Home » Nguyễn Trọng Viễn OP
Chiêm ngắm huyền nhiệm tình thương nơi cuộc đời thánh Martinô (phần cuối)
01:53 |
Chiêm ngắm huyền nhiệm tình thương
nơi cuộc đời thánh Martinô
(phần cuối)
Nguyễn Trọng Viễn, OP.
2. 3 Tình yêu hướng tới cứu cánh : Chúa là tất cả
Vận hành tâm linh
Kitô thật sự là một cách “lý giải” theo chiều hướng đảo ngược cách nghĩ
bình thường của con người, một sự đảo ngược không phải do ngẫu hứng,
nhưng là một sự đảo ngược nhằm làm rõ rệt hơn tình yêu kỳ diệu của Thiên
Chúa. Ta có thể tìm thấy huyền nhiệm tình yêu Thiên Chúa theo một quy
luật đảo ngược : “khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh” (2Cr 12,10). Hoặc
ta có thể thấy quy luật đảo ngược đó nói chính Lời của đức Giêsu : “tội
của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều.
Còn ai được tha ít thì yêu mến ít”. (Lc 7,47).
Trong khi đó, cách
nghĩ thông thường của con người là muốn mau chóng tìm lại “dấu bằng”.
Ngay cả với Chúa, người tín hữu cũng thường mong tìm một sự xứng đáng,
một ý nghĩa công chính dựa vào công sức của mình, một tư cách hiện diện
trước Chúa bằng nhân đức của mình. Thế nhưng, chiều hướng của vận hành
tâm linh Kitô chính là một “dấu lớn hơn càng ngày càng lớn hơn”. Vận
hành tâm linh giống như người học chân chính là càng học càng thấy mình
dốt; giống như đứa con, càng sống tốt lại càng có cơ may hiểu công hơn
cha mẹ nhiều hơn; giống như người cha, hoặc người mẹ, càng tỏ bày tình
thương lớn lao của mình trong việc vất vả nuôi con, thì lại càng hiểu
lòng cha mẹ đã thương mình nhiều hơn…
Kitô giáo đã đóng
góp cho thế giới một phẩm chất riêng biệt của mối tương quan ngã vị. Mối
tương quan này không thể được hoá giải trong những định luật công bằng
của lý trí, nhằm tới một sự quân bình, an hoà trong sự cân bằng. Ngược
lại, tương quan ngã vị bao hàm phẩm giá tuyệt đối của những ngôi vị,
những ngôi vị có tính chủ thể, có lý trí và tự do. Mối tương quan ấy
không bao giờ là một sự trao đổi sòng phẳng, nhưng luôn mặc ý nghĩa trao
tặng và tri ân nhau. Như thế, ngay trong tương quan tình yêu đích thực
của con người với nhau, như G. Marcel nói, đã có yếu tố khẩn cầu, khẩn
cầu là nhịp thở của tình yêu.
Mối tương quan ngã
vị của con người với Thiên Chúa thể hiện một sự trao tặng tuyệt đối.
Thiên Chúa trao tặng chính bản thân Ngài, và con người chỉ có thể đón
nhận món quà ấy trong lòng tri ân tuyệt đối. Không có chuyện đổi chác,
không có chuyện cân xứng, không có chuyện tự hào về mình như những người
Biệt Phái (Xc. Lc 18,9-14). Chỉ có một hành động chân chính nhất, đó là
thái độ đấm ngực kêu lên : 'Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con, vì là
kẻ tội lỗi” (Lc 18,13); chỉ có một lời cầu nguyện căn bản nhất xứng với
món quà bản thân của Thiên Chúa, đó là lời : “Lạy Con Vua Đa-vít, xin
thương xót chúng tôi !" (Mt 9,27). Từ sự trao tặng ấy, con người được
mời gọi vươn tới cuộc sống sung mãn tuyệt đối trong mức độ hoàn hảo cao
vời của chính Thiên Chúa. Chúa Giêsu trao tặng cho con người Nước Trời,
trong đó, hạt nhân căn bản chính là sự hiện diện bản thân của Ngài. Quả
thật, từ ý nghĩa ấy, ta hiểu được Nước Trời luôn “đòi hỏi” triệt để và
luôn có phẩm chất phong phú, dư dật.
“Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.(Mt5,48)
Và :
“Nếu đức công chính
của các ngươi không dư dật hơn ký lục và Biệt phái, các ngươi sẽ không
vào được Nước Trời”(Mt 5,20, bản dịch cha Thuấn)
Có thể nói rằng, nếu
dáng dấp của tất cả những tôn giáo và triết học khác đều hướng tới một
tình trạng quân bình như “mặt nước hồ thu”, thì thế đứng căn bản của
Kitô giáo lại chính là “một ngọn thác”. Nơi đây, con người không bao giờ
có thể tách ra khỏi nguồn nước từ bên trên của Thiên Chúa, nguồn nước
ấy đổ xuống ào ạt khi ai đó dám “dựng đứng” bản thân mình, dám dốc cạn
bản thân mình để đón nhận trọn vẹn sự sống của nguồn thác, và để cho
nguồn nước ấy tuôn tràn đến anh chị em của mình.
Thiên Chúa trao ban
tất cả và Ngài muốn là tất cả. Ngay từ đầu của đạo giao ước, Thiên Chúa
đã tỏ mình ra như một Đấng muốn trở nên tất cả. Ngài không muốn chia
phần sản nghiệp của Ngài với bất cứ một thần thánh nào khác, Ngài là
Chúa của Dân, Ngài lập giao ước và Ngài ghi dấu sở hữu ngay trên thân
xác của từng người dân (cắt bì), Ngài truyền lệnh không được thờ một thứ
thần nào khác, bởi vì Ngài là “thần ghen tương” :
“Ngươi không được
phủ phục trước những thứ đó mà phụng thờ : vì Ta, ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa
của ngươi, là một vị thần ghen tương. Đối với những kẻ ghét Ta, Ta phạt
con cháu đến ba bốn đời vì tội lỗi của cha ông.(Xh 20,5)
Tội thờ các thần
khác được xem như tội ngoại tình, nên phải triệt để phá bỏ mọi tượng
thần và giữ một lòng trung tín tinh tuyền với Ngài :
Ngươi không được phủ
phục trước các thần của chúng, cũng đừng phụng thờ các thần ấy ; ngươi
không được làm theo các việc chúng làm, nhưng phải phá huỷ thần của
chúng và đập vỡ các trụ đá của chúng. (Xh 23,24)
Và chúng ta thấy rõ
lệnh truyền về thái độ phải có của Dân đối với của Chúa trong sách Đệ
Nhị Luật, Chúa muốn là tất cả chứ không muốn chia phần :
“Nghe đây, hỡi
Ít-ra-en ! ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa chúng ta, là ĐỨC CHÚA duy nhất. 5 Hãy
yêu mến ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), hết lòng hết dạ, hết sức anh
(em). 6 Những lời này tôi truyền cho anh (em) hôm nay, anh (em) phải ghi
tạc vào lòng. 7 Anh (em) phải lặp lại những lời ấy cho con cái, phải
nói lại cho chúng, lúc ngồi trong nhà cũng như lúc đi đường, khi đi ngủ
cũng như khi thức dậy” (Dnt 6,4-7)
Như thế, chúng ta hiểu những đòi hỏi của Đức Giêsu về thái độ của người môn đệ đích thực :
"Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. (Mt 10,37)
Có lẽ sự làng nhàng
của đời sống tâm linh chính do con người đã không chấp nhận Chúa là tất
cả, không muốn thuộc về Chúa trọn vẹn.
Thánh Martinô, từ
thân phận một con người hèn mọn, luôn ý thức mình là một người hèn mọn,
thấy mình đáng được bán đi làm nô lệ để nhà dòng có tiền trả nợ, thấy
mình không xứng đáng là một tu sĩ trợ sĩ trong Dòng… chính nhờ sự chân
nhận ấy mà thánh Martinô đã nối kết được đời mình vào dòng thác yêu
thương ào ạt của Thiên Chúa.
Mở ra vài vấn đề
Nhờ gặp gỡ chính
Chúa, con đường bác ái của Martino trở thành con đường chân lý. Lối sống
của Martino làm sáng lên ý nghĩa chân lý căn bản của nhân phẩm, phẩm
giá của kẻ được sống với và cùng làm với Chúa. Lòng bác ái của thánh
Martinô làm sáng lên ý nghĩa chân lý của tình thương, tình thương con
người chỉ có thể trọn vẹn trong lòng nhân từ của Thiên Chúa. Sự chấp
nhận vị thế hèn mọn của Martinô làm rõ ra thái độ chân lý của con người
trước Thiên Chúa, thái độ chân nhận Chúa là tất cả. Đóng góp đó có lẽ
khó so sánh được với đóng góp của thánh Thomas hay Catarina Sienna, khó
so sánh không phải vì lớn hơn hay nhỏ hơn, nhưng vì Martinô cũng là một
“tác phẩm nghệ thuật” độc đáo của Thiên Chúa như các thánh khác. Nghệ
thuật thì không có sự so sánh cao thấp như kỹ thuật, nghệ thuật mời gọi
chiêm ngắm, và “tác phẩm Martinô” thực sự có khả năng làm ngây ngất lòng
người.
