Về cái tôi của những người dẫn chương trình của VTV
01:46 |
TRẦN DƯƠNG
Nói
cho cùng, khi bàn về quyền con người, cần phải thừa nhận cả những cái
quyền nghe mắc cười như quyền (là người) ngu, kệch cỡm hoặc thiếu văn
hóa. Không ai có quyền thóa mạ hay chèn ép người khác chỉ vì người đó
thiếu hiểu biết. Trước pháp luật, mọi người đều bình đẳng.
Nhưng khi nói về những người làm ở
một cơ quan văn hóa tầm cỡ quốc gia như VTV thì lại là chuyện khác.
Người thiếu văn hóa có quyền tiếp tục sống thiếu văn hóa, nếu làm việc
bên ngoài loại cơ quan này. Còn nếu làm việc trong đó, nhất là với vai
trò người dẫn chương trình, thường xuyên xuất hiện trên màn hình TV, mà
vẫn muốn tiếp tục lối sống thiếu văn hóa, thì đáng ra phải bị loại bỏ
khỏi nơi đó. Vì sao cần loại bỏ? Vì cơ quan như VTV là cơ quan truyền
thông nhà nước, duy trì hoạt động bằng tiền thuế của dân. Dù cơ quan này
có kết hợp làm kinh tế thì cũng phải dùng những máy móc thiết bị vô
cùng đắt tiền, được mua về bằng tiền thuế của dân, và những người “làm
kinh tế” này làm việc đó trong khi ăn lương bằng tiền thuế của dân. Hàng
chục ngàn tỉ đã đổ vào đó. (Nếu có tiền đầu tư của nước ngoài thì dân
sẽ phải trả.) Một lý do nữa là những biểu hiện thiếu văn hóa ở một nơi
như vậy có tác động ghê gớm đến sự hình thành nhân cách của thế hệ trẻ
cả nước.
Nói về những cái khó chịu phải
thấy mỗi lần mở các kênh truyền hình VTV thì có lẽ phải viết hàng ngàn
trang cũng chưa đủ. Có thể tóm tắt bằng câu của một nhà văn là: “Sáu
mươi là tuổi nhĩ thuận, nhưng lỗ tai tôi nghe cái gì cũng trái, con mắt
nhìn cái gì cũng thấy có gai.”
Ở đây, chỉ xin bàn về cái “tôi”,
về chữ “tôi” vẫn thường được dùng bởi những người dẫn chương trình của
VTV, đặc biệt là VTV1 (kể cả những người đọc tin thời sự, vốn không
thích gọi mình là phát thanh viên, mà tự xưng là biên tập viên).
Khi mở chương trình tin tức của
một kênh truyền hình nước ngoài, chỉ thấy người đọc tin đọc rất khẩn
trương. Nhìn chữ mà đọc. Hết phần tin thì sang tiết mục khác. Đến phần
bình luận thời sự thì người đọc tin không còn trên màn hình nữa. Thay
vào đó là một chuyên gia nghiên cứu thời cuộc (được mời) hoặc một quan
sát viên chính trị (mời hoặc người của đài truyền hình phụ trách chuyên
mục này). Với VTV thì khác. Các chị tự xưng biên tập viên đọc tin nhưng
làm ra vẻ không cần giấy mà đang nói vo (kỳ thực là nhìn chữ trên một
màn hình đặt trước mặt), và để chứng tỏ đang “ứng khẩu”, các chị ấy
thỉnh thoảng giả về ề à hoặc nói lẫn đôi chút. Rồi đang đọc, một chị
bỗng dừng lại “tương tác” với khán giả, ví dụ hỏi: “Các bạn thấy thế
nào? Tôi thì tôi thấy thế này…” (Thú thật, những lúc như vậy, tôi thấy
kển sống lưng!)
Khi bàn về một vấn đề nóng ngoài
xã hội hoặc một vấn đề nhận thức, VTV, cũng như truyền hình các nước, tổ
chức một diễn đàn bàn tròn, mời các chuyên gia, học giả hoặc chính
khách đến để phỏng vấn và bàn bạc. Tuy nhiên, nếu ở nước ngoài, người
dẫn chương trình – thay mặt đài truyền hình – chỉ nêu câu hỏi, và cuối
buổi có thể tóm tắt vài ý (với sự nhất trí của khách mời) để tổng kết,
thì người dẫn chương trình của VTV cũng nêu ý kiến của mình như một
chuyên gia ngang hàng với khách mời, thậm chí nhiều khi thể hiện vai trò
“định hướng”. “Theo tôi thì thế này, còn ông thì thấy thế nào?” – chị
dẫn chương trình hỏi một vị khách. Nếu giỏi vậy, sao không tổ chức để
mấy người trong đài truyền hình bàn với nhau, còn phải mời chuyên gia?
Cái tôi của các anh chị dẫn
chương trình VTV còn chen vào cả những bản tin dự báo thời tiết. “Anh…
ơi, tình hình thời tiết hôm nay thế nào hả anh? Tôi thì tôi thấy rét run
rồi đó.” – người dẫn chương trình hỏi. Và người báo thời tiết hiện ra.
