tra, xét xử cũng cho phép giám sát toàn hệ thống pháp lý một cách hiệu quả và rộng khắp, từ đó tránh được tình trạng lạm dụng chức quyền từ phía các nhà chức trách.
Như có thể thấy, một dấu hỏi nổi bật hẳn lên trong các vụ án oan sai là những lời phản cung của bị can tại tòa. Trong vụ Zhao Zhouhai, Zhao đã nhận tội tất cả 9 lần. Nhưng sau mỗi lần kết thúc thẩm vấn, Zhao đều phản cung và cho biết đã bị tra tấn cho đến khi chịu nhận tội. Để tránh tình trạng bức cung, việc ghi hình các phiên thẩm vấn và phát lại băng hình thẩm vấn như một chứng cứ phục vụ xét xử là cần thiết.
Tiến trình minh bạch hóa cũng cần được thúc đẩy qua việc tăng cường hơn nữa vai trò của luật sư biện hộ trong thủ tục tái thẩm án tử hình. Làn sóng cải cách pháp lý năm 2010 của Trung Quốc được đánh dấu bằng sự kiện Tòa án Nhân dân Tối cao khôi phục quyền tái thẩm các bản án tử hình. Tuy nhiên, thủ tục tái thẩm vẫn còn thô sơ và nhiều thiếu sót. Các tòa tái thẩm thường được tổ chức kín, thiếu hẳn thông tin từ phía biện hộ. Vì vậy, để hạn chế nguy cơ xảy ra án oan, các luật sư cần được tham gia và thực hiện vai trò biện hộ trong các phiên tòa tái thẩm.
Mối quan hệ khăng khít của cơ quan điều tra, công tố và tòa án, và sự lệ thuộc của các cơ quan này vào ủy ban nội chính cũng là một yếu tố khác làm tăng nguy cơ xảy ra án oan sai ở Trung Quốc. Từ lâu, mối quan hệ giữa cơ quan điều tra, công tố và tòa án đã được ví như ba chân kiềng, tuần tự và phối hợp cùng nhau trong hoạt động trấn áp, kiểm soát tội phạm. Thiếu sự kiểm tra và cân bằng, các cơ quan này không thể thực hiện tốt vai trò bảo vệ công lý, và thường đứng về cùng một phe trong cuộc chiến pháp lý với bị can và luật sư biện hộ.
Sự can thiệp của các ủy ban nội chính vào tiến trình tố tụng cũng đặt ra sức ép, buộc các cơ quan điều tra, công tố và tòa án phải phá án, xử án nhanh. Nếu không có áp lực từ ban nội chính địa phương, rất có thể She Xianglin sẽ không phải ngồi tù suốt cả chục năm. Nhiều nhân chứng lương tâm nhìn thấy vợ She bỏ đi, thậm chí có người đã giúp vợ She bắt đầu cuộc sống mới ở nơi khác, tuy nhiên tình tiết này không được cơ quan xét xử xem là chứng cứ của vụ án. Hệ thống pháp lý giống như một chiếc băng chuyền lắp ráp sản phẩm, và áp lực từ các ủy ban nội chính là nguồn thúc chiếc băng chuyền đó phải chạy thật nhanh để đi đến phán quyết, bất kể có những dấu hiệu cho thấy bị cáo có thể là người vô tội.
Các lỗ hổng pháp lý đưa đến nhiều hệ lụy, và việc kết án, thi hành án tử hình oan là hệ lụy mà người ta không thể sửa sai hay làm lại. Ngay cả khi những khuyến nghị cải cách trên được thực hiện, các bản án oan sai vẫn là một thực tế khó tránh. Vì vậy, xóa bỏ hoàn toàn án tử hình là tiến trình cần sớm được triển khai. Trong đó, những việc cần làm ngay trước mắt là hoãn thi hành các bản án tử hình đã tuyên và ngừng áp khung hình phạt tử hình, thay bằng hình phạt chung thân.
Lược dịch và tham khảo từ bài viết Death Penalty Reforms in China: Lessons from Wrongful Convictions? của tác giả JIANG Na và Trial in China Tests Limits of Legal System Reform (New York Times, 2011). 
Xem thêm…

Án tử hình oan và làn sóng cải cách luật pháp ở Trung Quốc (phần 2)