Và điều quan trọng
nữa là tình thương nơi thánh Martinô thực sự là một sức mạnh phong phú,
phong phú trong chính cuộc đời của Martinô và trong Giáo Hội, ít là
trong Giáo Hội Việt Nam hôm nay. Lý do là vì tình thương và chân lý của
Chúa thì không chỉ để chiêm ngắm, mà còn là để sống, để dấn thân để đấu
tranh. Trong linh đạo Đa Minh, chiêm ngắm còn luôn phát sinh hoa trái
phong phú trong việc trao tặng cho người khác điều mình đã chiêm ngắm.
Quả thật, nơi thế
gian này, con người cần có một sự “thách thức”, một sự “chất vấn” hoặc
một sự “đe doạ”, thì mới có thể tìm được sức mạnh trọn vẹn của mình.
Cuộc sống trần gian luôn là một cuộc chiến, ai buông khí giới đó là kẻ
đầu hàng và sẽ bị lôi kéo đến chỗ đánh mất bản chất của mình. Ngược lại,
ai nhận ra được “đối thủ” chân chính thì tìm được sức mạnh để vươn lên
mãi. Chân lý thì phải đi vào cuộc chiến và ngay tình yêu cũng cần đi vào
cuộc chiến. Dân Hy Lạp thích tranh luận, và họ thường tự tạo ra đối
thủ, tạo ra những tư tưởng đối nghịch để gia tăng sức mạnh cho lý chứng
của mình[1].
Cũng thế, nhiều khi, do mưu tính chính trị, người ta phải tạo nên kẻ
thù để có thể kích thích sự đoàn kết của dân tộc. Khi mà các môn đệ
tưởng rằng đã đạt đến đích và có thể nghỉ ngơi, thì Đức Giêsu lại mở ra
một chiến cuộc khác cho các ông :
“ Giờ đây, chúng con
nhận ra là Thầy biết hết mọi sự, và Thầy không cần phải có ai hỏi Thầy.
Vì thế, chúng con tin Thầy từ Thiên Chúa mà đến." Đức Giê-su đáp : "Bây
giờ anh em tin à ? Này đến giờ -và giờ ấy đã đến rồi- anh em sẽ bị phân
tán mỗi người mỗi ngả và để Thầy cô độc một mình. Nhưng Thầy không cô
độc đâu, vì Chúa Cha ở với Thầy. Thầy nói với anh em những điều ấy, để
trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan
khốn khó. Nhưng can đảm lên ! Thầy đã thắng thế gian." (Ga 16, 30-33)
Tuy nhiên, khi người
ta tạo ra một đối thủ giả hoặc không xứng tầm, thì sức mạnh hình thành
nên được cũng là sức mạnh giả, chỉ có tính cách nhất thời. “Chân lý”
được hình thành trong một cuộc đấu tranh giả, sẽ chỉ là những chân lý
vụn vặt nhất thời, bộc lộ thói mê chữ nghĩa. Thứ tình yêu được trở nên
mạnh mẽ hơn trong một cuộc chiến giả tạo, sẽ chỉ là tình cảm bồng bột
chóng qua. Vì thế, trong hành trình trần gian này, việc nhận ra đối thủ
cho đúng là một điều hệ trọng.
Trong cuộc sống trần
gian, khi người ta lựa chọn một nghề nghiệp hoặc lựa chọn một ơn gọi,
lựa chọn một lối sống hoặc lựa chọn một môi trường làm việc, thì đó đã
là lựa chọn một đối thủ cho cho cuộc chiến trần gian của mình; trong số
đó, có không ít những lựa chọn không đúng đối thủ, hoặc đối thủ không
xứng tầm với vận mạng con người. Trong ý nghĩa toàn diện của Kitô giáo, ý
nghĩa của ơn gọi sống-với, ta có thể nói được rằng : khi ta “đánh cái
gì” (dĩ nhiên hiểu là cái xấu) thì sẽ có cơ may xuất hiện ý nghĩa “đánh
vì ai”; ngược lại, khi ta “đánh ai”, thì sẽ có nguy cơ lộ diện ý nghĩa
“đánh vì cái gì”. Một đàng là “dấn thân vì ai đó”, một đàng là “dấn thân
vì sự vật nào đó”. Thiết nghĩ sơ đồ nói trên đó cũng là một cách để
hiểu sự duy nhất trong mầu nhiệm Nước Trời, duy nhất trong ý nghĩa cứu
độ. Khi mà con đường tri thức không còn là chiến đấu chống lại sự xấu,
con đường đó sẽ có nguy cơ nhạt nhẽo; khi con đường tri thức lại trở
thành mặt trận chống “ai đó”, thì sẽ dần dần rớt vào nguy cơ bảo vệ một
thứ chân lý vô ngã, chân lý hoàn toàn lý thuyết và trở thành quá khích.
Cũng thế, khi con đường đức ái mà chỉ là quí trọng một “sự vật” nào đó
bên ngoài bản thân, chăm chăm chú chú làm một điều gì đó chứ không phải
làm vì ai đó, thì con đường đó sẽ dần dần loại ra ngoài những ai đang
chờ đợi tình thương chân chính.
Nơi đây, ta có thể
nối lại cả con đường của thánh Thomas và con đường của thánh Martinô với
nguồn mạch hứng khởi nguyên thuỷ của thánh Đa Minh, nguồn mạch khao
khát ơn cứu độ cho con người. Xin ghi lại vài khoản Hiến Pháp căn bản để
nhắc nhủ nhau :
* “Vì Dòng Anh Em
Giảng Thuyết do thánh Đa Minh sáng lập, “như ai cũng biết, ngay từ thời
sơ khai, đã được thành lập đặc biệt để lo việc giảng thuyết và ơn cứu độ
các linh hồn”. Do đó, theo lệnh truyền của Đấng sáng lập, anh em chúng
ta, “ở đâu cũng phải sống chính trực và đạo đức như những người khao
khát ơn cứu độ của mình và của những người khác, như những con người của
Tin Mừng, theo chân Đấng Cứu độ, chỉ nói với Thiên Chúa hay về Thiên
Chúa, với mình hoặc cho tha nhân” (HPNT II)
* “Chính vì thế,
“việc học hành của chúng ta phải nhằm hết sức chính yếu và mạnh mẽ vào
điểm này là để chúng ta trở nên hữu ích cho linh hồn tha nhân” (HP 77)
Chỉ khi trở lại
nguồn mạch thiết tha với con người cho đến cùng, thiết tha ơn cứu độ cho
tha nhân, chúng ta có thể vượt qua thái độ chiêm ngắm thuần tuý, để tìm
lại sức sống Đa Minh trong tinh thần “chiêm niệm vào trao cho người
khác điều mình chiêm niệm”.
Gợi ý chia sẻ :
1. Trong đời sống Đa Minh hiện nay, ta có còn thấy ngọn lửa “thiết tha với ơn cứu độ các linh hồn không ?
2. Trong Thời Sự
Thần Học số 56, Linh mục Phan Tấn Thành viết: “Dưới khẩu hiệu Veritas,
các tu sĩ dòng Đa Minh – những chiến sĩ bảo vệ đức tin (pugiles fidei)-,
lắm lần trở thành những “chó săn lùng bắt quân rối đạo” (Domini canes),
điển hình là các Toà Tra (Inquisitio), và không còn phản chiếu khuôn
mặt dịu hiền của Thiên Chúa Tình Yêu nữa.(…). Nếu có lúc người ta nhiệt
thành chiến đấu cho veritas đến nỗi bỏ quên caritas, thì cũng không
thiếu lần người ta nhân danh caritas để bịt miệng veritas”. Những mâu
thuẫn và những lệch lạc như thế có tiềm tàng trong cách học hành, cũng
như trong cách làm việc tông đồ của chúng ta không ?
3. Phẩm chất đời
sống tâm linh của chúng ta hiện nay có dính dáng đến nguy cơ xa rời bản
thân Chúa để chỉ còn biết học chân lý và làm bác ái một cách đơn thuần
không ?
Chiêm ngắm huyền nhiệm tình thương nơi cuộc đời thánh Martinô (tiếp theo)
01:50 |
Chiêm ngắm huyền nhiệm tình thương
nơi cuộc đời thánh Martinô
(tiếp theo)
Nguyễn Trọng Viễn, OP.
2. Huyền nhiệm Tình thương nơi thánh Martino
2.1. Tình yêu xuất hiện trong “cái với”
2.1.1 “Cái có”
G.
