Home » Án Oan
Tuyên bố về hai vụ án tử hình
18:31 |Tuyên bố về hai vụ án tử hình
Nguyễn Văn Chưởng và Hồ Duy Hải
Kính gởi:
- Toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước
- Chính phủ và Quốc hội các quốc gia dân chủ
- Các tổ chức nhân quyền quốc tế và các hãng thông tấn hoàn vũ
- Các cơ quan tư pháp tại các nước văn minh.
Từ 6-7 năm nay, có hai tù nhân là Nguyễn Văn Chưởng (sn 1983) và Hồ Duy
Hải (sn 1985), bị tòa án sơ thẩm lẫn phúc thẩm Việt Nam kết án tử hình,
đã liên tục kêu oan và sống trong khắc khoải. Gia đình họ cũng phải bỏ
công ăn việc làm, thậm chí tán gia bại sản để đi đòi công lý cho người
thân trong đau khổ và tuyệt vọng. Nỗi bất hạnh tột cùng này lên đến đỉnh
điểm khi bản án tử được thông báo sẽ thi hành cuối năm nay (đối với
NVC) và có thể đầu năm tới (đối với HDH). Tin tức này cũng khiến công
luận và báo chí đòi xét lại toàn bộ hai vụ án, vì có vô số điều phi lý,
mâu thuẫn, mờ ám, oan ức do chính các luật sư, gia đình lẫn công luận
nêu ra.
1- Sự kiện
a- Vụ án Nguyễn Văn Chưởng.
Đây là việc 1 thiếu tá công an ở Hải Phòng bị giết chết đêm 14-7-2007.
Vụ án có 3 bị cáo gồm Vũ Đoàn Trung, ở Hải Phòng, nhận tội, 23 năm tù
giam; Đỗ Văn Hoàng, ở Hải Phòng, không nhận tội, tù chung thân; và
Nguyễn Văn Chưởng, ở Hải Dương (bị Vũ Đoàn Trung tố cáo là chủ mưu),
không nhận tội, tử hình.
Tháng 7 năm ấy, bị cáo
Nguyễn Văn Chưởng cùng với em trai đang lao động ở Hải Phòng. Tuy nhiên,
cả 2 không có mặt tại đó vào thời điểm xảy ra án mạng (vì họ thường về
thăm nhà ở thôn 1, xã Bình Dân, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương mỗi cuối
tuần). Nhiều người thân lẫn người dân trong thôn đã làm chứng về sự có
mặt của 2 anh em đêm 14-7-2007, xa phạm trường tới 40km. Thế nhưng lời
khai của các nhân chứng bị cơ quan điều tra hoặc xuyên tạc (như bà
Nguyễn Thị Bích, mẹ bị cáo) hoặc dùng tra tấn để phải rút lại (như chị
Nguyễn Thị Bảy, vợ bị cáo hoặc nhiều người dân trong làng). Các nhân
chứng ấy lại không được ghi lời khai trong bản án cũng chẳng được triệu
tập đến tòa trong ngày xử.
Nhiều tình tiết cho thấy
công an đã áp đặt tội cho Nguyễn Văn Chưởng ngay từ khi khởi sự điều
tra. Đó là bắt giam Nguyễn Trọng Đoàn (em của Chưởng) khi anh này đem
đơn của mẹ kêu oan cho con (10-08-2007), sau đó kết án anh 2 năm tù vì
“che giấu tội phạm”. Đó là tra tấn dã man bị cáo Chưởng và nhiều chứng
nhân để hủy bằng cớ ngoại phạm của anh. Đó là trong hồ sơ vụ án, giấy tờ
giám định thương tích của Chưởng, lời khai của nhiều nhân chứng không
có; chữ ký của Đoàn bị giả mạo; lời khai của hai bị cáo Vũ Toàn Trung và
Trần Thị Lan Phương (người yêu) rất mâu thuẫn nhau; yêu cầu của Chưởng
xin được khôi phục các cuộc điện thoại của mình tối ngày 14 và sáng ngày
15-07-2007 cũng bị lờ hẳn.
Ngoài ra, cơ quan điều
tra còn gây khó khăn và chậm trễ trong việc cấp giấy chứng nhận người
bào chữa (hơn 3 tháng so với qui định là 3 ngày) khiến nhiều cuộc thẩm
vấn bị cáo và nhiều biên bản lời khai không có luật sư tham dự (hay nếu
có thì công an chẳng giới thiệu là luật sư). Đến ngày xét xử, tòa án
chẳng triệu tập nhân chứng nào cũng không cho các bị cáo đối chất với
nhau. Chưởng kêu bị tra tấn nhục hình thì Hội đồng xét xử bác bỏ vì cho
rằng trong biên bản không ghi điều đó.
Nhận thấy vụ án bất công, gia đình thuê luật sư bào chữa thì được trả lời: “VN
không có luật! Nếu thực hiện đúng luật thì chúng tôi có thể cãi cho
ông. Luật như các nước khác thì chúng tôi cãi được còn VN không có luật
nào cả. Luật của ‘chúng nó’ nên chúng tôi chịu thua” (RFA 3-12-2014). Sau đó, thấy bản án oan ức, thân phụ bị cáo cho biết: đã làm “đơn
gửi văn phòng Chủ tịch nước hàng ngàn lá. Tôi cũng đã lên tận nhà riêng
ông Trương Tấn Sang, đã gửi kể cả đơn bằng máu mà báo Người Đưa Tin
chụp tung lên mạng… nhưng hiện nay không có phản hồi nào” (RFA 3-12-2014). Hiện cả gia đình và nạn nhân không làm đơn xin ân xá mà chỉ kêu oan vô tội.
b- Vụ án Hồ Duy Hải.
Đây là vụ 2 nữ nhân viên bưu điện bị hãm hiếp, giết chết đoạn cướp của
ngày 14-01-2008 ở bưu cục Cầu Voi, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An mà chẳng
có ai chứng kiến. Khoảng 3 tháng sau, cơ quan công an điều tra tỉnh bắt
sinh viên Hồ Duy Hải. Rồi cả hai cấp tòa sơ thẩm và phúc thẩm đều tuyên
án tử hình cho anh về các tội “giết người”, “cướp tài sản”.
Tuy trong các bản khai, Hồ Duy Hải có thừa nhận tội lỗi, nhưng trước
hai tòa và khi gặp thân nhân, anh đều kêu oan và cho biết mình đã bị tra
tấn dã man nên phải ký nhận những bản khai viết sẵn. Trong phiên sơ
thẩm ngày 28-11-2008, luật sư bào chữa Nguyễn Văn Đạt đã đưa ra đến 41
điểm sai phạm trong quá trình tố tụng và điều tra xét hỏi, như không có
vật chứng (các dấu vân tay tại phạm trường chẳng phải là của bị cáo, con
dao và tấm thớt gây nên cái chết cho 2 nạn nhân là đồ đi mua ở chợ về
sau, mẫu máu và tóc lại để tới 5 tháng sau đó mới xét nghiệm), cũng
không có nhân chứng xác nhận bị cáo có mặt tại phạm trường. Không chi
tiết nào trong 41 chi tiết này được cơ quan điều tra giải đáp. Đến phiên
xử tiếp, luật sư chỉ định Nguyễn Thành Quyết đã không bào chữa, lại còn
“xin nhận tội” và “xin được hưởng” án chung thân giùm cho bị cáo !?!
Trong
đơn đề nghị giám đốc thẩm viết ngày 11-01-2012, luật sư Trần Hồng Phong
cũng chỉ ra vô số điểm mâu thuẫn (đặc biệt các lời khai của nhiều nhân
chứng trong bút lục đã bị sửa chữa mà chẳng có chữ ký xác nhận của họ)
để rồi nhận định: “Việc xét xử phiến diện, thiếu khách quan, bất chấp
kết quả giám định khoa học, bỏ qua tình tiết ngoại phạm của bị cáo; kết
luận trong bản án không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án;
vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, làm sai lệch hồ sơ vụ án; áp dụng
pháp luật không đúng, xét xử sai tội danh”. Ngoài ra, sau khi vụ án
xảy ra, nhiều tờ báo đã có bài viết, nêu nhiều tình tiết cho thấy hung
thủ có thể là một kẻ khác và đã được cơ quan điều tra lấy lời khai ngay
từ khi mới phát hiện vụ việc (như Thanh Niên ngày 16-01-2008; Người Lao
Động ngày 17-01-2008). Thế mà toàn bộ các tình tiết ấy đã không nằm
trong hồ sơ. Đó là chưa kể có mật lệnh cấm nhiều tờ báo không được viết
gì về vụ Hồ Duy Hải !?!
