Thư GỬI BÁC BỘ TRƯỞNG BỘ GD - Và KHI TUỔI TRẺ LÊN TIẾNG

17:16 |
TMSS: Dưới đây là bức thư của cô gái Võ Thị Mỹ Linh đang ở Nêpal gửi cho bộ trưởng BGD Phạm Vũ Luận. Sau khi bài viết được đăng tải trên Facebook đã có nhiều ý kiến phản hồi. Ông Nguyễn Ngọc Hùng, nguyên là thành viên Ban Chỉ đạo Đề án ngoại ngữ quốc gia 2020 (Bộ GD-ĐT),  cũng đã trả lời trên báo VietnamNet (xem phần cuối). Tuy nhiên, với thời đại công nghệ thông tin, không phải muốn nói gì thì nói. Cẩn trọng kẻo bị gọi là cả vú lấp miệng em!
--------------------------------------------------
GỬI BÁC BỘ TRƯỞNG BỘ GD

Cháu tên Linh. Dĩ nhiên bác không cần nhớ tên cháu làm gì. Cũng như đã lâu rồi cháu chẳng còn quan tâm ai là Bộ trưởng Bộ GD vậy. Nhưng nói chung, làm người đâu nhất thiết phải nhớ tên nhau. Chỉ cần chúng ta có một câu chuyện chung để nói. Thế là đủ rồi bác nhỉ. 
Võ Thị Mỹ Linh - chủ nhân lá thư gửi Bộ trưởng hiện đang ở Nepal

Chuyện kể là, hôm qua, cháu ngồi ở thư viện trường Shree Sarbodaya quận Syanja - Nepal. Cháu dành cả một ngày đọc sách giáo khoa English để hiểu cách dạy English của người Nepal. Dĩ nhiên, người Nepal dạy English không tốt đâu. Vì họ không có tiền để mua tivi, băng đĩa, không có phương tiện cho học sinh nghe người bản xứ nói chuyện, thậm chí đến cả cuốn từ điển giấy họ còn túng thiếu bác ạ( túng thiếu đến cỡ nào cháu sẽ có 1 bài viết để kể sau). Nhưng so với Việt Nam thì English của họ giỏi hơn nhiều. Dĩ nhiên, Nepal đúng là một nước nghèo, nghèo xếp hạng top nghèo nhất thế giới ấy. Nhưng cần so sánh với trình độ GD của 1 nước nghèo để thấy rằng trình độ của nước mình ở đâu. Và giờ, có mấy điều cháu muốn trao đổi với bác như sau:
1. Cháu đọc SGK English của học sinh Nepal từ lớp 1 đến lớp 5.
Bài học đầu tiên của học sinh lớp 1 Nepal là chuyện chào hỏi. Bài học đầu tiên của học sinh lớp 2 nói chuyện đi đến trường. Bài học đầu tiên của học sinh lớp 3 kể lại nhật ký một ngày của cô bé Lilu. Bài học đầu tiên của học sinh lớp 4 dạy bạn phải biết Be careful với câu chuyện cậu bé Raj vừa đi vừa chơi game mà không để ý thấy cây cầu bị gãy.
Bài học đầu tiên của học sinh lớp 5 hỏi, "What do you want?" và kể chuyện người cha già có đứa con bị ở tù. Ổng ra vườn trồng khoai tây và ước giá mà có đứa con trai ở đây để đào lỗ cho ổng trồng. Thế là ổng viết thư cho con trai. Mỗi bài học thể hiện độ khó khác nhau bác ạ. Thậm chí ngoài English, họ còn có 2 môn học khác là Văn hoá xã hội và Khoa học - Sức khoẻ cũng hoàn toàn được viết bằng English và nằm trong môn học chính của học sinh.

Cháu lập tức nhắn về Việt Nam, nhờ đứa bạn thân chạy ra hiệu sách, chụp cho cháu xem SGK English từ 1-5 dạy cái gì. Bác biết gì không?
Bài học đầu tiên của SGK 1 dạy Hello. Bài học của sách SGK 2 là dạy câu "where are you from". Bài học của SGK 3 dạy lại Hello. Bài học đầu tiên của SGK 4 dạy câu "How're you". Bài học đầu tiên của SGK 5 dạy lại câu "where're you from".

Cháu hoảng hồn bác ạ. Cháu không biết vì bác nghi ngờ trình độ của học sinh VN quá kém nên có mỗi 3 câu "hello, how're you, where're you from" mà bác bắt chúng phải học đi học lại suốt 5 năm học như thế hay không?
Hay là tại những người soạn sách không biết gì hơn để mà soạn?
Hay tại chúng ta quan niệm, 5 năm, học được 3 câu đó là đã quá nhiều rồi?

Bác biết không, học sinh ở độ tuổi càng nhỏ thì khả năng tiếp cận ngôn ngữ càng tốt. Vì lúc đó bộ nhớ của chúng chưa sử dụng để ghi nhớ những điều phức tạp, những chuyện kiếm tiền, yêu đương. Nên cháu buồn khi thấy chúng ta bắt các em học quá nhiều thứ về toán lý hoá nhưng lại lo sợ trí nhớ của các em không đủ để học English. Buồn cười nhỉ.
2. Để dạy học sinh Nepal hiểu English, nhớ English, người Nepal bắt đầu bài học bằng những câu chuyện. Chuyện kể cô bé Deepa làm việc này việc kia. Chuyện kể gia đình cu cậu Ramesh thế này thế nọ. Cô giáo sau khi dạy học sinh về câu chuyện sẽ hỏi lại học sinh câu chuyện đó kể gì, cô bé Deepa làm gì, cậu Ramesh bị gì. Học sinh trả lời và ghi nhớ.
Để dạy học sinh Việt Nam hiểu English, các nhà soạn sách VN soạn ra những đoạn hội thoại chẳng có ý nghĩa gì và bắt học sinh học lại đoạn hội thoại đó để ứng dụng như một con vẹt. Theo bác, việc ghi nhớ nội dung câu chuyện dễ hơn hay khó hơn ghi nhớ một đoạn hội thoại dễ hơn?
3. Người Nepal soạn sách giáo khoa để dạy người Nepal. Thế nên những câu chuyện họ viết, những đề tài họ dạy liên quan đến đời sống, văn hoá hàng ngày của họ.
Họ nói về đỉnh Everest, nói về thủ đô Kathmandu, nói về những cậu bé, cô bé với những cái tên rất Nepal như Gauri, Sunda... Đó là cách họ khiến học sinh hứng thú với môn English vì nó gần gũi, dễ hiểu. Đó cũng là cách họ từ hào về đất nước họ.

Chúng ta - trong đó có bác - luôn nói tự hào về Việt Nam. Nhưng có bao giờ bác nhìn SGK English của người Việt để xem sách viết gì không?
Sách viết câu chuyện của Tom, của Peter, của Marry...những cái tên không phải của người Việt. Sách kể chuyện My hometown nhưng cái Hometown ấy là London.
Sách kể về món bánh nhưng không phải là bánh chưng, bánh giày bánh mì thịt nướng mà là bánh Pizza.
Thế nên cháu muốn hỏi là, có phải vì chúng ta không đủ kinh phí để soạn một cuốn sách dạy English nhưng nội dung xoay quanh đời sống Việt không? Hay là những nhà soạn sách họ không nghĩ ra cái gì hay ho hơn nên phải dùng những câu chuyện của nước khác. Để đến khi người nước ngoài họ hỏi cái món bánh nổi tiếng nhất ở nước mày là món gì thì học sinh bảo là pizza vì chúng không biết từ bánh mì thịt nướng trong English nói thế nào.
Nếu mà vì chúng ta nghèo quá, không có kinh phí, chỉ cần bác nói thôi, cháu sẽ huy động được một đội ngũ soạn được cuốn sách dạy English cho người Việt mà không cần lấy một đồng nào.
Còn nếu vì những người soạn sách họ không nghĩ ra cái gì hay ho hơn để viết, thì cũng chỉ cần bác nói thôi, cháu sẽ chỉ họ cách viết. Thí dụ như thay vì viết bài giảng "quê mày ở đâu hả Tom? Quê tao ở Mỹ, Peter ạ" thì cháu sẽ chỉ họ chuyển thành thế này "Quê mày ở đâu hả Tí? Quê tao ở Mỹ Tho Tèo ạ, là cái xứ ngày xưa bọn Mỹ đánh hoài mà không chiếm được ấy."
Cháu tin bọn học sinh sẽ hứng thú với câu chuyện của thằng Tí, thằng Tèo hơn câu chuyện của Tom và Peter ạ. Vì chúng cháu đã từng là những thằng Tí, thằng Tèo như thế.
5. Đã rất lâu rồi, chúng ta, hoặc vì lười biếng, hoặc vì bảo thủ, hoặc vì không muốn tiếp cận cái mới nên luôn tự ru ngủ nhau rằng, "là người Việt, chúng ta phải tự hào về văn hoá Việt, nên chúng ta cần học tiếng Việt chứ không phải English". Đó chắc là lý do mà kỳ thi tốt nghiệp THPT năm vừa rồi English trở thành môn tự chọn và không có trong môn thi.
Nhưng cháu thì muốn đổi lại một chút thế này, "là người Việt, chúng ta cần tự hào về văn hoá Việt, nên chúng ta cần học English để nói cho thế giới biết về văn hoá của chúng ta đẹp như thế nào". Người Nepal đưa English thành ngôn ngữ chính, vì họ muốn kể câu chuyện văn hoá của đất nước họ cho thế giới biết. Nên cũng đã đến lúc chúng ta cần học theo như họ rồi bác ạ.

Nó giống như câu chuyện anh nông dân xây được cái nhà đẹp ấy. Nếu anh tự hào về ngôi nhà anh đẹp, thì anh phải tìm cách đi qua làng bên, nói cho người làng bên biết cái nhà anh đẹp thế nào để họ còn biết mà đến thăm. Nhưng chúng ta đã làm gì? Chúng ta đã bảo anh nông dân ấy nằm ở nhà, chổng mặt lên ngắm trần nhà và tự khen nhà mình đẹp thôi là đủ. Trong khi thế giới ngoài kia, có biết bao ngôi nhà đẹp hơn đang được xây nên mỗi ngày, bác ạ...
PS: nói có sách, mách có chứng, cháu gửi hình so sánh SGK English của học sinh Nepal và VN cho bác nhé. 2 hình đầu là SGK của VN. Các hình còn lại SGK của Nepal.
PS2: cháu thì ở xa, bác lại bận trăm công nghìn việc chắc khó nghe thấy những lời cháu nói. Nhưng cháu tin 7000ng follow cháu đây, mỗi ng góp 1 tiếng, rồi cũng tới tai bác thôi 
 ------------------

KHI TUỔI TRẺ LÊN TIẾNG

Cánh Cò

1. Một cô gái trẻ, Võ Thị Mỹ Linh, sinh năm 1989 viết thư gửi Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo trình bày kinh nghiệm giảng dạy tiếng Anh của Nepal, đất nước mà cô có dịp du lịch bụi để tìm hiểu về con người, văn hóa cũng như cách mà họ dạy tiếng Anh trong nhà trường để bồi đắp kiến thức khá mỏng manh về tiếng Anh của cô.

Cô gái quan sát về sách giáo khoa dạy tiếng Anh của Nepal mà cô có dịp gần gũi để so sánh với sách giáo khoa tại Việt Nam được cô ghi lại qua bức thư như sau:" Sách giáo khoa English của học sinh Nepal từ lớp 1 đến lớp 5: 

Bài học đầu tiên của học sinh lớp 1 Nepal là chuyện chào hỏi. Bài học đầu tiên của học sinh lớp 2 nói chuyện đi đến trường. Bài học đầu tiên của học sinh lớp 3 kể lại nhật ký một ngày của cô bé Lilu. Bài học đầu tiên của học sinh lớp 4 dạy bạn phải biết Be careful với câu chuyện cậu bé Raj vừa đi vừa chơi game mà không để ý thấy cây cầu bị gãy.