Anh ta không truyền đạt nội dung bản tin thời tiết, mà xuýt xoa kêu
lạnh, đọc những câu như văn tả cảnh trời rét của học trò tiểu học, rồi
tỏ ra thương khán giả bằng lời khuyên: “Tôi khuyên những người ra đường
nên mặc áo dày, đội mũ len…” Nực cười không tưởng tượng được!
Khi xưng hô và thể hiện mình như
vậy, các anh chị này đã hoàn toàn lẫn lộn vai trò và vị thế của mình.
Với tư cách người dẫn chương trình, họ có oai không? Có quan trọng
không? Có. Chắc chắn là có. Nhưng họ oai chính vì cái tôi của họ lùi
xuống bình diện thứ hai, và họ đang đại diện cho cả đài truyền hình để
phổ biến những thông tin có ích đến công chúng hoặc lấy ý kiến của các
chuyên gia. Đưa cái tôi ra trong trường hợp đó, họ sẽ chỉ trở nên nhỏ bé
và vô duyên. Làm sao trong một diễn đàn bàn về một lĩnh vực nhận thức
mang tính khoa học, họ có thể sánh ngang với các chuyên gia trong lĩnh
vực đó được!
Nói như vậy không có nghĩa là coi
người dẫn chương trình của đài truyền hình thuộc loại người thấp kém
hơn các chuyên gia. Không hề! Nếu họ giỏi nghề dẫn chương trình, thì về
mặt đó các chuyên gia về kinh tế, chính trị hay khoa học không sánh được
với họ. Mỗi lĩnh vực hoạt động đều có giá trị riêng của nó. Những người
dẫn chương trình thật sự giỏi có thể được hàng triệu người ngưỡng mộ và
tôn vinh. Nhưng đó luôn là những người tập trung toàn bộ vào công việc.
Khi họ đang dẫn chương trình, cái tôi của họ hoàn toàn bị quên bởi
chính họ. Nhưng người nghe/xem thì không thể không kính phục họ.
"Cầm, dâng, bẻ ra, và trao cho"
18:11 |
"Cầm, dâng, bẻ ra, và trao cho"
Tin mừng: Mt 14, 13-16
Hẳn
nhiều người trong số chúng ta đã từng nghe nhiều về Thánh
Martino De Porres. Khi nói về thánh nhân, người ta vẫn luôn
nghĩ tới hình ảnh về một ông thánh có nước da màu đen.
Ðây là vị Thánh rất khác những vị Thánh khác. Có người
thì nói ông hay làm phép lạ cứu giúp những người khốn
khổ và bần cùng trong xã hội. Người khác lại nói ông
có tấm lòng cao thượng. Những nhận xét trên hoàn toàn
không sai về Thánh Martino, rất đúng nhưng chưa đủ miêu tả
hết cuộc đời đầy nhân đức của Ngài. Là người môn
đệ thân thương của Thầy Chí Thánh Giêsu, Thánh Martinô đã
cố gắng họa lại hình ảnh của Ðức Kitô bằng đời sống
nhỏ bé, đơn sơ, bác ái và yêu thương của chính mình, với
một mục đích duy nhất đó là tôn vinh Thiên Chúa, và làm
con người được hạnh phúc. Vì thế mà Thánh Martino De Porres
đã trở thành hiện thân sống động của Ðức Kitô, của
lòng Chúa xót thương.
Tìm
hiểu sâu hơn về Thánh Martino De Porres, chúng ta sẽ được
chiêm ngắm một tông đồ có lòng bác ái với đầy lòng
tin. Ngay từ nhỏ đã sống không có cha, lại lớn lên trong
cảnh nô lệ nghèo đói. Nói chính xác hơn thì Ngài chính là
thành phần cùng đinh của xã hội. Tuy nhiên, Chúa đã chọn
Ngài, đóng ấn nơi Ngài một tâm hồn đức ái của cuộc
sống dâng hiến, phục vụ anh em đồng loại túng nghèo. Hơn
thế nữa, vì là hiện thân của Chúa nơi trần gian nên Ngài
đã được Chúa chọn làm khí cụ để ban phát tình yêu cho
nhân loại. Có thể nói, nơi thánh nhân hình ảnh về Ðức
Giêsu Kitô đã được tỏ rạng, đã xoa dịu được nhiều
nỗi đau, bệnh tật, và nghèo hèn.
Với
lòng thành kính, chúng ta cũng được mời gọi noi gương và
bắt chước thánh nhân, sống ơn gọi cách riêng, biết quên
mình phục vụ tha nhân, biết xoa dịu những khổ đau, biết sẻ
chia những bất hạnh và thiếu thốn đến những người anh em
bần cùng trong xã hội, để đức bác ái ấy sẽ được
Thiên Chúa trân trọng, yêu thương, và đón nhận như một
phần thưởng Nước Trời.
Phụng
vụ lời Chúa hôm nay kể cho chúng ta phép lạ hóa bánh ra
nhiều: từ năm chiếc bánh và hai con cá, Chúa Giêsu đã
hóa bánh ra nhiều cho đám dân chúng ăn no nê, ở đó có
chừng 5 ngàn người đàn ông không kể phụ nữ và trẻ em.