Sau khi có bản án tử hình,
bị cáo Hải và gia đình không viết đơn xin ân xá (dù có bị ép) gửi đến
Chủ tịch nước mà chỉ liên tục kêu oan vì họ cho rằng anh không có tội.
Sáu năm qua, gia đình đã gửi đơn khắp nơi đề nghị giám đốc thẩm
để giải oan cho anh, nhưng đều chỉ nhận được trả lời là “đã
đúng người đúng tội” hay “hết thẩm quyền xử lý vụ án”. Bà mẹ còn tìm
đến Quốc hội, nhà riêng của các lãnh đạo cao cấp để kêu cứu nhưng vô
vọng. Thậm chí bà còn bị dọa đổ keo vào miệng để không la được nữa, còn
dì ruột của Hải thì bị công an côn đồ đánh cho thâm tím tay chân khi hai
bà căng băng-rôn biểu tình trước cổng Tòa án tối cao ngày 28-11-2014.
2- Nhận định và tuyên bố
Trước những vụ việc trên đây, các tổ chức xã hội dân sự nhận định và tuyên bố:
a- Vì tại Việt Nam chỉ có tam quyền phân công chứ không phân lập, nền
tư pháp hoàn toàn nằm dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, chi phối toàn diện của
đảng Cộng sản, nhằm bảo vệ sự tồn tại của đảng bằng mọi giá chứ không
nhắm bảo vệ tính mạng và quyền lợi người dân, nên nhiều vụ án oan khốc
đã xảy ra xổ toẹt luật pháp, thách thức công luận, với những bức cung,
nhục hình, với cáo trạng dối, chứng cứ giả, với âm mưu cá nhân và ý đồ
tập thể... Ở hai vụ án trên, hai chàng thanh niên bị bắt một cách tình
cờ (vì không có mặt tại hiện trường), kết tội chỉ bằng "lời khai" là chủ
yếu, không cần những vật chứng, lý chứng, nhân chứng có sức thuyết
phục. Cũng như “nhà nước được đẻ ra từ nòng súng”, lời khai đó đã được
đẻ ra từ đấm đá đòn vọt, theo thói "không có tội thì đánh cho có, có tội thì đánh cho chừa".
Biện pháp dùng tra tấn, nhục hình để mớm cung, ép cung là chuyện chẳng
ai lạ ở VN, khi mà cơ quan điều tra luôn cho mình có quyền hành động bí
mật, loại bỏ vai trò luật sư trong tiến trình thẩm vấn.
b- Việc công an nhất quyết cho hai bị cáo là thủ phạm dù giữa bản thân
và gia đình họ với công an chẳng có tư thù, điều ấy có thể lý giải bằng
hai cách. Một là sau thời gian không tìm ra thủ phạm (vụ HDH)
hoặc không tìm ra bằng chứng nơi kẻ bị coi là thủ phạm (vụ NVC), rồi bị
áp lực đạt chỉ tiêu phá án để bảo vệ thành tích của đơn vị, công an đã
bắt đại một người nào đó để kết tội hay kết tội đại một người nào đó đã
bắt. Chẳng may HDH và NVC trở nên vật tế thần. Hai là công an
biết rõ thủ phạm thật của vụ việc, nhưng thủ phạm này lại là kẻ có quyền
hoặc có tiền và đã biết dùng tiền hoặc quyền để khuynh đảo công lý.
Việc đề nghị khởi tố hai nạn nhân với án tử hình nếu thành công thì vừa
cứu thoát người được che chở vừa tránh hậu họa, vì một lý do nào đó, thủ
phạm đích thực bị bắt hay ra đầu thú, sẽ khiến công an bị kết tội gây
án oan sai như vụ "tù oan 10 năm Nguyễn Thanh Chấn".
c- Khi hồ sơ điều tra chuyển lên viện kiểm sát, viện này có hai chọn
lựa: hoặc miễn tố 2 bị cáo với lý do không đủ chứng cớ, hoặc giúp công
an bảo vệ thành tích phá án bằng cách khởi tố họ dựa trên biên bản điều
tra. Kiểm sát và công an là hai cơ quan cùng thuộc bộ tư pháp, dưới
quyền chỉ đạo của cùng một đảng, nghĩa là có quan hệ "người nhà". Cho
nên việc kiểm sát giúp công an bảo vệ thành tích phá án là điều dễ hiểu.
Khi hồ sơ được viện kiểm sát chuyển sang tòa án để xét xử, quan hệ
"người nhà" giữa tòa án và công an cùng viện kiểm sát lại được vận dụng.
Tòa án cũng có hai chọn lựa, hoặc xét thấy không đủ yếu tố buộc tội nên
trả nội vụ về công an điều tra lại, hoặc kết án bị cáo theo hồ sơ điều
tra. Thực tế, việc chuyển hồ sơ về lại công an chỉ mất thì giờ chứ kết
quả điều tra lại thường không thay đổi, nên khuynh hướng của tòa án là
căn cứ trên hồ sơ của công an để xét xử và luận tội. Mà một khi chọn
giải pháp kết án thì cũng do lo sợ hậu quả là sẽ có thể bị khuyết điểm
xử sai, mất thành tích công tác, nên tòa án sẽ đồng lõa với công an và
kiểm sát kết án tử hình cho xong chuyện, chưa kể là còn hưởng mối lợi từ
thủ phạm thật đang có quyền hoặc có tiền. Rồi để chắc chắn bản án không
bị bác bỏ, tòa sơ thẩm đã hội ý trước với tòa phúc thẩm để thống nhất
bản án. Việc này mang tính cách "thông đồng", trái với nguyên tắc độc
lập của việc xét xử. Nhưng đó là trình tự thông thường diễn ra đằng sau
các vụ án quan trọng của hệ thống tư pháp Việt Nam.
d- Do đó chúng tôi mạnh mẽ yêu cầu nhà cầm quyền CSVN phải xét lại toàn
bộ hai vụ án (và nhiều vụ án tử hình khác nữa). Không thể chấp nhận việc
bắt người vô tội chết thế cho thủ phạm đích thật hoặc đem sinh mạng dân
đổi lấy thành tích cho ngành và giữ lấy quyền lực cho đảng. Chúng tôi
cũng kêu gọi quốc dân và quốc tế ý thức rõ ràng để hợp lực xóa bỏ tình
trạng một nhóm người chiếm độc quyền cai trị cả nước, tự tung tự tác hơn
nửa thế kỷ, đang sinh ra những đám mafia thao túng tất cả các lãnh vực,
từ kinh tế, văn hóa, chính trị đến tư pháp, bất chấp đạo đức lẫn công
lý, lương tâm lẫn tình người. Nếu ai cũng im lặng mà bỏ qua thì rồi có
thể một ngày nào đó, bất cứ công dân Việt vô tội nào cũng sẽ là một nạn
nhân như Nguyễn Văn Chưởng và Hồ Duy Hải. Chúng tôi cũng kêu gọi “Các bà
mẹ bà vợ bị oan ức, hãy đoàn kết lại!” (như “Các bà mẹ Thiên An Môn” bên Tàu) để đứng
lên tranh đấu, ngõ hầu bảo vệ mạng sống và tự do của con, của chồng
mình, cứu bao nhiêu nạn nhân vô tội có thể bị nền tư pháp mafia giết
trong tương lai.
Làm tại Việt Nam ngày 10 tháng 12 năm 2014, Ngày Nhân quyền Quốc tế lần thứ 66.
Các tổ chức xã hội dân sự đồng ký tên:
1- Bach Dang Giang Foundation. Đại diện: Thạc sĩ Phạm Bá Hải
2- Diễn đàn Xã hội Dân sự. Đại diện: Tiến sĩ Nguyễn Quang A
3- Giáo hội Cao Đài. Đại diện: Các CTS Hứa Phi, Nguyễn Bạch Phụng, Nguyễn Kim Lân.
4- Giáo hội Liên hữu Lutheran Việt Nam-Hoa Kỳ. Đại diện: Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa
5- Giáo Hội PGHH Thuần túy. Đại diện: Hội trưởng Lê Quang Liêm
6- Hiệp hội đoàn kết Công - Nông Việt Nam. Đại diện: Ông Nguyễn Mai.
7- Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam. Đại diện: Ông Nguyễn Bắc Truyển.
8- Hội Anh em Dân chủ. Đại diện: Ls Nguyễn Văn Đài
9- Hội Bảo vệ Quyền tự do tôn giáo. Đại diện: Cô Hà Thị Vân.