15:11 |
Nguyễn Huyền Trang 
Ngoài sự yếu kém về pháp lý, các yếu tố chính trị, văn hóa cũng là những chướng ngại cản trở sự phát triển hệ thống tranh tụng ở Trung Quốc, khiến hệ thống tranh tụng ở nước này không những không thỏa được các yêu cầu quốc tế, mà còn đi ngược lại với các tiêu chí của một “phiên tòa xét xử công bằng”. Luật Khoa tạp chí xin giới thiệu phần tiếp theo của một báo cáo dài về cải cách tư pháp ở Trung Quốc, liên quan đến vấn đề án tử hình: Những chướng ngại đẩy lùi cải cách.
Bài liên quan: Án tử hình oan và làn sóng cải cách luật pháp ở Trung Quốc (phần 1)
Mặc dù hệ thống tư pháp Trung Quốc đã có nhiều cải cách, song con đường đi tới một hệ thống tranh tụng hiệu quả để không còn những án oan như vụ She Xianglin hay Zhao Zouhai của đất nước này vẫn còn những chặng dài phía trước. Các làn sóng cải cách đưa vào mô hình tố tụng tranh tụng, song lại thiếu các quy định pháp lý bảo vệ hệ thống này. Vì vậy, hoạt động tranh tụng trong các phiên tòa hình sự, bao gồm cả những phiên tòa kết án tử hình, không được thực hiện đúng thủ tục.
Các trở ngại pháp lý từ Bộ luật Hình sự
Tuy có nhiều điểm mới, nhưng có lẽ Bộ luật Tố tụng Hình sự 2012 của Trung Quốc sẽ không hiệu quả hơn Bộ luật Tố tụng Hình sự 1996 là bao trong việc ngăn chặn và sửa chữa các bản án oan sai. Bộ luật này còn nhiều lỗ hổng. Chẳng hạn, các quy định mới nghiêm cấm sử dụng các chứng cứ thiếu căn cứ tại các tòa hình sự thiếu rõ ràng, và có thể bị những thẩm phán sẵn định kiến vô hiệu hóa. Các điều luật phạt những luật sư biện hộ hăng hái bảo vệ thân chủ cũng chưa được xóa bỏ. Những bù đắp về tinh thần và vật chất cho người bị kết án oan còn rất hạn chế. Ngoài ra, vẫn chưa có sự bảo vệ hiến định và luật định nào đối với quyền im lặng hoặc nguyên tắc suy đoán vô tội – hai điều kiện đảm bảo loại trừ được những chứng cứ phi pháp. Hoạt động kiểm tra và cân đối quyền lực giữa các bên tòa án, công tố và cảnh sát còn nhiều thiếu sót và thường không được triển khai. Nguyên nhân gốc rễ của tất cả những lỗ hổng trên là ba yếu tố “truyền thống” đang tồn tại trong hệ thống tư pháp Trung Quốc. Cụ thể đó là:
  • Truyền thống giả định có tội khi xét xử
  • Cấu trúc quyền lực thiếu cân đối truyền thống giữa bên biện hộ và bên công tố
  • Thái độ miễn cưỡng của các thẩm phán khi phải từ bỏ hệ thống tố tụng truyền thống – thẩm vấn
Chừng nào thực tế trên còn tồn tại, cuộc chuyển đổi sang hệ thống tố tụng tranh tụng bảo vệ quyền của bị cáo ở Trung Quốc sẽ là bất khả.
Nie Shubin bị tử hình năm 21 tuổi vì tội “hiếp dâm, giết người”. 10 năm sau (2005), thủ phạm thật của vụ án bị bắt và đã thú tội. Trong ảnh là mẹ Nie Shubin khóc ngất trên mộ con. Nguồn ảnh: China.org.cn
Nie Shubin bị tử hình năm 21 tuổi vì tội “hiếp dâm, giết người”. 10 năm sau (2005), thủ phạm thật của vụ án bị bắt và đã thú tội. Trong ảnh là mẹ Nie Shubin khóc ngất trên mộ con. Nguồn ảnh: China.org.cn
Một nguyên nhân khác nữa là dù vai trò biện hộ đã được tăng cường qua các lần cải cách pháp lý, song trên thực tế vai trò củng cố này tồn tại chủ yếu là trên giấy tờ. Các luật sư biện hộ dễ bị khép vào tội “làm giả chứng cứ” theo Điều 306 Bộ luật Tố tụng Hình sự 1996, theo đó các luật sư không được “ép hoặc xúi giục nhân chứng” thay đổi lời khai. Với ngôn ngữ mơ hồ, quá trình triển khai thiếu tin cậy và dấu hiệu vi phạm nhân quyền, điều luật này được cho là một trở ngại pháp lý đối với tiến trình xây dựng hệ thống tố tụng tranh tụng ở Trung Quốc. Không chỉ dừng lại đó, nó cũng dễ trở thành một vũ khí trong tay các nhà chức trách để trả thù những luật sư biện hộ thực hiện tốt vai trò đại diện pháp lý. Luật sư biện hộ có thể bị bỏ tù vì “khai man và cản trở công lý” khi “hướng dẫn nhân chứng nói dối” như trong vụ luật sư Li Zhuang [1], trong khi bộ luật lại thiếu các điều khoản hình sự hóa sai sót nghiệp vụ của các nhà chức trách.
Mặc dù rất ít luật sư bị buộc tội theo Điều 306 phải ngồi tù, song bản án dành cho Li Zhuang cho thấy “sự mục nát đáng báo động của môi trường dành cho các luật sư trong hoạt động xét xử hình sự”. Những diễn biến sau cùng của vụ Li quả thật đã khiến việc đại diện cho các can phạm trong giai đoạn trước xét xử trở nên khó khăn hơn, đồng thời khiến sự bất cân đối quyền lực giữa luật sư biện hộ và các cơ quan chấp pháp thêm trầm trọng.
Ảnh hưởng chính trị: Sự can thiệp từ đảng Cộng sản
Một trở ngại khác là ảnh hưởng chính trị không mong muốn lên hoạt động xét xử và kết án trong các vụ án hình sự. Dưới hệ thống tư pháp và chính trị hiện tại, đảng Cộng sản và các cơ quan chính phủ ở Trung Quốc có thể can thiệp vào các phiên tòa hình sự, và có thể gây áp lực chính trị kết án tử hình, như có thể thấy trong nhiều vụ án oan được phát hiện gần đây. Ảnh hưởng này tất yếu dẫn đến những nghi ngờ về tính hiệu quả của các cuộc cải cách pháp lý mà Trung Quốc tiến hành trong thời gian qua.
Tệ hơn nữa, hệ thống thực thi công lý của Trung Quốc vẫn tồn tại tình trạng tham nhũng và chịu sự can thiệp chính trị mạnh mẽ. Lực lượng điều tra, công tố và tòa án không hoạt động độc lập và đều chịu sự giám sát của đời sống chính trị và các ủy ban tư pháp của đảng Cộng sản. Trên thực tế, các yếu tố ngoài luật luôn có những ảnh hưởng thái quá lên việc triển khai các điều luật có liên quan do “tính quanh co của quá trình phát triển pháp lý ở Trung Quốc”. Do đó, nhiều vấn đề pháp lý của Trung Quốc không thể được giải quyết bằng phương tiện pháp lý, mà phải bằng các tính toán chính trị.
Can thiệp chính trị phá vỡ cấu trúc tam giác cần có giữa thẩm phán, công tố và biện hộ, trong đó mỗi bên lẽ ra đều có vai trò riêng để đảm bảo công lý được thực hiện. Các vụ xét xử hình sự bị biến thành một dạng dây chuyền lắp rắp, với cảnh sát ở đầu vào, công tố ở đầu tiếp theo và thẩm phán án ngữ đầu ra, và hậu quả là bất công. Đầu vào ban đầu thường là những lời khai bị ép buộc. Tình hình càng tệ thêm bởi áp lực từ ban Nội chính, ép cho ra một bản tuyên án có tội ngay cả khi bị cáo vô tội và án phạt là tử hình. Thậm chí, kể cả khi có những dấu hiệu đáng ngờ, các quan chức cũng sẽ đưa ra một bản án tử hình nhưng hoãn thi hành án, thay vì tuyên trắng án, để lập thành tích duy trì tỷ lệ phá án cao, hay đúng hơn là tỷ lệ phá án tuyệt đối.
Tóm lại, với việc các ủy ban đảng vẫn nắm quyền chi phối mọi khía cạnh trong đời sống chính trị và pháp lý của người dân, vai trò của luật sư trong các vụ án hình sự ở Trung Quốc chỉ có thể được cải thiện, khi Đảng Cộng sản nước này thể hiện  ý chí và cam kết xây dựng một nhà nước pháp trị thật sự.