Có là khập khiễng chăng khi sánh ví năm chiếc bánh lúa
mạch và hai con cá so với đám đông trên năm ngàn con
người ? Có phải là Ðức Giêsu không biết làm toán cộng
!!! Chuyện kể lại rằng: sau khi "Họ ngồi xuống thành
từng đám, chỗ thì một trăm, chỗ thì năm mươi" (Mc 6,
40). Ðức Giêsu - "Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ
ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó".(Gn 6, 11).
Cả bốn Thánh sử Matthew, Macco, Luca và Gioan đều tường
thuật lại rằng: "Ai nấy đều được no nê". Một chi
tiết khiến cho mọi người đều kinh ngạc: "Người ta thu
lại những mẩu bánh được mười hai thúng đầy cùng với
cá còn dư". (Mc 6, 43).
Thật
ra thì chẳng phải là Ngài không biết làm toán cộng. Qua
biến cố này - Ðức Giêsu - Ngài muốn dạy cho chúng ta một
bài học căn bản của người môn đệ của Chúa Kitô. Với
chỉ bốn động từ: "cầm, dâng, bẻ ra, và trao cho".
Vâng, chỉ bốn động từ - Ngài đã viết cho chúng ta một
bài học - đó là bài học của "niềm tin và lòng thương
xót".
Hôm
nay - vẫn không thiếu những người: "ngồi quanh đây trán
in vết nhăn". Nhăn vì đói ăn, đói mặc và đói cả
tình yêu thương# Những vết nhăn in hằn trên trán; giống như
hình chiếc mão gai mà khi xưa quân dữ đã đội lên đầu
Ðức Giêsu để nhạo báng...
"Around
the World - 25,000 people - Die of hunger - everyday". Ðây là câu
kết của Video Clip có tựa đề: "Chicken a-la-carte". Vâng,
25,000 người chết đói mỗi ngày!! Một sự thật quá phủ
phàng!! Một thông điệp quá rõ nét...
Chúng
ta sẽ hành động như thế nào đối với thông điệp này!
Chúng ta sẽ phớt lờ "mac-ke-no" như thầy tư tế và
thầy Lêvi: "tránh qua bên kia mà đi"!! Hay chúng ta sẽ
như "người Samari thấy và chạnh lòng thương xót"!!!
(Lc 10, 31-33). Hãi hùng thay! nếu chúng ta muốn biến mình thành
ông-nhà-giàu trong dụ ngôn "ông nhà giàu và anh Lazarô"!!
"Chính
anh em hãy cho họ ăn" (Mt 14, 16). Lời dạy của Chúa Giêsu
với các tông đồ xưa cũng là lời nhắn nhủ mỗi người
tín hữu hôm nay: hãy biết nghĩ đến người khác. Từng
người, mỗi người hãy biết quan tâm lẫn nhau, đó chính là
tiếp tục thực hiện phép lạ Chúa làm: Hãy cho nhau ăn.
"Chính
anh em hãy cho họ ăn" (Mt 14, 16).Chính chúng ta chứ không
ngoài ai khác. Chúng ta có sẵn sàng trở thành "cánh tay
nối dài của Ðức Giêsu" để mà "cầm, dâng, bẻ ra
và trao cho" tha nhân là những người nghèo khó, những
người bệnh tật yếu đau, những người già không nơi nương
tựa, những trẻ em lang thang đường phố, những bà mẹ đơn
thân, "những thai nhi bị vứt bỏ ngoài đường"(thơ
Khải Triều), những em nhỏ không một lần thấy cả Mẹ lẫn
Cha???
Nếu
chúng ta sẵn sàng... Vâng, nếu chúng ta sẵn sàng thì đừng
ngần ngại mà thưa với Ðức Giêsu rằng: "Này con xin
đến để thực thi ý Ngài" (Dt 10, 9).
Lạy
Chúa,
Ngày
hôm nay, con cũng đang tiếp theo bước đi của đám đông dân
chúng ngày xưa. Nghe lời giáo huấn của Giáo Hội, đón nhận
Lời Chúa qua việc tham dự Thánh lễ, đón nhận các phép Bí
tích tức là con được Chúa cho ăn uống no nê bánh và cá.
Con còn phải biết nhận ra sứ mạng Chúa gửi đến các Tông
đồ: "hãy cho họ ăn". Chúa bẻ bánh trao cho hàng
ngàn người từ 5 chiếc bánh và 2 con cá, Chúa cũng muốn
con lặp lại những điều ấy trong cuộc đời của con. Con có
bẻ bánh từ miếng bánh con có được, có chia sẻ cho nhau,
có giúp nhau sống, đem lại niềm vui cho nhau, san sẻ nỗi buồn
của nhau, an ủi, nâng đỡ nhau thì những người đang sống
bên con mới nhận ra con đang có Chúa ở cùng.
Xin
cho con khi đón nhận Lời Chúa, con biết đem ra thực hành,
biết sống Lời Người. Xin cho con luôn biết: "tìm an ủi
người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn
được người hiểu biết, tìm yêu mến người hơn được
người mến yêu..." (Kinh hòa bình).
Chương XII SỰ VIÊN MÃN CỦA THÔNG GIAO LIÊN VỊ TRONG TÌNH TRẠNG VÔ TỘI NGUYÊN THỦY
23:00 |
Chương XII
SỰ VIÊN MÃN CỦA THÔNG GIAO LIÊN VỊ
TRONG TÌNH TRẠNG VÔ TỘI NGUYÊN THỦY
1.