10- Hội Bầu bí Tương thân. Đại diện: Ông Nguyễn Lê Hùng
11- Hội Cựu Tù nhân Lương tâm Việt Nam. Đại diện: Bác sĩ Nguyễn Đan Quế
12- Hội Phụ nữ Nhân quyền Việt Nam. Đại diện: Cô Huỳnh Thục Vy
13- Hội thánh Mennonite Chuồng bò. Đại diện: Ms Nguyễn Mạnh Hùng và Ms Lê Quang Du.
14- Khối Tự do Dân chủ 8406. Đại diện: Kỹ sư Đỗ Nam Hải.
15- Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền. Đại diện: Linh mục Phan Văn Lợi.
16- Phong trào Liên đới Dân oan Tranh đấu. Đại diện: Bà Trần Ngọc Anh.
17- Tăng đoàn Giáo hội PGVNTN. Đại diện: Hòa thượng Thích Không Tánh
18- Văn phòng Công lý Hòa bình DCCT Sài Gòn. Đại diện: Linh mục Đinh Hữu Thoại.
Hải ngoại
19- Đài + báo Việt Nam Tự Do. Đại diện: Giáo sư Vương Kỳ Sơn.
20- Liên mạng truyền thông Báo Động. Đại diện: Ông Huỳnh Tâm
21- Ủy ban Yểm trợ Khối 8406 New Orleans, HK. Đại diện: Giáo sư Vương Kỳ Sơn.
Theo Boxitvn
Lương tâm, có một lương tâm
03:25 |Lương tâm, có một lương tâm
Nhạc sĩ Tuấn Khanh
Trong một vụ án kéo dài suốt nhiều năm, mà nay vẫn còn gây tranh
cãi, đó là trường hợp án oan của ông Nguyễn Thanh Chấn. Trong lần trả
lời báo chí mới đây, ông Phạm Tuấn Chiêm, thẩm phán TAND tối cao trong
vụ xét xử ông Chiêm có tuyên bố rằng “tôi đã không làm gì trái với
lương tâm”.
Ông Chiêm đang trong giai đoạn bị cơ quan điều tra VKSND Tối cao khởi
tố vì vụ án oan sai chấn động cả nước, thậm chí tin tức lan ra cả quốc
tế.
Trong những lời bộc bạch của ông Chiêm, vừa quẩn vừa mạch lạc, người
ta có thể nhìn thấy nhiều thứ từ vụ án này. Một vụ án quái gở năm 2001
biến một người đàn ông lương thiện ở Bắc Giang đột nhiên trở thành kẻ
sát nhân. Ông Nguyễn Thanh Chấn, nạn nhân oan ức của vụ án đã chịu tù 10
năm, bị đánh đập, bức cung và án tử hình luôn lơ lửng trên đầu mình. Cả
gia đình ông tan nát, sụp đổ. Quan trọng hơn là xóm làng của ông Chấn –
những người biết rõ nỗi oan của ông – đã cay đắng với niềm tin rằng
công lý là một điều có thật.
Cuộc sống thật khó lường trong những tíc tắc của định mệnh. Mọi thứ
thật mong manh và đau đớn. Cái tíc tắc của thời khắc ông Chấn bất ngờ
thấy mình bị công an ập đến, còng tay mang đi không khác gì tíc tắc khi
ông dồn hết niềm tin và sức mạnh còn lại của một người đã rã rời, trước
toà kêu oan với thẩm phán rằng ông bị bức cung chứ không hề có tội.
Nhưng rồi tuyệt vọng là điều duy nhất ông Chấn có được, kể từ bị gán
tội cho đến khi ông thẩm phám Phạm Tuấn Chiêm lạnh lùng từ chối tiếp
nhận lời kêu oan của ông trước toà. Mười năm gửi đơn, mười năm kêu oan,
mười năm tủi nhục… chắc rằng hy vọng của ông Chấn và gia đình ông không
còn nhiều, mà mọi hành động chỉ bởi nỗi đau của con người thúc giục muốn
đòi công lý, bản năng con người muốn cưỡng lại số phận mình mà thôi.
Ông Chiêm giải thích ông không quan tâm lời kêu cứu về việc bị bức
cung của ông Chấn trước toà, vì ông tin rằng bọn tội phạm vẫn hay làm
vậy. Và lương tâm của ông vẫn yên ổn. Nhưng vì sao, ông thẩm phán lại
không ưu tiên dùng phán đoán của một người làm luật nhiều năm kinh
nghiệm để giải quyết lời kêu oan đó, thay vì giải quyết bằng giá trị của
một nhà tâm lý học – một lĩnh vực mà ông Chiêm chỉ là người chập chững
trong nghề?
10 năm kêu oan, máu và nước mắt… của ông Nguyễn Thanh Chấn cùng gia
đình, không thể không một lần đến tai ông Chiêm. Vì sao ông lại có thể
lướt qua những số phận người dưới tay mình một cách thản nhiên như vậy?
Vì sao lương tâm chưa bao giờ thúc giục ông giở lại, hoặc đề nghị xét
lại hồ sơ vụ án để tìm hiểu về hiện trạng?
Thật có quá nhiều điều để nói về lương tâm. Nhất là khi thế giới ngày
càng văn minh, người ta có thể bàn về lương tâm với mọi kiểu nguỵ ngôn.
Thế nhưng, tận cùng thì lương tâm, vẫn chỉ có một lương tâm thật sự đủ
cho giá trị con người đúng nghĩa.
Trong Monster của tác giả Naoki Urasawa, khi viên thanh tra Heinrich
Lunge muốn tìm hiểu sự thật về một tội ác, ông chấp nhận mất việc, tự
mình theo đuổi nhân chứng duy nhất là bác sĩ Kenzo Tenma suốt nhiều năm
để cuối cùng tìm ra được mọi đầu mối chính là tội ác của chính quyền của
chính quyền Đông Đức trên con người. Lương tâm của một con người thúc
đẩy khiến thanh tra Lunge không thể dừng lại, ngay khi ông nghĩ mình đã
đúng, mọi hồ sơ ông đọc qua là hoàn chỉnh. Lương tâm của một viên thanh
tra dẫn ông đến trước mặt con người chịu oan ức nhiều năm để nói một lời
xin lỗi, nhìn nhận ông đã sai.
Cùng vì lương tâm, mà trong Les Misérables, viên thanh Javert chấm
dứt săn đuổi tên tù khổ sai Jean Valjean để cuối cùng gieo mình xuống
sông. Nếu có một lương tâm khác, có lẽ Javert đã yên ổn tiếp tục săn
đuổi và phán quyết các vụ án của mình, đổ hết mọi chuyện rằng mình chỉ
là người thừa hành.
John Lennon, linh hồn và lương tâm của nhóm nhạc Beatles cũng từng
nói rằng “Sống thật dễ khi nhắm mắt lại” (Living is easy with eyes
closed). Hãy nhắm mắt lại, bịt chặt tai để không nghe thấy, để giam hãm
con người mình với trái tim mù loà, chúng ta cũng sẽ an lòng vì đã không
làm gì trái với lương tâm của mình cả.
Cũng may là ông Nguyễn Thanh Chấn đã không chỉ có một lương tâm toà
án của ông Phạm Tuấn Chiêm. Cũng có một lương tâm khác của thủ phạm là
Lý Nguyễn Chung đã cắn rứt anh, khiến anh đầu thú. Một lương tâm không
thể ăn ngon ngủ yên khi thấy kẻ khác đang chịu tội thay mình. Đã có biết
bao những vụ án kêu oan trước toà vì bị bức cung, đã chôn theo năm
tháng vì không có một lương tâm như Lý Nguyễn Chung, ngoài lương tâm
thẩm phán?
Trong những câu chuyện hài hước của người La Mã ghi lại. Có chuyện kể
rằng hai ông cháu ăn mày ngồi ở nghĩa trang. Khi thấy một con chó hoang
bới mộ và tha cái gì đó đi. Đứa cháu kể lại cho ông nghe, vì ông bị mù.
Người ông im lặng cười và nói “có thể đó là mộ Brutus, và cái bị tha là
lương tâm của hắn”. Lịch sử La Mã cổ đại ghi rằng năm 44 trước CN, vì
lo sợ quyền lực của Caesar, một nhóm trong Viện Nguyên Lão đã tổ chức ám
sát Caesar. Trong đó, người đâm nhát gươm chí mạng chính là Brutus, con
nuôi của ông. Sau đó, bị dân chúng phỉ báng , Brutus đã phải kêu lên
rằng “Tôi hành động vì lương tâm La Mã”.
