Home » BS Ngọc
Bác sĩ cử tuyển: một cách hợp thức hoá giết người
00:50 |Bác sĩ cử tuyển: một cách hợp thức hoá giết người
Bác sĩ Ngọc
Đó là loại bác sĩ chỉ có ở
Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa. Đó là một loại sản phẩm đặc thù của nền giáo
dục đậm chất Xã hội Chủ nghĩa (XHCN). Gần 40 năm trước, xã hội đã biết
đến “bác sĩ xuyên tâm liên”, thì nay xã hội phải làm quen với loại bác
sĩ cử tuyển. Và xã hội sẽ phải làm quen với những cái chết oan ức trong
hệ thống y tế XHCN.
Nền giáo dục ở miền Nam VN trước 1975 dù
chưa phải là hoàn hảo nhưng là một nền giáo dục đàng hoàng. Tôn ti trật
tự đâu ra đó: Trò ra trò, thầy ra thầy. Thi cử nghiêm túc chứ không có
nạn “phao” như ngày nay. Học trò thi đậu hạng cao thường vào học trường y
hay trường Phú Thọ. Nói chung, việc tuyển sinh được thực hiện một cách
công minh và do đó học sinh trúng tuyển là những nhân tài tương lai của
đất nước. Những người cùng thế hệ tôi vẫn còn nhớ câu chuyện Thầy Phạm
Biểu Tâm bất chấp áp lực chính trị đã thẳng thắn từ chối nhận cô ái nữ
của ông Ngô Đình Nhu vào trường y chỉ vì cô này không đủ điểm. Khi tốt
nghiệp dù hành nghề ở tỉnh lỵ hay thành phố đều như nhau. Điều này dễ
hiểu vì bước tuyển sinh tuyển đúng người, khi huấn luyện cùng một hệ
thống, nên đầu ra phải đảm bảo phẩm chất. Nhắc lại những chuyện đó để
chúng ta thấy rằng hệ thống giáo dục thời “Mỹ Nguỵ” nghiêm minh và có
hiệu quả thực tế.
Nhưng khi người cộng sản miền Bắc vào
tiếp thu, họ làm đảo lộn tôn ti trật tự thầy trò và huỷ hoại nền giáo
dục đàng hoàng của miền Nam. Với vũ khí đấu tranh giai cấp trong tay, họ
loại bỏ những học sinh giỏi nhưng có liên quan với Mỹ – Nguỵ khỏi
trường y và các trường đại học khác. Với chính sách ngu dân, họ chọn con
em của họ vào trường y và đại học cho dù những em này học rất kém.
Không cần điểm thi. Điểm thi không nằm trong hệ thống đánh giá của người
cộng sản mông muội. Họ có hệ thống riêng. Hệ thống tuyển chọn của họ là
chủ nghĩa lý lịch. Lý lịch đỏ phải được ưu tiên hơn lý lịch vàng.
Hệ quả là họ đào tạo được một lô “bác
sĩ” mà các đồng nghiệp tôi trước 1975 nhạo báng là “Bác sĩ CM” (CM là
cách mạng). Đó là loại bác sĩ am hiểu văn kiện đảng hơn là biết đọc sách
Harrison. Đó là loại bác sĩ được nhồi nhét mớ kiến thức hạng bét từ
Liên Xô vĩ đại. Đó là loại bác sĩ viết tên thuốc không rành. Đó là loại
bác sĩ được ra lò với chủ trương hồng hơn chuyên. Nhưng họ vẫn tốt
nghiệp và được gọi là “bác sĩ”. Chưa bao giờ danh xưng “bác sĩ” bị rẻ
rúng như hiện nay ở VN.
Những lô “bác sĩ CM” đó đào tạo ra thêm
hàng tá lô “bác sĩ” khác. Cho đến nay, VN đã có hàng chục thế hệ “bác sĩ
CM”. Không ít người trong những lô bác sĩ đó nay đã trở thành những
giáo sư, phó giáo sư, hay quèn nhất cũng là tiến sĩ. Ai cũng biết đó là
những giáo sư dỏm. Ai cũng biết đó là những tiến sĩ giấy. Nhưng người
cộng sản không quan tâm; họ chỉ quan tâm đến con số. Phải làm sao đến
năm 2020 có thêm 2 vạn tiến sĩ và một vạn giáo sư / phó giáo sư. Họ cần
những con số để làm cảnh, để đạt chỉ tiêu, chứ không cần thực chất.
Chính vì chạy theo con số nên VN
ngày nay mới có loại bác sĩ mới có tên là “bác sĩ cử tuyển”. Đây cũng
là một sản phẩm giống như “Bác sĩ xuyên tâm liên”. Có thể loại bác sĩ cử
tuyển còn tệ hơn cả “bác sĩ CM”.
Ai cũng biết các vùng sâu vùng xa thiếu
bác sĩ. Thời nào cũng thế, người dân ở vùng sâu vùng xa đều bị thiệt
thòi về giáo dục và y tế. Giải pháp của người cộng sản là tăng số bác
sĩ. Nhưng chỉ tăng lượng chứ không tăng phẩm. Làm sao tuyển được học
sinh ưu tú để đào tạo hàng loạt bác sĩ, nên họ phải tuyển những em không
đủ điều kiện để học y. Lỗi không phải ở các em học sinh mà ở người đề
ra cái chương trình đào tạo quái gở đó. Chúng ta thử nghe tâm sự của
những người trong cuộc, những bác sĩ tương lai:
“T.T.M.L. ở tỉnh Bạc Liêu cũng thừa
nhận học lực trung bình của mình không thể thi vào ngành y nổi nên mới
chọn ngành công nghệ thực phẩm của Trường ĐH Cần Thơ để thi. Bỗng nhiên
T.T.M.L. nhận được món quà từ “trên trời rơi xuống”: tỉnh cử đi học bác
sĩ.