Marcel định nghĩa “cái có” là cái ở bên ngoài mình và không trực tiếp
gắn liền với sự thăng tiến hay suy giảm phẩm chất của cuộc đời. Có điểm
cao, có lời khen, có địa vị, có tiền bạc… những điều ấy không trực tiếp
làm cho đời mình giỏi hơn, tốt hơn, hoàn hảo hơn. Con người cần “cái
có”, và khoa học giải quyết nhu cầu này. Thế giới ngày nay là thế giới
của khoa học. Khoa học mang lại nhiều “cái có” giúp cho cuộc sống được
dễ dàng hơn: có nhà, có xe, có tiền, có máy móc… Khoa học giúp cho cuộc
sống được thanh thản hơn nhiều. Rồi “cái có” ra như có khả năng giải
quyết nhiều vấn đề thật mau chóng và cũng mau chóng trở nên ưu tiên số
một đối với nhiều người trong xã hội ngày nay. Thật ra, ngày nay, người
ta biến cái “huyền nhiệm” nằm sâu trong cuộc đời con người thành những
“vấn đề” bên ngoài, ở đằng trước hành trình cuộc đời mình. Vấn đề thì có
thể được giaỉ quyết do một ai khác, bằng một “cái có” nào đó… Đó là nẻo
đường khiến người ta rơi vào ảo tưởng : có tiền mua tiên cũng được. Quả
thật, thế giới “cái có” đang dần dần xâm chiếm hết tâm và trí của con
người ngày nay, đến độ, một thứ dầu gội đầu, hoặc một đôi dép cũng được
quảng cáo như có thể làm cho người ta “tự tin” hơn hoặc đóng góp vào sự
thành công của đời mình. Cách giải quyết “vấn đề” như thế không đụng vào
được “huyền nhiệm” đời người. Đó chỉ là một cách chạy trốn vấn đề thật,
vấn sâu xa mang tính huyền nhiệm của mỗi cuộc đời con người. Cách thức
ấy đưa đến tình trạng gọi là “xã hội mất căn tính”. Chẳng hạn : quy
trình sống của người thợ mộc là : làm ra cái bàn, đem bán lấy tiền, mua
những đồ dùng khác… Trước đây, mối liên hệ ưu tiên là người thợ mộc thể
hiện mình trong việc làm ra cái bàn; cái bàn phải được đóng đúng quy
cách, phải tốt vì điều đó biểu lộ chính giá trị bản thân của người thợ.
Ngày nay, người thợ mộc, bị cuốn hút vào mục tiêu làm sao có tiền để mua
các đồ dùng khác; vì người ta không cần biết anh ta có là thợ mộc chân
chính hay không, người ta chỉ cần nhìn xem anh có nhiều đồ dùng đáng giá
hay không. Khi đó, người thợ cũng treo giá trị bản thân của mình vào
những đồ dùng mua sắm, và đánh mất lương tâm nghề nghiệp, đánh mất “cái
là” chân chính như một người thợ. Người ta đặt hết nền tảng đời mình vào
“cái có”; và “cái có” thì có thể dễ dàng bị chiếm, bị mất. Khi mất “cái
có”, cuộc đời đó sẽ trở nên trống rỗng, người ta nhận ra sự trống rỗng
của “cái là”, …và người ta dễ đi đến lựa chọn tự tử…
Gabriel Marcel nói : người nào quá thiên về phạm trù có, sẽ giảm thiểu hoặc đánh mất “cái là”.
2.1.2 Cái là
Triết
học thì nhắc nhở người ta về ý nghĩa chân chính của cuộc đời; nhắc nhở
về phẩm tính của “cái là”, phẩm tính của hiện hữu người. “Cái là” giúp
ta tìm được một căn bản tự tại trong chính bản thân mình, để mình có thể
vững vàng trước những biến động hời hợt của “cái có”. Những lời khen
chê, những thành công hay thất bại không có tầm quan trọng quyết định
cho cuộc đời mình nữa, nhưng chính phẩm chất thực sự của mình mới là
điều quan trọng. Ai biết nhận ra “cái là” của mình, người ấy sẽ tìm được
nẻo đường thăng tiến thực sự trong hiện hữu của mình. Hai đứa học sinh,
cùng dốt như nhau, cùng copy bài như nhau, cùng được điểm 10 như nhau.
Một đứa thì khoái chí; đó là đứa chỉ biết “cái có”. Đứa khác thì mắc cở
vì điểm 10; đây là đứa biết nhận ra sự quan trọng của “cái là”.
Để đi từ thế giới “cái có” sang thế giới “cái là”, người ta cần lột bỏ một thứ mặt nạ giả hình ở cấp độ một.
2.1.3 “Cái với”
Thế
nhưng, có nhiều điều, ở bình diện xã hội, vốn là “cái là”, thì trong
bình diện tình yêu, cũng như trong bình diện đức Tin, lại chỉ là “cái
có”. Tôi không chỉ có điểm cao, nhưng tôi thực sự là một học sinh giỏi.
“Trình độ” của tôi không phải là cái có bên ngoài, mà là cái nằm bên
trong tôi. Tôi tài thực sự chứ không phải là nhờ danh tiếng, tôi đạo đức
thực sự chứ không phải là do chức tước, tôi tốt lành thực sự chứ không
phải chỉ do khen ngợi…, đó là những “cái là” của tôi. Tuy nhiên, so với
bình diện bản thân, tất cả những điều ấy lại vẫn là “cái có”, và vẫn có
thể bị mất đi, trong khi bản thân của tôi vẫn còn đấy. Có những điều ra
như ở trong tôi, nhưng thật sự vẫn khác với bản thân, vì đến một lúc nào
đó, chúng vẫn có thể tách rời khỏi tôi. Có lúc bản thân tôi vẫn còn đó,
nhưng trình độ của tôi đã suy giảm hoặc mất đi; đến lúc nào đó tron g
cuộc đời, cả tài năng, sức khoẻ, sắc đẹp và ngay cả đức độ cũng có thể
“chấp cánh bay xa” khỏi bản thân tôi. Trong tình yêu, nếu tôi tin vào
của cải, tin vào danh tiếng để đổi lấy tình yêu, tôi “sẽ bị người đời
khinh dể”, như sách Diễm Ca đã nói (Xc. Dc 8,7). Nhưng nếu tôi tin vào
tài năng, tin vào đức độ… để mong có được tình yêu của ai khác, thì tôi
vẫn không thực sự biết yêu. Chìa khoá thực sự của tình yêu là sự thuộc
về nhau, thuộc về nhau bằng chính bản thân của mình. Cái gì khác với bản
thân thì vẫn chỉ là “sự vật”; tình yêu chân chính không phải là đổi
chác nhưng “sự vật” xung quanh bản thân. Yêu thương là chấp nhận chính
bản thân của ai khác, và nhận ra bản thân của hai bên “thuộc về nhau”[1].
Nếu tôi đi vào tình yêu, đi vào đức Tin với những tài năng, đạo đức
thật của tôi, thì đó vẫn là cách hiện diện với người khác như là kẻ
không thuộc về nhau.
Ở
đây, ta thấy xuất hiện chiều kích đặc biệt của Kitô giáo : “cái với”.
Kitô giáo không phải là đạo luân lý, nghĩa là một bài toán dựa vào sự dò
xét, cân đong đo đến đức độ để thưởng công hay ra hình phạt. Phẩm chất
Kitô đặt nền trong một giao ước mang tính bản thân. Khi lãnh bí tích Rửa
Tôi, tôi mang chính bản thân tôi ra để đóng vào giao ước, tôi chết đi
cho con người cũ để sống một con người mới hoàn toàn thuộc về Chúa. Về
phía Chúa, Chúa cho chính Con Một của Ngài chịu chết cho tôi. Giao ước
bản thân đó làm nên một cộng đồng ngôi vị, giống như và trổi vượt hơn
gia đình.
Trong vận hành từ “cái là” của bình diện xã hội đến “cái với” trong tình yêu và trong đức Tin[2],
lại cần sự lột bỏ mặt nạ một lớp nữa, lột bỏ cả “cái là” giả tạo để
nhận ra con người của mình, bản thân trần trụi của mình, và nhận ra phẩm
giá thực sự của mình trước tình yêu, và trước mặt Chúa. Yêu nhau là
tặng không sự chân nhận bản thân của ai khác chứ không phải là trao đổi
những thứ “sự vật”. Chỉ trong tình yêu như thế, hai người mới “thuộc về
nhau” thực sự. Cũng thế, phẩm giá thực sự của con người là thụ tạo của
Chúa, được Chúa tặng không phẩm giá là “con cái”, được “đồng thừa tự”
với Chúa Giêsu… Đây mới là điều đáng quí trọng nhất của niềm Tin Kitô
giáo. Trong ý nghĩa “thuộc về nhau” tự nền tảng bản thân, “cái với” được
tỏ lộ ra.
Như
thế, ta có thể thấy huyền nhiệm tình yêu lộ rõ hơn hết trong con người
và cuộc đời của thánh Martinô, một người không bám vào một chút “cái có”
nào, và cũng không bám vào một chút “cái là” nào trên bình diện xã hội
con người. Bản thân thánh Martinô là mẫu điển hình của mầu nhiệm Nước
Trời : người đầu hết sẽ nên cuối hết, và người cuối hết sẽ nên đầu hết
(Xc. Mt 19,30, //). Tôn phong Martinô lên hàng hiển thánh, đó không phải
là xướng lên một tước hiệu để vinh vang, những là loan báo mầu nhiệm
Nước Trời, là khẳng định ý nghĩa phẩm giá chân thật nhất của con người.
Bởi vì con người có vận mạng siêu nhiên, và mầu nhiệm con người chỉ sáng
lên trong mầu nhiệm đức Giêsu Kitô. (x. Vatican II, hiến chế Mục Vụ số
22).