Mong rằng đất nước này sẽ thôi những điều oan trái. Và lương tâm, chỉ có một lương tâm được vinh danh vì thái độ biết làm người
Im lặng nghe thấy phận người
03:15 |Im lặng nghe thấy phận người
Nhạc sĩ Tuấn Khanh
Trong tất cả những áng văn của người Việt xưa, hầu hết các tình
tiết bi thảm của số phận, phần lớn đều bắt nguồn từ việc thiếu vắng công
lý và quyền con người. Hãy thử tưởng tượng, ngay trong truyện Kiều, nếu
có đủ luật pháp và quyền con người được bảo vệ, có lẽ kịch bản về gia
đình Vương Ông đã khác, và Kiều đã không trở thành cái tên thay cho mọi
lời thở than về cuộc đời.
Sự khác biệt giữa xưa và nay là Kiều, cũng như tất cả những ai ở trăm
năm trước, nếu có oan ức khóc la, kêu van, bào chữa… thì cũng chẳng
giải quyết được gì. Trong khi ở thế kỷ 20 và 21, người ta có thể tìm
cách im lặng và dụng luật để bảo vệ mình, giải oan cho mình.
Im lặng để cậy nhờ đại diện pháp luật làm chứng cho những lời khai
của mình, để làm chỗ dựa tinh thần theo luật pháp công minh là chuyện đã
được cả thế giới nhìn nhận từ giữa thế kỷ 20. Quyền im lặng trong tố
tụng hình sự còn là cách bảo vệ con người khởi đầu thoát khỏi những màn
ép cung, tra tấn, cưỡng bức nhận tội. Quyền im lặng được hơn 100 quốc
gia trên thế giới nhìn nhận, chắc chắn không thể chỉ là cách để “gỡ tội”
như ĐBQH Đỗ Văn Đương tuyên bố mới đây.
Việt Nam, trong bối cảnh công an thẩm vấn nghi can, lại liên tục xuất
hiện những cái chết, chấn thương vô lý cho công dân… việc đưa quyền im
lặng vào luật đang là cách hữu hiệu để giảm thiểu những bức ép trong xã
hội hôm nay, mà mỗi ngày người ta có thể đọc trên các trang báo, như một
sự hỗn loạn và thiếu kiểm soát của ngành điều tra.
Right to silence, là tên gọi quen thuộc của quyền được im lặng khi bị
thẩm tra và yêu cầu có đại diện luật pháp bảo vệ mình. Thậm chí quốc
gia Hồi giáo khắt nghiệt như Pakistan, nhiễu nhương như Ấn Độ cũng đều
áp dụng đạo luật này. Dễ thấy nhất, bất kỳ ai hay xem phim hình sự của
Hollywood cũng đều có thể nhận ra các dấu hiệu của quyền im lặng, với
tên gọi luật Miranda.
Luật Miranda dựa vào tên của một nghi can người gốc Mexico là Ernesto
Miranda trong một vụ án năm 1963 tại bang Arizona, Mỹ. Bị cáo này khép
tội bắt cóc người, nhưng sau đó bản án được huỷ vì khi bị bắt, Ernesto
Miranda đã không được biết rằng có một đạo luật cho phép im lặng để bảo
vệ mình. Tối cao Pháp viện Mỹ cho rằng nghi can có thể bị đánh, bị ép
cung nên đã khai tội ngay tại chỗ. Miranda Warning (báo cho biết về luật
Miranda) là điều được ghi trong tu chính án số 5 của Tối Cao Pháp viện
Mỹ vào năm 1966, áp dụng cho ngành cảnh sát và giới điều tra nhằm bảo vệ
nghi can, tránh việc ép cung và tra tấn cưỡng tội.
Từ xưa, việc sử dụng một đại diện luật pháp khác để làm chứng và xét
lại hiện trạng sự vụ, đã có từ thời vua Minh Mạng (1820-1840). Để tránh
nạn ép cung, tra tấn nghi can để buộc nhận tội, vua Minh Mạng đã lập ra
cơ quan xử án tối cao của triều đình, gọi là Tam Pháp ty. Sách Đại Nam
Thực Lục ghi đó là nơi tập hợp ba cơ quan tư pháp là Bộ Hình (Tư pháp),
Đô Sát viện (viện Giám sát) và Đại Lý tự (toà Phá án) để giải quyết
những đơn kêu oan của dân. Chuyện đánh trống kêu oan, hay gọi là trống
Đăng Văn cũng từ đó mà có. Chiếc trống gióng lên là nơi nương tựa tinh
thần của người đang vướng lao lý. Ở một ý nghĩa nào đó, việc im lặng và
cậy nhờ luật sư đại diện cũng giống như nương nhờ tinh thần ở một tiếng
trống minh bạch. Tổ tiên người Việt xưa đã nghĩ đến sự công minh và
quyền con người đến vậy.
Một nền luật pháp mạnh và văn minh, là khi người dân bị gọi tên là
nghi can, cũng có thể bình tâm bước vào vì biết quyền con người của mình
đã được bảo vệ. Có thể ĐBQH Đỗ Văn Đương còn chưa đủ động tâm với số
phận của anh Ngô Thanh Kiều bị 5 công an điều tra ở Phú Yên đánh đến
chết để ép nhận tội. Có lẽ ông Đương cũng chưa thấy hình ảnh con gái ông
Phùng Văn Cung tức tưởi quỳ lạy trước cửa toà án Gia Lai-Kon Tum trong
vụ án, mà sau 10 năm mới được giải oan.
Không cần là một người làm luật, ai cũng hiểu rằng nếu ông Nguyễn
Thanh Chấn ở Bắc Giang khi bị bắt nếu im lặng và nhờ luật sư đại diện
trong khi thẩm vấn, thì ông đã không bị tra tấn đến mức phải nhận tội
giết người, ngồi suốt 10 năm tù với án tử lơ lửng trên đầu. Tại Daklak,
nếu ông Y Két Bdap rành tiếng người Kinh và có luật sư đại diện, thì đã
không bị đánh đến chết, thi thể nát tan bởi 2 công an xã. Những câu
chuyện như vậy chưa đủ lâu để quên đi, cũng như sẽ không bao giờ phai mờ
trong lịch sử luật pháp Việt Nam, khi nào quyền con người chưa được
kiện toàn.
Xã hội Việt Nam đang có những dấu hiệu mở, song hành cùng văn minh
nhân loại khi những câu chuyện về quyền con người, về xã hội – luật pháp
bắt đầu được bàn tán mạnh mẽ ở nhiều nơi. Dĩ nhiên, trong mọi lời bàn,
người ta có thể tìm thấy những phản biện cần thiết. Nhưng dù loại lý
luận nào đi nữa, việc tán dương cho bạo hành và áp đặt kiểm soát con
người, cũng đều là hủ bại.
Giở lại sách xưa, thấy ghi rằng đời vua Tự Đức (1847-1883), sợ rằng
dân đánh trống kêu oan bị lẫn với đời thường, vua ra lệnh trong Thành
Nội cấm đánh trống thường, để ai cũng biết, cũng nghe khi có trống kêu
oan. Vua vẫn dặn rằng “làm quan mà không nghe được tiếng con dân kêu
oán, thì chỉ là phường vô lại”. Trăm năm trước, người xưa mông muội còn
biết im lặng để nghe thấy phận người. Trăm năm sau, đã có được gì?
—————————————
Thông tin thêm:
Phát biểu trong chương trình Sự kiện & Bình luận của đài VTV hôm 27-09/2014, đại biểu quốc hội Đỗ Văn Đương – ủy viên thường trực ủy ban Tư pháp của quốc hội đã nói rằng:
“Quyền im lặng không phải quyền con người, mà quyền bào chữa mới là quyền cơ bản của người phạm tội trong tố tụng hình sự. Nó nhằm thực hiện chức năng gỡ tội cho họ”.
Phát biểu trong chương trình Sự kiện & Bình luận của đài VTV hôm 27-09/2014, đại biểu quốc hội Đỗ Văn Đương – ủy viên thường trực ủy ban Tư pháp của quốc hội đã nói rằng:
“Quyền im lặng không phải quyền con người, mà quyền bào chữa mới là quyền cơ bản của người phạm tội trong tố tụng hình sự. Nó nhằm thực hiện chức năng gỡ tội cho họ”.
Phát biểu trên được ông Đương đưa ra sau khi có ý kiến đưa
quyền im lặng vào trong bộ luật tố tụng hình sự. Quy định này nhằm ngăn
chặn tình trạng người bị giam giữ bị công an ép cung hay dùng nhục hình
trong quá trình điều tra.