Cũng nhờ cử tuyển mà T.M.K. ở tỉnh
Sóc Trăng trở thành sinh viên trường y đã được bốn năm. T.M.K. thú nhận:
“Cuộc đời mình quá may mắn. Nếu thi tuyển chính quy chắc chắn không có
cửa thi đậu”.”
Nhưng đó chỉ là 2 trường hợp tiêu biểu.
Con số bác sĩ tương lai với trình độ như thế lên đến hàng ngàn. Bài báo
trên Tuổi Trẻ viết rằng chỉ riêng Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, “phần lớn trong số gần 1.000 sinh viên hệ cử tuyển […] có học lực năm lớp 12 chỉ đạt loại trung bình hoặc khá.”
Một người trong cuộc với vai trò giảng
dạy cho biết nhiều “bác sĩ cử tuyển” không biết ruột thừa ở đâu! Vài năm
nữa, xã hội sẽ có hàng ngàn “bác sĩ” như thế. Thật là một viễn ảnh rợn
người.
Tôi không biết có nơi nào trên thế giới
có loại đào tạo như kiểu “cử tuyển” như vừa mô tả. Cách đào tạo “bác sĩ
VC” sau 1975 đã là kinh dị, còn cách đào tạo “cử tuyển” chỉ có thể mô tả
bằng hai chữ “rùng rợn”.
Cái giả thiết đằng sau chương trình đào
tạo “cử tuyển” những nơi vùng sâu vùng xa thiếu bác sĩ nên họ cần đào
tạo bác sĩ phục vụ cho dân số các vùng kém phát triển đó. Đó là một giả
thiết dã man và sai trái. Dã man vì nó xem mạng sống của người dân vùng
xa thấp hơn mạng sống của dân thành thị. Sai trái vì trong quá khứ chúng
ta biết rằng nhiều “bác sĩ” được nâng cấp từ y tá trung cấp không chịu
về quê phục vụ. Do đó chương trình đào tạo cử tuyển sẽ thất bại. Cái
thất bại ai trong ngành cũng có thể thấy trước.
Bệnh viện Sài Gòn sẽ vẫn còn quá tải.
Người dân miền quê không còn thiếu thông tin như xưa, họ thừa biết “bác
sĩ cử tuyển” dốt, nên họ vẫn sẽ lên thành phố để điều trị. Do đó, có thể
dự báo rằng các bệnh viện tuyến trên sẽ còn quá tải trong tương lai.
Bài học sờ sờ ra đó mà người cộng sản không nhìn thấy!
Giải quyết như thế nào?
Tôi cho rằng vấn đề bệnh viện tuyến trên
quá tải không thể giải quyết bằng việc tăng số bác sĩ. Lượng không thể
thay đổi phẩm. Một trong những giải pháp là duy trì phẩm chất đào tạo ở
mức cao nhất, phải cao hơn trình độ “bác sĩ CM”. Phải học theo cách đào
tạo bác sĩ trước năm 1975, khi tốt nghiệp trường y, bác sĩ ở huyện hay ở
tỉnh vẫn có tay nghề và kiến thức như bác sĩ ở Sài Gòn. Một khi bác sĩ
có tay nghề như nhau thì người dân sẽ tin tưởng vào người mang danh “bác
sĩ” và không cần phải “vượt tuyến” như hiện nay.
Ngày nào bệnh nhân còn phân biệt “bác sĩ miệt vườn”, “bác sĩ tỉnh lỵ” và “bác sĩ thành phố” thì ngày đó bệnh viện còn quá tải.
Bác sĩ phải là bác sĩ. Không kèm theo
những râu ria vô duyên như “cử tuyển”, “tại chức” hay “nâng cao”. Chỉ có
một loại bác sĩ. Đó là bác sĩ được tuyển chọn cẩn thận từ các học sinh
ưu tú nhất, được đào tạo cẩn thận theo các chương trình hiện đại và đảm
bảo phẩm chất cao nhất. Đó là những người bác sĩ có kiến thức uyên bác,
có tay nghề lâm sàng vững vàng và có thể hành nghề ở bất cứ địa phương
nào mà không cảm thấy mặc cảm.
Bất cứ ngành nghề nào liên quan đến con
người và sự an lành của con người cần phải được duy trì kỷ cương và đạo
đức. Không như việc làm toán, người làm toán sai có sai thì cũng chẳng
làm chết ai và chẳng ảnh hưởng đến mạng sống của ai, bác sĩ mà sai là có
thể dẫn đến chết người. Đó chính là lý do tại sao ở các nước tiên tiến
người ta quý trọng bác sĩ hơn cả vạn lần những người … làm toán. Ở VN xã
hội chủ nghĩa thì ngược lại, người ta thần thánh hoá những người làm
toán và rẻ rúng giới bác sĩ. Chỉ riêng sự ấu trĩ này cũng cho thấy VN xã
hội chủ nghĩa còn lâu mới khá nổi.
Mạng sống của người dân đều phải được
tôn trọng chứ không phân biệt theo địa phương và giai cấp. Đó chính là y
đạo những người thuộc thế hệ tôi được dạy và thực hành. Thật vậy, thời
đó chúng tôi không phân biệt bệnh nhân là người cộng sản hay quốc gia.
Vậy mà cái y đạo đó bị làm đảo lộn bởi những người mệnh danh là “cách
mạng” sau 1975. Người ta đem vào Nam cái y đạo mà theo đó hàng trăm bệnh
nhân từ Quân y viện Cộng Hoà bị đuổi ra ngoài đường để vất vưởng chờ
chết. Chưa bao giờ y đạo XHCN được thể hiện một cách tàn nhẫn đến như
thế. Và, cho đến hôm nay, những người tự xưng là cách mạng vẫn tàn nhẫn
bằng cách hợp thức hoá việc giết người qua các chương trình đào tạo như
“cử tuyển”.