Bài học đầu tiên của học sinh lớp 5 hỏi, "What do you want?" và kể chuyện người cha già có đứa con bị ở tù. Ông ra vườn trồng khoai tây và ước giá mà có đứa con trai ở đây để đào lỗ cho ông trồng. Thế là ông viết thư cho con trai. Mỗi bài học thể hiện độ khó khác nhau bác ạ. Thậm chí ngoài English, họ còn có 2 môn học khác là Văn hoá xã hội và Khoa học - Sức khoẻ cũng hoàn toàn được viết bằng English và nằm trong môn học chính của học sinh.

Cháu lập tức nhắn về Việt Nam, nhờ đứa bạn thân chạy ra hiệu sách, chụp cho cháu xem SGK English từ 1-5 dạy cái gì. Bác biết gì không?

Bài học đầu tiên của SGK 1 dạy Hello. Bài học của sách SGK 2 là dạy câu "where are you from". Bài học của SGK 3 dạy lại Hello. Bài học đầu tiên của SGK 4 dạy câu "How're you". Bài học đầu tiên của SGK 5 dạy lại câu "where're you from".

Cháu hoảng hồn bác ạ. Cháu không biết vì bác nghi ngờ trình độ của học sinh VN quá kém nên có mỗi 3 câu "hello, how're you, where're you from" mà phải học đi học lại suốt 5 năm?

Hay tại chúng ta quan niệm, 5 năm, học được 3 câu đó là đã quá nhiều rồi?

Bác biết không, học sinh ở độ tuổi càng nhỏ thì khả năng tiếp cận ngôn ngữ càng tốt. Vì lúc đó bộ nhớ của chúng chưa sử dụng để ghi nhớ những điều phức tạp, những chuyện kiếm tiền, yêu đương. Nên cháu buồn khi thấy chúng ta bắt các em học quá nhiều thứ về toán lý hoá nhưng lại lo sợ trí nhớ của các em không đủ để học English. Buồn cười nhỉ.

2. Để dạy học sinh Nepal hiểu English, nhớ English, người Nepal bắt đầu bài học bằng những câu chuyện. Chuyện kể cô bé Deepa làm việc này việc kia. Chuyện kể gia đình cu cậu Ramesh thế này thế nọ.

Cô giáo sau khi dạy học sinh về câu chuyện sẽ hỏi lại học sinh câu chuyện đó kể gì, cô bé Deepa làm gì, cậu Ramesh bị gì. Học sinh trả lời và ghi nhớ.

Để dạy học sinh Việt Nam hiểu English, các nhà soạn sách VN soạn ra những đoạn hội thoại chẳng có ý nghĩa gì và bắt học sinh học lại đoạn hội thoại đó để ứng dụng như một con vẹt. Theo bác, việc ghi nhớ nội dung câu chuyện dễ hơn hay khó hơn ghi nhớ một đoạn hội thoại dễ hơn?

3. Người Nepal soạn sách giáo khoa để dạy người Nepal. Thế nên những câu chuyện họ viết, những đề tài họ dạy liên quan đến đời sống, văn hoá hàng ngày của họ.

Họ nói về đỉnh Everest, nói về thủ đô Kathmandu, nói về những cậu bé, cô bé với những cái tên rất Nepal như Gauri, Sunda... Đó là cách họ khiến học sinh hứng thú với môn English vì nó gần gũi, dễ hiểu. Đó cũng là cách họ từ hào về đất nước họ."

Bức thư của cô gái rõ ràng là thuyết phục và nếu có quan tâm hơn có lẽ Bộ Giáo dục phải xem xét vấn đề một cách nghiêm túc. Ngược lại người ta trả lời bức thư ấy bằng thái độ kẻ cả, quan quyền, chỉ tay năm ngón và nhất là luận cứ của sự trả lời hoàn toàn lệch chuẩn không xứng đáng với bức thư của cô gái chỉ mới 23 tuổi.

Ông Nguyễn Ngọc Hùng, nguyên là thành viên Ban Chỉ đạo Đề án ngoại ngữ quốc gia 2020 (Bộ GD-ĐT), trả lời trên báo VietnamNet với những điểm chính như sau:

Trước tiên ông phủ đầu người gửi thư bằng kinh nghiệm viết sách giáo khoa của ông, mặc dù chưa ai đọc và thấy cái kinh nghiệm ấy ra sao kể cả ông là thành viên của một ban chỉ đạo "sắp" tai tiếng trong việc soạn thảo chương trình ngoại ngữ quốc gia. Ông cho rằng cô gái này chưa đọc hết và nhất là chưa hiểu hết về nghệ thuật làm chương trình. Cô làm ầm ĩ lên như vậy chứng tỏ cô không biết gì cả.

Xin thưa với ông hai điều trong cái gọi là phản biện hay trả lời  này của ông.

Trước nhất cô gái này hoàn toàn không phê phán cái chương trình mà ông gọi là cô "chưa đọc hết" này. Cô chỉ đưa ra một so sánh nhẹ theo cái nhìn của cô, một người ham học tiếng Anh và có ý chí muốn học từ một đất nước khác đất nước của mình. Thứ hai, ông nói soạn thảo sách giáo khoa là một nghệ thuật thì tôi e rằng ông nói không chính xác. Không có loại hình nghệ thuật nào ở đây cả, chỉ có khoa học thực nghiệm làm cho người học, người dạy đạt tới sự thành công mà thôi. Vin vào hai chữ "nghệ thuật" là tư duy ầu ơ, đánh bùn sang ao và làm rối trí những ai không biết phân biệt thế nào là khoa học và thế nào là nghệ thuật.

Soạn sách giáo khoa dù là môn gì cũng dựa trên cách sắp xếp khoa học và kinh nghiệm tích lũy lâu năm trong lĩnh vực chuyên môn. Ở đây không có chỗ cho các ông khoe nhặng lên những kiến thức không phù hợp, cốt chứng tỏ rằng bài học càng khó thì học sinh càng giỏi.

Cái thứ nghệ thuật ấy chỉ có thể áp dụng vào các phiên họp đảng ủy, nơi người ta hết sức tô vẽ trên từng lời nói còn nội dung thực hiện thì để tự nó đến sau ông ạ.

Ông biện bạch rằng chương trình ở Việt Nam có cấp bậc đi lên. Sau 3 tháng nghỉ hè, bài đầu tiên cho học sinh học là ôn lại kiến thức cũ, ôn lại các cấu trúc cũ chứ không phải học lặp lại.

Cô Võ Thị Mỹ Linh không dốt và dễ dàng bị ông cả vú lấp miệng em. Cô chứng minh một cách rõ ràng rằng sự lập lại không khoa học trong chương trình sách giáo khoa liên tiếp nhiều năm cần phải xem xét lại. Muốn ôn lại kiến thức đã học năm trước phải đưa vào những câu chuyện mới lồng những yếu tố cũ đã học để học sinh vừa tiếp thu cái mới vừa có thể ôn lại hiệu quả những gì đã học.

Ông chống chế một cách yếu ớt và quan trọng hơn trong lời chống chế này đã  lộ ra đường mòn trong việc soạn sách giáo khoa. Con đường mòn ấy đáng lẽ phải được phát quang từ lâu nhưng không làm được vì cái nhìn thiển cận của những người đang rất tự hào tiếp tục được dò dẫm trên lưng của nó.

Ông để lộ ra sự thiếu hiểu biết một lần nữa khi nói rằng: "có thể những quyển sách tiếng Anh cô gái đó nhờ bạn chụp lại là sách theo chương trình cũ. Theo chương trình cũ, thậm chí đến lớp 10, học sinh học lại a b c từ đầu, bởi ở thời điểm xây dựng chương trình đó có tới 2/3 học sinh THCS không được học ngoại ngữ."

Câu nói này chứng tỏ ông không hề biết một chút gì về các cuốn sách dạy và học tiếng Anh trên kệ sách cả nước.

Chương trình mới còn được gọi là Đề án Ngoại ngữ 2020 mà ông đang tham gia nhằm xây dựng chương trình ngoại ngữ tổng thể 10 năm phổ thông từ lớp 3 đến lớp 12 mà ông giải thích là "được viết liên thông từ dưới lên trên. Mục tiêu là đến hết lớp 12, học sinh sẽ phải đạt chuẩn B1 châu Âu, tương đương với bậc 3 của Việt Nam. Để đạt được mục tiêu này, chương trình được xây dựng và đánh giá là khó, chứ không hề đơn giản".

Một lần nữa xin lập lại, thưa ông, "khó" không phải là mục tiêu của một cuốn sách giáo khoa bất cứ về môn gì, mà "dễ tiếp thu" do cách sắp xếp khoa học mới là mục tiêu ông ạ.

Võ Thị Mỹ Linh đã chứng minh Nepal đã và đang theo cách này và học sinh của họ rất ham thích khi học tiếng Anh từ các lớp vỡ lòng. Việt Nam đã đi quá lâu trên con đường "khó là chính" cho nên học sinh "nuốt" bài chứ không phải "học" bài. Vì nuốt quá nhiều bài học "khó" trong sách giáo khoa nên hầu hết đều bội thực. Nếu họ được "học" bài thì kiến thức đã tan vào óc, có đâu cứ trợn trạo vì không thể tiêu hóa những đánh đố do ông và các đồng nghiệp của ông cố nặn ra hầu chứng tỏ kiến thức cao như núi của chính các ông.

Ông nói rằng "Nepal là một quốc gia thuộc địa của Anh, giống như Myanmar, Singapore, Malaysia… Đã từ lâu, tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai ở những nước này. Toàn bộ hệ thống giáo dục đại học của họ cũng “copy” của Anh."

Ô hay, ông gói gọn vào hai chữ "copy" và cho rằng điều này làm cho Nepal học và dạy giỏi tiếng Anh, vậy tại sao ông và đồng nghiệp không lập lại thao tác này nghĩa là cứ copy cho được việc, cần gì phải vắt óc ra tìm tòi cái "nghệ thuật" mà ông kín đáo tự hào?

Sách dạy tiếng Anh nước ngoài đầy trên thị trường cả trong và ngoài nước. Trí thức Việt kiều sinh ra tại các nước nói tiếng Anh nhiều như lá trong rừng sẵn sàng bỏ công ra giúp cho Việt Nam cách thức mà họ đã học. Các ông không dám xử dụng họ vì sợ mất miếng ăn và mất cả chức vị, vậy thì đừng nên cho rằng chỉ có các nước bị Anh hay Mỹ lấy làm thuộc địa mới giỏi tiếng Anh. Lập luận ông đưa ra không thuyết phục được người Việt Nam nơi có ba triệu người dân lưu lạc biết rành rẽ thế nào là tiếng Anh ông ạ.

Qua cách phản biện lại bức thư gửi Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo của Võ Thị Mỹ Linh ông đã phạm phải một lỗi lầm quan trọng: mang cả một ban bệ trong đó có ông để mong đè bẹp cô gái trẻ tuổi này với lập luận cô gái này nông nổi và không biết gì về sách giáo khoa tiếng Anh. Ông đã không thành công và tất cả những người trẻ theo dõi vụ này đã phản ứng bất lợi cho ông là đúng.

Phẩm chất của Võ Thị Mỹ Linh đáng quý ở chỗ cô ấy dám lên tiếng trực tiếp với một Bộ trưởng. Cho dù góp ý của cô gái này còn có chỗ phải bàn nhưng điểm sáng trong toàn bức thư là nhận thức của một người trẻ về các thất bại trong sách giáo khoa. Đó không phải là sự can đàm mà là trách nhiệm và tâm lý khao khát được thấy cái mới.