Ông Đỗ Văn Đương sinh năm 1960, được giới thiệu có bằng tiến sỹ luật, là đại biểu quốc hội đang giữ vị trí uy viên thường trực ủy ban Tư pháp của Quốc hội.
Ông Đỗ Văn Đương sinh năm 1960, được giới thiệu có bằng tiến sỹ luật, là đại biểu quốc hội đang giữ vị trí uy viên thường trực ủy ban Tư pháp của Quốc hội.
Quyền cao nhất của con người
03:23 |Quyền cao nhất của con người
Chân Tâm
Hình sự là sống và chết, là liên quan đến quyền cao nhất của con người” -
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã nói như vậy tại phiên thảo luận
về dự án Luật Tổ chức TAND sửa đổi tại Ủy ban Thường vụ Quốc hội sáng
23.9.
Khi nói về điều này, Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng liên hệ đến vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn và “vụ án vườn điều” Bình Thuận với người tù “nổi tiếng” Huỳnh Văn Nén: “Có dấu chân tại hiện trường, kích cỡ lệch nhau như vậy mà cơ quan điều tra còn không cần so lại với nghi phạm, không đo đạc, đối chiếu mà vẫn xử, để xảy ra oan sai, tù tội hơn 14 năm nay với một con người”.
Khi nói về điều này, Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng liên hệ đến vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn và “vụ án vườn điều” Bình Thuận với người tù “nổi tiếng” Huỳnh Văn Nén: “Có dấu chân tại hiện trường, kích cỡ lệch nhau như vậy mà cơ quan điều tra còn không cần so lại với nghi phạm, không đo đạc, đối chiếu mà vẫn xử, để xảy ra oan sai, tù tội hơn 14 năm nay với một con người”.
Nguyễn Thanh Chấn 10 năm, Huỳnh Văn Nén 14 năm, và còn ai nữa? Nguyên
nhân từ đâu mà án oan sai nhiều có lẽ sẽ còn phải nghiên cứu cẩn thận
mới có câu trả lời chính xác. Tại phiên thảo luận trên, các đại biểu đã
đặt ra vấn đề quan trọng, đó là tính độc lập của tòa án. Có trường hợp
tòa cấp dưới báo cáo án với tòa cấp trên. Báo cáo án là để chỉ đạo án,
là duyệt án nên mới có án bỏ túi, án tiền chế. Chánh án mà phải báo cáo
án thì không phải độc lập xét xử mà phụ thuộc xét xử. Chưa kể, còn bị
chi phối với những tác động tiêu cực khác.
Điển hình của sự vi phạm độc lập tư pháp là Quyết định số 13 của Chánh
án TAND TP.Hà Nội. Quyết định này được gọi là “lạ lùng” vì quy định báo
cáo nghiệp vụ xét xử giải quyết các vụ án hình sự, vụ việc dân sự và các
khiếu kiện hành chính với Chánh án TAND TP.Hà Nội. Chủ tịch Nguyễn Sinh
Hùng thì khẳng định: “Hiện nay, Chánh tòa Hà Nội đang bắt tất cả thẩm
phán phải báo cáo lên Chánh án TAND thành phố, thế thì vi phạm rất nặng
rồi”.
Một chánh án mà vi phạm nặng như vậy thì sẽ thế nào? Chẳng lẽ ra quyết
định sai rồi rút lại là xong? Một vấn đề còn tranh cãi là quyền im lặng,
và đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng để hạn chế oan sai,
bức cung, ép cung, nhục hình. Nhiều nước đã áp dụng “quyền im lặng”, bị
can, bị cáo có quyền không khai nếu không có luật sư bên cạnh. Đương
nhiên giới luật sư rất ủng hộ “quyền im lặng”, nhưng cơ quan điều tra
lại không muốn có quyền này.
Việc chưa đưa “quyền im lặng” vào dự thảo sửa đổi luật là một điều đáng
tiếc. Bởi vì, cái quyền rất văn minh đó không thể không áp dụng. Từ
những vụ án oan sai cho thấy có dấu hiệu bức cung, nhục hình, ép cung.
Để hạn chế án oan sai cần phải huy động nhiều biện pháp, trong đó,
“quyền im lặng” là thực sự cần thiết.
Độc lập tư pháp sẽ hạn chế “án bỏ túi”, và thêm quyền im lặng để hạn chế
ép cung, nhục hình. Bởi, xin nhắc lại một lần nữa câu nói của Chủ tịch
Nguyễn Sinh Hùng: “Hình sự là sống và chết, là liên quan đến quyền cao
nhất của con người”.
NÓNG: Nỗi oan còn hơn vụ ông Chấn
17:01 |TMSS: Ôi, lại án oan! Đây cũng là một trong những bằng cớ tiếp theo cần loại bỏ án tử hình, nhất là trong tình hình bức cung nhục hình nhiều như ở Vệt Nam đã gây ra cái chết của bao người! Vả lại, án tử hình thực ra là vi phạm hiến pháp vì HP Việt Nam quy định: "Mọi người có quuyền sống" - HP2013, điều 19
NÓNG: Nỗi oan còn hơn vụ ông Chấn
Báo điện tử Pháp Luật Tp.HCM (PL) -
Trên số báo hôm qua (14-9), chúng tôi đã thông tin VKSND Tối cao vừa
kháng nghị đề nghị TAND Tối cao hủy án vụ án giết người, cướp tài sản
xảy ra cách đây 16 năm về trước.
Như vậy là bị án Huỳnh Văn Nén, người từng bị kết án chung thân, có
cơ may được minh oan sau khi đã ngồi tù hơn 16 năm trời, nhiều hơn gấp
rưỡi thời gian thụ án của ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang.
Và nếu được minh oan, có lẽ ông Nén là trường
hợp đặc biệt và hi hữu nhất trong lịch sử tố tụng ở Việt Nam: Người
cùng lúc bị kết án oan trong hai vụ án giết người đặc biệt nghiêm trọng. Bởi trước đó ông Nén từng bị kết án oan bảy năm tù trong vụ án “vườn điều” cùng chín người thân bên gia đình vợ.
Tuy nhiên, khác với ông Chấn (được trả tự do ngay sau khi VKSND Tối cao
kháng nghị), hiện ông Nén vẫn đang phải ngồi tù với tình trạng sức khỏe
theo gia đình cho biết là rất kém, mắt trái bị mờ, rất cần được chữa
trị.
![]() |
| Ông Huỳnh Văn Truyện (trái, cha ruột Huỳnh Văn Nén) và ông Nguyễn Thận, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ VN huyện Hàm Tân. Ảnh: PN |
Vẫn theo lời gia đình ông Nén, từ khi thụ án đến nay ông vẫn chưa bị “bể
án” (tù chung thân được giảm thành tù có thời hạn) và vì vậy ông cũng
chưa được giảm án tù.
Ngày bị bắt giam, ông Nén chỉ vừa 36 tuổi và có ba đứa con trai, đứa lớn
nhất 10 tuổi, đứa nhỏ chỉ vừa lên năm. Hơn 16 năm ông Nén ngồi tù, các
con của bị án này lớn lên trong đói nghèo, thất học, bởi một gánh hàng
rong của người mẹ đơn thân không thể một nách nuôi nổi ba miệng ăn, nói
chi lo học hành, dạy dỗ.
Vì thế hai trong số ba đứa con của ông Nén đã sớm hư hỏng, tụ tập bạn bè
hút xách. Thằng lớn phải đi tù hai năm vì hút chích, còn thằng giữa bức
xúc vì có người đánh mẹ nên nó dùng hung khí gây thương tích, phải lãnh
án ba năm tù. Cả hai đứa đều vào tù sau cha nhưng lại được ra tù sớm
hơn vì đã thụ án xong, trong đó thằng lớn đã cai nghiện rồi lấy vợ và
chí thú làm ăn.
Hai ngày trước, nghe tin VKSND Tối cao có kháng nghị đề nghị hủy án, cả
ba đứa con trai đã vào trại giam thăm cha để báo tin cho cha biết. Bốn
người đàn ông ôm nhau khóc nức nở với niềm tin ngày đoàn tụ không còn xa
nữa…
Với những căn cứ kháng nghị khá vững chắc, hy vọng sắp tới ông Nén sẽ được trả tự do để về với gia đình.