Năm 2013, tử tù Wu Changlong (phải) được trả tự do sau 12 năm ngồi tù chờ thi hành án tử vì bị kết tội khủng bố. Nguồn ảnh: caixin.com
Nguyên nhân văn hóa: Kiểm soát tội phạm hay bảo vệ nhân quyền?
Sau thất bại của Bộ luật Tố tụng Hình sự 1996 trong việc đạt được sự cân bằng giữa mong muốn kiểm soát tội phạm và mong muốn bảo vệ các quyền của nghi can, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2012 và các cơ chế pháp lý khác cũng đang có nguy cơ gặp phải những trở ngại văn hóa tương tự trong quá trình triển khai.
Với truyền thống đặt ổn định xã hội và giá trị của hoạt động kiểm soát tội phạm là ưu tiên hàng đầu, các nhà chức trách Trung Quốc có thể cảm thấy cần chú trọng đến mục đích kiểm soát tội phạm, và do đó chủ ý hạn chế quyền lực của luật sư trong hoạt động tố tụng. Ngoài ra, với văn hóa Khổng giáo và ý thức hệ xã hội chủ nghĩa luôn đặt lợi ích tập thể lên trước lợi ích cá nhân, các luật sư thường được yêu cầu phải trung thành với mục đích xã hội và đặt lợi ích của xã hội lên trước.
Nhằm cân bằng giữa mục đích kiểm soát tội phạm và mục đích bảo vệ nhân quyền, Bộ luật Tố tụng Hình sự 1997 bắt đầu đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng mô hình tố tụng tranh tụng với hy vọng cải thiện tính hiệu quả của các luật sư trong hoạt động bảo vệ quyền của các bị can, và điều chỉnh lại vai trò của các bên tại tòa, trong đó đại diện tư pháp đóng vai trò như một người phân xử độc lập và trung lập giữa công tố và biện hộ.
Tuy nhiên, có thể thấy rõ mục đích kiểm soát tội phạm vẫn chi phối mạnh mẽ hoạt động tố tụng ở Trung Quốc, hay nói cách khác lý tưởng kiểm soát tội phạm vẫn còn rất mạnh mẽ trong não trạng của các cơ quan chấp pháp nước này. Các phiên tòa vẫn tập trung vào mục đích kiểm soát tội phạm, và cảnh sát cũng như công tố vẫn thích áp dụng các hình thức cáo buộc. Chịu ảnh hưởng từ truyền thống đó, các nhà điều tra có xu hướng thu thập chứng cứ trọng yếu bằng bất kỳ phương tiện nào dù là trái luật, như tra tấn, đánh đập và các hình thức phi pháp khác. Trong vụ She Xianlin và Zhao Zhohai, cả hai đều bị dùng cực hình cho đến khi chịu nhận tội. Thậm chí trong vụ Zhao, vợ của anh cũng bị đánh cho đến khi chịu cung khai có lợi cho hướng điều tra của cảnh sát. Rõ ràng, mục tiêu của chiến dịch chống tội phạm không chỉ dừng lại ở bị cáo, mà còn chuyển hướng sang người thân của bị cao, hay luật sư biện hộ, như trong vụ Li Zhuang.
Để hạn chế những trường hợp oan sai dưới hệ thống tranh tụng chưa hoàn thiện, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2012 đã cải cách hơn nữa cách thức thực thi công lý của ba cơ quan thông qua việc củng cố mô hình tranh tụng để bảo vệ hơn nữa quyền con người cho phía biện bộ. Mặc dù những vụ án được xét xử sau khi bộ luật này có hiệu lực chưa đủ để đưa đến kết luận thế hệ lãnh đạo mới ở Trung Quốc nghiêm túc đến đâu với kế hoạch cải cách có ý nghĩa, song các vụ oan sai trong quá khứ quả thật cho thấy tầm quan trọng của việc thúc đẩy văn hóa nhân quyền thay cho văn hóa kiểm soát tội phạm.
———-
[1] Li Zhuang là luật sư biện hộ cho Meng Ying trong một phiên tòa xét xử băng nhóm tội phạm có tội chứng năm 2008. Theo cáo buộc của công tố, Li Zhuang đã hướng dẫn Xu Lijun, nhân chứng của vụ án, thay đổi lời khai. Trong phiên tòa, Li Zuang khẳng định anh không can thiệp vào quyết định đưa ra lời khai của Xu Lijun. Vụ Li là một chỉ báo cho thấy những thiếu sót trong các cải cách pháp lý của Trung Quốc và kéo cuộc cải cách của nước này tụt lùi 30 năm, theo nhận định của He Weifang, giáo sư luật học đại học Peking (New York Times, 2011).
Lược dịch và tham khảo từ bài viết Death Penalty Reforms in China: Lessons from Wrongful Convictions? của tác giả JIANG Na và Trial in China Tests Limits of Legal System Reform (New York Times, 2011).
Kỳ sau: Những bài học để lại cho nền tư pháp
Xem thêm…

Án tử hình oan và làn sóng cải cách luật pháp ở Trung Quốc (phần 1)

08:00 |
Nguyễn Huyền Trang 
“Cảnh sát điều tra chia thành ba nhóm, thẩm vấn Zhao liên tục trong hơn một tháng trời. Zhao bị trói và phải trả lời thẩm vấn trong tình trạng súng nhằm thẳng mặt, bị đánh đập bằng gậy và báng súng. Anh không được nghỉ ngơi, không được ăn uống đầy đủ. Zhao đã nhận tội tất cả 9 lần, nhưng khi các đợt thẩm vấn kết thúc, anh đều khai đã bị tra tấn buộc phải nhận tội…”. Nền luật pháp của Trung Quốc có rất nhiều nét tương đồng với Việt Nam, mà các án oan là một trong đó. Luật Khoa tạp chí xin giới thiệu phần đầu của một báo cáo dài về cải cách tư pháp ở Trung Quốc, liên quan đến vấn đề án tử hình.
Những vụ án oan
Mùa xuân năm 2005 có lẽ là một mùa xuân vui buồn lẫn lộn đối với She Xianglin. Sau 11 năm tù đày, mang bản án tử hình vì tội giết vợ, rồi sau đó phúc thẩm còn 15 năm, She chính thức được trả tự do khi người vợ (mà 11 năm trước đó She bị cáo buộc giết hại) bỗng dưng… quay về.
Năm 1994, She bị bắt giữ sau khi cảnh sát tỉnh Hubei (Hồ Bắc) phát hiện xác một phụ nữ đang phân hủy. Một số thủ tục khám nghiệm được tiến hành. Ngay sau đó, anh bảo vệ 28 tuổi She Xianglin bị bắt giam, vì xác chết kia có chiều cao tương tự và thời điểm chết trùng với thời điểm vợ She biến mất. She bị thẩm vấn liên tục suốt 10 ngày, bị đánh đập và chỉ được cho nghỉ khi khai nhận tội giết vợ. Mẹ và anh trai She, trong quá trình đi tìm công lý cho con, em mình, cũng bị tống giam nhiều ngày. Riêng mẹ She đã bị giam giữ hơn 9 tháng trời vì tội “che giấu hành vi phạm pháp”.
She Xianglin được trả tự do vào ngày 13/4/2005. Nguồn ảnh: China.org.cn
She Xianglin được trả tự do vào ngày 13/4/2005. Nguồn ảnh: China.org.cn