Tâm lý ấy đã bị ông vội vàng xô ngã bằng cái tự tôn không nên có.

Võ Thị Mỹ Linh có phẩm chất của những mầm xanh không biết khuất phục bởi sự già nua cũ kỹ. Người ta thấy đâu đó loáng thoáng hình ảnh của Zuckerberg, người dám bỏ cả Havard để phiêu lưu vào mảnh đất Facebook và giờ đây trở thành tấm gương cho bao người trẻ khắp thế giới.

Việt Nam không thể có một Zuckerberg không phải do thiếu chất xám lẫn tính mạo hiểm, phiêu lưu tìm cái mới mà bởi quá nhiều vật cản do cơ chế này tạo ra, trong đó có ông, điển hình cho những tư duy cục bộ vô hình nhưng rất chắc chắn.

 -----------------------------------------------------

SGK tiếng Anh: 'Làm ầm ĩ là...không biết gì'

 Ngân Anh ghi

Ông Nguyễn Ngọc Hùng, nguyên là thành viên Ban Chỉ đạo đề án ngoại ngữ quốc gia 2020 (Bộ GD-ĐT), chia sẻ về bức thư của Võ Thị Mỹ Linh gửi Bộ trưởng GD-ĐT về việc học tiếng Anh.
  tiếng Anh, Nepal, Nguyễn Ngọc Hùng, Đề án Ngoại ngữ 2020
Sách dạy tiếng Anh của học sinh VN được Linh chia sẻ trên Facebook cá nhân
Theo tôi, cô gái đó chưa đọc hết và chưa hiểu về nghệ thuật làm chương trình, làm “ầm ĩ” lên như vậy chứng tỏ là… không biết gì. Muốn đánh giá, cần xem xét cả quyển sách chứ không phải 1 bài.
Chương trình ở Việt Nam có cấp bậc đi lên. Sau 3 tháng nghỉ hè, bài đầu tiên cho học sinh học là ôn lại kiến thức cũ, ôn lại các cấu trúc cũ chứ không phải học lặp lại.
Câu chào hỏi buổi đầu tiên đến lớp đơn giản, nhưng nội dung học những bài tiếp theo là khó dần lên.
Hơn nữa, có thể những quyển sách tiếng Anh cô gái đó nhờ bạn chụp lại là sách theo chương trình cũ. Theo chương trình cũ, thậm chí đến lớp 10, học sinh học lại a b c từ đầu, bởi ở thời điểm xây dựng chương trình đó có tới 2/3 học sinh THCS không được học ngoại ngữ.
Còn Đề án Ngoại ngữ 2020 xây dựng chương trình ngoại ngữ tổng thể 10 năm ở phổ thông, từ lớp 3 đến lớp 12.
Chương trình mới được viết liên thông từ dưới lên trên. Mục tiêu là đến hết lớp 12, học sinh sẽ phải đạt chuẩn B1 châu Âu, tương đương với bậc 3 của Việt Nam. Để đạt được mục tiêu này, chương trình được xây dựng và đánh giá là khó, chứ không hề đơn giản.
Học theo chương trình mới, học sinh sẽ nói được những vấn đề của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, chứ không chỉ kể lại câu chuyện của nước ngoài.
Thứ hai là, trong SGK xây dựng theo chương trình của Đề án 2020, tính Việt Nam rất nhiều.
Chương trình có yếu tố mở và địa phương. Từ lớp 6 trở đi, chương trình có yêu cầu liên hệ.
Phương pháp giảng dạy cũng thay đổi quan trọng. Đối với giáo viên, chương trình cũng rất mở, giáo viên có thể đưa đình chùa, di tích của địa phương… vào giảng dạy.
Đề án đã hoàn thành SGK tiểu học với lớp 3, 4, 5, cấp THCS đã làm SGK lớp 6, 7 và THPT là SGK lớp 10, 11. SGK ngoại ngữ mới ở bậc tiểu học đã triển khai từ năm 2010. Ở bậc THPT những nơi có điều kiện sẽ triển khai theo SGK của chương trình mới.
Vì sao học sinh Nepal giỏi tiếng Anh?
Cũng cần phải xét đến việc Nepal là một quốc gia thuộc địa của Anh, giống như Myanmar, Singapore, Malaysia… Đã từ lâu, tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai ở những nước này. Toàn bộ hệ thống giáo dục đại học của họ cũng “copy” của Anh.
Trong khi đó, giáo dục đại học Việt Nam chịu ảnh hưởng của Nga, Trung Quốc, Pháp, Mỹ…
Nói như vậy để chúng ta biết rằng, giáo viên tiếng Anh của họ đạt chuẩn, còn của Việt Nam có mấy người? Giáo viên tiếng Anh mà không ít người phát âm còn sai.
Vì vậy, trong giai đoạn đầu, Đề án ngoại ngữ 2020 tập trung bồi dưỡng giáo viên, sao cho trước hết phải nói đúng tiếng Anh đã, chứ còn chưa bàn đến việc nói hay, nói chuẩn.
Tất cả hệ thống giáo dục phụ thuộc vào người thầy, nên phải tập trung vào thầy cô giáo. Bên cạnh đó là việc đánh giá tầm quan trọng của ngoại ngữ trong đời sống kinh tế chính trị xã hội của quốc gia.
Nền kinh tế không có sự chuẩn bị khi năm 2015 hội nhập ASEAN. Không có ngoại ngữ, lực lượng lao động thua ngay trên sân nhà.
Mong muốn một đằng, nhưng chúng ta lại chỉ đạo một nẻo.
Như quy định năm vừa rồi không bắt buộc thi tốt nghiệp môn ngoại ngữ. Hậu quả thấy ngay: chỉ hơn 16% học sinh chọn môn Tiếng Anh.
Từ năm 2015 lại quy định bắt buộc thi tốt nghiệp ngoại ngữ trong kỳ thi THPT quốc gia. Tôi hy vọng với quy định này việc học ngoại ngữ sẽ tốt dần lên.
Các kỳ thi Olympic, các sân chơi tiếng Anh ở tiểu học lâu nay diễn ra rất vui vẻ, hiệu quả, thì bây giờ Bộ GD-ĐT lại cấm. Như vậy sẽ không tạo ra môi trường học ngoại ngữ cho học sinh.
Các chuyên gia trong nước và nước ngoài đều xác định rằng yếu tố quan trọng là ông thầy.
Thầy Nguyễn Quốc Hùng đã từng nói chương trình và SGK là phần phụ, người thầy mới là quan trọng nhất.
Không nên coi SGK môn ngoại ngữ, cũng như các môn học khác, như huyền thoại, hay bài toán gì ghê gớm. Mà trước hết, phải tạo điều kiện cho người thầy.
----------------
TMSS tổng hợp

 
Xem thêm…

Huyền thoại giáo dục Phần Lan

16:00 |
Huyền thoại giáo dục Phần Lan

Hồ Anh Hải
TMSS: Sau khi đọc bài viết Trẻ Con Là Những Thiên Thần trên FB của đạo diễn Hải Anh, tôi sực nhớ tới bài này đăng trên Tia Sáng. Bài viết từ 2012 đến nay vẫn mới mẻ. Xin đăng lại đây như một cách để nhìn trong bối cảnh Việt Nam đang trên đường soạn chương trình giáo dục gây nhiều tranh cãi!

Giáo dục Phần Lan bắt đầu được dư luận quốc tế quan tâm từ sau khi Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển OECD tổ chức các kỳ thi PISA (Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (Programme for International Student Assessment). Thành công xuất sắc của học sinh Phần Lan trong các kỳ thi này đã làm cả thế giới ngạc nhiên.


PISA là bài kiểm tra kiến thức của các trẻ em 15 tuổi, thực hiện 3 năm một kỳ tại hơn 40 địa điểm cho gần nửa triệu HS trên toàn cầu. PISA mới tiến hành được 4 kỳ (2000-2003-2006-2009) thì Phần Lan giành được vị trí thứ nhất trong 3 kỳ đầu. Tại PISA 2009 họ đứng thứ hai về khoa học, thứ ba về đọc hiểu và thứ sáu về toán học.

Sau một thời gian say sưa tranh cãi về cuốn Chiến ca của Mẹ Hổ, cuối cùng phương pháp giáo dục của Phần Lan lại đang trở thành một chủ đề nóng ở Mỹ sau khi nước này chiếu bộ phim tài liệu Chờ đợi Siêu nhân1 , vạch ra các vấn đề tồn tại của giáo dục công lập Mỹ, có so sánh với Phần Lan. Báo The Economist của Anh Quốc còn kiến nghị các nhà lãnh đạo châu Âu tạm ngừng công việc để đến Phần Lan dự các giờ học cấp phổ thông, tìm hiểu xem vì sao học sinh nước này giỏi thế. Người Trung Quốc càng hết lời ca ngợi giáo dục Phần Lan. Một bà mẹ đem hai con sang Phần Lan sống mười mấy năm, tự mình trải nghiệm thực tế giáo dục từ vườn trẻ đến đại học của xứ này, sau đó nhận xét: So với Phần Lan thì giáo dục Trung Quốc chỉ là một bãi rác lớn.

Cần nhấn mạnh: người Phần Lan không hề coi trọng mọi kỳ sát hạch học sinh, kể cả PISA, họ không bao giờ mở các lớp chuyên để đào tạo “gà nòi” đi thi PISA như ở một số nước khác. GS Pasi Sahlberg, nhà giáo dục nổi tiếng, Tổng Giám đốc Trung tâm Luân chuyển và Hợp tác quốc tế Phần Lan (National Centre for International Mobility and Cooperation, CIMO) nói: “Chúng tôi chuẩn bị cho trẻ em học cách để học chứ không phải học cách để làm một bài kiểm tra. Chúng tôi không quan tâm nhiều tới PISA. Nó không phải là thứ chúng tôi nhắm tới”.
Chính người Phần Lan cũng không hiểu tại sao HS họ lại chiếm vị trí hàng đầu trong các kỳ kiểm tra PISA, bởi lẽ họ đâu có quan tâm gì tới việc xếp hạng. Nhưng khi các đoàn cán bộ giáo dục từ khắp thế giới kéo đến Phần Lan tìm hiểu kinh nghiệm dạy và học của xứ này thì họ mới để ý tới chuyện ấy. Ngành du lịch Phần Lan cũng khởi sắc nhờ thành tích của ngành giáo dục.

Triết lý giáo dục đúng đắn

Giáo dục Phần Lan vận hành theo một triết lý (tư tưởng) giáo dục độc đáo, thể hiện ở quan điểm đối với HS và giáo viên: hai chủ thể quan trọng nhất này của nhà trường phải được quan tâm và tôn trọng hết mức.

Sự ưu ái HS thể hiện ở chỗ ngành giáo dục phải làm cho nhà trường trở thành thiên đường của trẻ em! Muốn thế người Phần Lan đã hủy bỏ mọi chuyện khiến lũ trẻ đau đầu nhức óc như cạnh tranh (hoặc dưới mỹ từ “thi đua”), xếp hạng giỏi kém trong học tập và các kỳ sát hạch thi cử. Ở cấp tiểu học hoàn toàn không có kiểm tra kiến thức. Nhiệm vụ của giáo viên là làm cho HS hào hứng học tập, say mê hiểu biết, quan tâm tập thể và xã hội. Tóm lại, HS không phải chịu bất cứ một sức ép nào trong học tập.