Một nền y học bị chính trị hóa
20:45 |
Bác Sĩ Ngọc
![]() | ||
| Đảng nhảy vào mọi ngóc ngách của | BV |
Hiếm thấy một thời đại nào mà y giới bị khinh như ngày hôm nay. Những
gì xảy ra ở bệnh viện Năm Căn có lẽ là một sự tức nước vỡ bờ. Có đồng
nghiệp nói đó là một nền “y khoa đổ vỡ”, nhưng tôi cho rằng đó một nền y học bị chính trị hóa. Vâng, chính vì y học bị chính trị hóa nên mới thảm hại như hiện nay.
Cái quá trình chính trị hóa y học ở ta xảy ra một cách toàn diện. Nó
bắt đầu ngay từ khâu tuyển sinh, đến khâu học tập và kéo dài đến khi ra
trường và hành nghề. BS Đỗ Hồng Ngọc trong một bài nói chuyện ở Long Hải
gần đây kêu gọi (ai?) phải quan tâm đến “đầu vào”, “hộp đen” và “đầu
ra”. Nhưng tôi e rằng ông không nói hết hay tránh né không nói đến sự
chính trị hóa trong 3 khâu ông nói đến. Tôi nghĩ rằng những hiện tượng
tiêu cực trong ngành y chúng ta đang chứng kiến ngày nay chính là hậu
quả của quá trình chính trị hóa y học. Nói như nhà thơ Đỗ Trung Quân:
Chúng ta đang gặt một mùa bội thu sự vô cảm
Vì chúng ta gieo nó
Chúng ta phó mặc cho định mệnh vì chúng ta không tin gì cả.
Chúng ta quen nói dối
Chính trị hóa được gieo mầm ngay từ khi tuyển sinh. Chúng ta chưa quên chính sách hồng hơn chuyên sau 1975. Hồng là đỏ, là cách mạnh. Chuyên
là chuyên môn. Hồng hơn chuyên là có nhân thân cách mạng tốt hơn có tài
chuyên môn. Chính sách hồng hơn chuyên thực chất là một sản phẩm của
chủ nghĩa lý lịch. Chủ nghĩa lý lịch hoàn toàn nhất quán với chính sách
chính trị thống lãnh giáo dục. Chúng ta còn nhớ sau 1975, lý lịch sinh
viên học sinh được chia thành 14 bậc. Con cái của “ngụy” ở bậc thứ 13
hay 14. Ở bậc này cũng đồng nghĩa với không được vào học y khoa dù có
điểm cao. Bao nhiêu nhân tài chỉ vì cái tội con cháu của ngụy bị đẩy ra
ngoài. Thay vào đó, con cháu cách mạng dù điểm thấp vẫn được vào học y
khoa. Điểm 2, 3 cũng được vào trường y. Đã có người sửa điểm thành 25,
30. Một xã hội xem thường tài năng thì làm sao khá được. Hậu quả là
chúng ta có vài thế hệ bác sĩ tồi và giáo sư “dỏm” như ngày nay.
Sẽ là rất sai lầm nếu nghĩ rằng chủ nghĩa lý lịch đã chấm dứt. Cái
“đầu vào” mà BS Đỗ Hồng Ngọc không muốn hay không dám nói đến là gì? Tôi
xin nói thay ông, đó là những “cử tuyển”, “chuyên tu”, “bồi dưỡng”. Đó
là những mã ngữ mà nhiều người khó có thể hiểu nổi. Nói thẳng ra, mỗi
năm người ta đưa ra một danh sách “sinh viên”được cử đi học y khoa,
trường đại học không thể từ chối. Không thể từ chối vì đó là lệnh. Chưa
nói đến chuyên tu. Dân gian có câu nhạo báng “dốt như chuyên tu, ngu như tại chức”,
nhưng trớ trêu thay, chuyên tu và tại chức có quyền hơn chính quy. Có
quyền là vì họ là người của Đảng. Đảng tin họ. Có mấy ai biết rằng chính
những bác sĩ chuyên tu là những người đang nắm quyền sinh sát ngành y.
Hãy nhìn quanh xem, giám đốc các sở y tế là ai, nếu không là chuyên tu.
Họ nắm quyền từ cấp trung ương đến địa phương.
Quá trình chính trị hóa tiếp tục trong trường y. Sinh viên y ngày nay
phải học những môn học xa lạ với y khoa. Chủ nghĩa Mác Lê. Tư tưởng Hồ
Chí Minh, dù ông chưa bao giờ tự nhận rằng mình có tư tưởng. Lịch sử
Đảng CSVN. Tôi không rõ có trường y nào trên thế giới dành một thời
lượng 20% để dạy những môn học như trên. Dĩ nhiên là ngoại trừ Trung
Quốc, cái nước mà giới lãnh đạo chúng ta răm rắp làm theo cứ như là một
học trò bé nhỏ trung thành. Dù ai cũng có thể thấy những môn học đó
chẳng liên quan gì đến nghề y, nhưng nó vẫn được giảng dạy như là những
môn học bắt buộc. Biết được chủ nghĩa Mác Lê, hay tư tưởng Hồ Chí Minh,
hay lịch sử Đảng có làm cho người bác sĩ có tay nghề cao trong việc điều
trị bệnh? Chắc chắn không. Vậy thì đừng hỏi tại sao kiến thức chuyên
môn của bác sĩ ngày nay quá thấp.