PHƯƠNG NAM
------------------------------
Được kháng nghị hủy án sau 14 năm thụ án chung thân
Báo điện tử Pháp Luật Tp.HCM (PL)
- Đó là bị án Huỳnh Văn Nén, người bị kết án chung thân về hai tội giết
người và cướp tài sản, hiện vẫn còn đang thụ án. Ông Nén cũng là người
bị oan trong vụ án “vườn điều” do cùng một điều tra viên thụ lý.
Ngày 14-9, một nguồn tin cho biết viện trưởng VKSND Tối cao đã ra quyết
định kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đề nghị TAND Tối cao hủy bản án
hình sự sơ thẩm (số 96/HSST ngày 31-8-2000) của TAND tỉnh Bình Thuận để
điều tra, xét xử lại. Bản án này đã kết án chung thân Huỳnh Văn Nén (52
tuổi) về hai tội giết người và cướp tài sản. Quyết định kháng nghị này
cũng sẽ được gửi đến Trại giam Z30A của Bộ Công an (ở Đồng Nai), nơi ông
Nén đang thụ án 14 năm qua.
Như vậy, vụ án giết người, cướp của 16 năm trước gây chấn động ở Tân Minh, Hàm Tân (Bình Thuận) đã chính thức được lật lại.
“Phá án đúp”
Ngoài vụ án nói trên, Huỳnh Văn Nén còn là người bị kết án oan bảy năm
tù về tội giết người trong vụ án “vườn điều” từng nổi tiếng cả nước.
Trong vụ “vườn điều”, chín người bị kết án oan đã được trả tự do, được
bồi thường, xin lỗi công khai, riêng ông Nén đến nay vẫn chưa nhận được
lời xin lỗi nào. Ngược lại, ông vẫn đang ở tù vì vụ án khác mà viện
trưởng VKSND Tối cao vừa kháng nghị.
Lật lại hồ sơ, đêm 23-4-1998, bà Lê Thị Bông ở xã Tân Minh bị hung thủ
đột nhập vào nhà dùng dây dù siết cổ chết tại chỗ và cướp đi chiếc nhẫn
một chỉ vàng 24K. Ngay sau đó, Công an tỉnh Bình Thuận đã khởi tố vụ án
và cử điều tra viên Cao Văn H. tiến hành điều tra.
Bị cáo Huỳnh Văn Nén cởi áo tại phiên tòa sơ thẩm, tố cáo bị điều tra viên dùng nhục hình. Ảnh: PN
Thời điểm trên ai ở Tân Minh cũng đều biết Huỳnh Văn Nén là kẻ tưng
tửng, suốt ngày lê la ngoài chợ, ai kêu gì làm nấy để kiếm tiền cơm
rượu. Sau vụ án mạng nói trên xảy ra, trong khi cơ quan điều tra đang
chưa tìm ra hung thủ, rượu vô, Nén thường vỗ ngực cho rằng chính mình là
người đã giết bà Bông.
Gần một tháng sau ngày nạn nhân bị giết, Nén bị khởi tố, bắt giam. Sau
này tại tòa, Nén đã khai rằng điều tra viên Cao Văn H. đã đánh đập, mớm
cung, ép cung nhiều ngày liền để buộc Nén phải khai nhận tội.
Sau khi Nén nhận giết bà Bông, điều tra viên tiếp tục dấn thêm bước nữa
bằng cách buộc Nén phải khai nhận đã cùng với gia đình bên vợ giết chết
bà Dương Thị Mỹ trong vụ án “vườn điều” đã xảy ra năm năm trước đó.
Để thoát án tử hình, theo mớm cung của điều tra viên, Nén khai một mạch
chín người trong gia đình vợ mình tham gia giết người trong vụ án “vườn
điều”. Từ lời khai này, ba thế hệ trong một gia đình gồm chín người và
cả Nén bị truy tố và kết án oan. Sau này cả chín người này đều được minh
oan, còn hung thủ trong vụ án “vườn điều” mãi đến nay vẫn chưa ló dạng.
Chứng cứ mâu thuẫn vẫn kết tội
Trở lại vụ án giết bà Bông, hôm đưa Nén về dựng lại hiện trường, trước
sự chứng kiến của hàng trăm người, Nén đứng đực mặt ngớ ngẩn và nói với
điều tra viên: “Em có biết gì đâu!”. Nhưng rồi sau đó, ngày 31-8-2000,
TAND tỉnh Bình Thuận đã tuyên phạt Nén tù chung thân cho cả hai tội giết
người và cướp tài sản. Sau phiên tòa sơ thẩm, “hung thủ” ngớ ngẩn Huỳnh
Văn Nén đã không biết làm đơn kháng cáo, bản án sơ thẩm vì vậy có hiệu
lực pháp luật. Từ đó Nén thụ án chung thân cho đến nay.
Hồ sơ truy tố Huỳnh Văn Nén chỉ xem qua đã thấy hàng loạt mâu thuẫn. Cáo
trạng ghi: “Phía hiên nhà chính hướng Tây Nam phát hiện một dấu bàn
chân không dép in hằn dưới cát có kích thước 23 x 9 cm, gót rộng 4,5 cm
(…). Phía trong nhà trên mặt ghế sa lông bọc da có ba dấu chân không
dép, in đất trên mặt ghế, có kích thước 22 x 8 cm, gót rộng 4 cm”. Rõ
ràng đã có hai dấu chân với hai kích cỡ khác nhau, trong khi Nén nhận
một mình giết người. Một người có chút ít kinh nghiệm điều tra đã có thể
phát hiện ra mâu thuẫn này. Thế nhưng điều tra viên đã không tiến hành
so sánh trực tiếp dấu vết ở hiện trường và dấu chân của Nén.
Còn nữa, tại hiện trường, cơ quan điều tra và người dân phát hiện một
con dao phay cán bằng gỗ tròn, mũi nhọn, dài khoảng 30 cm nằm sát hàng
rào nhà bà Bông. Nhưng khi lập biên bản thu thập vật chứng thì con dao
này không còn ở đó. Mặt khác, tại giếng nước nhà bà Bông còn có một con
dao khác, mũi dao không nhọn, dài khoảng 20 cm. Có thể nào cùng một lúc
Huỳnh Văn Nén sử dụng đến hai con dao để cắt dây dù làm hung khí gây án?
Đương nhiên cơ quan tố tụng không hỏi câu này nên hồ sơ cũng không có
câu trả lời.
Ngoài ra, theo lời khai của Nén, sau khi dùng dây dù siết cổ bà Bông
chết, Nén cầm dây theo và ném bỏ gần đường mòn. Thực tế khi thu hồi tang
vật, sợi dây dù nằm trên một bãi cỏ khác cách xa đường mòn nơi Nén khai
hơn 100 m. Trong khi đó, tại phòng khách nhà bà Bông còn có thêm một
sợi dây dù nữa dài 1 m! Vậy là cùng một lúc có hai sợi dây dù gây án,
không biết dây nào là thật, dây nào là giả.
Chưa hết, theo lời khai của Nén thì giết bà Bông để lấy một chỉ vàng bọc
vào túi áo và bị rớt khi bỏ chạy từ đường mòn ra bờ suối. Trong lúc
tháo chạy, Nén còn lấy một ổ khóa trong nhà bà Bông để phòng vệ và sau
đó đã ném ổ khóa vào lùm cỏ gần đường mòn. Tuy nhiên, cơ quan điều tra
đã không thu được hai vật chứng trên.
Hung thủ là hai người khác?
Ngày 2-9-2000, hai ngày sau khi phiên tòa sơ thẩm xử Huỳnh Văn Nén, anh
Nguyễn Phúc Thành (trú Tân Minh, lúc đó đang thụ án về tội cố ý gây
thương tích tại trại giam Sông Cái ở Ninh Thuận) nghe loáng thoáng Nén
đã bị kết án tử hình trong vụ giết bà Bông. Thành biết rõ hai người bạn
thân của mình mới là thủ phạm giết chết bà Bông, còn Nén đã bị kết án
oan.
Lương tâm trỗi dậy, lập tức Thành xin giấy bút viết ngay đơn tố giác gửi ban giám thị trại giam.