GS Sahlberg nói: “Chúng tôi không tin vào thi cử, không tin rằng có một kỳ thi thống nhất là việc tốt. 12 năm học đầu tiên trong đời HS chỉ có một kỳ thi duy nhất vào lúc các em đã ở độ tuổi 18-19, đó là kỳ thi trước khi vào đại học. Nhờ thế thầy và trò có nhiều thời gian để dạy và học những gì họ ưa thích. Các thầy cô của chúng tôi tuyệt đối không giảng dạy vì thi cử, HS cũng tuyệt đối không học vì thi cử. Trường học của chúng tôi là nơi học tập vui thích 100%. Ưu điểm của chế độ học tập ở Phần Lan là ươm trồng tinh thần hợp tác chứ không phải là tinh thần cạnh tranh. Chúng tôi không lo HS sau này sẽ cảm thấy sợ hãi khi bước vào xã hội đầy cạnh tranh”.

Luật pháp Phần Lan quy định không được dùng cách xếp hạng hoặc cho điểm để đánh giá các HS trước lớp 6. Khi các thầy cô muốn bình xét năng lực và biểu hiện của HS nào đó thì họ phải dùng văn bản ghi lại sự đánh giá, có thuyết minh cặn kẽ, chứ không được đơn giản dùng điểm số hoặc thứ bậc xếp hạng để bình xét. Bởi lẽ mỗi HS đều có sở trường của riêng mình, giáo viên chỉ có thể thông qua nhiều hình thức hoạt động để tìm hiểu HS và khai thác phát huy tiềm năng của các em.

Có người cho rằng trong môi trường không có so sánh, không có cạnh tranh, không có sát hạch thi cử thì HS sẽ không có động lực để học tập. Thực ra HS Phần Lan vẫn có thi đại học, kỳ thi duy nhất sau 12 năm học, cạnh tranh cũng rất quyết liệt, nhưng khi ấy HS đã trưởng thành. Người ta cố gắng không để HS cạnh tranh với nhau quá sớm. Các nhà trường ở châu Á cạnh tranh với nhau rất gay gắt, đó là do giáo viên, phụ huynh, HS và mọi người luôn so bì lẫn nhau. Người Phần Lan không làm như vậy, họ trau dồi cho HS tinh thần Hợp tác quan trọng hơn cạnh tranh, nhấn mạnh ở cấp mẫu giáo và trung tiểu học lại càng cần tạo ra bầu không khí không có cạnh tranh. Đây là một ưu điểm của chế độ giáo dục Phần Lan.

Một nhà tâm lý học từng nói: “Hôm nay HS biết hợp tác với nhau thì ngày mai họ sẽ có năng lực cạnh tranh”. Muốn giỏi cạnh tranh thì trước hết phải biết mình, rồi tìm hiểu người khác. Biết mình để tự tin. Biết người, tức biết đối phương, là để hiểu được ưu điểm của họ; điều ấy thực hiện được trong quá trình hợp tác với họ, qua đó sẽ có được năng lực cạnh tranh. Trau dồi năng lực sáng tạo trong môi trường chan hòa tình người thì tốt hơn trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, vì khi ấy người ta không muốn chia sẻ kinh nghiệm cho người khác, và cũng không muốn mạo hiểm, như vậy sao có thể có được sức sáng tạo. Vì thế người Phần Lan chủ trương HS học hỏi lẫn nhau, chia sẻ với nhau thành công của mình.

Chủ thể quan trọng thứ hai của giáo dục là giáo viên cũng phải được sống trong môi trường ít sức ép nhất. Thầy cô giáo phải được xã hội tôn trọng hết mức. Muốn vậy, cũng như với HS, đối với giáo viên, nhà trường áp dụng nguyên tắc không so sánh, không xếp thứ hạng hoặc cho điểm các giáo viên, không tổ chức thi tay nghề giảng dạy, cũng không làm bản nhận xét đánh giá giáo viên.

Ngành giáo dục không làm cái việc đánh giá, xếp hạng chất lượng các trường. Nhờ thế tất cả giáo viên đều rất tự tin, ai cũng tự hào về trường mình. Họ giải thích: Nếu thầy cô còn coi thường trường mình thì HS sao có thể tin vào nhà trường?

GS Sahlberg nói: “Rất nhiều quốc gia tiến hành cải cách giáo dục xuất phát từ mặt hành chính, thậm chí tham khảo giới kinh doanh, đưa phương thức vận hành công ty vào áp dụng trong trường học, lập chế độ thưởng phạt. Cách làm như thế là không đúng. Chúng ta đều biết, trừ khi nhà trường có giáo viên giỏi, trừ khi chúng ta luôn đào tạo chuyên môn cho giáo viên và giúp đỡ họ, trừ khi xã hội biết tôn trọng giáo viên, nếu không thì cải cách giáo dục sẽ không thể thành công”.

Điều đó xuất phát từ nhận thức: Nếu xã hội đã không tín nhiệm chính thầy cô giáo của mình thì còn nói gì tới việc HS tin yêu và nghe lời thầy cô? Một khi thực thi cơ chế đánh giá xếp hạng giáo viên thì tất nhiên giáo viên bị xếp hạng thấp sẽ còn đâu uy tín để dạy các em? Một nhà trường bị xếp hạng kém thì còn ai muốn cho con mình vào học? Như vậy giáo dục còn có ý nghĩa gì?

Nếu bạn hỏi bất cứ quan chức nào của Bộ Giáo dục Phần Lan về chất lượng giáo viên xứ này thì họ sẽ nói: “Tất cả thầy cô giáo của chúng tôi đều giỏi như nhau!”. Họ cũng nói: “Tất cả các trường của chúng tôi đều giỏi như nhau!” “Tất cả các HS của chúng tôi đều giỏi cả”. Câu trả lời ấy nói lên sự tự tin của một quốc gia đã thực sự đạt được sự bình đẳng trong giáo dục, vì vậy họ có quyền nói như thế. 2

Nhằm thực hiện được các nội dung triết lý kể trên, Bộ Giáo dục Phần Lan nêu yêu cầu cực cao đối với chất lượng giáo viên, chỉ tuyển những người có tinh thần hết lòng phụng sự nhân dân và đạo đức nghề nghiệp cao thượng, và hơn nữa còn tạo điều kiện tốt nhất tiếp tục đào tạo họ. Về trình độ chuyên môn, toàn bộ thầy cô giáo tiểu học và trung học đều phải có bằng thạc sĩ trở lên, và phải có chứng chỉ đạt yêu cầu sát hạch tư cách giáo viên. Người giỏi mới được làm giáo viên. Các trường sư phạm tuyển sinh rất khắt khe, tỷ lệ thi đỗ chỉ đạt 10%. GS Sahlberg cho biết: trong năm 2010 có khoảng 6.600 ứng viên tranh nhau 660 chỗ giảng dạy ở cấp tiểu học. Nghề giáo thực sự là nghề cao quý, được xã hội trọng vọng.

Ngành giáo dục thiết lập một hệ thống dựa trên tinh thần trách nhiệm, cho phép giáo viên được quyền tự do nhất định trong việc giảng dạy. HS cũng được quyền tự chọn phương thức học tập của mình. Giáo viên lên lớp bình quân 3 tiết mỗi ngày (so với 7 ở Mỹ), do đó có nhiều thời gian để sáng tạo bài giảng truyền được cảm hứng cho HS.

Một quốc gia không có cơ chế đánh giá hoặc xếp thứ hạng giáo viên và HS, không yêu cầu thầy trò tranh vị trí thứ nhất, thế mà lại được cộng đồng OECD xếp hạng có nền giáo dục phổ thông tốt nhất. Khi biết tin này, chính những người Phần Lan rất ngạc nhiên.

Giấc mơ bình đẳng giáo dục       

Trước thập niên 70 thế kỷ XX, giáo dục Phần Lan chưa có gì đáng tự hào. Ngành giáo dục thực hiện chế độ quản lý tập trung, có rất nhiều quy chế ràng buộc công việc của giáo viên. Thời ấy HS đến 10 tuổi đều phải qua một kỳ thi, dựa theo kết quả thi để phân ban, một loại là lớp phổ thông, một loại là lớp học nghề; việc phân ban đó quyết định tương lai các em một cách võ đoán, tương lai cả cuộc đời phụ thuộc vào một kỳ thi. Kết quả thi được cho điểm từ 4 đến 10; điểm 10 là điểm số cao nhất; điểm 4 là trượt. Thời ấy các em HS tuổi còn nhỏ mà đã biết dùng đẳng cấp để so bì lẫn nhau, qua điểm số mà cho rằng mình kém hoặc hơn người khác. Trong mỗi lớp lại còn chia ra các nhóm HS tùy theo năng lực, các em luôn so kè lẫn nhau.

Về sau giới chức giáo dục Phần Lan nhận thấy cách làm như vậy là không tốt, bởi lẽ mỗi người đều có năng lực và cách biểu hiện khác nhau. Làm như vậy chẳng khác gì bắt voi, chim cánh cụt và khỉ thi tài leo cây; dùng tài leo cây làm tiêu chuẩn đánh giá năng lực của chúng là rất vô lý. Vì thế ngành giáo dục nước này đã quyết định hủy bỏ chế độ chia đẳng cấp, không dùng điểm số để phân chia thứ bậc nữa. Các giáo viên nhanh chóng nhận thấy cách làm này là tốt. Nhờ thế đã thay đổi không khí học tập trong trường, thầy trò hợp tác với nhau, đoàn kết nhất trí. Từ thập niên 80, mọi hình thức sát hạch và thi cử, kể cả chế độ thi thống nhất chung cho các trường đều bị hủy bỏ.

Một nội dung nữa của triết lý giáo dục Phần Lan là toàn thể HS phổ thông trong cả nước phải được hưởng nền giáo dục như nhau, không thể để con nhà giàu được học tốt hơn con nhà nghèo, con em người da trắng được học tốt hơn con em người da màu di cư từ châu Phi châu Á đến. Tư tưởng bình đẳng giáo dục ấy được Nhà nước Phần Lan nêu ra trong một đạo luật ban hành năm 1860. Từ năm 1915, giáo dục được thừa nhận là một quyền công dân.

Trong đợt cải cách giáo dục tiến hành vào những năm 70 thế kỷ XX, ngành giáo dục Phần Lan nêu ra ước mơ HS trong cả nước đều được học trong các trường công chất lượng tốt 3. Họ gọi ước mơ ấy là Giấc mơ Phần Lan (The Finnish dream). Sự nghiệp giáo dục của họ phát triển liên tục, bền vững suốt 40 năm nay chính là nhờ tất cả các nhiệm kỳ Chính phủ nước này đều nối tiếp nhau thực hiện bằng được giấc mơ bình đẳng giáo dục ấy, dù đảng phái nào lên cầm quyền cũng vậy.  

Ít thấy nước nào có được giấc mơ giáo dục đẹp như thế, nó kích động lòng người và gợi mở bao ý tưởng tuyệt vời, nó giúp thu hẹp tới mức tối thiểu sự khác biệt giữa các trường và khoảng cách giữa HS kém nhất với HS giỏi nhất, giảm đáng kể ảnh hưởng của địa vị kinh tế-xã hội của phụ huynh đối với HS. Các trường đều không có cơ chế đào thải HS khi các em chưa đủ 10 tuổi ; tất cả HS đều có cơ hội học tập bình đẳng. Điều đó xuất phát từ nhận thức: Tâm hồn trong trắng ngây thơ của trẻ em cần được sự dẫn dắt đúng đắn của người lớn trong môi trường trong sạch thuần khiết chứ không phải môi trường cạnh tranh tàn nhẫn của thế giới người lớn.

Phải thay đổi tư duy nếu muốn học được gì từ giáo dục Phần Lan

Rõ ràng tư duy giáo dục của người Phần Lan rất độc đáo. Nguyên tắc giảm hết mức sức ép đối với HS, chủ trương thực hiện trường nào, thầy trò nào cũng giỏi như nhau của họ khác xa lối dạy và học nhồi nhét kiến thức cũng như chủ trương xây dựng các trường lớp “chuyên” thường thấy ở phương Đông. Phải chăng chừng nào chưa thay đổi tư duy thì khó có thể học được điều gì từ huyền thoại giáo dục Phần Lan?