Sự xấu hổ là gì và giải thích như thế nào khi nó không có mặt trong
tình trạng vô tội nguyên thủy, trong chính chiều sâu của mầu nhiệm tạo
dựng con người là nam là nữ? Từ những phân tích hiện nay về sự xấu hổ -
đặc biệt là về sự e thẹn (ngượng ngùng) trong tính dục – người ta rút ra
kinh nghiệm nền tảng phức tạp này, trong đó con người tự bộc lộ như một
nhân vị theo cấu trúc riêng của mình. Trong kinh nghiệm xấu hổ, con
người cảm thấy e sợ trước «cái mình (hay tự ngã) thứ hai» (chẳng hạn,
người nữ trước mặt người nam), điều đó tự căn bản thật ra là e sợ chính
«tự ngã» (bản thân) mình. Với sự xấu hổ, con người biểu lộ gần như “theo
bản năng” cái nhu cầu khẳng định và chấp nhận «tự ngã» này theo đúng
giá trị của nó. Con người cảm nghiệm điều ấy vừa từ bên trong mình, vừa ở
bên ngoài mình, trước mặt «tha nhân» (tức là người kia). Bởi thế, ta có
thể nói rằng xấu hổ là một kinh nghiệm phức tạp, theo nghĩa nó hầu như
đẩy một người ra xa khỏi người kia (người phụ nữ ra xa người đàn ông)
lại đồng thời cố lôi kéo hai nhân vị xích gần lại nhau, bằng cách tạo
nên một nền tảng và mức độ thích hợp để thực hiện điều đó.
Cũng bởi lí do đó, xấu hổ có một ý nghĩa nền tảng liên quan đến việc định hình cái ethos trong cuộc sống xã hội loài người, và đặc biệt là trong mối quan hệ nam-nữ. Phân tích sự xấu hổ ta thấy rõ nó đâm rễ sâu xa từ trong chính các tương quan, nó biểu lộ chính xác những qui luật thiết yếu cho sự «hiệp thông liên vị», và cũng chạm sâu tới chiều kích của «sự đơn độc» nguyên thủy của con người như thế nào. Sự «xấu hổ» xuất hiện trong trình thuật kế tiếp ở chương 3 sách Sáng thế có nhiều ý nghĩa, và chúng ta sẽ phân tích khi thuận tiện.
Thế nhưng, thuở ban đầu không có xấu hổ như St 2,25 nói: «Cả hai trần truồng mà không cảm thấy xấu hổ», điều đó có ý nghĩa gì?
2. Trước hết, cần phải xác định ở đây là thực sự không có sự xấu hổ, chứ không phải nó đã có tiềm tàng và chờ được phát triển. Dù sao đi nữa chúng ta cũng không thể cho rằng xấu hổ có một ý nghĩa nào đó tự nguyên thủy. Đoạn St 2,25 cho thấy dứt khoát không thể có trường hợp muốn ám chỉ đến một tình trạng «chưa biết xấu hổ», hoặc một sự thiếu đoan trang, và hơn nữa, càng không thể chấp nhận một lối giải thích so sánh tương tự (loại suy) với những kinh nghiệm thực tế nhân bản, chẳng hạn như kinh nghiệm tuổi thơ ấu hay cuộc sống của những dân tộc gọi là bán khai. Những kiểu loại suy như thế thì không đủ, mà thậm chí có thể còn sai lạc. Những lời lẽ của St 2,25 «họ không cảm thấy xấu hổ» không biểu lộ một ý nghĩa khiếm khuyết, nhưng ngược lại, để diễn tả một sự sung mãn đặc biệt về ý thức và kinh nghiệm, nhất là một sự hiểu biết trọn vẹn ý nghĩa của thân xác, vốn được liên kết với sự kiện «họ trần truồng».
Phần sau của trình thuật yahvit – với bối cảnh là sự xấu hổ và đặc biệt là sự e thẹn trong tính dục xuất hiện: điều đó gắn liền với sự kiện con người đánh mất tình trạng sung mãn nguyên thủy – chứng tỏ rằng đoạn văn đã trích trên phải được hiểu và chú giải như thế. Do đó, khi giả thiết kinh nghiệm xấu hổ như là kinh nghiệm «biên giới», chúng ta phải tự hỏi về ý nghĩa của sự trần truồng nguyên thủy (mà St 2,25 nói đến). Sự trần truồng nguyên thủy tương ứng với việc con người đã ý thức và kinh nghiệm trọn vẹn về ý nghĩa của thân xác tới mức nào, nhất là, con người đã hiểu hoàn toàn ý nghĩa của thân xác tới mức nào?
3. Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta cần phải luôn nhớ những gì chúng ta đã phân tích cho đến nay, trên cơ sở toàn cảnh của trình thuật yahvit. Trong bối cảnh ấy, sự đơn độc nguyên thủy của con người cho thấy bản tính của con người «không đồng nhất» với thế giới các sinh vật (animalia) đang sống quanh mình.