Chủ nghĩa Mác Lê dựa vào đấu tranh giai cấp. Do đó, cái giá của sự ưu
tiên cho học chính trị là sự suy đồi đạo đức y khoa. Một sinh viên mới
vào trường y đã được nhồi nhét những thông tin vế đấu tranh giai cấp, về
kẻ thù, về phản động … thì đừng trách sao đầu óc của họ được uốn nắn để
trở thành những kẻ chỉ biết đến Đảng và đấu tranh, chứ chẳng quan tâm
đến bệnh nhân. Vậy thì đừng hỏi tại sao bác sĩ mới ra trường non choẹt
nhưng đã bắt đầu hoạnh họe bệnh nhân và tự xem mình là ông quan, ăn trên
ngồi chốc. Thử hỏi có bác sĩ chân chính nào vô tâm đến nỗi để cho thân
nhân quỳ lạy mà vẫn vô tư bỏ đi ngủ và để cho bệnh nhân phải chết? Đó là
kẻ sát nhân, chứ đâu phải “bác sĩ”. Cũng đừng trách tại sao sinh viên
mới học 1,2 năm trong trường y đã bi bô khoe khám chỗ kín của phụ nữ. Khoe ngay trên mặt báo. Họ còn dùng chữ “chị em”. Thật chưa bao giờ đất nước này có những sinh viên y khoa mất dạy như thế. Tôi khẳng định dùng chữ mất dạy
hoàn toàn chính xác trong tình huống vừa nói trên. Nhớ ngày xưa khi
theo thầy vào phòng mổ, một đứa bạn nay là một nhà phẫu thuật tài ba ở
Mỹ lỡ lời thốt lên một câu khiếm nhã về cái chân của bệnh nhân, sau đó
bị thầy tán cho một bạt tay nhớ đời và cả đám lãnh đủ một bài giảng
moral. Vậy mà bây giờ có những sinh viên y khoa không ý thức được thiên
chức của nghề y và sự tin tưởng của xã hội để lên báo chí thốt lên những
câu chữ chỉ có thể mô tả là mất dạy. Những sinh viên này không nên hành
nghề thầy thuốc vì bộ não của họ đã bị đầu độc bởi những vi khuẩn hạ
tiện.
Thật khó nói có nơi nào trên thế giới mà người ta lẫn lộn giữa cán bộ
y tế và bác sĩ. BS Đỗ Hồng Ngọc nói đến Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
khẳng định mục tiêu đào tạo “Bác sĩ tổng quát hướng về cộng đồng”. Nếu
mục tiêu là hướng về sức khỏe cộng đồng thì tại sao trường có tên là
“Đại học Y khoa”? Tại sao không gọi là Trường cao đẳng y tế cộng đồng
cho phù hợp hơn? Thật ra, tiền thân của trường là Trung tâm đào tạo và
bồi dưỡng cán bộ y tế thành phố, một cái tên rất thích hợp. Khó định
nghĩa khái niệm bác sĩ tổng quát hướng về cộng đồng vì chẳng ai định
nghĩa đó là bác sĩ loại gì. Đối tượng của nghề y là người bệnh — con
người và bệnh. Đối tượng của cán bộ y tế là cộng đồng, sức khỏe cộng
đồng. Bác sĩ có thể là cán bộ y tế, nhưng cán bộ y tế không thể là bác
sĩ. Lầm lẫn giữa y khoa và y tế dẫn đến sai lầm trong triết lý đào tạo.
Trong thực tế, ai cũng biết trung tâm từng là cái nôi dành cho con em
của quan chức, cán bộ. Mang tiếng là phục vụ cộng đồng, nhưng trong thực
tế họ đều quanh quẩn trong các bệnh viện. Hậu quả là chúng ta có 15 thế
hệ nửa thầy (bác sĩ) nửa thợ (cán bộ y tế). Khó tưởng tượng có nơi nào
có hệ thống đào tạo quái gở như thế.
Quá trình chính trị hóa nghề y còn diễn ra sau khi sinh viên tốt
nghiệp trường y. Cũng như bất cứ cơ quan công nào, bệnh viện cũng có chi
bộ của Đảng. Chi bộ đảng dĩ nhiên chỉ dành cho Đảng viên. Chi bộ có bác
sĩ nhưng cũng có những người ngoài y giới, như tài xế lái xe. Những
người ngoài y giới cũng có tiếng nói như bác sĩ khi họ ngồi trong chi
bộ. Người có quyền nhất trong bệnh viện không hẳn là giám đốc mà là bí
thư chi bộ. Bí thư chi bộ trên danh nghĩa là chính trị viên, nhưng lại
can thiệp vào những vấn đề chuyên môn liên quan đến y khoa! Tiếng nói
chuyên môn không có giá trị bằng tiếng nói của Đảng. Thật trớ trêu. Thật
quái đản. Một nền y khoa bị chính trị hóa.
Y khoa không phân biệt thù hay bạn. Người thầy thuốc chân chính không
phân biệt bệnh nhân mình là phía bên kia hay bên này, không phân biệt
người đó theo đạo gì, hay theo chủ nghĩa gì, không phân biệt thành phần
xã hội. Tất cả đều được đối xử như nhau. Nhưng rất tiếc cái lý tưởng cao
cả và phổ quát đó đã bị chính trị vứt bỏ một cách không thương tiếc.
Chính vì thế mà ngày nay chúng ta có những khu đặc trị dành cho cán bộ
cao cấp, biệt lập với khu dành cho thường dân. Đó không phải là ăn trên
ngồi chốc thì là gì? Đó có phải là lý tưởng cách mạng? Nhưng sự phân
biệt này đâu chỉ xảy ra mới đây. Nó còn tàn nhẫn hơn ngay từ ngày
30/4/1975. Hãy nhớ rằng ngày 30 tháng Tư năm 1975 bệnh nhân trong Quân y
viện Cộng Hoà bị đuổi ra khỏi viện. Anh mù cõng anh què. Anh đổ ruột
vịn vai anh cụt tay. Đó là thời điểm người Sài Gòn biết được y đức của
nền y học mới. Đó là loại y đức bị chính trị hóa.
Hậu quả của quá trình chính trị hóa từ khâu tuyển sinh, giảng dạy và
tốt nghiệp là nhiều thế hệ bác sĩ có trình độ chuyên môn thấp. Mấy năm
trước tôi đọc thấy ở Mỹ mỗi năm có hàng trăm ngàn bệnh nhân chết do sai
sót trong y khoa. Một nền y học tuyệt vời và nhân bản như Mỹ mà còn như
thế thì ở nước ta câu hỏi là đã có bao nhiêu người chết vì sự phân biệt
trong điều trị? Những gì xảy ra ở bệnh viện Năm Căn và hàng ngày trên
khắp nước chỉ là những “thành quả” đã được gieo giống từ rất lâu. Hậu
quả cũng là hàng ngàn giáo sư dỏm, tiến sĩ dỏm, dỏm đến độ người dân
khinh.