Các phụ huynh Á Đông lo chuyện học tập của con với tư duy không để con thua kém ngay từ vạch xuất phát,  chỉ lo đưa con vào học trường nổi tiếng, bắt con học kiểu nhồi vịt khi chúng còn bé tẹo. Người ta quá say sưa với những cuộc thi kiến thức, buộc tâm hồn trong trắng thơ ngây của lũ trẻ phải nhồi nhét bao nhiêu kiến thức thế gian người lớn từ cổ Hy Lạp tới hậu hiện đại mà chẳng biết có trau dồi được chút đầu óc sáng tạo nào cho chúng hay không4. Cha mẹ đua nhau dạy con từ khi còn là bào thai, đưa con vào lớp năng khiếu từ tuổi mẫu giáo, thi HS giỏi, thi Olympic, học thêm, học hè. Tư duy ấy làm họ hao tổn công của, chỉ làm mồi cho bao kẻ cơ hội vớ bẫm bằng cách mở các trường lớp nhắm vào nhu cầu của họ. Cả xã hội lao vào thi cử, học để mà thi, cho nên học vẹt chứ không phải học để có năng lực sáng tạo. HS chấp nhận mọi kiến thức được dạy mà không dám nghi ngờ, phản biện.

Cần phải thấy quan niệm không để con em thua kém ngay từ vạch xuất phát là có hại cho sự trưởng thành của trẻ em. Mục đích của giáo dục phổ thông là trau dồi luân lý đạo đức, gợi mở tri thức. Một nền giáo dục quá chú trọng điểm số và cạnh tranh sẽ chỉ làm tổn thương trí tuệ và tâm hồn thuần khiết của trẻ em. Thật đáng thương những đứa trẻ thơ ngây hết cặm cụi học ở trường lại vùi đầu làm bài tập ở nhà, không còn thời gian rảnh rỗi, lúc nào cũng sống trong sức ép căng thẳng do người lớn tạo ra. Học tập đáng lẽ là niềm vui lại trở thành gánh nặng, thành nỗi lo âu, thâm chí sợ hãi của chúng. Điều đó không thể không ảnh hưởng tới sự phát triển tâm sinh lý bình thường của trẻ.

Hàn Quốc có một Thần đồng thất bại. Đó là Kim Ung-Yong sinh năm 1962, được sách Kỷ lục Guinness công nhận có IQ cao nhất thế giới : trên 210. Mới 4 tuổi Kim đã được học và đọc được ba ngoại ngữ Nhật, Đức, Anh. Sau đó chú bé được mời vào học khoa Vật lý Đại học Hanyang. 7 tuổi, Kim được Cơ quan Không gian NASA mời sang Mỹ. Tại đây anh học xong đại học và lấy bằng tiến sỹ vật lý khi chưa đầy 15 tuổi. Sau 10 năm ở Mỹ, Kim quyết định về nhà để… phụng dưỡng cha mẹ, chọn con đường làm người kỹ sư xây dựng bình thường, tránh xa mọi vinh quang của danh hiệu thần đồng.
 
Khưu Thành Đồng - người Hoa đầu tiên được tặng huy chương Fields Toán học (1982) - từng khuyên Trung Quốc bỏ các kỳ thi Olympic, vì các nghiên cứu sinh Trung Quốc do ông hướng dẫn tuy đều là HS giỏi thi Olympic nhưng rất kém năng lực sáng tạo. Ngược lại, Einstein học tiểu học, trung học, đại học đều rất bình thường, thậm chí bị chê là chậm hiểu. Hồi học trung học ông từng bị đuổi học một lần, thi đại học lần thứ hai mới đỗ. Nhưng điều đó đâu có ảnh hưởng tới sức sáng tạo vĩ đại của ông.

Quá nhấn mạnh giáo dục ngay từ khi trẻ còn nhỏ, nóng vội nhồi nhét quá nhiều kiến thức cho trẻ thực ra là cách làm mâu thuẫn với chính lời của cổ nhân Trung Quốc:  Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người 5, coi giáo dục là việc lâu dài, cần hết sức nhẫn nại chờ đợi. Đời người là cuộc chạy marathon, chỗ nào, lúc nào cũng là vạch xuất phát, phải học suốt đời thì mới giỏi, người dẫn đầu lúc mới xuất phát chưa chắc đã là người về nhất sau chót. Người Phần Lan không vội vàng bắt lũ trẻ học quá căng thẳng mà dần dần từng bước gợi mở ở chúng lòng ham học, ham khám phá, ham sáng tạo chứ không ham thành tích, ham điểm số cao, thứ hạng cao.


Vài số liệu về Phần Lan (theo CIA Factbook và các nguồn khác):
Diện tích 338.145 km2. Số dân 5,26 triệu. Số người đi học 1,9 triệu. Số trường học các loại 5103. GDP năm 2011: 195,6 tỷ USD (PPP). GDP đầu người 38.700 USD. Chi phí giáo dục (2007) chiếm 5,9% GDP hoặc hơn 15% ngân sách. Có hơn 3500 trường tiểu học và trung học.
[So sánh: Singapore 5,35 triệu dân và giàu hơn (GDP đầu người 59.900 USD) nhưng số trường tiểu-trung học ít hơn Phần Lan gần 10 lần; Hà Nội 6,5 triệu dân có 1444 trường tiểu-trung học]. 
Xem thêm…

TRẺ CON LÀ NHỮNG THIÊN THẦN

15:51 |

TRẺ CON LÀ NHỮNG THIÊN THẦN

 
Đạo diễn Nguyễn Hải Anh
Những ngày này Hà Lan đang là mùa lễ hội. Họ có đến cả chục lễ hội trong năm nhưng Sinterklaas ( Lễ hội Thánh Nicola, cha đẻ của Ông già Noel ) là lễ hội lớn nhất trong năm dành cho trẻ nhỏ. Chúng là thiên thần , là cục vàng của các gia đình và của cả xã hội. Pháp luật bênh vực, xã hội ưu ái với rất nhiều quyền lợi và quyền bảo vệ, bảo hiểm. Thậm chí bố mẹ có thể bị đi tù nếu tát con. Thât dễ hiểu vì sao trẻ con Hà Lan được báo chí quốc tế công nhận là những đứa trẻ sướng nhất thế giới !

Nhớ lại những ngày đi học mẫu giáo ở Việt Nam, tôi là đứa trẻ bướng bỉnh, nghịch ngợm và hay nổi loạn trong lớp nên luôn phải chịu hình phạt là bị cho vào tủ tối dưới nhà kho và khóa lại. Tôi đã từng sợ hãi đến mức cứ mỗi sáng bố mẹ chở đến trường là giãy giụa không chịu vào lớp , là khóc thét đến mất tiếng, thậm chí là cắn chảy máu tay cô giáo khi cô cố đẩy tôi nhốt vào tủ… Và cuối cùng là tôi bị nhà trường đuổi học vì mắc bệnh “  thần kinh ” !

Đã nhiều lần tôi muốn cầm bút viết với hy vọng tiếng nói của mình sẽ thức tỉnh nạn bạo hành trẻ nhỏ vẫn còn tồn tại cả trăm năm nay trong xã hội Việt Nam đang được ngụy biện bởi giáo lý “ thương cho ăn roi ăn vọt, ghét cho ăn ngọt ăn bùi” vô cùng lạc hậu và cổ hủ.  Cái giáo lý này đồng nghĩa với việc cổ vũ nạn bạo hành, tinh thần áp chế - phục tùng của đạo Khổng trong gia đình và cả ngoài xã hội. Nếu chúng ta còn dung túng thì nó sẽ còn là nguồn gốc của sự phản kháng, của những mâu thuẫn, ức chế ngầm cho những đứa trẻ bởi sự mất bình đẳng, thiếu tôn trọng ,là mầm mống của những cuộc chống đối, xung đột trong gia đình , nhà trường và rộng hơn là những cuộc bạo động, những cuộc biểu tình hay các cuộc cách mạng lật đổ chính quyền trong toàn xã hội.
 Thật ngu xuẩn khi nghĩ rằng tất cả những giáo lý nào của người xưa để lại cũng đều đúng hết, khi ngay cả Viện Khổng Tử ở New York đã bị tẩy chay và buộc phải đóng cửa trong năm qua.

Tôi nhớ câu chuyện ầm ĩ  trong giới ngoại giao Nga - Hà Lan năm ngoái, khi cảnh sát Hà Lan bắt vô tù một vị tham tán Nga vì tội đánh con khi say rượu và bị hàng xóm báo cảnh sát. Và ngài Putin, cho dù cãi chày cãi cối rằng văn hóa Nga thì cha đánh con để dạy con như thế là bình thường nhưng cuối cùng vẫn phải thua lý lẽ của một nước bình đẳng, dân chủ hơn nên đã phải triệu tập cán bộ ngoại giao của mình về nước. Thế mới biết nước lớn chưa hẳn đã văn minh bằng nước nhỏ và lý lẽ của kẻ bé nhưng đúng thì bao giờ cũng thắng…. Và người lớn, sếp lớn chưa hẳn bao giờ cũng đúng, cũng như cha mẹ, thầy cô giáo hay chính quyền cũng cần phải lắng nghe ý kiến con, dân.

Còn về sự học. Hãy cho những thiên thần của mình thấy đi học là vui vẻ, là thích thú chứ không phải là địa ngục. Trẻ con Hà Lan luôn có nụ cười cả ở trên lớp và ở nhà bởi chúng không bị áp lực học hành thi cử và thành tích. Chúng học theo đúng khả năng và không ai ép buộc chúng học hết tiểu học xóa nạn mù chữ, làm toán đơn giản là phải lên cấp hai, cấp ba rồi vào Đại học. Tùy trình độ nhận thức và sự thông minh, những đứa trẻ bắt buộc phải học hết tiểu học thôi còn sau đó chúng sẽ được đưa vào những ngôi trường hướng nghiệp để được đào tạo nắm vững một cái nghề nào đó phù hợp với khả năng của mình. Một năm những thiên thần Hà Lan có gần chục kỳ nghỉ dài ngắn khác nhau.

Hãy nhìn ra xung quanh và tự đặt câu hỏi : tại sao trong một lớp học các thầy cô luôn chỉ yêu mến những đứa trẻ học giỏi mà luôn hắt hủi những đứa trẻ học dốt, kể cả trong một gia đình thì những đứa con học giỏi vẫn thường được phụ huynh cưng chiều hơn? Có bất công không khi mà chúng đều là những đứa trẻ chăm chỉ, cần cù như nhau?
Nhớ những ngày ở VIệt Nam nhìn ra xung quanh thấy các thầy cô ở trường rồi về nhà là các cô dì chú bác luôn thúc ép, quạt nạt, so sánh, răn đe thậm chí cả “  cho ăn roi ăn vọt”, rồi các hình phạt thời Trung cổ được áp dụng và sự học với những đứa trẻ “ hơi chậm” thật là địa ngục kinh hoàng , khốn khổ.  Cho dù chúng có cố gắng chăm chỉ học đến quên ăn quên ngủ, đến mụ người đi chăng nữa thì cũng vẫn không thể làm hài lòng các thầy cô hay các bậc phụ huynh được. Lại ren đe, lại dọa nạt, lại hình phạt bởi thi đua, bởi thành tích và bởi cả sự sĩ diện của chính các bậc phụ huynh. Chưa ai làm con số thống kê xem một năm có bao nhiêu đứa trẻ bị thần kinh hay đi tự vẫn vì áp lực học hay kết quả thi cử không tốt, nhưng tôi chắc hẳn con số này ở Việt Nam ta là không nhỏ.