Sau khi được tạo dựng có nam có nữ, tình cảnh «không đồng nhất» ấy được thay thế bằng niềm hạnh phúc con người khám phá nhân tính của mình nhờ «sự trợ giúp» của tha nhân kia. Như thế, người đàn ông nhận ra và tìm thấy lại nhân tính của mình nhờ người «trợ tá» phụ nữ của mình (St 2,25). Hành động này của họ cũng đồng thời là một nhận thức thế giới được thực hiện trực tiếp qua thân xác («thịt bởi thịt tôi»). Đó là cội nguồn trực tiếp và hữu hình của kinh nghiệm tạo lập sự hợp nhất trong nhân tính của họ. Bởi thế, sự trần truồng tương ứng với ý thức trọn vẹn (viên mãn) về ý nghĩa của thân xác, hệ quả của nhận thức tiêu biểu của giác quan, là điều dễ hiểu. Người ta có thể nghĩ đến tính viên mãn này theo phạm trù chân lí của hữu thể hay của thực tại, và có thể nói rằng người đàn ông và người đàn bà tự nguyên thủy vốn được trao ban cho nhau đúng theo chân lí đó, vì «họ vốn trần truồng». Khi phân tích ý nghĩa của sự trần truồng nguyên thủy chiều kích này tuyệt đối không thể bị gạt bỏ. Việc tham dự vào nhận thức thế giới đó – với dáng vẻ «bên ngoài» của nó – là một sự kiện trực tiếp và gần như tự phát, nó có trước mọi tri thức và kinh nghiệm phức hợp mang tính «phê bình», và có vẻ liên kết chặt chẽ với kinh nghiệm về ý nghĩa của thân xác con người. Theo cách này người ta có thể hiểu sự vô tội nguyên thủy của «tri thức».
4. Tuy nhiên, người ta không thể xác định ý nghĩa của sự trần truồng nguyên thủy nếu chỉ xét đến sự tham dự của con người vào việc nhận thức thế giới bên ngoài. Không thể hiểu được ý nghĩa ấy nếu không đi vào cõi thân mật thâm sâu của con người. Đoạn St 2,25 sẽ dẫn ta vào chính tầng sâu này và muốn chúng ta tìm sự vô tội nguyên thủy của tri thức ở đó. Thật vậy, chính trong chiều kích nội tâm con người mà ta cần giải thích và lượng định mức độ viên mãn riêng của sự thông giao (comunicazione) liên vị, nhờ đó người đàn ông và người đàn bà «trần truồng mà không cảm thấy xấu hổ».
Ý niệm thông giao hay còn gọi là truyền thông này, trong ngôn ngữ thông thường của chúng ta ngày nay gần như đã bị tha hóa, được người ta hiểu khác xa với ý nghĩa nguyên sơ sâu xa nhất của nó. Đặc biệt nó liên hệ đến lãnh vực phương tiện truyền thông, nghĩa là phần lớn được hiểu như là sản phẩm phục vụ cho việc tìm hiểu, trao đổi, xích lại gần nhau. Nhưng theo nghĩa nguyên thủy và sâu xa nhất, «thông giao» vốn gắn liền trực tiếp với các chủ thể «thông truyền» với nhau ngay trên cơ sở sự «hiệp nhất đồng lòng» giữa họ với nhau, vừa nhằm đạt đến vừa nhằm diễn tả một thực tại vốn chỉ thích hợp và thuộc về bình diện của các chủ thể-ngôi vị. Như thế, thân xác con người mặc lấy một ý nghĩa hoàn toàn mới không thể chỉ dừng lại ở bình diện nhận thức «ngoại giới». Nó diễn tả một ngôi vị cụ thể, cả trên bình diện bản thể và hiện hữu, là cái gì đó còn hơn là một «cá thể», nó diễn tả một cái «tôi» nhân vị làm nền tảng bên trong cho nhận thức ngoại giới.
5. Toàn thể trình thuật kinh thánh, nhất là bản văn yahvit, cho thấy rằng thân xác, nhờ chính tính chất hữu hình của mình, biểu lộ con người. Trong khi biểu lộ con người, thân xác hoạt động như là trung gian, nghĩa là nó giúp cho người nam và người nữ «thông giao» với nhau theo sự hiệp thông liên vị mà chính Tạo Hóa đã muốn cho họ ngay từ thuở ban đầu. Xem ra chỉ có chiều kích này mới giúp ta hiểu đúng đắn nhất ý nghĩa của sự trần truồng nguyên thủy. Về vấn đề này, mọi tiêu chuẩn “duy tự nhiên”[1] (naturalistico) rốt cuộc sẽ thất bại, trái lại, tiêu chuẩn “duy nhân vị” có thể rất hữu ích. Đoạn St 2,25 chắc hẳn là nói về một điều gì đó khác thường nằm ngoài phạm vi của kinh nghiệm xấu hổ con người đã trải nghiệm, đồng thời nó cũng quyết định về sự viên mãn đặc biệt của thông giao liên vị, điều phát xuất từ chính tâm điểm của sự hiệp thông (communio) và nhờ vậy mà sự hiệp thông mới được lộ ra và triển nở. Trong mối quan hệ đó, câu nói : «họ không cảm thấy xấu hổ» có thể chỉ có ý nghĩa (gián tiếp) về một chiều sâu nguyên thủy muốn khẳng định những gì liên hệ đến nhân vị, những gì biểu lộ rõ ràng là nam là nữ, nhờ đó tạo nên «sự thân mật» của thông giao giữa hai con người với tất cả nét đơn sơ và tinh tuyền tuyệt đối của nó. Tương ứng với cái tri giác “ ngoại giới” viên mãn này, được diễn tả qua sự trần truồng thân xác, là cái nhìn “nội tâm” viên mãn về con người trong Thiên Chúa, nghĩa là theo thước đo «hình ảnh Thiên Chúa» (x. St 1,27). Theo chiều kích này, con người thật sự “là” trần truồng (St 2,25) [1], ngay cả trước khi nhận biết mình trần truồng (St 3.7-10).