Theo đơn của Thành thì chính Nguyễn Th. và Hồ Văn V. (đều ngụ Tân Minh)
đã giết chết bà Bông. Sau khi gây án, Th. và V. đã kể lại cho Thành biết
ý định không phải là giết bà Bông mà là con gái bà vì cô này có đeo
nhiều nữ trang. Sau khi đột nhập vào bếp, Th. lấy hai con dao đưa cho V.
một con, sau đó ra giếng cắt dây dù rồi vào bếp mai phục con gái bà
Bông đi bán về. Do ngấm rượu, cả hai đều ngủ say cho đến khi bà Bông bán
ở chợ về phát hiện. Th. đã dùng dây dù siết cổ bà Bông cho đến chết mặc
dù V. đã lên tiếng ngăn cản. Th. còn đưa chiếc nhẫn cướp được cho anh
Thành xem và sợ anh Thành chưa tin, y còn chỉ vết máu dưới lai quần và
cho biết đó là máu ngón tay của nạn nhân khi tháo nhẫn đã bị trầy. Sau
đó Th. đã rủ anh Thành gọi xe ôm chở vào một tiệm vàng ở xã Xuân Hòa,
Xuân Lộc (Đồng Nai) bán lấy tiền. Sau đó thì Th. đón xe đi biệt tích…
Đơn tố giác này hết sức phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường,
trùng khớp với việc quản lý nhân khẩu của Công an xã Tân Minh. Theo đó,
Nguyễn Th. đã đi khỏi địa phương từ cuối tháng 4-1998, còn Hồ Văn V. rời
khỏi địa phương từ đầu tháng 9-2000 (sau khi Nén bị xử tù chung thân).
Nội dung đơn tố giác của anh Thành đã được chuyển cho Cục V26 - Bộ Công
an. Sau đó Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Thuận lại cử điều tra viên Cao
Văn H. đi xác minh.
Theo luật sư Phạm Hồng Hải và Trần Vũ Hải thì ông H. đến trại giam gặp
anh Thành chủ yếu là răn đe và lập biên bản nhưng không ghi đầy đủ,
chính xác lời khai của anh Thành. Theo các luật sư trên, cơ quan điều
tra giao cho ông Cao Văn H. đi xác minh là không đảm bảo khách quan. Một
người đã được khen thưởng về “thành tích phá hai vụ án giết người
nghiêm trọng” lẽ nào lại có thể xác minh công tâm đơn tố giác của anh
Thành để điều tra theo hướng khác, tức là chối bỏ thành tích và kết quả
điều tra trước đó của chính mình.
Vì vậy, đơn tố giác nói trên sau đó rơi vào im lặng âu cũng là điều dễ
hiểu. Một thời gian sau, điều tra viên Cao Văn H. bị sa thải khỏi ngành
công an do có sai phạm trong một vụ án ma túy…
Hy vọng từ kháng nghị của viện trưởng VKSND Tối cao, mọi chuyện sẽ được làm sáng tỏ.
PHƯƠNG NAM
Những xác minh ban đầu Sau thời gian dài gia đình bị án Huỳnh Văn Nén kêu oan và báo chí vào cuộc phản ánh, tháng 12-2013, Tổng cục VIII - Bộ Công an đã cử cán bộ đến Tân Minh làm việc với gia đình. Ngày 16-4-2014, ông Đinh Khắc Tiến, lãnh đạo một đơn vị nghiệp vụ của VKSND Tối cao, cùng hai kiểm sát viên cao cấp vào Tân Minh làm việc với ông Nguyễn Thận, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQVN huyện Hàm Tân. Các cán bộ VKSND Tối cao cũng đã làm việc với anh Nguyễn Phúc Thành, người đứng đơn tố giác (đã ra tù) và ông HNN, người hành nghề chạy xe ôm, được cho là đã trực tiếp chở hai hung thủ giết bà Bông đi bán vàng. Ngoài ra, đại diện VKSND Tối cao cũng đã làm việc với chủ tiệm vàng TP ở Xuân Lộc (Đồng Nai), ông Bùi Minh Đăng (nguyên Phó Công an xã Tân Minh, hiện là phó chủ tịch Ủy ban MTTQVN xã Tân Đức, Hàm Tân, người đã khẳng định thời điểm xảy ra vụ án bà Bông, Th. và V. có mặt tại Tân Minh chứ không ngoại phạm như báo cáo của điều tra viên đã nêu)…
-------------------------------------
Hành trình kêu oan của ông Huỳnh Văn Nén
Hành trình kêu oan của ông Huỳnh Văn Nén
Báo điện tử Pháp Luật Tp.HCM (PL)
- Không chỉ cha con ông Huỳnh Văn Nén, gia đình nạn nhân, anh Nguyễn
Phúc Thành mà cả chủ tịch Ủy ban MTTQ huyện cũng hết lòng kêu oan cho
ông Nén.
Như đã thông tin, sau hơn 16 năm ngồi tù, mới đây, ông Huỳnh Văn Nén
được VKSND Tối cao kháng nghị đề nghị hủy bản án sơ thẩm của TAND tỉnh
Bình Thuận kết án chung thân ông hơn 14 năm về trước. Có được kết quả
bước đầu này là nhờ quá trình kêu oan bền bỉ của không chỉ ông Nén và
gia đình.
Rơi vào thinh không
Sự việc bắt đầu từ một vụ án mạng xảy ra tại xã Tân Minh, huyện Hàm Tân
(Bình Thuận). Nạn nhân là bà Lê Thị Bông bị kẻ thủ ác vào nhà dùng dây
siết cổ đến chết rồi cướp một chỉ vàng. Trong khi cơ quan điều tra chưa
tìm ra hung thủ, lúc rượu vào, Huỳnh Văn Nén nói tưng tửng rằng chính
mình là thủ phạm. Ai ngờ sau đó Nén bị bắt. Nén khai quá trình điều tra
ông bị điều tra viên Cao Văn H. ép cung, mớm cung và dùng nhục hình,
buộc phải khai nhận tội.
Chưa hết, điều tra viên này còn “làm cho” ông Nén phải nhận mình cùng
chín người khác bên gia đình vợ đã giết chết bà Lê Thị Mỹ trong vụ án
“vườn điều” xảy ra từ năm năm trước đó. Từ đó ông Nén và chín người này
bị kết án oan, sau đó cơ quan tố tụng phải xin lỗi, bồi thường oan cho
chín người đó (chỉ có ông Nén là chưa được xin lỗi, bồi thường).
Trở lại vụ án bà Bông, sau ngày ông Nén bị TAND tỉnh Bình Thuận tuyên án
chung thân (31-8-2000), anh Nguyễn Phúc Thành, một bị án đang thụ án về
tội gây rối trật tự công cộng, đã viết đơn tố giác hai người bạn của
mình mới chính là hung thủ, còn ông Nén bị oan.
Gần ba tháng sau, ngày 4-11-2000, điều tra viên Cao Văn H. đến Trại giam
Sông Cái (Ninh Thuận, nơi anh Thành đang thụ án) để làm việc. Gặp anh
Thành, điều tra viên H. cho rằng anh tố cáo sai và yêu cầu anh rút đơn,
nếu không sẽ phải ở tù lâu hơn. Anh Thành phản ứng và yêu cầu được gặp
các nhân chứng có liên quan nhưng điều tra viên không đồng ý. Vẫn theo
lời anh Thành, khi anh đề nghị viết ý kiến của mình dưới biên bản, ông
Cao Văn H. quát: “Ai cho mày viết hả, mày muốn chết tao cho mày chết!”.
Bị cáo Huỳnh Văn Nén tại phiên tòa sơ thẩm 14 năm về trước. Ảnh: PN
Toàn bộ thái độ hung hăng của điều tra viên sau đó đã được anh Thành báo
cáo cho cán bộ trại giam. Tuy nhiên, theo anh Thành, từ đó đến nay
không thấy có cán bộ nào đến hỏi anh về vụ việc trên.
“Trời cao có mắt”
Lá đơn tố giác khá xác đáng của anh Nguyễn Phúc Thành lẽ ra đã là tình
tiết mới, căn cứ để cơ quan tố tụng kháng nghị, xem xét lại vụ án. Tuy
nhiên, điều này đã không xảy ra. Vụ án tạm thời khép lại, ông Nén tiếp
tục ngồi tù.
Điều lạ là mặc dù án mạng đã điều tra xong, tòa đã kết án, “hung thủ” đã
ngồi tù nhưng gia đình nạn nhân không hề tin tưởng vào kết quả phá án
ấy. Vì vậy ngày 25-3-2006, chị Phạm Thị Hồng, con ruột của nạn nhân Lê
Thị Bông, đã gửi đơn đến các cơ quan tố tụng trung ương và địa phương
yêu cầu làm rõ hung thủ thật sự đã giết chết mẹ chị vì gia đình không
tin Nén là thủ phạm. Tuy nhiên, cũng như đơn tố giác của anh Thành, đơn
của chị Hồng đã không thể xoay chuyển vụ việc.