Tôi có mấy đứa cháu họ người Hà Lan rất khác biệt nhau, đứa thông minh xinh đẹp, đứa hơi đần và hơi xấu. Tuy nhiên đứa hơi đần và xấu tôi chưa bao giờ thấy cha mẹ chúng so sánh, ép buộc nó phải học hành như những đứa trẻ khác. Và cậu bé cũng không bị hắt hủi ở trường vì học dốt, chứ không như cháu họ tôi ở Việt Nam rất ngoan, chăm chỉ nhưng học vẫn dốt và luôn bị làm mất điểm thi đua của lớp thậm chí đã bị các bạn tẩy chay ( có lẽ do các phụ huynh dậy dỗ con mình không nên chơi với những bạn học dốt ) nên dẫn đến cháu chán học rồi bỏ học. Bên Hà Lan này, ngay từ năm lớp 5 ( tức vào đầu cấp 2) các thầy cô đã tư vấn phụ huynh và sắp xếp cho các cháu “ học chậm” vào học hướng nghiệp chuyên ngành riêng mà không cần phải có một bộ óc thông minh mới học được. Cháu tôi chọn học nấu ăn. Cứ mỗi lần lũ trẻ đến nhà tôi chơi, cậu bé 12 tuổi, không đẹp, “ hơi chậm” và luôn xếp bét lớp trong những năm học tiểu học  đó lại nổi trội hơn hẳn những đứa cháu xinh đẹp thông minh khác vì tài nấu nướng và giúp tôi làm vườn rất tốt. Em chồng tôi bằng tuổi chị họ tôi và cũng không tốt nghiệp đại học mà đã được hướng nghiệp từ nhỏ để trở thành y tá cho một bệnh viện. Cô ấy có một cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc với người bạn trai thứ ba và những thú vui mà cô ấy thích. Chẳng ai phê phán cô ấy hay so sánh cô ấy với ai cả, hoàn toàn không giống như tôi đã từng thấy mọi người ở Việt Nam phê phán, mỉa mai và diếc móc chị họ tôi khi chị ấy không vào được đại học, không chồng và chỉ là một nhân viên bán hàng bình thường.  Thậm chí có lần về Việt Nam đến nhà bác chơi, tôi còn thấy chị bị bác cho “ ăn tát” chỉ vì không nghe lời bác một chuyện gì đó rất nhỏ tôi không nhớ rõ, khi đó bà chị họ tôi đã ngoài 50 tuổi mà vẫn cam chịu không dám cãi lại bác một lời.  Nhưng tôi biết, trong thâm tâm chị hận bác lắm, vì nghe lời bác mà chị đã không dám chống đối để lấy anh người yêu bác không ưng khi chị còn trẻ và cho đến tận bây giờ chị vẫn ở vậy không lấy ai là thế. Thật không thể tưởng tượng được tư tưởng “ Khổng giáo” – áp chế, phục tùng  vẫn còn ăn sâu vào gốc rễ người Việt mình đến như vậy ! Nếu có một ngày chị bỏ nhà đi hay chống đối, láo xược với bác tôi thì chắc hẳn tôi cũng sẽ không ngạc nhiên chút nào…

Mỗi con người được tạo hóa sinh ra với những bộ óc khác nhau nhưng không vì thế mà họ không được đối xửa bình đẳng như nhau. Tôi chỉ mong bác tôi hay các thầy cô giáo và người lớn chúng ta hiểu rằng cần phải dẹp bỏ những định kiến, giáo lý Khổng giáo hủ lậu và hãy yêu thương bằng những hành động yêu thương thiết thực chứ không phải bằng roi bằng vọt, bằng áp đặt, diếc móc và hành hạ, rằng chỉ có tình thương yêu và sự tôn trọng bình đẳng mới là phương cách giáo dục tốt nhất.  Rằng cần thay đổi tư duy : chỉ có con đường học đại học mới có tương lai mà các con rất cần người lớn chúng ta tìm hiểu thế mạnh sở thích và hướng cho lũ trẻ “ học chậm” ngay từ nhỏ một nghề mà chúng có thể tự nuôi sống bản thân và cả gia đình tương lai của chúng sau này.

 Con dân hay những đứa trẻ đều sẽ là những thiên thần nếu chúng ta- những người lớn biết nâng niu trân trọng và đối xử bình đẳng với chúng. Hãy bình đẳng với các thiên thần và giáo dục để cho chúng có tiếng nói riêng của mình ngay từ khi chúng còn bé, chứ đừng để chúng sợ cha mẹ như sợ cọp, sợ các thầy cô giáo như sợ đao phủ và nhìn sếp hay chính quyền như những kẻ sát nhân.
Thay đổi tư duy trong giáo dục thì chúng ta mới mong thay đổi tương lai một đứa trẻ, một gia đình và một xã hội.

Đạo diễn Nguyễn Hải Anh từ Hà Lan 
25/11/2014
Xem thêm…

Con Người Tự Do

06:40 |


Tin mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Luca ( Lc 21, 25-28)
25 “Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét. 26 Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển. 27 Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. 28 Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc.”

Suy niệm

Chúng ta đang sống trong những ngày cuối cùng của năm phụng vụ. Tin mừng hôm nay cũng cho chúng ta thấy cảnh tượng của ngày sau cùng, ngày chung thẩm, ngày Chúa quang lâm. 

Ngày Chúa đến không phải là một điều gì đó quá đỗi bất ngờ nhưng luôn có sự báo trước. Kẻ không biết thường lo lắng bất an. Kẻ biết và đọc ra dấu chỉ báo trước ngày chung thẩm sẽ rất đỗi vui mừng và tự do. Vì là người vui mừng và tự do nên họ sẽ đứng thẳng và ngẩng cao đầu. Đó là tư thế của con người luôn sẵn sàng, tư thế của người chiến thắng. Đối với chúng ta, tư thế của kẻ chiến thắng chính là tâm thế của kẻ trung kiên đi đến cùng con đường đức tin, con đường cứu chuộc. Chiến thắng của chúng ta chính là được cứu chuộc hay nói cách khác, chúng ta có Thiên Chúa nơi mình, trong mình nên chúng ta là những con người tự do.

Thánh Martino, đấng mà hôm nay chúng ta tập trung nơi đây để cầu khẩn cũng là con người tự do như thế. Martino luôn đủ tự do để yêu thương. Thứ tự do của tình yêu đã làm cho người hóa ra không và gần gũi với con người và vạn vật. Đối với người, con người là anh em, vạn vật là người bạn thân thương và Thiên Chúa là Cha nhân hậu. Chính thứ tự do của tình yêu mà thánh nhân trải nghiệm giúp cho ngài, ngoài việc chuyện trò, bày tỏ tình yêu đối với Thiên Chúa, lòng thương yêu với con người còn có khả năng yêu thương và thấu cảm được sự gần gũi của vạn vật. Ước gì chúng ta có được tự do trong tình yêu của Martino, để tâm hồn và thân xác ta luôn được tự do và bình an trong mọi cảnh huống cuộc đời.

Lạy thánh Martino, xin cầu cho chúng con là những người lư khách về nhà Cha. Xin hãy giúp chúng con luôn có tự do để yêu thương anh chị em, đặc biệt những người anh em xung quanh mình.
Xem thêm…

Thứ Năm sau Chúa nhật XXXIV Thường Niên

04:57 |


Bài đọc xem tại đây: KCMN

Bài trích sách Khải huyền của thánh Gio-an tông đồ.

Kh 18,1-2.21-23 ; 19,1-3.9a
 
 18 1 Tôi là Gio-an, tôi thấy một thiên thần từ trời xuống, với quyền hành rộng lớn, và vinh quang người làm cho mặt đất rực sáng. 2 Người lên tiếng hô mạnh mẽ : “Sụp đổ rồi, sụp đổ rồi, thành Ba-by-lon vĩ đại ! Nó đã trở nên sào huyệt của ma quỷ, hang ổ của mọi thứ thần ô uế, hang ổ của mọi thứ chim chóc ô uế và đáng ghét.”
21 Bấy giờ một thiên thần dũng mãnh nhắc một tảng đá to như chiếc cối xay lớn mà ném xuống biển và nói :
“Ba-by-lon, thành vĩ đại, sẽ bị thẳng tay ném đi như thế đó,
và người ta sẽ chẳng bao giờ còn tìm thấy nó nữa !
22 Trong thành ngươi, sẽ chẳng bao giờ còn nghe
tiếng nhạc sĩ gảy đàn, ca hát, thổi sáo và thổi kèn.
Trong thành ngươi, sẽ chẳng bao giờ còn thấy
thợ thủ công thuộc mọi ngành nghề.
Trong thành ngươi, sẽ chẳng bao giờ còn nghe
tiếng cối xay bột nữa.
23 Trong thành ngươi, sẽ chẳng bao giờ còn thấy
ánh sáng đèn chiếu rọi.
Trong thành ngươi, sẽ chẳng bao giờ còn nghe
tiếng cô dâu chú rể.
Bởi vì các con buôn của ngươi
từng là kẻ quyền thế trên mặt đất,
bởi vì ngươi đã dùng phù phép
mà làm cho muôn nước mê hoặc.”
19 1 Sau đó, tôi nghe như có tiếng hô lớn của đoàn người đông đảo ở trên trời vang lên :
“Ha-lê-lui-a !
Thiên Chúa ta thờ là Đấng cứu độ,
Đấng vinh hiển uy quyền !
2 Những lời Người phán quyết
đều chân thật công minh !
Vì Người đã xét xử Con Điếm khét tiếng
từng dùng chuyện gian dâm
mà làm cho mặt đất ra hư hỏng,
và Người đã bắt nó
phải đền nợ máu các tôi tớ của Người
mà chính tay nó đã giết.”
3 Lần thứ hai họ lại hô : “Ha-lê-lui-a ! Khói lửa thiêu nó cứ bốc lên đời đời kiếp kiếp !”
9a Thiên thần bảo tôi : “Hãy viết : Hạnh phúc thay kẻ được mời đến dự tiệc cưới Con Chiên !”

Đáp ca    Tv 99,1-2.3.4.5 (Đ. Kh 19,9a)

Đ. Hạnh phúc thay kẻ được mời đến dự tiệc cưới Con Chiên.
 
1 Hãy tung hô Chúa, hỡi toàn thể địa cầu,
2 phụng thờ Chúa với niềm hoan hỷ,
vào trước thánh nhan Người giữa tiếng hò reo.

Đ. Hạnh phúc thay kẻ được mời đến dự tiệc cưới Con Chiên.
 
3 Hãy nhìn nhận Chúa là Thượng Đế,
chính Người dựng nên ta, ta thuộc về Người,
ta là dân Người, là đoàn chiên Người dẫn dắt.

Đ. Hạnh phúc thay kẻ được mời đến dự tiệc cưới Con Chiên.

4 Hãy vào cửa thánh điện cất tiếng tạ ơn,
tới khuôn viên đền vàng dâng lời ca ngợi,
tạ ơn Chúa và chúc tụng danh Người.

Đ. Hạnh phúc thay kẻ được mời đến dự tiệc cưới Con Chiên.

5 Bởi vì Chúa nhân hậu,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,
qua bao thế hệ, vẫn một niềm thành tín.

Đ. Hạnh phúc thay kẻ được mời đến dự tiệc cưới Con Chiên.


Tung hô Tin Mừng Lc 21,28

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc. Ha-lê-lui-a.

  Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.  Lc 21,20-28

20 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Khi anh em thấy thành Giê-ru-sa-lem bị các đạo binh vây hãm, bấy giờ anh em hãy biết rằng đã gần đến ngày khốc hại của thành. 21 Bấy giờ, ai ở miền Giu-đê, hãy trốn lên núi ; ai ở trong thành, hãy bỏ đi nơi khác ; ai ở vùng quê, thì chớ vào thành. 22 Thật vậy, đó sẽ là những ngày báo oán, ngày mà tất cả những gì đã chép trong Kinh Thánh sẽ được ứng nghiệm. 23 Khốn thay những người mang thai và những người đang cho con bú trong những ngày đó !