Chúng ta còn phải phân tích đoạn văn quan trọng này trong những suy tư kế tiếp.
------------
[1] Theo lời Kinh Thánh nói, Thiên Chúa thấu suốt các thụ tạo, trước mặt Ngài mọi loài mọi vật đều «trần trụi»: « Trước mặt Người không có thụ tạo nào lại là u ẩn, nhưng tất cả đều trần trụi (pánta gymná) và phơi bày trước mặt Đấng mà chúng ta phải trả lẽ» (Dt 4,13). Đặc tính này đặc biệt thuộc về Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa : «Do tính thuần khiết, Đức Khôn Ngoan thâm nhập và xuyên thấu mọi vật mọi loài» (Kn 7,24).
DŨNG KHÍ DÁM QUAY ĐẦU ĐÁNH TRẢ
19:21 |
DŨNG KHÍ DÁM QUAY ĐẦU ĐÁNH TRẢ
Từ trước đến giờ, tôi luôn thích xem chương trình “thế giới động vật” trên truyền hình. Bởi kẽ rất nhiều cảnh quay tạo ấn tượng sâu sắc trong tôi.
Kênh truyền hình này phát cảnh quay một con báo hung dữ đuổi theo một con nhím. Trên thảo nguyên bao la, con nhím cố sống chết chạy ở phía trước. Con báo bám đuổi ráo riết ở ngay phía sau. Sau đó là một lần vật lộn hết sức gay cấn giữa 2 con vậy. Mặc dù, con nhím thoát chết từ miệng con báo, nhưng chân sau và lưng của nó bị con báo cào xe, chi chít những vết thương, máu chảy ròng ròng. Tôi dự đoán, con nhím 1 lát nữa thôi sẽ thành miếng mồi ngon cho con báo.
Kẻ săn mồi và con mồi tiếp tục rượt đuổi và chạy trốn. Con báo lại một lần nưa sắp cắm những chiếc móng chân sắc nhọn vào lưng con nhím. Lúc đó, một cảnh tượng khiến tôi không thể nào ngờ tới đã xuất hiện. Đang chạy tháo chân, bỗng nhiên con nhím dừng lại, xù bộ lông lên, quay ngoắt người về phía sau. Con báo cũng hoàn toàn không ngờ được tình huống này sẽ xảy ra. Đúng vào lúc con báo có chút bất ngờ, con nhím xông thẳng vào, dùng đầu nhấc bổng con báo to lớn gấp mình mấy lần. Cảnh tượng đầy kịch tính xuất hiện, con báo bị tấn công bất ngờ, nên không còn hung tợn như trước nữa. Nó cúi đầu, gầm gừ, chỉ nhìn con nhím đang muốn một sống một còn với nó bằng đôi mắt giận dữ, mà không dám liều lĩnh tiến lên phía trước.
Sau khi được nghỉ ngơi trong thời gian ngắn, con nhím lại quay đầu lại, tiếp tục chạy về phía trước. Lần này, rõ ràng con báo rượt đuổi không nhanh và quyết liệt giống như trước đây. Khi chạy đến bờ sông, con nhím không do dự nhảy xuống. Vốn là con vật bẩm sinh sợ nước, nên báo đành phải từ bỏ miếng mồi ngon này, hậm hực bỏ đi.
Tin rằng con báo cũng như rất nhiều người xem truyền hình không ngờ được kết cục này.
Trong trận quyết đấu sinh tử, là kẻ yếu, nhưng con nhím cuối cùng vẫn có thể trốn thoát, bởi lẽ, nó không chạy trốn một cách bị động, mà vào thời khắc nguy hiểm nhất, nó quay đầu lại để đối mặt với hiểm nguy.
Trong cuộc sống, ai cũng gặp phải những hố sâu của khó khăn và trở ngại mà nhất thời không thể vượt qua.Lúc đó, rất nhiều người lựa chọn chạy trốn. Thực ra, sự chạy trốn nhất thời không có gì là sai cả. Bởi lẽ trong quá trình chạy trốn có thể tran thủ tích lũy sức mạnh và tìm cách đối pho. Nhưng sai lầm thường thấy là, người ta mỗi khi chạy trốn là thường chạy trốn mãi, quên đi quay đầu lại. Khi cảm thấy tuyệt vọng trước cảnh ngộ của bản thân, đồng thời cũng đánh mất đi chút dũng khí cuối cùng.
Người Đã Chạnh Lòng Thương Họ
03:44 |
Người Đã Chạnh Lòng Thương Họ
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Marcô(Mc 6, 34 – 44 ).