Kịch tính không kém trường hợp của She Xianglin, năm 1999, Zhao Zuohai cũng phải nhận án tử hình cho tội danh giết người khi cảnh sát tìm thấy thi thể đang phân hủy của một người đàn ông được cho là mất tích và Zhao đã có xích mích với ông ta từ trước đó. Điều tra viên chia thành ba nhóm, thẩm vấn Zhao liên tục trong hơn một tháng trời. Zhao bị trói gô và phải trả lời thẩm vấn trong tình trạng súng nhằm thẳng mặt, bị đánh đập bằng gậy và báng súng. Anh không được nghỉ ngơi, không được ăn uống đầy đủ. Zhao đã nhận tội tất cả 9 lần, nhưng khi các đợt thẩm vấn kết thúc, anh đều khai đã bị tra tấn để buộc phải nhận tội. Vợ Zhao cũng bị bắt giữ và tạm giam hơn một tháng. Chị cũng bị đánh đập cho đến khi chịu khai nhận những túi nilon tìm thấy quanh thi thể không đầu kia là túi nilon nhà mình.
11 năm sau, “nạn nhân” của vụ án trở về làng vì ốm nặng và cần làm các thủ tục giấy tờ để được hưởng phúc lợi xã hội. Ngày 8/5/2010, Tòa án Tối cao tuyên Zhao vô tội và ra lệnh trả tự do cho anh ngay lập tức. Sau 11 năm tù, người đàn ông 57 tuổi gần như không còn lại gì. Người vợ đã đưa đơn ly dị, rồi tái hôn, có cuộc sống mới. Hai trong số những người con của Zhao được cho đi làm con nuôi.
Hai vụ án oan trên đã thu hút được sự chú ý không chỉ của dư luận Trung Quốc mà còn của thế giới, và làm dấy lên những làn sóng cải cách luật tử hình ở nước này. Trong đó, đáng kể nhất là những làn sóng bắt đầu từ sau năm 2005, với việc Tòa án Nhân dân Tối cao Trung Quốc khôi phục lại quyền tái thẩm án tử hình năm 2006, và phạm vi áp dụng án tử hình được thu hẹp trong lần sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2011. Ngoài ra, trước và giữa các làn sóng cải cách này, Trung Quốc cũng có nhiều nỗ lực cải cách khác nhằm bảo vệ quyền của các nghi can và ngăn chặn nguy cơ xảy ra các bản án oan sai trong tương lai.
Nỗ lực xây dựng hệ thống tố tụng minh bạch, công bằng
Để khắc phục những sai lầm trong quá trình xét xử, năm 1996, Trung Quốc đã ban hành Bộ luật Tố tụng Hình sự mới. Bộ luật đưa ra thêm các quy định về chứng cứ nhằm bảo vệ nhân chứng trước lực lượng điều tra, tăng cường vai trò của luật sư biện hộ cũng như thể hiện sự tôn trọng quyền kháng nghị của bị cáo. Hầu hết các sửa đổi quan trọng trong 61 điều khoản bổ sung của bộ luật này đều thể hiện một mong muốn: xây dựng mô hình tố tụng tranh tụng thay cho mô hình tố tụng thẩm vấn để hạn chế tình trạng xảy ra oan sai. Các cải thiện cũng đều hướng tới việc thúc đẩy quyền được đối xử bình đẳng trước pháp luật của bị can, và có tác dụng điều chỉnh lại sự bất cân đối về mặt cấu trúc giữa ba bên – công tố, biện hộ và tòa án.
Các cải cách trong thủ tục tố tụng được tiếp nối với quyết định khôi phục quyền tái thẩm của Tòa án Nhân dân Tối cao Trung Quốc năm 2006. Tòa án này quyết định thành lập các tòa án riêng với mục đích tái thẩm tất cả các bản án tử hình đã được đưa ra. Đồng thời, Tòa án Nhân dân Tối cao Trung Quốc cũng yêu cầu các tòa án phúc thẩm phải đảm bảo các vụ án có thể liên quan đến tử hình đều phải được xét xử công khai để tăng tính minh bạch, tăng cường trách nhiệm giải trình và hạn chế nguy cơ xử sai. Cả hai cải cách trên đều được quy định trong bản sửa đổi Luật Cơ bản về Tòa án Nhân dân được Ủy ban Thường trực Quốc hội Trung Quốc thông qua.
Điểm đáng chú ý khác là trong bản đề cương cho Kế hoạch Cải cách 5 năm lần III năm 2009, Tòa án Nhân dân Tối cao Trung Quốc đã đẩy các cải cách trong việc áp dụng khung hình phạt tử hình lên thành một phần chính yếu của kế hoạch cải cách. Mặc dù vẫn còn nhiều bất cập trong hoạt động tố tụng liên quan đến các bản án tử hình, song công bằng mà nói, các hoạt động tố tụng ở Trung Quốc đang tiến tới hướng dân chủ, công bằng và minh bạch hơn.
Đặc biệt, tháng 6/2010, 5 bộ và cơ quan tư pháp của Trung Quốc đã đưa ra một bộ quy định pháp lý chung điều chỉnh lại hệ thống chứng cứ hình sự trước đó. Cụ thể, điều khoản liên quan đến các vấn đề kiểm tra chứng cứ trong các vụ án tử hình quy định rõ, dữ kiện, thực tế khách quan trong các vụ án tử hình phải được xác lập dựa trên chứng cứ. Đây là một bước tiến đáng kể so với nguyên tắc “dựa trên thực tế khách quan và phán quyết theo luật” được quy định trong Điều 6 của Bộ luật Tố tụng Hình sự nước này. “Chứng cứ” là những bằng chứng thỏa mãn tất cả các yêu cầu được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự, trong khi “thực tế khách quan” có thể đưa đến việc ngụy tạo các chứng cứ giả, chẳng hạn những lời cung khai do bị tra tấn như trong trường hợp của She Xianglin và Zhao Zouhai.
Những cải cách kể trên đã tạo ra một môi trường nghiêng theo hướng hạn chế sử dụng án tử hình cũng như giảm các trường hợp thi hành án tử hình trên thực tế. Theo báo cáo hàng năm của Tòa án Nhân dân Tối cao Trung Quốc năm 2008, lần đầu tiên kể từ sau năm 1979, số vụ tử hình treo 2 năm đã vượt số vụ tử hình thi hành ngay. Đồng thời, thống kê cũng cho thấy phần lớn án tử hình được áp dụng cho các vụ án có hành vi bạo lực nghiêm trọng nhất như giết người, trộm cắp, bắt cóc, và tấn công có chủ đích gây chết người. Những thay đổi này đều đặt nền móng vững chắc cho một cải cách quan trọng được coi là bước tiến của Trung Quốc trong tiến trình xóa bỏ hẳn án tử hình: Bộ luật Hình sự sửa đổi lần VIII.
Mẹ của Nie Shubin gục khóc trên mộ con. Nie Shubin bị tử hình năm 21 tuổi vì tội "hiếp dâm, giết người". 10 năm sau (2005), thủ phạm thật sự của vụ án bị bắt và đã thú tội.
Mẹ của Nie Shubin gục khóc trên mộ con. Nie Shubin bị tử hình năm 21 tuổi vì tội “hiếp dâm, giết người”. 10 năm sau (2005), thủ phạm thật của vụ án bị bắt và đã thú tội. Nguồn ảnh: China.org.cn