2.2 Tình yêu trong chiều hướng lòng nhân từ
Có
lẽ điều hiểu lầm lớn lao của con người hiện đại là đánh mất ý nghĩa của
dâng tặng, và ý nghĩa của tâm tình lãnh nhận với lòng tri ân, mắc nợ
nhau trong tình nghĩa. Cuộc sống hiện đại được chuẩn hoá trên nền tảng
của bài toán trao đổi. Tất cả những thành quả to lớn, hoành tráng của xã
hội hiện đại, từ những nghiên cứu khoa học, từ những công trình kỹ
thuật, từ những thành tựu văn hoá… cho đến những tương giao đời thường…
đều được vận hành theo bài toán thu-chi, lời-lỗ… và quy luật cân bằng ấy
xen dần vào cả lãnh vực tương quan nhân thân của con người với nhau.
Tôi thương anh vì anh tốt bụng, tôi trọng anh vì anh có tài năng, tôi
kính anh vì anh có đức độ, tôi xum xue với anh vì anh có địa vị… Khi anh
không còn tốt bụng, không còn tài năng, không còn đức độ, không còn địa
vị, thì những tâm tình kia cũng đương nhiên không còn xứng hợp nữa. Bài
toán cân bằng ấy thật là hợp lý nhưng cũng thật bất nhân; bởi vì con
người vốn “nhân vô thập toàn”, bởi vì con người luôn là sinh vật có
bệnh, bệnh thể xác và bệnh tinh thần, chính con người thật đó cần được
đón nhận, cần được thương yêu, một tình thương đón nhận “từ dưới chân”
chứ không phải so đo mức độ cao thấp “ở trên đầu”. Khi “cái là” cũng
được lột bỏ để thay vào bằng “cái với”, thì tình yêu thương chân thật
mới được bắt đầu, bắt đầu với phẩm chất “tặng không”. Có thể nói được
rằng, trong vận hành của đời sống tâm linh, người nào quá để ý đến “cái
là” sẽ làm suy giảm hoặc đánh mất “cái với”.
Trong
đức Tin Kitô giáo, nền tảng của mọi tương quan con người với nhau được
đặt trên một nền tảng khác, nền tảng tình yêu thương của Thiên Chúa. Ở
đây, có một sự biến đổi trọng tâm hết sức bản, con người được yêu không
phải là do bài toán trao đổi nữa, do sự “bài toán” trao tặng và nguồn
mạch dư dật, phong phú vô tận của bài toán này là chính Thiên Chúa. Từ
nguồn cội ấy, phẩm chất của mọi thứ tình yêu giữa con người với nhau đều
ngầm biểu lộ ý nghĩa của lòng nhân từ. Chúng ta hiểu rằng điều căn cốt
của vận hành yêu thương trong Kitô giáo là : mối tương quan con người
với nhau phải được đặt trong thế tay ba. Có Thiên Chúa ở đó; và tình yêu
con người với nhau chỉ có thể vững bền, quảng đại khi được nối kết vào
nguồn mạch tình thương nhân hậu của Thiên Chúa. Như thế, khi “tôi yêu
anh” hay “anh yêu tôi”, thì trong niềm tin Kitô giáo, cả hai đều bắt
nguồn từ ý nghĩa căn nguyên : tôi và anh đều “đáng thương” trước mặt
Chúa. Do đó, phẩm chất căn bản của tình nghĩa “tôi thương anh” hay “anh
thương tôi” thì cũng đều phải thể hiện ra trong dáng dấp lòng nhân hậu,
lòng từ bi thương xót của Chúa. Đức Gioan Phaolô II, trong thông điệp
Thiên Chúa Giầu Lòng Từ Bi Thương Xót, nói rằng : có một danh hiệu thứ
hai của Tình yêu, đó là lòng nhân hậu :
“Vì lòng nhân từ là chiều kích không thể thiếu của tình yêu; nó như là danh hiệu thứ hai của tình yêu”[3].
Người
ta có thể kể ra nhiều nhân đức của thánh Martinô, nhưng không thể cho
rằng Chúa đã thương Martinô nhiều vì ngài nhân đức nhiều. Trước tiên, vì
tình yêu của Chúa không phải một sự trao đổi như vậy. Mặt khác, chính
những nhân đức của Martinô cũng do chính Chúa ban tặng. Nói đúng hơn, ta
thấy chính vì Martinô đã khám phá ra “cái với” ở tận bản thân trần trụi
của mình, đã chấp nhận thuộc trọn về Chúa mà Martinô đã đón nhận được
nhiều hơn tình thương của Chúa. Nhân đức của Martinô thật sự cũng không
là gì khác hơn hoa trái của lòng nhân từ của Chúa, nhằm để làm chứng cho
lòng nhân ái của Chúa đối với những người cùng khổ mà Martinô được sai
đến và cho Giáo Hội ngày hôm nay. Quả thật, “tấm lòng vàng” của Thánh
Martinô biểu lộ rõ nét phẩm chất của lòng nhân hậu, trước tiên là lòng
nhân hậu của Chúa dành cho những người bé mọn, qua chính con người bé
mọn Martinô.
[1]
Không nên hiểu lầm sự “thuộc về” như là một sự “lệ thuộc”. Tình yêu
luôn luôn phải là một sự tự do, tự quyết chứ không thể ép buộc, chính tự
khả năng tự quyết, con người mới có thể đi vào mối tương quan thuộc về
nhau càng ngày càng sâu xa hơn. Ngược lại, thiếu sự tự quyết, thì người
ta chỉ có thể lệ thuộc, và lệ thuộc luôn luôn là lệ thuộc về những gì
bên ngoài bản thân, lệ thuộc tiền bạc, lệ thuộc sự bảo bọc, lệ thuộc
tiếng tăm của ai khác… Ngược lại, bản thân là một giá trị tuyệt đối mà
không một sự mua bán, trao đổi nào có thể cân xứng; bản thân chỉ có thể
được dâng tặng, và mời gọi sự đón nhận với lòng tri ân. Chiều kích bản
thân của một người thiếu tự do, thiếu tự quyết, sống lệ thuộc, luôn ở
ngoài vùng phủ sóng của cái “sống với”
[2] Trong tư tưởng của G. Marcel, con người chỉ là mình khi dấn thân, và chỉ có một sự dấn thân chân chính là dấn thân vì tha nhân…
Chiêm ngắm huyền nhiệm tình thương nơi cuộc đời thánh Martinô
01:46 |
Chiêm ngắm huyền nhiệm tình thương
nơi cuộc đời thánh Martinô
Nguyễn Trọng Viễn, OP.
Có một lối nhìn khác
mà tôi thích thú hơn, đó là lối nhìn của linh mục Henri J.M. Nouwen,
trong tác phẩm Những Dấu Chỉ của Sự Sống. Cha Nouwen, theo gợi ý của một
người bạn chuyên phục vụ người khuyết tật, Jean Vanier, đã khám phá ba
dấu chỉ đặc biệt của tình yêu Kitô giáo trong Tin Mừng : mật thiết,
phong phú và xuất thần.
Có lẽ có thể nhìn một cách đơn giản hơn : trong Thiên Chúa, chân lý và tình yêu là một[1].
Rồi chân lý được gồm gói trong đức Kitô, đức Ái hay tình yêu cũng được
gồm gói trong đức Kitô. Nơi Thiên Chúa, caritas và veritas là một, thì
trong đức Giêsu Kitô, chân lý và đức ái cũng vẫn là một[2];
và là một trong mầu nhiệm Nước Trời. Mầu nhiệm Nước Trời thể hiện cả
chân lý và tình yêu một cách phong phú vô tận và linh diệu bất ngờ. Với
mầu nhiệm ấy, điều cần thiết không chỉ là nghiên cứu như một vấn đề,
nhưng còn cần “chiêm ngắm”[3].
Đây là huyền nhiệm phong phú và linh diệu của Nước Trời nơi cuộc đời
một con người hèn mọn nhất trong các vị thánh, và thánh nhất trong những
người hèn mọn, đó là thánh Martino de Porres. Cũng cần phải nói thêm là
: chân lý của Chúa ban cho ta là chân lý cứu độ; và tình yêu Thiên Chúa
ban cho ta cũng là tình yêu cứu độ. Chỉ trong ý nghĩa cứu độ, chỉ trong
vận hành của lịch sử cứu độ mà chân lý và tình yêu của Chúa mặc khải
cho con người mới được sáng lên, sáng lên ý nghĩa huyền nhiệm. Điều này
có nghĩa là chúng ta có thêm một tiêu chuẩn để phân biệt những thứ chân
lý / tình yêu giả với chân lý / tình yêu thật; và để hiệp nhất những thứ
chân lý và tình yêu có vẻ khác nhau nhưng lại đích thực là một trong
cùng vận hành cứu độ.
1. Mầu nhiệm Nước Trời
Sám hối vì Nước Trời
Chúa Giêsu khởi đầu
sứ vụ công khai bằng lời loan báo Mầu nhiệm Nước Trời, và Ngài cũng cho
thấy cách thức để đi vào mầu nhiệm ấy chính là sự sám hối.
“Sau khi ông Gio-an
bị nộp, Đức Giê-su đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa.
Người nói : "Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em
hãy sám hối và tin vào Tin Mừng." (Mc 1,14-15)
Tại sao phải sám hối
? Sám hối là từ bỏ tội lỗi, sám hối là thay đổi lối sống, nhưng sâu xa
hơn hết, sám hối là thay đổi não trạng, thay đổi cách nghĩ. Đó là vì mầu
nhiệm Nước Trời luôn là điều bất ngờ có tính cách đảo ngược. Chẳng phải
chỉ những người Do Thái thời Chúa Giêsu cần phải sám hối, thay đổi não
trạng để có thể “hiểu” được Nước Trời, nhưng chính Hội Thánh trong suốt
hành trình của mình, cũng như mỗi người Kitô hữu, trong suốt hành trình
tâm của mình, vẫn luôn phải sám hối, vẫn luôn phải nhờ Thánh Thần Chúa
để có thể thay đổi não trạng.