34Khi
ấy ra khỏi thuyền, Đức Giê-su thấy một đám người rất đông thì chạnh
lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt. Và Người bắt
đầu dạy dỗ họ nhiều điều.35 Vì bấy giờ đã khá muộn, các môn đệ đến gần Người và thưa: "Ở đây hoang vắng và bây giờ đã khá muộn.36 Xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào thôn xóm và làng mạc chung quanh mà mua gì ăn."37
Người đáp: "Thì chính anh em hãy cho họ ăn đi! " Các ông nói với
Người: "Chúng con phải đi mua tới hai trăm quan tiền bánh mà cho họ ăn
sao? "38 Người bảo các ông: "Anh em có mấy chiếc bánh? Đi coi xem! " Khi biết rồi, các ông thưa: "Có năm chiếc bánh và hai con cá."39 Người ra lệnh cho các ông bảo mọi người ngồi thành từng nhóm trên cỏ xanh.40 Họ ngồi xuống thành từng đám, chỗ thì một trăm, chỗ thì năm mươi.41
Người cầm lấy năm chiếc bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng
lời chúc tụng, rồi bẻ bánh ra, trao cho môn đệ để các ông dọn ra cho
dân chúng. Người cũng chia hai con cá cho mọi người.42 Ai nấy đều ăn và được no nê.
Suy niệm
Đoạn
Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe hôm nay, thánh Máccô đã phác họa
chân dung Đức Giêsu nhân lành. Người nhạy cảm trước những nhu cầu của
con người. Người biết điều gì cần nhất đối với những ai đến cùng Người.
Người đã chạnh lòng thương dân chúng vì hoàn cảnh của họ
thật đáng thương. “ Họ như đàn chiên không người chăn dắt”1 Họ đi theo Người vào trong hoang địa để nghe Người giảng dạy.
Người thấu hiểu sự bơ vơ, khát khao của dân chúng. Người biết họ cần gì bây giờ, ngay lúc này. Bởi thế, “Người đã dạy họ nhiều điều”2.
Qua đó, chúng ta thấy tình yêu của Chúa thật quá bao la: Khi trời đã
về chiều, các môn đệ đề nghị Chúa giải tán đám đông để họ tìm chỗ trọ
và kiếm thức ăn. Nhưng Chúa bảo các ông: “Chính anh em hãy cho họ ăn”.3
Thật là một quan tâm đầy tình người. Sau đó Chúa đã làm một phép lạ
cả thể, hóa bánh ra nhiều để nuôi dưỡng dân chúng. Năm chiếc bánh và
hai con cá trở thành lương thực nuôi 5000 người mà vẫn còn dư mười hai
thúng miếng vụn.
Tấm
bánh được bẻ ra và trao đi, trở thành phép lạ nhân lên không ngừng.
Điều đó diễn tả ân huệ Chúa ban cho dân và cuối cùng được đưa tới ân
huệ tuyệt vời là bí tích Thánh Thể. Cử chỉ Chúa cầm bánh và cá nhìn
lên trời, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và phân phát, chính là cử chỉ Chúa
làm trong Bí tích Thánh Thể.
Đó
là chân dung Đức Giêsu yêu thương, luôn làm những gì tốt nhất cho con
người, cho tất cả những ai đến với Người. Và đó chính là chân dung vị
mục tử. Vị mục tử này được thánh Gioan họa lại một cách hết sức sinh
động và đầy đủ khi chính Chúa Giêsu nói: “ Tôi chính là mục tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống vì đoàn chiên”4 Và vị “mục tử đến cho chiên được sống và sống dồi dào”5
Ngày
nay, Chúa không còn hiện diện cách hữu hình nữa, nhưng vẫn còn đó
những cộng tác viên của Người trong tác vụ mục tử. Đó có thể là linh
mục, tu sĩ, là cha mẹ, là thầy cô giáo, là nhà hoạt động bác xã
hôi,… tất cả đều họa lại chân dung mục tử Giêsu nhân lành, khi chăm lo
nhu cầu của con người, những người được trao phó cho mình.
Nhờ
những con người đó, Thiên Chúa tiếp tục thi ân giáng phúc mỗi ngày qua
chính họ. Nhờ vậy, Người vẫn có thể rao giảng chân lý, nói những lời
an ủi mọi người qua miệng các mục tử ấy. Người vẫn có thể lắng nghe
mọi người bằng đôi tai của các mục tử. Ngài vẫn yêu thương bằng con tim
của họ. Ngài vẫn phục vụ bằng đôi tay họ. Ngài vẫn đến với mọi người
bằng đôi chân của họ. Ngài làm tất cả những điều tốt đẹp cho mọi người
bằng bản thân của họ. Các mục tử chính là hiện thân của Ngài giữa lòng
thế giới đầy đau khổ này.
Một
hình ảnh rõ nét nhất mà chúng ta có thể thấy được Đức
Giêsu đó là chân dung cuộc sống của thánh Martinô thân yêu của
chúng ta. Thánh nhân đã họa lại chân dung người mục tử nhân
lành Giêsu qua cử chỉ “chạnh lòng ” yêu thương đó. Mặc dầu ở
trong một hoàn cảnh chẳng bằng ai, nhưng với tấm lòng yêu
thương, nhân hậu và bác ái của mình, thánh Martinô đã vực
dậy bao tấm lòng gục ngã, nâng đỡ bao con người thất vọng, xoa
dịu bao nỗi đau thương thể xác và tâm hồn.