Cú đột phá “sửa đổi lần VIII”
Sau khi nhiều bản án tử hình oan được phát hiện, đặc biệt là trường hợp oan sai của Zhao Zouhai, có thêm nhiều đề xuất cải cách tập trung vào việc hạn chế phạm vi áp dụng án tử hình. Trong đó, Bộ Luật Hình sự sửa đổi lần VIII năm 2011 được đánh giá là cú đột phá quan trọng, đưa Trung Quốc tiến dần tới việc xóa bỏ án tử hình.
Theo luật sửa đổi, 13 tội danh phi bạo lực được xóa khỏi khung hình phạt tử hình. Từ 68 tội danh theo Bộ luật Hình sự năm 1997, số tội danh có thể phải chịu án tử giảm xuống còn 55. Có nhiều ý kiến cho rằng sửa đổi này có cũng như không vì đây là các tội danh phi bạo lực, và những người phạm các tội danh này hiếm khi bị tử hình trên thực tế. Tuy nhiên, với con số 19% tội danh được xóa án tử, khách quan mà nói bản sửa đổi này là một cột mốc quan trọng của Trung Quốc trong nỗ lực cải cách luật về tử hình.
Ngoài ra, bản sửa đổi lần VIII còn cho thấy một thay đổi trong quyết định lựa chọn giá trị của cơ quan lập pháp Trung Quốc. Nếu như trước đây, luật hình sự nói chung và bản án tử hình nói riêng được sử dụng như một công cụ để duy trì trật tự xã hội, thì những sửa đổi năm 2011 dường như cho thấy cơ quan lập pháp Trung Quốc bắt đầu xem xét lại lựa chọn giá trị của mình khi ban hành luật, và chuyển đổi trọng tâm từ chỗ duy trì trật tự xã hội, sang đạt đến sự cân bằng giữa trật tự xã hội và quyền con người.
Một điểm mới khác, đáng chú ý trong bản sửa đổi VIII là sự khoan dung của pháp luật Trung Quốc đối với những người phạm tội trên 75 tuổi; theo đó, hình phạt tử hình sẽ không áp dụng với những can phạm trên 75 tuổi, trừ trường hợp người phạm tội gây chết người bằng những phương thức đặc biệt dã man. Cũng theo luật sửa đổi, người phạm tội trên 75 tuổi có thể được hưởng mức án nhẹ hơn cho những tội danh cố ý. Ngoài ra điều 19 của luật sửa đổi cũng quy định, người phạm tội dưới 18 tuổi tại thời điểm gây án và nhận án dưới 5 năm tù không có trách nhiệm khai báo với đơn vị liên quan về tiền án của mình khi đăng ký tòng quân hay đi xin việc.
Đánh giá khách quan các sửa đổi trên, có thể nói lời hứa “Nhà nước tôn trọng và bảo vệ quyền con người” được ghi trong Hiến pháp Trung Quốc đang dần được hiện thực hóa trong lĩnh vực luật hình sự. Bộ luật Hình sự sửa đổi lần VIII là cú đột phá có tính lịch sử, là hành động cụ thể hóa lập trường của Chính phủ Trung Quốc về án tử hình, hướng đến “mục đích cuối cùng là xóa bỏ án tử hình” như cam kết của ông La Yifan, đại diện của Trung Quốc trong Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc tháng 3 năm 2009.
 
Cha mẹ của tử tù Nguyễn Văn Chưởng kêu oan cho con, Hà Nội, tháng 12/2014. Nguồn ảnh: FB Mai Dũng.


Tổng hợp từ các bài viết:
Death Penalty Reforms in China: Lessons from Wrongful Convictions? của tác giả JIANG Na đăng trên tạp chí Tsinghua China Law Review
The Death Penalty in China: Reforms and its Future của tác giả Zhou Zhenzie đăng trên WIAS Research Bulletin
Zhao Zuohai: Beaten, framed and jailed for a murder that never happened của tác giả Clifford Coonan (independence.co.uk). 
Kỳ sau: Những chướng ngại đẩy lùi cải cách
Xem thêm…

Án tử hình – sự thất bại

16:37 |


Án tử hình –  sự thất bại

(TMSS) Không biết tự bao giờ, án tử hình được áp dụng trong hệ thống pháp luật của xã hội loài người. Trải qua thời gian, án tử hình cũng biến đổi và thi hành dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng cùng chung một mục đích là loại bỏ một con người ra khỏi thế giới cách vĩnh viễn không một cơ hội sửa sai để trở nên người lương thiện.
 
          
 Hình thức tử hình mới tại Việt Nam - Tiêm thuốc độc (ảnh Internet)
 Án tử - niềm tin và hy vọng bị lãng quên

Không cơ hội có lẽ không quan trọng bằng việc con người mất niềm tin và hy vọng nơi nhau. Mất niềm tin vào sự thay đổi của một con người, kẻ được coi là cặn bã, gây nguy hại cho xã hội, nên án tử hình là thích đáng. Mất hy vọng vì người ta trở nên tuyệt vọng về con người đã phạm sai lầm, đôi khi là rất tai hại cho xã hội nên cần loại bỏ. Không chỉ người khác mất niềm hy vọng vào kẻ được coi là tử tù kia mà chính kẻ được coi là tử tù cũng mất luôn hy vọng sửa đổi để trở nên người lương thiện. Thử hỏi, cuộc sống này có đáng sống khi con người mất niềm tin và hy vọng nơi nhau!?  Có lẽ, đây là thất bại đầu tiên mà con người chứng kiến mà chẳng mấy ai nhận ra và ít khi đi tìm căn nguyên vấn đề để giải quyết. Trong y học, người ta luôn nhắc nhở nhau, phòng bệnh hơn chữa bệnh. Nhưng, án tử hình chỉ cho chúng ta thấy việc chữa cháy cho một cái ngọn trong một cuộc chạy đua mất mát niềm tin và hy vọng nơi con người.