“Vì sẽ có cơn khốn khổ cùng cực trên đất này, và cơn thịnh nộ sẽ giáng xuống dân này. 24 Họ sẽ ngã gục dưới lưỡi gươm, sẽ bị đày đi khắp các dân các nước, và Giê-ru-sa-lem sẽ bị dân ngoại giày xéo, cho đến khi mãn thời của dân ngoại.

25 “Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét. 26 Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển. 27 Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. 28 Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc.”

Suy niệm

Đức Giêsu báo trước việc trở lại trong ngày cánh chung với những dấu hiệu báo trước. Những dấu này khiến con người sợ hãi nhưng chính Người lại mời gọi môn sinh hãy đứng thẳng và ngẩng đầu vì biết là ngày mình được cứu. Đó là tâm thế của một con người tự do. Tự do vì biết trước ngày này sẽ đến. Tự do vì biết và tin mình sẽ được cứu. Tự do của những con người tự do trước mọi biến cố cuộc đời.
 
Lạy Chúa! Xin hãy biến chúng con thành những con người tự do và sẵn sàng như ý Chúa muốn! Amen.
Xem thêm…

Giáo Hội Việt Nam trong sóng gió chính trị

02:23 |

Lm Nguyễn Trọng Viễn, OP

Quả thật, chính trị là một lãnh vực thách thức nhất đối với nhà đạo đức, đối với tôn giáo nói chung và đặc biệt là đối đức tin Kitô giáo. Bước vào “sân khách” của thế giới chính trị, niềm tin Kitô giáo có còn đủ khả năng để chơi theo phong cách đức Tin của mình không? Chẳng những các nhà chính trị chuyên nghiệp dễ dàng bán mình cho Satan, nhưng tính cách chính trị còn dễ dàng biến những con người thành tâm thiện chí trở thành những kẻ vô tình tăng thêm sức mạnh cho những thế lực mưu mẹo gian manh.

Giáo Hội Việt Nam đang trải qua một giai đoạn khó khăn, khó khăn trong lòng tin của người tín hữu đối với tình trạng chia rẽ trong lòng Giáo Hội nói chung, và khó khăn trong việc bổ nhiệm các đấng bậc trong hàng giáo phẩm… Điều cần ghi nhận là cơn khủng hoảng này xẩy ra đúng vào thời điểm mừng Năm Thánh 2010, dịp kỷ niệm 350 năm thiết lập Giáo Hội tại Việt Nam, và 50 năm thiết lập Hàng Giáo Phẩm. Ghi nhận một sự trùng hợp như thế có lẽ có thể giúp chúng ta dễ dàng hơn để nhận ra một ý nghĩa nào đó trong bình diện đức Tin.

Phải chăng những khủng hoảng hiện nay, trước tiên, cho thấy những lỗ hổng vốn có trong lòng Giáo Hội Việt Nam? Phải chăng những khó khăn trước mắt chính là một thử thách cần thiết để Giáo Hội Việt Nam trưởng thành hơn? Phải chăng những khủng hoảng trong niềm tin và trong sự hiệp nhất như hiện nay lại chính là cơ may để Giáo Hội Việt Nam có thể lột bỏ một thái độ sống đức tin còn quá nặng hình thức và lễ nghĩa? Phải chăng để có thể bước vào một khởi đầu mới của giai đoạn trưởng thành, Giáo Hội Việt Nam cần nhận ra những đòi hỏi mãnh liệt hơn, những thôi thúc toàn diện hơn của Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô, trong sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần?

Chúng ta có thể chấp nhận lối nhìn của đức Tin như thế trước những vấn đề sôi bỏng trong hiện tình của Giáo Hội Việt Nam, vì chính thánh Phaolô cũng đã nói: “Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người, tức là cho những kẻ được Người kêu gọi theo như ý Người định” (Rm 8,28).

Nhưng đâu là những đầu mối để chúng ta có thể nhận ra đây là một sự khủng hoảng để trưởng thành? Đâu là một chút ánh sáng để chúng ta có thể thuận theo sự hướng dẫn của Thánh Thần Chúa, để thánh ý Chúa được thực hiện một cách tốt đẹp hơn?

Hình như Giáo Hội Việt Nam hiện nay đang phải đối diện trước những tình huống mà trò đời của chính trị, cách này cách khác, đã len lỏi vào. Tính cách ít nhiều có tính chính trị trong các biến cố hiện nay đã làm cho Giáo Hội Việt Nam, xưa nay vốn sống êm ả trong thế giới linh thiêng, trở nên lúng túng. Những giá trị Tin Mừng, xưa nay được suy diễn theo những ý nghĩa đạo đức thiêng liêng, bây giờ hình như không giúp gì được mấy cho người tín hữu để phân định phải trái. Cuộc chiến đấu chống lại Satan không còn minh bạch trắng đen rõ ràng. Đây là lúc người tín hữu không phải chỉ sống sự đơn sơ như chim bồ câu, nhưng còn phải tìm thấy một sự khôn ngoan của con rắn: “Này, Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói. Vậy anh em phải khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu” (Mt 10,16).

Quả thật, đời sống đức Tin của Giáo Hội Việt Nam nói chung lâu nay thường bị gói gọn trong những vấn đề thuần túy thiêng liêng; người giáo dân ít nhận ra “sứ mệnh trần thế” như một thúc bách của chính niềm tin; các giáo sĩ thường không có khả năng hướng dẫn giáo dân sống đức tin, thể hiện đức tin trong lãnh vực trần thế. Do đó, khi bước ra khỏi “nhà thờ”, khi đụng vào những chuyện trần thế, cả giáo sĩ và giáo dân đều dễ dàng rơi vào những thái độ, những lập trường hoàn toàn trần tục như một người không có đức tin. Trong những biến động hiện nay, có lẽ có nhiều lập trường, thật ra, chỉ là bộc lộ một khiếm khuyết của một đời sống đức tin vốn bị tách rời khỏi môi trường sinh hoạt trần thế.

1. Ý nghĩa đích thực của niềm tin

Đức tin Kitô giáo không phải là chuyện trên mây, nhưng là một sự dấn thân vào lịch sử trần thế, để biến lịch sử ấy thành lịch sử ơn cứu độ. Do Thái Kitô giáo là tôn giáo mặc khải, nghĩa là đón nhận giáo lý từ trời cao; nhưng giáo huấn ấy lại cần được thể hiện trong cuộc sống đời thường, làm nên một thứ hoa trái riêng biệt của Kinh Thánh, đó là “lịch sử ơn cứu độ”. Truyền thống Kinh Thánh vốn mang nét căn bản là tính lịch sử, nghĩa là một thái độ của niềm tin được thể hiện, được minh chứng một cách cụ thể trong chính chiều kích lịch sử, trong những bước thăng trầm của cuộc đời. Bởi vì Thiên Chúa cứu độ của Ngài không phải bằng đường lối kéo lôi con người ra khỏi đời sống thường ngày, Thiên Chúa không đưa con người vào việc kết hiệp với Ngài như một huyền nhiệm cao xa, trong một thứ xuất thần nào đó; nhưng Thiên Chúa đã thực hiện lời hứa cứu độ, một cách chính yếu, bằng cách đi vào lịch sử, đồng hành với con người trong dòng đời, và giúp con người hoàn thành cuộc đời trần thế của mình trên bình diện siêu nhiên. Nếu Thiên Chúa có ban cho ai đó những hồng ân cao cả trong việc kết hiệp xuất thần với Ngài; nếu ai đó, được hân hoan nhìn thấy tỏ tường vinh quang Thiên Chúa trên “núi Tabor”, thì mục tiêu của hồng ân ấy cũng là để người ấy “xuống núi”, đi vào hành trình trần gian, giống như Phêrô, Giacôbê và Gioan được mời gọi xuống núi để đi lên Giêrusalem, chịu khổ nạn cùng với Chúa Giêsu.

“Lời hứa cứu độ” của Thiên Chúa chính là một bảo đảm để con người có thể sống thái độ “trung tín” với Chúa trên hành trình cuộc đời. Hai chiều kích ấy luôn gắn liền mật thiết với nhau. Lời hứa cứu độ từ trời cao là nguồn mạch giúp con trung thành với “mặt đất”; và chính lòng trung tín với Chúa trong hành trình cuộc đời biểu lộ một cách chính xác nhất lòng tin tưởng của người tín hữu vào lời hứa cứu độ của Thiên Chúa.

Do đó, đức tin, theo Kinh Thánh, thiết yếu là tin vào sự can thiệp của Chúa vào lich sử đời mình, và biến đời mình thành một lịch sử ơn cứu độ. Thái độ căn bản của người Dân Chúa, không phải là một lòng đạo đức tự nó là tốt, cũng không phải là một tư cách hay một trình độ tôn giáo cao vời, nhưng trước tiên và căn bản hơn hết chính là lòng trung tín với Chúa, trung tín với giới luật của Chúa trong đời sống thường ngày và trung tín với các giải pháp của Chúa trong những lựa chọn quyết định của lịch sử. Người ta có thể thấy một sự trung tín của Hôsê ngay trong những giải pháp của đời sống vợ chồng, một lòng tin được thể hiện “trên giường ngủ”; hoặc một thứ “chính trị của niềm tin” nơi Isaia.

Sách Thánh nói Dân Do Thái là một dân cứng lòng. Điều đó có lẽ không phải chỉ do tâm tính của một dân tộc vốn thích ngang ngạnh, nhưng đúng hơn là do họ đứng trước một sứ mệnh “không giống ai”, sứ mệnh sống niềm tin, đón nhận những chỉ dẫn của niềm tin nhiều khi trái ngược với lối suy nghĩ khôn ngoan đời thường. Chính vì vậy mà Dân đã thường giết các ngôn sứ... Sống đức tin tức là đón nhận sự hiện diện của Chúa, nhận ra Thiên Chúa đang đồng hành trong lịch sử đời mình. Đời sống đức tin là một lịch sử ơn cứu độ, điều đó có cũng có nghĩa là niềm tin chân chính luôn phải là một niềm tin được thể hiện cụ thể trong “hành động”, trong dòng đời, trong ý nghĩa toàn vẹn của một cuộc đời.

Sứ mệnh của Giáo Hội hiện nay cũng thế, đó không phải chỉ là gìn giữ một thế giới tôn giáo, nhưng chính là trở nên men để biến lịch sử nhân loại trở thành lịch sử ơn cứu độ toàn vẹn của Thiên Chúa. Giáo Hội cũng cần phải dấn thân vào thế giới chính trị, nhưng dĩ nhiên là không phải với tư cách một thế lực chính trị, mà như một kẻ mang nặng sứ mệnh với cuộc đời.