Chính trị hóa y khoa đã xảy ra rất lâu chứ không phải mới đây. Nó còn được luật hóa. Điều 41 trong Hiến pháp ghi: “Đoàn
Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, gia đình và xã hội cùng với nhà trường
có trách nhiệm giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng”. Điều 37 ghi: “Chủ
nghĩa Mác-Lênin là hệ tư tưởng chỉ đạo sự phát triển của xã hội Việt
Nam. Nhà nước tuyên truyền, giáo dục sâu rộng chủ nghĩa Mác-Lênin, đường
lối chính sách của đảng Cộng Sản Việt Nam […] chống các tư
tưởng phong kiến, tư sản và ảnh hưởng của văn hóa đế quốc, thực dân; phê
phán tư tưởng tiểu tư sản; xây dựng nếp sống xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ
nếp sống lạc hậu, bài trừ mê tín, dị đoan”. Như thế, việc chính trị
hóa y khoa không có gì đáng ngạc nhiên vì nó nằm trong chính sách của
Đảng được hiến pháp quy định. Do đó, nếu muốn làm cho nền y khoa của
chúng ta tốt hơn thì hãy thay đổi từ cái gốc, chứ không nên kêu gọi
chung chung về y đức. Y đức chỉ là một sản phẩm của cái triết lý giáo
dục bị chính trị hóa. Nguyên nhân chính dẫn đến nền y khoa nước ta bị
suy thoái nằm ngay trên những dòng chữ tôi trích trên đây.
Đại dịch PGS-TS-BS
00:06 |
Bác sĩ Ngọc
Entry này có một tựa đề hơi bí hiểm. Nhưng những ai làm trong nghề y
đều biết đó là viết tắt của Phó giáo sư – Tiến sĩ – Bác sĩ. Chỉ có ở
nước Nam. Chỉ có ở nước Nam dưới thời XHCN. Nó là biểu hiện của căn bệnh
mới phát sinh trong ngành y. Đó là bệnh hám danh. Bệnh hám danh đang
làm tan nát hệ thống y khoa và đang biến hóa thành một đại dịch nguy
hiểm cho người bệnh.
Có mấy ai còn nhớ đến thầy Phạm Biểu Tâm, thầy Trần Ngọc Ninh? Thầy
Phạm Biểu Tâm có sống lại bây giờ không thể là hiệu trưởng trường y.
Thầy Trần Ngọc Ninh có ở Việt Nam giờ này cũng không bao giờ thành khoa
trưởng, chứ nói gì đến chức danh giáo sư. Cả hai thầy đều không có bằng
tiến sĩ. Cái bằng tiến sĩ ngày nay ở đất nước này là một cái bùa hộ
mệnh. Nó cũng là cái vé xe cho những chuyến xe đò thăng quan tiến chức.
Nó là cái boarding pass cho những phi vụ làm trưởng khoa, làm hiệu
trưởng trường y. Đó là luật chơi mới do những người cách mạng đặt ra.
Người cách mạng không nhất thiết phải là người trong y giới, cũng chẳng
cần làm khoa học. Nhưng họ có giá trị hơn nhà khoa học. Bài giảng của
người cách mạng có giá hơn bài giảng của giáo sư tiến sĩ.
Ở đất nước này, chính trị thống lĩnh tất cả. Làm cách mạng là làm chính
trị. Bởi vậy, người cách mạng chẳng cần phải có tấm bằng bác sĩ để đặt
ra luật chơi mới cho ngành y. Họ đang hủy hoại nền y học.
Tuần rồi đi dự một hội thảo chuyên đề và gặp một anh bạn đồng môn
trên bàn cà phê. “Ủa, ông chưa tiến sĩ hả? Sao không làm một cái”? Anh
bạn tôi hỏi. Tôi ngạc nhiên về chuyện làm một cái. Tiến sĩ là
một cái gì như đồ chơi. Tôi lắc đầu. Mình đã già. Mình không có khả năng
làm nghiên cứu. Cũng chẳng có thầy đỡ đầu. Anh bạn tôi cười lớn nói:
Ông mà già gì, đâu cần khả năng làm nghiên cứu, cũng không cần thầy
hướng dẫn, chỉ cần bỏ tiền ra mua thôi. Tôi cám ơn tấm lòng của bạn cũ
và vẫn thấy mình vui với việc giúp người mà không có những râu ria trước
tên mình. Bạn cũ tôi bây giờ là một PGS-TS-BS.
TS-BS bây giờ nhan nhản trong các bệnh viện. Thử dạo một vòng các
phòng trong bệnh viện ngoài Hà Nội, sẽ thấy trước cửa phòng ai cũng có
danh xưng TS-BS in ngay chính giữa cửa phòng. Bảng hiệu đó cho chúng ta
biết người đang ngự trị hoặc chiếm lĩnh căn phòng là một bác sĩ và có
bằng tiến sĩ. Bằng tiến sĩ là học vị cao nhất trong thế giới khoa bảng.
Tôi không có con số thống kê để nói, nhưng tôi cảm thấy số bác sĩ có
danh hiệu TS-BS nhiều hơn bác sĩ trong các bệnh viện Hà Nội. Sài Gòn
đang đuổi theo Hà Nội, sắp đến đích nay mai. Với đà này, một ngày không
xa bệnh nhân sẽ không còn gặp bác sĩ nữa, họ chỉ gặp TS-BS.
PGS-TS-BS xuất hiện ngày càng dày đặt trong các hội thảo. Nhìn lên
bàn chủ tọa chúng ta thấy gì? Có hoa tươi. Có chai nước lọc. Có laptop.