Án tử - công bằng hay nỗi đau

Khi chứng kiến một ai đó gây ra nỗi đau cho mình, thường phản ứng đầu tiên là muốn cho kẻ đó phải chịu một hình phạt thích đáng xứng với những gì anh ta đã làm  - đây là phản ứng tự nhiên của con người theo kiểu răng đền răng, mắt đền mắt. Sự công bằng với lý lẽ thuyết phục mà nhiều người đưa ra. Sự công bằng ấy, ngày hôm nay được thực hiện bằng pháp luật – một công cụ để vãn hồi trật tự xã hội. Nhưng, rất có thể, đây đơn giản chỉ là sự trả thù!?
Trả thù, vì với pháp luật, người ta đã đòi lại được công bằng cho mình theo một nghĩa nào đó. Nhưng, có khi nào người ta đòi được sự công bằng thực sự. Đơn cử một ví dụ:
Khi bạn mua một chiếc bánh bao trị giá 5000vnđ. Bạn trả cho người bán 5000vnđ và bạn thấy là bạn công bằng và sòng phẳng. Vâng, đó là sự công bằng trong giao hoán mà ta có thể nhìn thấy. Nhưng đằng sau sự công bằng có thể nhìn thấy ấy, có khi nào ta trả được tâm tư và tình cảm của một người hết lòng để làm ra miếng bánh thật ngon và đảm bảo cho sức khỏe của ta thay vì chiếc bánh kém chất lượng bạn mua từ một người làm vì mục đích kinh tế. Công bằng đấy, nhưng ta đã nợ người bán một tấm chân tình vì lòng tốt họ dành cho.




Cũng vậy, khi tòa xử án, nhiều người, nhất là nạn nhân lấy làm thỏa mãn vì đã đòi lại được sự công bằng cho chính mình. Vậy, có khi nào tự hỏi bản thân xem, bản án đó đã công bằng. Nếu có chăng chỉ là sự công bằng tương đối về mặt giao hoán và ta nhận thấy những thương tổn của mình chỉ đơn giản là một bài toán có thể cân đo đong đếm. Đặc biệt, với án tử hình, ta có thể vui vì vừa đòi được sự công bằng cho mình, theo nghĩa nào đó, vừa loại được một mối nguy cho xã hội loài người. Nhưng, có mấy ai nghĩ tới nỗi đau mà ta đang và sẽ gây ra cho những người khác đàng sau vụ án. Cha mẹ, vợ con họ chẳng hạn. Ta đòi lại được sự công bằng cho chính mình nhưng lại trở thành kẻ bất công khi gây ra nỗi đau cho những con người khác. Và đơn giản, ta lại trở thành kẻ thù gây oán mà người khác không được oán hận, đôi khi còn phải cám ơn. Nếu thực sự nghĩ đến cùng, ai dám cho rằng, với bản án đó, nỗi đau sẽ mất đi vì ta đã lấy lại được sự công bằng hay, nỗi đau còn đó và còn làm sản sinh thêm nhiều nỗi đau mới. Liệu ta có thể cười được chăng khi chính ta, với sự công bằng tưởng chừng hợp lý ấy lại là sự bất công đối với người khác?

Không bất công đâu! Họ đáng chịu những điều đó vì họ không biết dạy bảo con cái hay khuyên răn người thân của mình! Có lẽ ta đã đúng khi nói điều đó, nhưng mấy ai tự nhận thấy trách nhiệm của mình trong sự sai lệch về nhân cách và lương tâm của phạm nhân. Có lẽ, chúng ta  sống chưa đủ tốt để phạm nhân thấy mà thay đổi. Hay, chúng ta không dám lên tiếng mà im lặng vì thấy an tâm khi những người đó không gây tổn hại cho mình. Một thái độ dửng dưng, đèn nhà ai nhà ấy rạng đã khiến mối dây ràng buộc trong quần thể xã hội bị buông lơi. v.v. Một cách nào đó, chính chúng ta có trách nhiệm trong đó nhưng ta lại thấy an tâm khi mình không làm điều đó.

Thử phân tích một ví dụ: một nhà sản xuất bún tại Giao Cù, Nam Trực, Nam Định. Chỉ là sản xuất bún thôi nhưng đã khiến một con kênh đen kịt và gây ô nhiễm đến 5km2. Mực nước ngầm ở đó nhiễm mùi xú uế nghiêm trọng mặc dù đã khoan sâu đến 15m. Nhưng hỡi ôi, hiện tại, vẫn chưa có ai lên tiếng, từ chính quyền xã cho đến những người dân sống quanh đó. Cái chết đang rình mò đến từng ngóc ngách của cuộc sống nơi đây mà không ai chịu trách nhiệm và không ai lên án. Tất cả chỉ thấy một điều, nước sông không phạm nước giếng, nên anh đừng động đến tôi. Chính quyền thì cứ an tâm vì chưa có ai chết hay ung thư được chứng minh là do sự ô nhiễm này, nên tất cả bình chân như vại. 

Một ví dụ giản đơn như thế. Sờ sờ trước mắt như thế mà chúng ta còn thấy an tâm huống chi nguyên nhân gây ra cái xấu nơi phạm nhân còn khó phân tích chừng nào. Phải chăng, đó là sự thất bại của giáo dục trong một nền văn hóa đề cao cộng đồng nhưng lại rất thờ ơ đối với cộng đồng. Một cộng đồng rất hình thức nhưng lại quên đi những án tử âm ỉ mà không đấu tranh nhưng lại vui thú khi loại bỏ được một con người. Thật buồn và chớ trêu khi cũng tại tỉnh Nam Định ấy, một thôn văn hóa vì muốn giữ văn hóa và sự sạch sẽ cho thôn mình đã đi vất rác cách lén lút xang thôn bên cạnh vào sáng sớm để họ trở thành thôn vô văn hóa lúc nào không hay. Thật là tai hại của một chính sách thôn văn hóa hình thức mà không xác định được văn hóa là gì. Có thể nói đây là án tử cho danh hiệu thôn “VĂNG HÓA” thì đúng hơn.

Tất cả những ví dụ đau lòng trên chỉ đơn giản cho thấy một sự thất bại trong giáo dục. Một nền giáo dục thiếu căn tính và chạy theo thành tích, danh lợi, nhất là vật chất mà quên việc dạy đạo làm người. Một nền giáo dục chỉ còn dạy sống cho mình thay vì sống cùng, sống với và sống cho cũng như sống vì người khác nữa. Một  nền giáo dục mang tính cộng đồng cụ thể thay vì hình thức. Chính lỗ hổng này là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng, những phạm nhân, một cách nào đó là những sản phẩm của một nền giáo dục dạy con người ta chỉ chăm lo cho bản thân thay vì cho cộng đồng. Và như thế, một cách nào đó, chúng ta đang lên án tử cho nhau! Liệu ta có cười được chăng khi tìm cách loại bỏ một con người mà quên đi chính mình cũng đáng bị loại bỏ nếu xét cho đến cùng. Biết như thế ta còn muốn lên án tử nữa chăng? 