Có lẽ đây là một
điều mà người Kitô hữu hiện nay phải lưu ý nhiều. Với đa số người tín
hữu, sám hối bị giản lược thành bản so sánh đời sống hằng ngày với Thập
Điều của Cựu Ước. Với những linh mục, tu sĩ, hình như người ta lấy việc
học hỏi, nghiên cứu để hiểu Nước Trời hơn là một sự rộng mở để Thánh
Thần Chúa thay đổi não trạng. Nếu nghiên cứu và học hỏi có thể cho ta
hiểu được một phần nào mầu nhiệm Nước Trời, thì sức mạnh để đi vào Nước
Trời vẫn luôn là ân sủng, vẫn luôn bắt nguồn từ chính tình yêu và chân
lý cứu độ được Thánh Thần khai mở ra cho Hội Thánh và cho mỗi người tín
hữu. Chính vì thế mà một con người hèn mọn như thánh Martinô lại có thể
biểu lộ mầu nhiệm Nước Trời rõ rệt hơn hết trong một tu viện Đa Minh
cũng như nơi thành phố Lima thời ấy.
Quả thật, nếu để ý
một chút, chúng ta sẽ thấy rõ tính mầu nhiệm Nước Trời luôn có tính cách
đảo ngược. Từ việc Ngôi Lời trong vĩnh cửu nay trở nên xác phàm, từ
việc Chúa chọn đức Maria, một cô gái đồng trinh, vô danh tiểu tốt, để
làm mẹ, từ việc Chúa chọn một gia đình dân thường chứ không phải gia
đình quyền quí, và chọn sinh ra trong hang đá bò lừa… cho đến Bài giảng
trên núi; cho đến cung cách thể hiện “lòng nhân chứ không phải lễ tế”
(Mt 9,13); cho đến lời dạy về quyền bính trong cộng đoàn Hội Thánh; cho
đến những giáo huấn trong diễn từ cáo biệt; và cho đến cách người đi vào
cuộc Tử nạn–Phục sinh…., tất cả đều là một sự đảo ngược kỳ lạ đối với
cách nghĩ thông thường của con người. Ta có thể nói được rằng ai không
thấy được tính đảo ngược của Chúa, thì cũng chưa thấm nhuần mầu nhiệm
Nước Trời. Trong khi đó, cám dỗ của con người luôn là muốn thích nghi,
thoả hiệp Nước Trời với nước thế gian, nước thế gian trong cách nghĩ đầy
lý lẽ của mình, nước thế gian trong lối sống tà tà của mình, nước thế
gian trong cơ chế tổ chức của cộng đoàn hay của chính Hội Thánh, nước
thế gian trong những giá trị hão huyền như danh giá,…
Nước Trời mời gọi
sám hối, mời gọi người tín hữu liên tục sám hối, mời gọi chính cơ chế
Hội Thánh hay cộng đoàn sám hối. Nếu sống đức tin, theo tinh thần
Vatican II, là sống đời mình như một lịch sử ơn cứu độ, nghĩa là sống
chính lịch sử đời thường của mình trong sự sám hối cách nghĩ, cách chọn
giải pháp, cách phản ứng… của mình trong sự so chiếu với mầu nhiệm Nước
Trời, thì ta lại càng thấy rõ tính cách thiếu sám hối chân chính, cả nơi
những nhà nghiên cứu Kinh Thánh, “đấng bậc” cũng như nơi đời sống người
tín hữu nói chung. Nước Trời là một sự đảo ngược, nên cần thiết phải có
một phương thức đảo ngược cách nghĩ, một lòng sám hối chân thực
(métanoia) để đi vào Nước Trời.
Mầu nhiệm đảo ngược
căn bản chính là mầu nhiệm Thập Giá. Thập giá xưa kia là sự điên rồ đối
với người Hy Lạp, là sự chướng kỳ đối với người Do Thái, thì ngày nay,
Thập Giá vẫn luôn là những khác biệt mang tính đảo ngược đối với cách
nghĩ cũng như thực tế cuộc sống xã hội và Giáo Hội, ở đây và lúc này.
“Trong khi người
Do-thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy-lạp tìm kiếm lẽ
khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Ki-tô bị đóng đinh,
điều mà người Do-thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại
cho là điên rồ. (1 Cr 1, 22-23 )
Tại sao lại đảo ngược ?
Chúng ta có thể tìm
thấy câu trả lời trong cách nói của ngôn sứ Isaia : đường lối của Chúa
vượt cao hơn đường lối của con người (Xc. Is 55,9). Đường lối của Chúa
cao hơn không phải chỉ vì Chúa khôn ngoan hơn, nhưng còn là vì Thiên
Chúa yêu thương nhiều hơn, tình thương lớn hơn của Chúa vượt quá cách
suy nghĩ tầm thường của con người. Như đã nói, nơi Thiên Chúa, chân lý
và tình yêu là một; nơi đức Kitô, chân lý và tình yêu là một; nơi mầu
nhiệm Nước Trời, chân lý và tình yêu cũng là một. Tính cách hoà hợp đó
cũng thể hiện nơi những gì được sáng tạo trong Ngôi Lời có từ muôn thuở
và sứ điệp Nước Trời của đức Giêsu. Tính cách hoà hợp ấy cũng thể hiện
trong mầu nhiệm cứu độ mà những ai biết Chúa Cha thì cũng biết Chúa
Giêsu… Thế nhưng, con người đã không dễ dàng thấy được sự hoà hợp ấy,
nên đã phân ly những gì Thiên Chúa đã nối kết; để rồi nhân danh chân lý
để làm những điều phản lại tình yêu, hoặc nhân danh tình yêu để làm
những điều sai trái.
Làm sao giữ được nét hoà, nét duy nhất giữa chân lý và tình yêu ?
Chúng ta có thể thấy
một chút ánh sáng hướng dẫn khi nhìn lại sự tiến triển về quan niệm mạc
khải từ công đồng Vatican I đến Vatican II. Trong khi, đối với Vatican
I, mạc khải là Thiên Chúa mạc khải những chân lý vô ngộ của Ngài, thì
đối với Vatican II, mạc khải lại là mạc khải chính bản thân của Chúa.
“Thiên Chúa nhân
lành và khôn ngoan đã muốn mạc khải chính mình và tỏ cho mọi người biết
mầu nhiệm thánh ý Ngài {X. Ep 1,9}. Nhờ đó, loài người có thể đến cùng
Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, ngôi Lời nhập thể trong Chúa Thánh Thần, và
được thông phần bản tính của Thiên Chúa {X. Ep 2,18; 2P 1,4}. (MK 2)
Chúng ta cũng biết,
Vatican II đã thêm vào một phương thức mạc khải của Thiên Chúa, Thiên
Chúa không chỉ mạc khải bằng Lời, nhưng còn bằng hành động. Cả Lời cũng
như hành động của Thiên Chúa đều chỉ là mạc khải chính bản thân Ngài.
Nơi bản thân Ngài, chân lý và tình yêu là một, và trong mạc khải cứu độ
của Ngài, chân lý cứu độ cũng như tình yêu cứu độ chỉ là một.
“Công cuộc mạc khải
này được thực hiện bằng các hành động và lời nói liên kết mật thiết với
nhau. Nên các việc Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử cứu rỗi bày tỏ,
củng cố giáo lý và những điều được giải thích qua lời nói. Còn lời nói
thì công bố các việc làm và khai sáng mầu nhiệm chứa đựng trong đó. Nhờ
mạc khải này, chân lý thâm sâu về Thiên Chúa cũng như về phần rỗi con
người được sáng tỏ nơi Chúa Kitô, Đấng trung gian, đồng thời là sự viên
mãn của toàn thể mạc khải” {MK 2a}.
Thật ra, con đường
của triết gia Parménide (khoảng 540-470), đồng nhất hữu thể với tư
tưởng, để rồi triết lý chỉ việc ráp nối các tư tưởng, chính con đường đó
đã chia lìa, phân đôi mọi thực tại, lãnh vực lý thuyết dần dần khác với
lãnh vực thực hành; rồi đến một lúc nào đó, lãnh vực siêu hình lại trái
ngược với lãnh vực luân lý. Ngược lại, từ tư tưởng của Héraclite
(khoảng 540-475), người ta thấy rằng : ở đỉnh cao minh triết, siêu hình
và luân lý đồng nhất với nhau; còn ở đáy sâu của thứ triết lý vụn vặt,
thì siêu hình[4] khẳng định một đàng, luân lý lại đòi hỏi một đàng khác. Đó cũng là con đường lãng quên hữu thể của triết học Tây phương.
Cũng gần giống như
vậy, chính con đường xa rời “bản thân Chúa”, khiến cho chân lý và tình
yêu xa rời nhau; khiến cho nhiều khi ta muốn thực hành chân lý thì lại
thấy ngược với đức ái, và nhiều khi thực hành đức ái thì lại ngược với
chân lý.