Có microphone. Và, có tấm bảng nền trắng chữ đen in những từ viết tắt
như PGS-TS-BS. Hoa tươi để làm màu mè. Chai nước lọc vì trí thức không
quen uống nước máy sợ nhiễm khuẩn. Laptop để nói rằng ta đây có trình độ
IT. Microphone để truyền bá lời vàng ý ngọc. Danh hiệu PGS-TS-BS để
khoe thành tựu miệt mài làm khoa học. Một bức tranh đầy hoa sắc, màu mè.
Có phần phần cứng (IT, microphone) lẫn phần mềm (hoa, trí lực, bằng
cấp).
Danh và thực lúc nào cũng là hai khía cạnh nhức nhối trong y giới.
Bao nhiêu tiến sĩ của nước ta là do thực tài, bao nhiêu là giả, dỏm.
Không ai biết được, nhưng xã hội biết. Xã hội đã từ lâu phong danh tước
“tiến sĩ giấy” cho những kẻ bất tài, hám danh, mua quan bán tước. Cụm từ
“Tiến sĩ giấy” ngày càng xuất hiện nhiều trên báo chí, trong những câu
chuyện thường ngày. Tức là xã hội biết rằng ngày nay chúng ta có nhiều
tiến sĩ dỏm hơn là tiến sĩ thực.
Dỏm có nghĩa là những bằng cấp được mua bán, tiền trao cháo múc.
Anh bạn tôi vừa đề cập trên đây không ngần ngại nói rằng để có cái bằng
tiến sĩ, anh phải chi ra nhiều tiền. Hỏi bao nhiêu, anh chỉ cười. Nhưng
xã hội biết. Những cái giá 5.000 USD, 10.000 USD, 20.000 USD đã được đề
cập đến. 100 triệu đồng. 200 trăm triệu đồng. 400 triệu đồng. Có khi
500 triệu. Có nhiều lò sản xuất văn bằng tiến sĩ và mỗi lò có biểu giá
riêng. Quân y nổi tiếng là một trong những lò đào tạo đắt tiền. Các
trường y thì rẻ hơn nhưng không rẻ bao nhiêu. Nhiều đồng nghiệp tôi mua
bằng như thế. Đó là những con số chóng mặt cho bệnh nhân nghèo. Ai trả
tiền? Xin thưa không phải bác sĩ, mà là bệnh nhân. Họ sẽ ăn tiền các
hãng dược. Hãng dược nâng giá thuốc. Bệnh nhân là người cuối cùng trong
vòng tròn này. Bệnh nhân lãnh đủ. Vì thế, mua bán bằng cấp là một trong
những yếu tố làm cho giá thuốc cao đến mức “cắt cổ” như ở nước ta.
Những kẻ hám danh và bất tài xem chuyện mua bằng tiến sĩ là một đầu
tư. Họ có thể chi ra vài trăm triệu hôm nay, nhưng nay mai thì sẽ được
chức quyền. Trường khoa. Giám đốc bệnh viện. Hiệu trưởng. Tất cả đều
mua, đều chạy. Một khi đã ngồi vào vị trí quyền lực, họ ra sức vơ vét
tiền của người dân để trả lại chi phí mua bằng, mua chức vụ. Người dân
cũng chính là đối tượng sau cùng trong đường dây này. Đừng trách tại sao
dân mình nghèo vẫn hoàn nghèo. Cái cơ chế này làm cho họ nghèo. Đã
nghèo thì thường chịu phận hèn. Cái cơ chế này làm cho người dân vừa
nghèo và vừa hèn.
Dỏm có nghĩa là làm nghiên cứu ma, giả tạo số liệu.
Báo chí đã nêu nhiều vấn đề đạo văn. Nhưng báo chí không hề biết những
chuyện động trời hơn đạo văn. Đó là chuyện giả tạo số liệu. Những tiến
sĩ dỏm chẳng bao giờ làm nghiên cứu cho tốn công. Họ chỉ ngồi đâu đó giả
tạo ra số liệu. Có người làm nghiên cứu nghiêm túc, nhưng khi kết quả
không đúng ý, họ sửa số liệu. Chẳng ai hay biết. Thầy cô hướng dẫn chỉ
là những người mù vì bất tài, hoặc giả mù vì họ đã ăn tiền. Giả tạo số
liệu xong, họ mướn một người nào đó làm phân tích thống kê. Giá phân
tích cũng không rẻ chút nào, từ 500 USD đến 2000 USD. Có cậu nọ nay làm
chức cao trong trường y từng làm phân tích mướn như thế. Chẳng cần biết
đúng sai vì chính người làm mướn cũng mù mờ mà cũng chẳng quan tâm. Phân
tích xong, họ mướn người viết luận án. Giá viết cũng từ 500 USD đến
2000 USD. Người viết chỉ cần có bằng cử nhân cũng viết được. “Viết” ở
đây có nghĩa là cắt và dán. Hỏi google, dịch, cắt, dán. Vâng, luận án là
dịch-cắt-dán. Thế là xong luận án. Thầy dỏm thì làm sao biết được đó là
luận án thật hay dỏm. Có thể nói rằng đại đa số những nghiên cứu khoa
học ở nước ta hiện nay đều làm theo quy trình như thế. Không có đạo đức
khoa học. Không có tinh thần khoa học. Đừng nói đến văn hóa khoa học.
Đọc những lời tâm huyết có khi mang tính hô hào của Gs Tuấn về nghiên
cứu khoa học mà tôi thấy tội nghiệp cho ông. Ông đâu biết rằng ở trong
nước người ta đâu có quan tâm đến nghiên cứu, những lời ông nói ra chỉ
là nước đổ đầu vịt mà thôi, chẳng ai nghe đâu.