Lại nói về anh Nguyễn Phúc Thành, sau khi ra tù, biết ông Nén vẫn còn
ngồi tù oan trong khi hung thủ thật sự của vụ án vẫn cứ nhởn nhơ ngoài
vòng pháp luật, lương tâm anh Thành vô cùng cắn rứt. Ngày 20-11-2013,
anh Thành tiếp tục viết đơn tố giác gửi đến TAND Tối cao và VKSND Tối
cao. Lá đơn này một lần nữa khẳng định Huỳnh Văn Nén không phải là hung
thủ giết bà Bông. Lần này thì “trời cao có mắt”, nội dung đơn của anh
bước đầu đã thuyết phục những người có trách nhiệm. Và rồi đại diện Tổng
cục VIII Bộ Công an và VKSND Tối cao đã đến gặp anh làm việc. Và mới
đây nhất, VKSND Tối cao đã kháng nghị yêu cầu lật lại vụ án.
“Thú thật, khi nghe tin này tôi đã bật khóc vì mừng. Vậy là anh Nén đã
có cơ may được minh oan” - ông Nguyễn Thận, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ VN
huyện Hàm Tân, nói. Ông Thận chính là người tích cực kêu oan giùm cho
ông Nén. Trước đó khi biết tin chín người trong vụ án “vườn điều” được
trả tự do, ông Thận cũng đã bật khóc vì mừng.
Từng là chủ tịch UBND xã Tân Minh hơn chục năm, khi cơ quan điều tra bắt
giam những người trong hai vụ án trên, ông đã trực tiếp thảo công văn,
ký tên, đóng dấu gửi đi khắp nơi để kêu oan giúp họ. Chính ông Thận đã
xin nghỉ phép để đưa cha ruột Huỳnh Văn Nén là ông Huỳnh Văn Truyện (90
tuổi) từ Cà Mau đi Hà Nội gõ cửa các cơ quan chức năng để kêu oan cho
con trai. Để có chi phí, ông già 90 tuổi này đã phải cầm cố sáu công đất
ở xã Thới Bình, huyện Thới Bình, Cà Mau lấy tiền cùng ông Thận ra Hà
Nội.
“Tôi biết khi tôi làm đơn kêu oan cho những người dân chẳng thân thuộc,
họ hàng là tự mang rắc rối vào người. Suy cho cùng khi minh oan được cho
người này là chứng minh sai phạm của những người từng cầm cân nảy mực
nhưng lại kết án oan cho người vô tội. Đó là chưa nói, với kẻ thủ ác
thật sự, tôi sẽ là cái gai trong mắt họ…” - ông Thận tâm sự.
PHƯƠNG NAM
Hai người được cho là hung thủ thật sự giờ ra sao? Trong đơn tố giác, anh Nguyễn Phúc Thành nêu rõ đích danh hai người giết chết bà Lê Thị Bông. Đó là Nguyễn Th. và Hồ Văn V., người cùng địa phương với bà Bông và ông Nén. Theo tìm hiểu của chúng tôi, hiện Hồ Văn V., một trong hai người nói trên, đã chết. Theo báo cáo của UBND xã Tân Minh (Hàm Tân, Bình Thuận) gửi chánh án TAND Tối cao, viện trưởng VKSND Tối cao và bộ trưởng Bộ Công an thì cả Nguyễn Th. và Hồ Văn V. đều nằm trong băng nhóm hút bồ đà (một chất gây nghiện). Băng nhóm này có gần chục thanh niên thường xuyên tụ tập ăn nhậu, trộm cắp, gây rối và dùng hung khí đánh nhau. Năm 1997, Công an xã Tân Minh đã lập hồ sơ để đưa đi trường giáo dưỡng. Sau khi vụ án bà Bông xảy ra và bị cáo Huỳnh Văn Nén bị đưa ra xét xử, ngày 8-9-2000, V. cùng hai thanh niên khác dùng vỏ chai bia đánh vào đầu một nhân viên Lâm trường Tánh Linh gây thương tích. Do sợ bị bắt, gia đình đã đưa V. đi trốn tại nhà chị ruột ở Quảng Nam một thời gian dài. Sau đó V. về lại Tân Minh và năm 2011 thì qua đời do bị bệnh. Riêng Nguyễn Th., người được cho là hung thủ dùng dây siết cổ bà Bông đến chết và trực tiếp tháo chiếc nhẫn trên tay bà mang đi bán, đã bỏ trốn khỏi địa phương từ cuối tháng 4-1998 ngay sau khi gây án. Thời gian đầu, Th. phụ với người cậu ruột ở Cần Thơ làm nghề sản xuất kem. Sau đó Th. bỏ trốn lên Gia Lai và gần đây có thông tin Th. đang ở Quảng Trị tại một địa phương giáp biên giới với Lào.
Giá của 10 năm tù oan không thể tính bằng tiền
01:29 |Giá của 10 năm tù oan không thể tính bằng tiền
"Những kẻ gây ra oan sai cho ông Chấn còn nhởn nhơ ngoài vòng
pháp luật thì chứng tỏ công lý còn quá xa.
![]() |
| (Minh họa: Ngọc Diệp) |
(Dân trí) - Người tù oan nổi tiếng Nguyễn Thanh Chấn chính thức đòi bồi
thường oan sai 10 tỉ đồng. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường oan sai cho
ông Chấn là TAND Tối cao.
Tuy đưa ra con số 10 tỉ đồng, nhưng ông Chấn cũng mở lời cho
phía Toà án “mặc cả”: “Chúng tôi đưa ra lời đề nghị như vậy, song chắc chắn
TAND Tối cao có một con số khác. Nếu hai bên đạt được thoả thuận nhanh thì tốt,
tôi sẽ yên tâm sống sau 10 năm đi tù oan”.
Trước thân phận của một công dân bị tù oan suốt 10 năm thì
mọi sự mặc cả đều không xứng đáng. Không ai muốn mình ngồi tù oan 10 năm để đổi
lấy tiền bạc, dù là nhiều tiền. Cho nên, xin đừng nói rằng ông Nguyễn Thanh
Chấn đã đưa ra số tiền bồi thường quá to, ông Chấn bắt chẹt.
Không ai có thể hình dung được nỗi đau khổ và cay đắng cùng
cực của người bị tù oan. Mà oan trái với tội danh giết người mới khủng khiếp.
Cổ nhân nói “Một ngày tù nghìn thu ở ngoài”, vậy thì ông Chấn đã sống bao nhiêu
kiếp người ở trong tù chắc không đếm hết. Những điều ông Chấn kể về nỗi nhục
nhã ê chề, bị bức cung nhục hình trong tù, những lúc ông phát điên muốn tự tử
cho xong đời, sẽ thấy tiền không trả nổi cho ông.
Sự thê thảm của án oan sai không chỉ đổ lên phận người
Nguyễn Thanh Chấn, mà vợ con ông cũng phải gánh chịu. Nỗi tuyệt vọng của ông
Chấn trong tù có khác chi nỗi tuyệt vọng của vợ con ông ở bên ngoài, khi phải
chịu đựng tiếng đời về một người chồng, người cha phạm tội giết người. Chưa kể,
bao nhiêu năm vợ lặn lội đi gõ các cánh cửa để kêu oan cho chồng, đến nỗi kiệt
sức sinh bệnh.
Vậy thì, ai bồi thường cho những người đã bị “án oan” theo
Nguyễn Thanh Chấn đây!
Đừng mặc cả trên thân phận oan sai của một con người bởi vì
họ đã mất hết tất cả. Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là không có giới
hạn, và giới hạn bồi thường oan sai được định ra bằng những tiêu chí cụ thể.
Hai bên không thoả thuận được thì toà án sẽ căn cứ vào các quy định để đưa ra
quyết định cuối cùng.
Nhưng điều quan trọng hơn không phải là nhà nước tốn 10 tỉ
đồng hay bao nhiêu đồng, mà các cơ quan tố tụng liên quan đến vụ án này đã làm
mất lòng tin của người dân vào công lý. Muốn lấy lại lòng tin, ngoài việc bồi
thường danh dự, tinh thần và vật chất cho ông Nguyễn Thanh Chấn, cần phải xử
thật nghiêm những cá nhân sai phạm. Đặc biệt, những cán bộ điều tra đã bức
cung, nhục hình, có hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp trong vụ án Nguyễn Thanh
Chấn.
Những kẻ gây ra oan sai cho ông Chấn còn nhởn nhơ ngoài vòng
pháp luật thì chứng tỏ công lý còn quá xa.
Không bỏ tù những kẻ gây ra oan sai cho ông Chấn thì cho dù
bồi thường nhiều tiền cũng vẫn là bất công.
Lê Chân Nhân