2. Thế giới chính trị

Quả thật, thế giới chính trị là môi trường khó khăn nhất trong việc phân định được một thái độ của Tin Mừng. Từ thời Machiavelli (1469-1527), người được coi như nhà sáng lập môn chính trị học, cho đến nay, càng ngày người ta càng nhận ra rằng con đường của thứ “chính trị kiểu Machiavelli” là điều mà gần như không nhà chính trị nào có thể tránh được. Ngay trong tư tưởng của Machiavelli, người ta đã thấy có một sự giằng co không thể hóa giải. Tác phẩm làm cho tên tuổi của ông trở thành “bất tử” chính là tác phẩm “Ông Hoàng” (xuất bản 1532, sau khi ông qua đời) trong đó tác giả đề cao một thứ chính trị, nói nhẹ là một thứ chủ trương phi đạo đức trong chính trị, nói nặng ra là một thứ chính trị mưu mô, thủ đoạn, dối trá, bất nhân, tàn bạo… Thế nhưng người ta quên rằng tác phẩm lớn nhất của Machiavelli lại chính là cuốn “Những Bài Nói Chuyện” (Discourses), được xuất bản cùng năm với cuốn Ông Hoàng. Trong tác phẩm “Những Bài Nói Chuyện”, Machiavelli lại trình bầy một quan điểm chính trị khác hẳn: ông tin tưởng vào lý tưởng cộng hoà; ông cho rằng một chính phủ tốt là chính phủ hoà hợp được các nguyên tắc cai trị của hai thể chế, dân chủ và quân chủ. Không nhà cầm quyền nào được an ổn nếu không giành được sự ủng hộ của dân chúng. Quốc gia vững bền hơn hết là những quốc gia có vua cai trị những lại có hiến pháp hạn chế nhà vua; Ông không đồng ý câu phương ngôn cổ “Xây dựng trên dân chúng là xây dựng trên cát”… Nhận định về hai lập trường khác biệt trong hai tác phẩm ấy, người ta cho rằng tác phẩm “Những Bài Nói Chuyện” diễn tả những điều ông mong ước, còn tác phẩm “Ông Hoàng” lại là những suy tính về một giải pháp hữu hiệu cho điều đang diễn ra trong thực tế. Nếu những suy luận ấy là đúng, thì chúng ta cũng hiểu ra nỗi khó khăn thực sự trong việc hòa hợp giữa chính trị và đạo đức, hoặc giữa chính trị và tôn giáo. Vì thế, ông tổ của ngành chính trị đã phải gác lại mơ ước của mình, dù là mơ ước lớn, để chiều theo một đường lối chính trị hữu hiệu trước mắt. Mặc dù người ta nhận thấy tấm lòng thật sự của Machiavelli là một con người yêu nước, nhưng chính ông cũng đành phải chọn đường lối của Satan (Ở Anh quốc, vào thế kỷ XVII, thuật ngữ “Gìa Nick” thường được dùng lẫn lộn để bổ nghĩa cho hai danh tử riêng là Machiavelli và Satan).

Quả thật, chính trị là một lãnh vực thách thức nhất đối với nhà đạo đức, đối với tôn giáo nói chung, và đặc biệt là đối đức tin Kitô giáo. Bước vào “sân khách” của thế giới chính trị, niềm tin Kitô giáo có còn đủ khả năng để chơi theo phong cách đức Tin của mình không? Chẳng những các nhà chính trị chuyên nghiệp dễ dàng bán mình cho Satan, nhưng tính cách chính trị còn dễ dàng biến những con người thành tâm thiện chí trở thành những kẻ vô tình tăng thêm sức mạnh cho những thế lực mưu mẹo gian manh. Bước vào những sinh hoạt ít nhiều có tính chính trị, người nào “non tay” sẽ thường bị giật giây, bị lèo lái, bị lợi dụng. Khi đó, đang khi người ấy tưởng rằng mình đấu tranh cho mục tiêu chân chính này, thì thực sự ra người đó lại trở thành tay sai cho một thế lực nào khác để phục vụ cho một mục tiêu khác. Trong tình hình ấy, thường chính đám đông là những con mồi, những con dê tế thần, những người dễ bị xúi dục nhất, bởi vì đám đông thường có những phản ứng bộc phát tức thời; trong khi những con “cáo già” trong chính trị lại là những người đã có sẵn những mưu lược và họ điều khiển người khác như những con bài trong bàn cờ chính trị.

3. Đức Giêsu hiền hậu

Chúa Giêsu tự nhận Ngài có lòng hiền hậu: "Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường" (Mt 11, 29). Thế nhưng, ta có thể thấy ngay trong Tin Mừng, hình như Đức Giêsu không phải là mẫu người hiền lành như người ta tưởng. Ngôn từ của Ngài mạnh mẽ như Đấng có uy quyền: “Khi Đức Giê-su giảng dạy những điều ấy xong, dân chúng sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư của họ” (Mt 7, 28-29); Đức Giêsu la mắng những người Biệt Phái và các Kinh sư nặng lời (Xc. Mt. 23, 13-36); Đức Giêsu vào Đền Thờ, Ngài và xô đẩy, đánh đuổi những con buôn trong đền thờ (Xc. Ga 2,13-17); rồi trong cuộc tử nạn, khi quân lính đánh Chúa vì câu trả lời của Chúa với vị thượng tế, Ngài cũng thẳng thắn chất vấn: “… sao anh lại đánh tôi” (Ga 18,23).
Có lẽ chúng ta thấy Chúa Giêsu không phải là một con người hiền từ theo nghĩa tâm lý, Ngài không phải là một người để mặc cho người khác làm sao cũng được; Ngài cũng không phải là một nhân vật siêu thoát, quân tử, theo kiểu không thèm đếm xỉa đến những điều người ta xúc phạm, hoặc đối xử bất công với mình. Chúa Giêsu dấn thân vào cuộc đấu tranh, Chúa Giêsu mạnh mẽ tố cáo những điều sai lạc, Chúa Giêsu không “hiền lành” như một cục bột, hoặc như một người nhẫn nhịn, chịu đựng giỏi. Sự hiền lành của Chúa Giêsu, một cách căn bản, cũng không phải là một phẩm tính luân lý do tu luyện, như khả năng nhẫn nhịn và chịu đựng, để làm đẹp thêm cho nhân cách một con người.

Sự hiền hậu của Chúa Giêsu nằm ở một bình diện khác, bình diện thực chất của ơn cứu độ. Khi Isaia tiên báo về Người Tôi Trung của Giavê với những phẩm tính như: “Nó không kêu to, không nói lớn, không để ai nghe tiếng giữa phố phường” (Is 42,2), thì chắc chắn đó không phải là một hình ảnh hiểu theo nghĩa đen, nhưng là một cách thức đấu tranh cho công lý không bằng sức mạnh của nhân loại: “Nó sẽ làm sáng tỏ công lý trước muôn dân (…). Nó sẽ trung thành làm sáng tỏ công lý. Nó không yếu hèn, không chịu phục, cho đến khi thiết lập công lý trên địa cầu” (Is, 42,1.2-3).

Chúa Giêsu hiền hậu, vì sau khi đã tức giận đánh đuổi con buôn ra khỏi đền thờ, Ngài lại nói: "Các ông cứ phá huỷ Đền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại"; và “… Đền Thờ Đức Giê-su muốn nói ở đây là chính thân thể Người” (Ga 2,19.21). Chúa Giêsu hiền hậu, vì Ngài không muốn dùng phương thức bạo lực để chống lại bạo lực, Ngài không muốn tiêu diệt những kẻ chống lại Ngài, nhưng lại muốn mời gọi họ trở về đường ngay nẻo chính, và dùng sự hy sinh chính bản thân mình để mang lại ơn cứu độ cho con người: “Đức Giê-su nói với ông Phê-rô: "Hãy xỏ gươm vào bao. Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống?" (Ga 18,11). Chúa Giêsu hiền hậu, Ngài đã trở nên như con chiên, không phải vì con chiên không mở miệng kêu ca, nhưng chính vì Ngài là Chiên Thiên Chúa, con chiên dám tự nguyện chấp nhận cái chết, dám hiến mình là của lễ mang lại ơn cứu độ cho con người. Chính trên thập giá, Chúa Giêsu thực sự tỏ mình ra “Đây là Vua Dân Do Thái” (Ga 23,38).

Có lẽ đường lối của Chúa Giêsu có thể giúp cho người Kitô hữu Việt Nam nói chung biết tìm ra cách ứng xử trong bóng tối đầy tính chính trị hiện nay. Cuộc đấu tranh cho công lý, theo đường lối của Chúa Giêsu, không phải chỉ là một cuộc tranh cãi, hay đấu tranh trên bề mặt của những sự kiện. Cũng như Chúa Giêsu, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam có thể và cần phải lên tiếng, cần phải đấu tranh, và cần phải trách mắng nữa… Thế nhưng, thực chất của ơn cứu độ lại diễn ra ở tầng sâu hơn, nơi đó Giáo Hội không thể nào chỉ muốn thấy những chiến thắng và vinh quang, nhưng phải dám chấp nhận trở thành hy lễ. Để thiết lập được công lý, không thể nào không có hy sinh, không thể nào không có những con người dám chấp nhận chết đi, đánh mất mình đi vì yêu thương người khác. Trong “bàn cờ chính trị của Nước Trời”, một Đức Giêsu bị kết án theo luật pháp, lại chính là vua, là thẩm phán để xét xử thế giới theo tiêu chuẩn của tình yêu. Đó là phương cách đấu tranh của sức mạnh cứu độ đối với sự gian manh của chính trị.

Kết

Quả thật, bước vào thế giới chính trị, thế giới chính trị như một thế lực lớn nhất của nước thế gian, người ta thấy rằng những đức tính luân lý, những giá trị nhân sinh, những thứ chân lý của lý luận, những suy tính chiến thuật khôn ngoan, hợp lý, những đòi hỏi công bằng và công lý chính đáng nhất của con người… hình như không còn đủ đẳng cấp để đấu tranh nữa. Thế giới chính trị ma manh, quỉ quyệt có thể lợi dụng tất cả, hóa giải tất cả, làm biến chất tất cả… Chúa Giêsu thi hành sứ vụ công khai trong một bầu khí chính trị đặc biệt của vùng đất Palestin, và Ngài bị kết án như một kẻ có nguy cơ làm xoay chuyển tình hình chính trị:

“Vậy các thượng tế và các người Pha-ri-sêu triệu tập Thượng Hội Đồng và nói: "Chúng ta phải làm gì đây? Người này làm nhiều dấu lạ. Nếu chúng ta cứ để ông ấy tiếp tục, mọi người sẽ tin vào ông ấy, rồi người Rô-ma sẽ đến phá huỷ cả nơi thánh của ta lẫn dân tộc ta." Một người trong Thượng Hội Đồng tên là Cai-pha, làm thượng tế năm ấy, nói rằng: "Các ông không hiểu gì cả, các ông cũng chẳng nghĩ đến điều lợi cho các ông là: thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt" (Ga 11, 47-50).

Tình hình chính trị như thế chắc chắn sẽ xô đẩy Chúa Giêsu đến cái chết. Chúa Giêsu biết rõ điều đó, nhưng Ngài không rút lui, không né tránh; Ngài lao mình vào bằng cả sự sống của bản thân Ngài. Đức Giêsu đi vào tình hình chính trị bằng một sức mạnh quá chênh lệch, xét theo tiêu chuẩn trần gian. Nhưng thật ra, Ngài đã đương đầu với mâu thuẫn chính trị bằng thực tại cứu độ. Chỉ có tôn giáo cứu độ mới có thể hóa giải được mâu thuẫn chính trị.

Chỉ có Nước Thiên Chúa mới có thể đương đầu với thế giới chính trị như kẻ cầm đầu Nước thế gian. Nếu Kitô giáo đánh mất mình trong sinh hoạt chính trị, nghĩa là chơi trên sân khách theo phong cách của đội khách, thì phần thua sẽ là phần chắc. Ngược lại, nếu trung tín với Chúa Giêsu, ta hiểu rằng, sự chiến thắng của Nước Chúa, như lời Chúa khẳng định: “Thầy nói với anh em những điều ấy, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian" (Ga 16,33); sự chiến thắng ấy không nằm trong bình diện những sự việc trần thế, nhưng chính là vận hành của ơn cứu độ đang lớn lên trên quê hương đất Nước Việt Nam.
Nguồn: daminhvn.net
Xem thêm…

Copyright ©THT - Được biên soạn và sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau - Ghi rõ nguồn:quatangsusong.blogspot.com/ - Khi phát hành thông tin trên trang này
Gx Đaminh | Namkna | Trung Tâm Học Vấn Đaminh | Kho tài liệu hay |