Cuộc sống nhân trần
thì không có sự đồng nhất tất nhiên giữa hai lãnh vực khác nhau, không
có sự hoà hợp dễ dàng giữa chân lý và đức ái, nhưng người tín hữu thì,
đúng ra, chỉ có một điều cần thiết mà thôi, đó là chọn Chúa Giêsu, theo
Chúa Giêsu. Chính bản thân Chúa Giêsu là Đường, là sự Thật và là sự Sống
(Xc. Ga 14,6), chứ không phải một con đường nào, một sự thật hay sự
sống nào khác. Người Kitô hữu chọn Chúa Giêsu thì chỉ có một tiêu chuẩn
duy nhất, đó là muốn những gì Chúa muốn, làm những gì đẹp ý Chúa… Cũng
thế, Thánh Thần, trong Tân Ước, không còn được hiểu là một năng lực mà
người tín hữu có thể chiếm hữu và “cất trong túi”, nhưng là một Đấng mà
người tín hữu chỉ có thể sống-với, để cho Ngài đồng hành và để Ngài
“nói” khi ta phải ra trước “công hội” (Xc. Mc 13,11).
Có con đường của
thánh Thomas, thiết tha đi tìm chân lý của Chúa, nhưng vẫn luôn là khát
vọng “con chỉ cần chính Chúa” như lời Thomas trả lời với Chúa trong
những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời; và có con đường của Martinô,
khởi đi từ tình thương, khám phá lòng nhân ái của Chúa đổ xuống những
người cùng khổ, và chính cách thức sống ấy trở nên một sự cật vấn cho
những người chỉ biết có một thứ chân lý khô khẳng. Cả hai con đường đó
đều là con đường tìm kiếm chính Chúa, tìm kiếm Nước Thiên Chúa, cả hai
đều là phương thức thể hiện con đường “tìm kiếm Nước Thiên Chúa” trước
hết (Xc. Mt 6,33). Đây chính là con đường của những vị thánh, khác với
con đường của những học giả hoặc những người làm việc xã hội thuần tuý.
Con đường tìm kiếm Thiên Chúa, “tìm kiếm Nước Thiên Chúa trước” sẽ đưa
các thánh vượt qua những đối lập trong thế giới con người, để hoá giải
những đối lập ấy trong chính bản thân của Chúa Giêsu. Cái “trước” ở đây
không phải chỉ theo nghĩa thời gian, nhưng là một sự ưu tiên, một sự nắm
chắc lấy chính Chúa trong nỗi thiết tha đi tìm “Danh Cha, Nước Cha và Ý
Cha”. Những gì Ngài sẽ ban cho sau cũng không phải chỉ là của cải,
không phải chỉ là sự thành đạt, nhưng còn là nét hoà trong chân lý và
tình yêu mà trước đó ta chưa thấy được. Như thế, ai đó gắn bó với bản
thân Chúa Giêsu và thiết tha đi tìm Nước Thiên Chúa thì vẫn có thể hoặc
“đào bới sách vở”, hoặc “lấy đường phố làm phòng tu”.
Từ nẻo đường của
Martino, chúng ta có thể tìm ra động lực sám hối bằng con đường tình
yêu. Thay vì những hiểu lầm của người Do Thái về Đấng Mêsia quyền lực
cũng như về mầu nhiệm Nước Trời như vương quốc trần gian, người Kitô hữu
có thể khám phá thấy trong mầu nhiệm Nước Trời có động lực của mầu
nhiệm tình yêu của Thiên Chúa luôn cao hơn cách nghĩ của con người.
Chúng ta có thể chiêm ngắm huyền nhiệm tình yêu Thiên Chúa trong mầu
nhiệm Nước Trời, xét như một sự đảo ngược cách hiểu của con người, để
rồi nhận ra chính tình yêu thương lạ lùng của Thiên Chúa là căn nguyên
tạo nên mọi sự đảo ngược ấy. Tình yêu Thiên Chúa trở thành một thách đố
với cách hiểu thông thường, và thôi thúc sám hối. Sám hối là sám hối vì
tình yêu Thiên Chúa và sám hối là thay đổi não trạng để hiểu huyền nhiệm
tình yêu cứu độ của Thiên Chúa, vì chính huyền nhiệm tình yêu cứu độ
của Thiên Chúa như một bóng dáng bao trùm và ẩn khuất trong mầu nhiệm
Nước Trời.
[1]
Xc. T/đ Caritas in veritate, s.1. Xin nói thêm : Deus caritas est /
Deus veritas est. Như vậy, nói đùa theo kiểu ngắn gọn hiện nay : Deus
Ca-ve-ritas est; mà cave lại có nghĩa là gái bao !!!, một loại người hèn
mọn được Chúa yêu thương và dẫn dắt đến chân lý cứu độ. Đây là “lý
luận” kiểu huyền nhiệm !!!
[3]
Gabriel Marcel cho chúng ta thấy sự khác biệt của “huyền nhiệm” và “vấn
đề”. Người ta thường hay tưởng lầm nhiều điều thuộc lãnh vực huyền
nhiệm nhưng không được chiêm ngắm mà lại được mang ra giải quyết như một
vấn đề.
Giáo Hội Việt Nam trong sóng gió chính trị
02:23 |
Lm Nguyễn Trọng Viễn, OP
Quả thật, chính trị là một lãnh vực thách thức nhất đối với nhà đạo
đức, đối với tôn giáo nói chung và đặc biệt là đối đức tin Kitô giáo.
Bước vào “sân khách” của thế giới chính trị, niềm tin Kitô giáo có còn
đủ khả năng để chơi theo phong cách đức Tin của mình không? Chẳng những
các nhà chính trị chuyên nghiệp dễ dàng bán mình cho Satan, nhưng tính
cách chính trị còn dễ dàng biến những con người thành tâm thiện chí trở
thành những kẻ vô tình tăng thêm sức mạnh cho những thế lực mưu mẹo gian
manh.
Giáo Hội Việt Nam đang trải qua một giai đoạn khó khăn, khó khăn
trong lòng tin của người tín hữu đối với tình trạng chia rẽ trong lòng
Giáo Hội nói chung, và khó khăn trong việc bổ nhiệm các đấng bậc trong
hàng giáo phẩm… Điều cần ghi nhận là cơn khủng hoảng này xẩy ra đúng vào
thời điểm mừng Năm Thánh 2010, dịp kỷ niệm 350 năm thiết lập Giáo Hội
tại Việt Nam, và 50 năm thiết lập Hàng Giáo Phẩm. Ghi nhận một sự trùng
hợp như thế có lẽ có thể giúp chúng ta dễ dàng hơn để nhận ra một ý
nghĩa nào đó trong bình diện đức Tin.
Phải chăng những khủng hoảng hiện nay, trước tiên, cho thấy những lỗ
hổng vốn có trong lòng Giáo Hội Việt Nam? Phải chăng những khó khăn
trước mắt chính là một thử thách cần thiết để Giáo Hội Việt Nam trưởng
thành hơn? Phải chăng những khủng hoảng trong niềm tin và trong sự hiệp
nhất như hiện nay lại chính là cơ may để Giáo Hội Việt Nam có thể lột bỏ
một thái độ sống đức tin còn quá nặng hình thức và lễ nghĩa? Phải chăng
để có thể bước vào một khởi đầu mới của giai đoạn trưởng thành, Giáo
Hội Việt Nam cần nhận ra những đòi hỏi mãnh liệt hơn, những thôi thúc
toàn diện hơn của Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô, trong sự dẫn dắt của Chúa
Thánh Thần?
Chúng ta có thể chấp nhận lối nhìn của đức Tin như thế trước những
vấn đề sôi bỏng trong hiện tình của Giáo Hội Việt Nam, vì chính thánh
Phaolô cũng đã nói: “Chúng ta biết
rằng: Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến
Người, tức là cho những kẻ được Người kêu gọi theo như ý Người định” (Rm 8,28).
Nhưng đâu là những đầu mối để chúng ta có thể nhận ra đây là một sự
khủng hoảng để trưởng thành? Đâu là một chút ánh sáng để chúng ta có thể
thuận theo sự hướng dẫn của Thánh Thần Chúa, để thánh ý Chúa được thực
hiện một cách tốt đẹp hơn?
Hình như Giáo Hội Việt Nam hiện nay đang phải đối diện trước những
tình huống mà trò đời của chính trị, cách này cách khác, đã len lỏi vào.
Tính cách ít nhiều có tính chính trị trong các biến cố hiện nay đã làm
cho Giáo Hội Việt Nam, xưa nay vốn sống êm ả trong thế giới linh thiêng,
trở nên lúng túng. Những giá trị Tin Mừng, xưa nay được suy diễn theo
những ý nghĩa đạo đức thiêng liêng, bây giờ hình như không giúp gì được
mấy cho người tín hữu để phân định phải trái. Cuộc chiến đấu chống lại
Satan không còn minh bạch trắng đen rõ ràng. Đây là lúc người tín hữu
không phải chỉ sống sự đơn sơ như chim bồ câu, nhưng còn phải tìm thấy
một sự khôn ngoan của con rắn: “Này, Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói. Vậy anh em phải khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu” (Mt 10,16).