Nếu vẫn còn muốn lên án tử vì muốn dằn mặt một số người nào đó hay muốn răn đe thì thực tế đã cho thấy: những bản án đó chẳng răn đe được mấy khi chưa đụng đến cốt lõi vấn đề nên vẫn còn đó nụ cười hể hả của một công ty chôn hàng tấn thuốc trừ sâu ở Thanh Hóa, vẫn còn đó di chứng của lợi nhuận nhà máy xi măng bên cạnh khói bụi và ung thư ngày càng cao của những hộ dân lân cận…

Tựu chung, đó là một sự thất bại lớn khi giá trị răn đe rất thấp và dường như cái chết cứ cận kề một cách tinh vi hơn mà con người vẫn cứ mãi hả hê vì mình là kẻ vô can.
 
Án tử - vô cảm có hệ thống

Khi tòa tuyên án tử hình, phần lớn bị hại sẽ thấy vui mừng vì mình đã đạt được mục đích là lấy lại sự công bằng cho mình. Vui vì mình đã thỏa mãn được phần nào trong nỗi đau mà kẻ kia phải trả xứng với việc nó làm. Vui lắm, hả hê lắm nhưng hình ảnh tử tù kia sẽ quay quắt hoài trong tâm trí mình. Cho dù có loại được con người đó nhưng tâm trí sẽ không ngừng suy tưởng tới. Nỗi đau còn đó, dai dẳng và đeo đuổi suốt cả cuộc đời. Đó - nỗi đau do sự vô cảm mà kẻ thủ ác đã gây ra cho người bị hại.
Cánh người dân xem thi hành án tử hình (nguồn internet)

Nhưng đến lượt mình, với vai trò của bên thắng cuộc, và cả những người đứng ngoài quan sát vụ án, vô tình ta cũng trở thành kẻ vô cảm trước một mạng sống – một con người- mà chẳng thấy xót sa. Có xót là xót cho nỗi đau của mình chứ mấy ai đau cho nỗi đau của người mang án tử hay cho thân nhân của họ. Một cách nào đó, đây chính là mặt nạ của tính vô cảm có hệ thống được trả thù bằng pháp luật.
Hẳn chúng ta vẫn không thể quên các vụ người dân đánh chết trộm chó tập thể. Lạ thay, người dân chẳng thấy đau đớn gì trước một sinh mạng bị tước đoạt nhưng còn hả hê khi đã loại được một mối nguy. Thậm chí, khi một số người bị bắt, nhiều người đồng loạt viết đơn tự thú mình góp phần gây ra cái chết của kẻ trộm chó nhằm giải thoát cho hai người kia như xảy ra ở Quảng Trị mấy ngày qua  (http://motthegioi.vn/Columnist/68-nguoi-tu-thu-giet-nguoi-phai-chang-mang-nguoi-qua-re-60894.html?fb_action_ids=692672140779756&fb_action_types=og.likes ). Chao ôi, mạng người không bằng mạng chó. Con người xót xa cho con chó thay vì đồng loại của mình. Đấy chẳng phải là sự vô cảm tập thể sao? Vô cảm được che đậy bằng vỏ bọc của đạo đức và bảo vệ tài sản của mình. Tất nhiên sự so sánh là khập khiễng khi một bên, người dân không nại đến pháp luật mà tự sử, một bên là có tòa án và pháp luật bảo vệ. Nhưng, cả hai đều cho thấy một điều: đau khổ của đồng loại chẳng liên quan gì đến tôi và tôi thấy an tâm khi kẻ thủ ác kia phải trả giá bất chấp hậu quả đàng sau thế nào.
Phải chăng, đây là điều mà Đức Thích Ca gọi đời là bể khổ. Khổ ải trầm luân hoài vậy sao? Đời không còn đáng yêu và đáng để sống hầu có thể dung nạp một con người nữa chăng. Tới đây, ta nhớ lại câu nói của thầy Đinh Đăng Định trăng chối lại cho người thân: không được giữ lòng thù hận, chúng ta không phải là kẻ thù của nhau. Bởi đâu thầy cất lên được những lời nói đó. Xin thưa, thầy đã có một cuộc đấu tranh để loại trừ cái ác và gieo vào đó mầm thiện, ngay cả đến cái chết cũng không ngăn cản được thầy. Thầy đấu tranh không phải để loại trừ kẻ thủ ác nhưng là để bảo toàn sự sống và làm cho xã hội này đáng sống, đáng để yêu thương. Thầy đấu tranh để chống lại KẺ đáng tử hình gấp bội những kẻ phải lãnh án tử hình kia mà ta thấy. Nhưng thầy không đấu tranh để loại bỏ mà đấu tranh để cho tất cả con người được sống đúng với phẩm giá con người. Một cuộc sống hài hòa với thiên nhiên cho một cộng đồng thay vì một nhóm lợi ích. Thầy đã không vô cảm trước nỗi đau của người đồng loại nên thầy đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. 

Vậy còn chúng ta thì sao? Bởi đâu thế giới này có nhiều kẻ thù? Chính chúng ta phải tìm lại câu trả lời cho chính mình!

Trên đây là một vài điểm nho nhỏ chúng ta có thể nhận thấy phía sau án tử hình bên cạnh những tổn thất về kinh tế và những mặt trái khác nữa chúng ta sẽ cùng nhau phân tích trong một dịp khác. Hy vọng rằng, sẽ có thêm nhiều người cùng chia sẻ, cùng lên tiếng để bảo vệ sự sống tự nhiên của con người, ít ra là trong tư cách của đồng loại. Mong lắm thay!



                                                                          


Xem thêm…

“Social Capital” là “Xã hội tử hình”?

01:24 |
 Nguyễn Văn Phú

Tiêm thuốc độc- hình thức tử hình mới tại Việt Nam - ảnh internet
Chuyện khó tin nhưng có thật, mới xảy ra hồi cuối tháng 10-2014. Một công ty giáo dục muốn đổi tên thành Công ty Cổ phần Social Capital. Chuyện công ty Việt Nam mà lại muốn đặt tên tiếng Anh như thế - đúng sai thế nào, xin nói ở phần dưới. Vấn đề là cơ quan cấp phép ở địa phương đã từ chối cái tên này vì lý do, dịch ra tiếng Việt thành “Xã hội tử hình”, là “vi phạm truyền thống văn hóa, đạo đức”!

Tin nổi không cán bộ nhà nước tùy tiện diễn dịch một cụm từ rất bình thường “Vốn xã hội” thành chuyện tày trời có cả hình phạt tử hình ở trong nữa.