Dỏm có nghĩa là làm nghiên cứu chất lượng còn thấp hơn luận văn cử nhân của
các thầy trước 1975. Nếu có dịp đọc những luận án tiến sĩ của các bác
sĩ, người có kiến thức không biết nên cười hay nên khóc. Cười vì những
đề tài nghiên cứu như là đề tài của sinh viên học làm nghiên cứu. Khóc
vì trình độ thấp đến mức thê thảm. Những đề tài nghiên cứu kinh điển mà
thế giới đã làm từ ngày tôi còn ngồi trong trường y cũng được biến hóa
thành đề tài tiến sĩ. Có đề tài đánh giá phẫu thuật nội soi mà người
đánh giá cũng chính là người thực hiện. Không có cái gì là mới. Không có
cái gì để gọi là khoa học. Số liệu đã giả thì làm sao có kết quả thật
được. Bản thân thầy hướng dẫn chẳng hiểu tường tận vấn đề thì làm sao có
được đề tài mới. Họ để cho trò tự “bơi”. Bơi bằng cách lên mạng, xem
người ta ở ngoài làm gì rồi cố gắng làm giống như thế ở Việt Nam. Đại đa
số bắt chước mà vẫn còn sai. Sai vì không hiểu vấn đề đến nơi đến chốn.
Không có sáng tạo thì làm sao gọi là tiến sĩ được. Cả một nền học thuật
chỉ bắt chước mà cho ra lò cả ngàn tiến sĩ mỗi năm. Đó là một nền học
thuật ăn theo, dỏm.
Còn luận án thì thế nào? Cũng công thức nhập đề – thân bài – kết luận
như ai. Nhưng đọc kỹ thì không khỏi phì cười. Phần nhập đề thí sinh hay
nói đúng hơn là người viết mướn tha hồ dịch-cắt-dán từ các nguồn trên
internet, có khi đem cả kiến thức từ sách giáo khoa thế kỷ 19, những mớ
thông tin chẳng liên quan gì đến đề tài. Dân gian có câu “nói dai, nói dài, nói dở”
thật là thích hợp cho luận án tiến sĩ. Phần phương pháp thì chẳng có gì
để đọc, vì họ chủ yếu là ngụy tạo. Ngụy tạo số liệu thì làm sao dám
viết chi tiết phương pháp được. Vả lại, người viết mướn cũng đâu có
trình độ chuyên môn để đi chuyên sâu vào phương pháp. Đến phần kết quả
là khôi hài nhất. Một chuỗi bảng số liệu. Một chuỗi đồ thị. Điều khôi
hài là đồ thị làm từ bảng số liệu. Hai cách trình bày một thông tin!
Chưa hết, thí sinh còn bồi thêm câu diễn giải dưới bảng số hay đồ thị.
Tức là 3 cách trình bày chỉ nói lên một thông tin. Người ta cần số trang
sao cho đủ nên phải làm như thế. Thừa thải? Không thành vấn đề. Vấn đề
là làm cho đủ số trang theo quy định của Bộ. Sai sót? Đây đâu phải là
công trình khoa học mà quan tâm đến sai sót. Đến phần bàn luận là một
tràng từ ngữ bay múa, những ý tưởng hỗn độn, chẳng đâu vào đâu. Những gì
Gs Tuấn chỉ cách viết bài báo khoa học không áp dụng ở đây. Không cần
đến logic luận. Nó y như là cái thùng lẩu thập cẩm. Có lẽ vài bạn đọc
chưa quen sẽ nói tôi cường điệu hóa vấn đề. Các bạn hãy vào thư viện
trường y mà đọc xem các luận án tiến sĩ có xứng đáng cái danh xưng cao
quý đó hay không. Người ta xem đó là những “luận án tiến sĩ” có mã số,
có bìa đỏ, được lưu giữ cẩn thận. Nhưng tôi xem đó là những chứng cứ
hùng hồn nhất cho một thời đại nhiễu nhương trong học thuật. Những kẻ
đã, đang và sẽ có bằng tiến sĩ từ những cách học dỏm đó sẽ đi vào lịch
sử nước nhà như là những tiến sĩ giấy, những con vi khuẩn làm ô uế nền
học thuật nước nhà.
Dỏm có nghĩa là người thầy hướng dẫn cũng dỏm. Sự
suy thoái của giáo dục y khoa là một chu kỳ bắt đầu từ người thầy. Sự
suy đồi của người thầy bắt đầu từ những ông quan cách mạng. Dưới mắt của
quan cách mạng, hồng quan trọng hơn chuyên, đảng viên quan trọng hơn
người ngoài đảng. Vì thế chúng ta không ngạc nhiên sau 1975 có những vị
mang danh “giáo sư” mà kiến thức còn thua cả bác sĩ gia đình, chúng ta
không ngạc nhiên khi thấy có “giáo sư” đi tuyên truyền cho xuyên tâm
liên trị bá bệnh, bo bo bổ dưỡng hơn gạo. Ngày nay, kẻ bất tài nhưng có
đảng tịch thì vẫn được cất nhắc làm thầy, được “tạo điều kiện” làm tiến sĩ.
Có người được “cơ cấu” (một danh từ mới) chức trưởng khoa, giám đốc
bệnh viện rồi, “tổ chức” (cũng là một từ mới) sẽ tìm cho họ cái bằng
tiến sĩ. Bằng tiếng sĩ vừa là phương tiện, vừa là cứu cánh trong cái nền
học thuật nhếch nhác hiện nay. Bằng tiến sĩ nó tầm thường đến nỗi người
ta nhạo báng ra đường gặp tiến sĩ. Nó rẻ tiền vì chúng ta biết
rằng bằng tiến sĩ của Việt Nam chỉ là bằng dỏm, không bao giờ xứng đáng
với danh vị đó. Không dỏm thì cái bằng đó cũng chỉ là thứ được cấu
thành từ những giả tạo, những “nghiên cứu” loại rác rưởi khoa học, những
dữ liệu có được từ vi phạm y đức. Bằng tiến sĩ của Việt Nam chỉ là thứ
rác rưởi trong thế giới học thuật ngay chính trên đất nước Việt Nam. Thế
là chúng ta có thầy dỏm. Thầy dỏm đào tạo ra trò dỏm. Trò dỏm đào tạo
tiếp trò dỏm. Sẽ không lâu chúng ta sẽ có nhiều thế hệ tiến sĩ dỏm, giáo
sư dỏm. Và chúng ta sẽ phải trả giá cho những cái dỏm đó. Thực ra, bệnh
nhân đang trả giá cho cái dỏm.