Quả thật, đời sống đức Tin của Giáo Hội Việt Nam nói chung lâu nay
thường bị gói gọn trong những vấn đề thuần túy thiêng liêng; người giáo
dân ít nhận ra “sứ mệnh trần thế” như một thúc bách của chính niềm tin;
các giáo sĩ thường không có khả năng hướng dẫn giáo dân sống đức tin,
thể hiện đức tin trong lãnh vực trần thế. Do đó, khi bước ra khỏi “nhà
thờ”, khi đụng vào những chuyện trần thế, cả giáo sĩ và giáo dân đều dễ
dàng rơi vào những thái độ, những lập trường hoàn toàn trần tục như một
người không có đức tin. Trong những biến động hiện nay, có lẽ có nhiều
lập trường, thật ra, chỉ là bộc lộ một khiếm khuyết của một đời sống đức
tin vốn bị tách rời khỏi môi trường sinh hoạt trần thế.
1. Ý nghĩa đích thực của niềm tin
Đức tin Kitô giáo không phải là chuyện trên mây, nhưng là một sự dấn
thân vào lịch sử trần thế, để biến lịch sử ấy thành lịch sử ơn cứu độ.
Do Thái Kitô giáo là tôn giáo mặc khải, nghĩa là đón nhận giáo lý từ
trời cao; nhưng giáo huấn ấy lại cần được thể hiện trong cuộc sống đời
thường, làm nên một thứ hoa trái riêng biệt của Kinh Thánh, đó là “lịch
sử ơn cứu độ”. Truyền thống Kinh Thánh vốn mang nét căn bản là tính lịch
sử, nghĩa là một thái độ của niềm tin được thể hiện, được minh chứng
một cách cụ thể trong chính chiều kích lịch sử, trong những bước thăng
trầm của cuộc đời. Bởi vì Thiên Chúa cứu độ của Ngài không phải bằng
đường lối kéo lôi con người ra khỏi đời sống thường ngày, Thiên Chúa
không đưa con người vào việc kết hiệp với Ngài như một huyền nhiệm cao
xa, trong một thứ xuất thần nào đó; nhưng Thiên Chúa đã thực hiện lời
hứa cứu độ, một cách chính yếu, bằng cách đi vào lịch sử, đồng hành với
con người trong dòng đời, và giúp con người hoàn thành cuộc đời trần thế
của mình trên bình diện siêu nhiên. Nếu Thiên Chúa có ban cho ai đó
những hồng ân cao cả trong việc kết hiệp xuất thần với Ngài; nếu ai đó,
được hân hoan nhìn thấy tỏ tường vinh quang Thiên Chúa trên “núi Tabor”,
thì mục tiêu của hồng ân ấy cũng là để người ấy “xuống núi”, đi vào
hành trình trần gian, giống như Phêrô, Giacôbê và Gioan được mời gọi
xuống núi để đi lên Giêrusalem, chịu khổ nạn cùng với Chúa Giêsu.
“Lời hứa cứu độ” của Thiên Chúa chính là một bảo đảm để con người có
thể sống thái độ “trung tín” với Chúa trên hành trình cuộc đời. Hai
chiều kích ấy luôn gắn liền mật thiết với nhau. Lời hứa cứu độ từ trời
cao là nguồn mạch giúp con trung thành với “mặt đất”; và chính lòng
trung tín với Chúa trong hành trình cuộc đời biểu lộ một cách chính xác
nhất lòng tin tưởng của người tín hữu vào lời hứa cứu độ của Thiên Chúa.
Do đó, đức tin, theo Kinh Thánh, thiết yếu là tin vào sự can thiệp
của Chúa vào lich sử đời mình, và biến đời mình thành một lịch sử ơn cứu
độ. Thái độ căn bản của người Dân Chúa, không phải là một lòng đạo đức
tự nó là tốt, cũng không phải là một tư cách hay một trình độ tôn giáo
cao vời, nhưng trước tiên và căn bản hơn hết chính là lòng trung tín với
Chúa, trung tín với giới luật của Chúa trong đời sống thường ngày và
trung tín với các giải pháp của Chúa trong những lựa chọn quyết định của
lịch sử. Người ta có thể thấy một sự trung tín của Hôsê ngay trong
những giải pháp của đời sống vợ chồng, một lòng tin được thể hiện “trên
giường ngủ”; hoặc một thứ “chính trị của niềm tin” nơi Isaia.
Sách Thánh nói Dân Do Thái là một dân cứng lòng. Điều đó có lẽ không
phải chỉ do tâm tính của một dân tộc vốn thích ngang ngạnh, nhưng đúng
hơn là do họ đứng trước một sứ mệnh “không giống ai”, sứ mệnh sống niềm
tin, đón nhận những chỉ dẫn của niềm tin nhiều khi trái ngược với lối
suy nghĩ khôn ngoan đời thường. Chính vì vậy mà Dân đã thường giết các
ngôn sứ... Sống đức tin tức là đón nhận sự hiện diện của Chúa, nhận ra
Thiên Chúa đang đồng hành trong lịch sử đời mình. Đời sống đức tin là
một lịch sử ơn cứu độ, điều đó có cũng có nghĩa là niềm tin chân chính
luôn phải là một niềm tin được thể hiện cụ thể trong “hành động”, trong
dòng đời, trong ý nghĩa toàn vẹn của một cuộc đời.
Sứ mệnh của Giáo Hội hiện nay cũng thế, đó không phải chỉ là gìn giữ
một thế giới tôn giáo, nhưng chính là trở nên men để biến lịch sử nhân
loại trở thành lịch sử ơn cứu độ toàn vẹn của Thiên Chúa. Giáo Hội cũng
cần phải dấn thân vào thế giới chính trị, nhưng dĩ nhiên là không phải
với tư cách một thế lực chính trị, mà như một kẻ mang nặng sứ mệnh với
cuộc đời.
2. Thế giới chính trị
Quả thật, thế giới chính trị là môi trường khó khăn nhất trong việc
phân định được một thái độ của Tin Mừng. Từ thời Machiavelli
(1469-1527), người được coi như nhà sáng lập môn chính trị học, cho đến
nay, càng ngày người ta càng nhận ra rằng con đường của thứ “chính trị
kiểu Machiavelli” là điều mà gần như không nhà chính trị nào có thể
tránh được. Ngay trong tư tưởng của Machiavelli, người ta đã thấy có một
sự giằng co không thể hóa giải. Tác phẩm làm cho tên tuổi của ông trở
thành “bất tử” chính là tác phẩm “Ông Hoàng” (xuất bản 1532,
sau khi ông qua đời) trong đó tác giả đề cao một thứ chính trị, nói nhẹ
là một thứ chủ trương phi đạo đức trong chính trị, nói nặng ra là một
thứ chính trị mưu mô, thủ đoạn, dối trá, bất nhân, tàn bạo… Thế nhưng
người ta quên rằng tác phẩm lớn nhất của Machiavelli lại chính là cuốn “Những Bài Nói Chuyện”
(Discourses), được xuất bản cùng năm với cuốn Ông Hoàng. Trong tác phẩm
“Những Bài Nói Chuyện”, Machiavelli lại trình bầy một quan điểm chính
trị khác hẳn: ông tin tưởng vào lý tưởng cộng hoà; ông cho rằng một
chính phủ tốt là chính phủ hoà hợp được các nguyên tắc cai trị của hai
thể chế, dân chủ và quân chủ. Không nhà cầm quyền nào được an ổn nếu
không giành được sự ủng hộ của dân chúng. Quốc gia vững bền hơn hết là
những quốc gia có vua cai trị những lại có hiến pháp hạn chế nhà vua;
Ông không đồng ý câu phương ngôn cổ “Xây dựng trên dân chúng là xây dựng
trên cát”… Nhận định về hai lập trường khác biệt trong hai tác phẩm ấy,
người ta cho rằng tác phẩm “Những Bài Nói Chuyện” diễn tả những điều
ông mong ước, còn tác phẩm “Ông Hoàng” lại là những suy tính về một giải
pháp hữu hiệu cho điều đang diễn ra trong thực tế. Nếu những suy luận
ấy là đúng, thì chúng ta cũng hiểu ra nỗi khó khăn thực sự trong việc
hòa hợp giữa chính trị và đạo đức, hoặc giữa chính trị và tôn giáo. Vì
thế, ông tổ của ngành chính trị đã phải gác lại mơ ước của mình, dù là
mơ ước lớn, để chiều theo một đường lối chính trị hữu hiệu trước mắt.
Mặc dù người ta nhận thấy tấm lòng thật sự của Machiavelli là một con
người yêu nước, nhưng chính ông cũng đành phải chọn đường lối của Satan
(Ở Anh quốc, vào thế kỷ XVII, thuật ngữ “Gìa Nick” thường được dùng lẫn
lộn để bổ nghĩa cho hai danh tử riêng là Machiavelli và Satan).
Quả thật, chính trị là một lãnh vực thách thức nhất đối với nhà đạo
đức, đối với tôn giáo nói chung, và đặc biệt là đối đức tin Kitô giáo.