Thật ra đây chỉ là một ví dụ trong muôn ngàn ví dụ “cười ra nước mắt” liên quan đến việc đặt tên doanh nghiệp. Các bạn có tin có công ty mang tên “Bay Bổng Đầu Óc”, “Nam Yến Đại Cát”, “Én Sa Yến Sa”, “Người Lái Xe Mặt Trời”…

Có lẽ ít ai trong chúng ta nghe đến các tên này bởi ngay chính người làm trong các doanh nghiệp này cũng ít khi sử dụng chúng. Họ chỉ đặt tên như vậy rồi ngay sau đó sử dụng tên doanh nghiệp viết tắt hay tên giao dịch bằng tiếng Anh. Hóa ra đó mới là tên chính, tên quen thuộc nhưng không dịch ra tiếng Việt được. “Bay Bổng Đầu Óc” là BBDO – một doanh nghiệp quảng cáo lớn của thế giới (BBDO là viết tắt tên của những người sáng lập). Có lẽ trong 289 văn phòng của tập đoàn này tại 80 nước, không nơi nào bắt phải đặt lại tên theo kiểu “Bay Bổng Đầu Óc”!

Còn “Nam Yến Đại Cát” là NYDC – tên chuỗi nhà hàng có trụ sở chính ở Singapore; “Én Sa Yến Sa” là eSys – nhà phân phối các sản phẩm tin học và “Người Lái Xe Mặt Trời” – một công ty phân phối sản phẩm thảo dược theo kiểu đa cấp, với công ty mẹ là… Sunrider.

Trước đây doanh nghiệp không được đặt tên bằng tiếng Anh mà phải đặt tên “thuần Việt” cho nên một người khởi nghiệp trong ngành công nghệ thông tin muốn dùng từ NET đưa vào tên không được đồng ý bèn phải viết thành NÉT; một công ty khác phải mang tên Việt Cốm Bồ.

Nói cụ thể, Nghị định 88 năm 2006 quy định: “Tên doanh nghiệp phải viết được bằng tiếng Việt, có thể kèm theo chữ số và ký hiệu, phát âm được”. “Riêng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể sử dụng tên riêng bằng tiếng nước ngoài đã đăng ký để cấu thành một phần hoặc toàn bộ tên riêng của doanh nghiệp”.

Như vậy các doanh nghiệp nước ngoài như Honda, Samsung, Toyota vào làm ăn ở Việt Nam vẫn được giữ nguyên tên chứ không cần dịch sang tiếng Việt. Thế nhưng có một số trường hợp, mặc dù thực chất là công ty con của một tập đoàn nước ngoài nào đó nhưng lại muốn thành lập dưới dạng công ty trong nước, do người trong nước đứng tên. Thế là nảy sinh các tình huống “dở cười, dở khóc”. Cũng có một số công ty muốn đặt tên bằng tiếng Anh để dễ làm ăn, dễ giao dịch như kiểu Net Lab cũng không được.

Cái quy định cứng nhắc này đã được sửa đổi. Đến Nghị định 43 ban hành năm 2010 thì “Tên doanh nghiệp phải viết được bằng các chữ cái trong Bảng chữ cái tiếng Việt, có thể kèm theo các chữ cái F, J, Z, W, chữ số và ký hiệu, phát âm được”.

Như vậy về nguyên tắc, doanh nghiệp có quyền đặt tên bằng tiếng Anh. Thực tế đã có những cái tên tiếng Anh được đăng ký như “Công ty Cổ phần Hospi Tech”, “Công ty Cổ phần Thép Sunrise”, “Công ty Cổ phần Good Day Hospitality”. Thậm chí có những tên rất “dung dị” như “Công ty Cổ phần Good & Great”, “Công ty TNHH Good Morning Korea”.

Chính vì thế nên cái công ty Social Capital nói ở đầu bài cuối cùng cũng được cấp phép đổi tên!

Thế nhưng dường như cảm nhận của nhiều doanh nghiệp vẫn là không được đặt tên bằng tiếng nước ngoài, một số nơi tư vấn vẫn bày theo kiểu dùng một từ tiếng Việt sao cho đến khi dịch sang tiếng Anh làm tên giao dịch thì ra lại đúng cái tên muốn đặt. Chẳng hạn chuỗi bán bánh mì khá nổi tiếng Subway khi sang Việt Nam đã có một “đại diện” là “Công ty TNHH Đường Hầm” mặc dù bản thân từ Subway chẳng phải là đường hầm gì cả.

Thực tế, việc đồng ý cho đặt tên “không thuần Việt” hay không còn tùy từng Sở Kế hoạch Đầu tư, tùy từng cán bộ thụ lý hồ sơ. Nếu thấy lấn cấn thì viện lý do “Xã hội tử hình” như ở đầu bài là mắc vào lỗi “Không được sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc, tên danh nhân để đặt tên riêng cho doanh nghiệp” của Nghị định 43.

Nói cho cùng vẫn còn nhiều người cho rằng, đã là công ty Việt Nam tại sao lại đặt tên “Social Capital” làm chi, tại sao không gọi “Vốn Xã Hội” cho khỏe? Nhiều người khác cũng dị ứng với các tên công ty toàn tiếng Anh như “Good Food – Good Life”, “Fast Care”, “Think Great”…

Chỉ cần nhìn ra bên ngoài một chút, chúng ta sẽ thấy nếu các nước không cho doanh nghiệp của mình đặt tên bằng tiếng nước ngoài hay tên thuần theo ngôn ngữ của nước họ thì làm gì có các thương hiệu như Sony của Nhật Bản, Lenovo (Trung Quốc), Ikea (Thụy Điển)…

Cứ cứng nhắc “thuần Mỹ” thì hàng loạt doanh nghiệp Mỹ nhưng của người gốc Việt thành lập làm sao đặt tên như Phở Hòa, Thẩm mỹ viện Hạnh Phước, Địa ốc Thần Tài…

Cho nên tên doanh nghiệp thì cứ để doanh nghiệp toàn quyết quyết định, luật pháp không nên can thiệp vào làm gì. Nếu doanh nghiệp chỉ giao dịch với nông dân mà đặt tên Tây khách hàng không hiểu, không gọi được thì cứ ráng mà chịu. Nếu doanh nghiệp đặt tên phản cảm bị khách hàng tẩy chay thì họ chỉ còn biết trách chính họ mà thôi. Xét cho cùng tên doanh nghiệp là tài sản của họ, họ phải lo chứ không ai khác. 
 

Xem thêm…

Copyright ©THT - Được biên soạn và sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau - Ghi rõ nguồn:quatangsusong.blogspot.com/ - Khi phát hành thông tin trên trang này
Gx Đaminh | Namkna | Trung Tâm Học Vấn Đaminh | Kho tài liệu hay |