Cái giá mà bệnh nhân phải trả cho hệ thống y khoa hám danh này là cái
chết. Nhiệm vụ của người bác sĩ lâm sàng trước hết là chữa trị bệnh
nhân. Nhiệm vụ đó đòi hỏi kỹ năng lâm sàng tốt. Ngoài ra, còn có sự cảm
thông, chia sẻ với bệnh nhân. Nhưng bác sĩ hám danh ngày nay chỉ chạy
theo bằng cấp dỏm, làm nghiên cứu dỏm, gây tác hại cho bệnh nhân. Họ
không trao dồi kỹ năng lâm sàng. Họ không có thì giờ để đọc sách. Họ
thừa thì giờ đi nhậu để làm “ngoại giao”. Thiếu kiến thức lâm sàng. Chẩn
đoán sai. Làm xét nghiệm không cần thiết. Đối diện với bệnh nhân thì
chỉ hách dịch ra lệnh chứ không biết nói. Hậu quả là chẩn đoán sai, điều
trị sai, bệnh nhân chết. Nếu còn sống thì gặp biến chứng, hoặc thương
tật suốt đời. Dỏm trong các ngành khác như khoa học xã hội thì có thể
không gây tác hại nguy hiểm, nhưng dỏm trong y khoa thì hậu quả khôn
lường. Rất tiếc là các quan cách mạng không nhìn thấy hay không nhìn
thấy điều hiển nhiên đó để cho sự hám danh và dỏm lên ngôi. Họ phải chịu
trách nhiệm trước lịch sử nước nhà.
Bệnh hám danh trong y giới ngày nay đã trở thành đại dịch.
Có lần trong một hội thảo chuyên môn, một anh kia tên là D, học y trước
1975 nhưng ra trường sau 1975, thuộc thành phần răng đen mã tấu – “cách
mạng 75″ như người Sài Gòn vẫn nói, được người ta giới thiệu anh ta là
TS, nhưng khi anh ta lên bục giảng câu đầu tiên anh ta nói là chỉnh
người giới thiệu, rằng chức danh của anh ta bây giờ là PGS. Chính xác
hơn là PGS-TS-BS. Cả hội trường có phần sững sờ trước sự khoe khoang hợm
hĩnh. Tôi cũng ngạc nhiên khi biết anh ta có bằng tiến sĩ và càng sững
sờ khi biết anh ta là PGS. Hỏi đồng nghiệp làm cùng bệnh viện với anh
ta, ai cũng cười. Nghiên cứu là con số 0. Lâm sàng? Đã có nhiều bệnh
nhân thành nạn nhân của anh ta. Thế là biết. Tất cả chỉ là mua bán. Thế
mới biết cái cơ chế có khả năng nhào nặn một con người có tư cách thành
một kẻ háu danh hợm hĩnh. Và chỉ trong một thời gian ngắn. Nhưng trường
hợp của anh D chỉ là một hạt cát trong sa mạc y giới. Ngày nay có hàng
chục ngàn người như thế. Nó đã thành một đại dịch. Dịch hám danh. Dịch
hám bằng cấp. Đại dịch hám danh và hám bằng cấp còn nguy hiểm đến bệnh
nhân hơn các đại dịch H1N1 nhiều.
Đại dịch hám danh không chỉ trong y giới mà còn lan tràn ra các địa
hạt khác ngoài xã hội. Ai cũng cố gắng tạo cho mình một cái danh xưng
trước tên. Ngày nào xã hội biết đến bác sĩ, kỹ sư, tiến sĩ, thạc sĩ, giáo sư
… nhưng ngày nay người ta còn gắn CN và Master trước tên mình. CN là cử
nhân. Master là cao học. Chưa bao giờ tôi thấy một sự háu danh quái đản
như hiện nay. Trong y giới, người ta còn gắn thêm TS-BS, hoặc
PGS-TS-BS. Nếu có danh xưng gì khác như thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú,
người ta cũng gắn vào luôn. Nếu một người nông dân không có bằng cử
nhân thì họ được gọi là gì. Không là gì cả. Do đó, đại dịch dịch hám
danh nó phân chia xã hội thành những người có và những người không có.
Nó dẫn đến nạn kỳ thị. Kẻ có danh xem thường người không có danh. Vì thế
người ta phải chạy theo danh, phải mua danh bán tước. Đại dịch hám danh
tạo ra một thị trường mua bán tước danh, bằng cấp. Từ cấp trung ương
đến địa phương, hiện tượng mua bán bằng cấp xảy ra hàng ngày. Mua bán
tước danh và bằng cấp là hành động xem thường kỷ cương phép tắt trong
học thuật. Vì thế dịch hám danh không chỉ làm phân hóa, kỳ thị xã hội,
mà còn làm hủy hoại nền học thuật quốc gia.
Sau khi gặp bạn tôi gặp trong hội thảo tuần qua làm tôi có cảm hứng
viết entry này tôi lên taxi về nhà. Trên đường về nhà bị kẹt xe, anh tài
xế phải vất vả nhích từng cm. Mưa càng lúc càng nặng hạt. Đường xá ngập
nước như trong cơn bão lụt. Ngay giữa thành phố có thời mang danh Hòn ngọc viễn đông.
Anh tài xế cùng độ tuổi tôi lắc đầu ngao ngán. Anh nhìn tôi ái ngại vì
quá trễ giờ. Chúng tôi nói chuyện đời. Anh chỉ vào con đường ngập nước
và nói họ đang phá nát thành phố này. Tôi đồng ý. Nhưng tôi muốn thêm rằng họ cũng đang hủy hoại nền học thuật nước nhà bằng cách tạo ra một đại dịch PGS-TS-BS.