Bước vào “sân khách” của thế giới chính trị, niềm tin Kitô giáo có còn
đủ khả năng để chơi theo phong cách đức Tin của mình không? Chẳng những
các nhà chính trị chuyên nghiệp dễ dàng bán mình cho Satan, nhưng tính
cách chính trị còn dễ dàng biến những con người thành tâm thiện chí trở
thành những kẻ vô tình tăng thêm sức mạnh cho những thế lực mưu mẹo gian
manh. Bước vào những sinh hoạt ít nhiều có tính chính trị, người nào
“non tay” sẽ thường bị giật giây, bị lèo lái, bị lợi dụng. Khi đó, đang
khi người ấy tưởng rằng mình đấu tranh cho mục tiêu chân chính này, thì
thực sự ra người đó lại trở thành tay sai cho một thế lực nào khác để
phục vụ cho một mục tiêu khác. Trong tình hình ấy, thường chính đám đông
là những con mồi, những con dê tế thần, những người dễ bị xúi dục nhất,
bởi vì đám đông thường có những phản ứng bộc phát tức thời; trong khi
những con “cáo già” trong chính trị lại là những người đã có sẵn những
mưu lược và họ điều khiển người khác như những con bài trong bàn cờ
chính trị.
3. Đức Giêsu hiền hậu
Chúa Giêsu tự nhận Ngài có lòng hiền hậu: "Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường"
(Mt 11, 29). Thế nhưng, ta có thể thấy ngay trong Tin Mừng, hình như
Đức Giêsu không phải là mẫu người hiền lành như người ta tưởng. Ngôn từ
của Ngài mạnh mẽ như Đấng có uy quyền: “Khi
Đức Giê-su giảng dạy những điều ấy xong, dân chúng sửng sốt về lời
giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ
không như các kinh sư của họ” (Mt 7, 28-29); Đức Giêsu la mắng
những người Biệt Phái và các Kinh sư nặng lời (Xc. Mt. 23, 13-36); Đức
Giêsu vào Đền Thờ, Ngài và xô đẩy, đánh đuổi những con buôn trong đền
thờ (Xc. Ga 2,13-17); rồi trong cuộc tử nạn, khi quân lính đánh Chúa vì
câu trả lời của Chúa với vị thượng tế, Ngài cũng thẳng thắn chất vấn: “… sao anh lại đánh tôi” (Ga 18,23).
Có lẽ chúng ta thấy Chúa Giêsu không phải là một con người hiền từ
theo nghĩa tâm lý, Ngài không phải là một người để mặc cho người khác
làm sao cũng được; Ngài cũng không phải là một nhân vật siêu thoát, quân
tử, theo kiểu không thèm đếm xỉa đến những điều người ta xúc phạm, hoặc
đối xử bất công với mình. Chúa Giêsu dấn thân vào cuộc đấu tranh, Chúa
Giêsu mạnh mẽ tố cáo những điều sai lạc, Chúa Giêsu không “hiền lành”
như một cục bột, hoặc như một người nhẫn nhịn, chịu đựng giỏi. Sự hiền
lành của Chúa Giêsu, một cách căn bản, cũng không phải là một phẩm tính
luân lý do tu luyện, như khả năng nhẫn nhịn và chịu đựng, để làm đẹp
thêm cho nhân cách một con người.
Sự hiền hậu của Chúa Giêsu nằm ở một bình diện khác, bình diện thực
chất của ơn cứu độ. Khi Isaia tiên báo về Người Tôi Trung của Giavê với
những phẩm tính như: “Nó không kêu to, không nói lớn, không để ai nghe tiếng giữa phố phường”
(Is 42,2), thì chắc chắn đó không phải là một hình ảnh hiểu theo nghĩa
đen, nhưng là một cách thức đấu tranh cho công lý không bằng sức mạnh
của nhân loại: “Nó sẽ làm sáng tỏ công
lý trước muôn dân (…). Nó sẽ trung thành làm sáng tỏ công lý. Nó không
yếu hèn, không chịu phục, cho đến khi thiết lập công lý trên địa cầu” (Is, 42,1.2-3).
Chúa Giêsu hiền hậu, vì sau khi đã tức giận đánh đuổi con buôn ra khỏi đền thờ, Ngài lại nói: "Các
ông cứ phá huỷ Đền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại"; và “…
Đền Thờ Đức Giê-su muốn nói ở đây là chính thân thể Người” (Ga
2,19.21). Chúa Giêsu hiền hậu, vì Ngài không muốn dùng phương thức bạo
lực để chống lại bạo lực, Ngài không muốn tiêu diệt những kẻ chống lại
Ngài, nhưng lại muốn mời gọi họ trở về đường ngay nẻo chính, và dùng sự
hy sinh chính bản thân mình để mang lại ơn cứu độ cho con người: “Đức Giê-su nói với ông Phê-rô: "Hãy xỏ gươm vào bao. Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống?"
(Ga 18,11). Chúa Giêsu hiền hậu, Ngài đã trở nên như con chiên, không
phải vì con chiên không mở miệng kêu ca, nhưng chính vì Ngài là Chiên
Thiên Chúa, con chiên dám tự nguyện chấp nhận cái chết, dám hiến mình là
của lễ mang lại ơn cứu độ cho con người. Chính trên thập giá, Chúa
Giêsu thực sự tỏ mình ra “Đây là Vua Dân Do Thái” (Ga 23,38).
Có lẽ đường lối của Chúa Giêsu có thể giúp cho người Kitô hữu Việt
Nam nói chung biết tìm ra cách ứng xử trong bóng tối đầy tính chính trị
hiện nay. Cuộc đấu tranh cho công lý, theo đường lối của Chúa Giêsu,
không phải chỉ là một cuộc tranh cãi, hay đấu tranh trên bề mặt của
những sự kiện. Cũng như Chúa Giêsu, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam có thể
và cần phải lên tiếng, cần phải đấu tranh, và cần phải trách mắng nữa…
Thế nhưng, thực chất của ơn cứu độ lại diễn ra ở tầng sâu hơn, nơi đó
Giáo Hội không thể nào chỉ muốn thấy những chiến thắng và vinh quang,
nhưng phải dám chấp nhận trở thành hy lễ. Để thiết lập được công lý,
không thể nào không có hy sinh, không thể nào không có những con người
dám chấp nhận chết đi, đánh mất mình đi vì yêu thương người khác. Trong
“bàn cờ chính trị của Nước Trời”, một Đức Giêsu bị kết án theo luật
pháp, lại chính là vua, là thẩm phán để xét xử thế giới theo tiêu chuẩn
của tình yêu. Đó là phương cách đấu tranh của sức mạnh cứu độ đối với sự
gian manh của chính trị.
Kết
Quả thật, bước vào thế giới chính trị, thế giới chính trị như một thế
lực lớn nhất của nước thế gian, người ta thấy rằng những đức tính luân
lý, những giá trị nhân sinh, những thứ chân lý của lý luận, những suy
tính chiến thuật khôn ngoan, hợp lý, những đòi hỏi công bằng và công lý
chính đáng nhất của con người… hình như không còn đủ đẳng cấp để đấu
tranh nữa. Thế giới chính trị ma manh, quỉ quyệt có thể lợi dụng tất cả,
hóa giải tất cả, làm biến chất tất cả… Chúa Giêsu thi hành sứ vụ công
khai trong một bầu khí chính trị đặc biệt của vùng đất Palestin, và Ngài
bị kết án như một kẻ có nguy cơ làm xoay chuyển tình hình chính trị:
“Vậy các thượng tế và các người
Pha-ri-sêu triệu tập Thượng Hội Đồng và nói: "Chúng ta phải làm gì đây?
Người này làm nhiều dấu lạ. Nếu chúng ta cứ để ông ấy tiếp tục, mọi
người sẽ tin vào ông ấy, rồi người Rô-ma sẽ đến phá huỷ cả nơi thánh của
ta lẫn dân tộc ta." Một người trong Thượng Hội Đồng tên là Cai-pha, làm
thượng tế năm ấy, nói rằng: "Các ông không hiểu gì cả, các ông cũng
chẳng nghĩ đến điều lợi cho các ông là: thà một người chết thay cho dân
còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt" (Ga 11, 47-50).
Tình hình chính trị như thế chắc chắn sẽ xô đẩy Chúa Giêsu đến cái
chết. Chúa Giêsu biết rõ điều đó, nhưng Ngài không rút lui, không né
tránh; Ngài lao mình vào bằng cả sự sống của bản thân Ngài. Đức Giêsu đi
vào tình hình chính trị bằng một sức mạnh quá chênh lệch, xét theo tiêu
chuẩn trần gian. Nhưng thật ra, Ngài đã đương đầu với mâu thuẫn chính
trị bằng thực tại cứu độ. Chỉ có tôn giáo cứu độ mới có thể hóa giải
được mâu thuẫn chính trị.
Chỉ có Nước Thiên Chúa mới có thể đương đầu với thế giới chính trị
như kẻ cầm đầu Nước thế gian. Nếu Kitô giáo đánh mất mình trong sinh
hoạt chính trị, nghĩa là chơi trên sân khách theo phong cách của đội
khách, thì phần thua sẽ là phần chắc. Ngược lại, nếu trung tín với Chúa
Giêsu, ta hiểu rằng, sự chiến thắng của Nước Chúa, như lời Chúa khẳng
định: “Thầy nói với anh em những điều
ấy, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ phải
gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian" (Ga
16,33); sự chiến thắng ấy không nằm trong bình diện những sự việc trần
thế, nhưng chính là vận hành của ơn cứu độ đang lớn lên trên quê hương
đất Nước Việt Nam.
Nguồn: daminhvn.net