Thánh
Martinô đã yêu thương và làm tất cả vì tình yêu. Việc làm bác ái của
thánh Martinô là một tiếng chuông thức tỉnh mọi người, là lời chứng
hùng hồn của đức tin Kitô giáo và là một hành động có tính ngôn sứ.
Thánh
Martinô đã nhìn thấy hình ảnh, đúng hơn là Đức Kitô đang hiện diện
nơi những người anh em da màu, nơi những vết thương lở loét hôi thối
trên thân thể những người nô lệ,…
Bằng
tình thương, Martinô đã xoa dịu biết bao đau khổ do bệnh tật thể xác
và tâm hồn. Nhiều cõi lòng nặng trĩu được nhẹ vơi, biết bao vết thương
gãy vỡ được hàn gắn, nhiều số phận thoát cảnh bị lãng quên và biết bao
tâm hồn sầu não tìm lại được niềm vui sống,… nhờ bàn tay da màu chất
chứa tình yêu thương và ấm áp.
Thánh
Martinô đã làm cho nhiều người nô lệ được sống đúng phẩm giá của con
người. Hơn thế nữa, thánh Martinô đã cho thấy sự hiện diện của Chúa
Kitô, vị lương y đầy lòng thương xót và từ tâm trong xã hội lúc bấy
giờ.
Và như thế thánh Martinô đã và đang thực hiện lời dạy của Đức Kitô : “Vì
xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn ; Ta khát, các ngươi đã cho uống ; Ta
là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước. Ta trần truồng, các ngươi đã cho
mặc ; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng ; Ta ngồi tù, các ngươi đến
hỏi han”6.
Lạy
Chúa Giêsu, Chúa đã chạnh lòng yêu thương dân chúng. Xin cho
chúng con cũng có được cái chạnh lòng của Chúa, để chúng con
yêu thương và nhạy bén trước những hoàn cảnh của con người
hôm nay.
Trên
thế gới ngày hôm nay, còn biết bao người đang đói, không
chỉ đói cơm bánh mà còn đói khát Lời Chúa, đói khát tình
yêu thương. Xin Chúa giúp chúng con được trở thành những cánh
tay nối dài của Chúa để chúng con xoa dịu cơn đói khát trong
lòng người thế bằng những nghĩa cử yêu thương của mình. Xin
cho chúng con luôn biết cộng tác với Chúa để làm cho thế gới
này được no thỏa tình yêu thương và giúp con người đạt tới ơn
cứu độ.
Lạy Chúa!
xin cho con nhận thức rằng, khi con có thực phẩm để ăn, có quần áo để
mặc, có một mái nhà để che đầu và một nơi nghỉ qua đêm là con đã giàu
có hơn 75% thế giới.
Khi con có dư thừa vật chất, của cải để chia sẻ với mọi người là con thuộc 8% những người giàu nhất thế giới.
Khi
con chưa phải trải qua nguy hiểm của chiến tranh, cô đơn của tù tội
hay vật vã của đói khát là con hạnh phúc hơn 500 triệu người trên
thế giới.7
Lạy
thánh Martinô, xưa kia ở thế trần ngài đã chạnh lòng yêu
thương những con người nghèo khổ và bất hạnh trong xã hội,
ngày nay trên tòa vinh quang ngài vẫn đang dõi mắt nhìn đến
thế trần thương đau này, xin ngài chuyển cầu cho chúng con, cho
những người nghèo khổ, đói khát, bệnh tật và những người
đang gặp cảnh khốn khổ. Xin ngài nâng đỡ, ủi an và chữa lành
cho họ. Xin cho mỗi người chúng con cũng có cái chạnh lòng
của ngài mà nâng đỡ những người đó để giúp họ nhận ra tình
thương của Chúa và sống xứng phẩm giá con người.
Chương XI Ý NGHĨA NHỮNG KINH NGHIỆM NGUYÊN THỦY CỦA CON NGƯỜI
22:57 |
Chương XI
Ý NGHĨA NHỮNG KINH NGHIỆM
NGUYÊN THỦY CỦA CON NGƯỜI
1.
Có thể nói rằng khi phân tích các chương đầu sách Sáng thế chúng ta
thấy mình phải xây dựng lại theo một nghĩa nào đó những yếu tố cấu thành
kinh nghiệm nguyên thủy của con người. Theo chiều hướng đó, bản văn
yahvit là một nguồn đặc thù bởi đặc tính của nó. Nói về những kinh
nghiệm nhân bản nguyên thủy, chúng ta nghĩ đến ý nghĩa nền tảng của
chúng hơn là khía cạnh thời gian xa xưa. Bởi thế điều quan trọng không
phải là những kinh nghiệm ấy thuộc về thời tiền sử của con người ( một
thứ “tiền sử thần học”), nhưng chúng luôn nằm ở cội rễ của mọi kinh
nghiệm nhân bản. Điều này vẫn đúng cả khi trong cuộc sống hằng ngày của
con người, người ta không để ý nhiều đến những kinh nghiệm cơ bản này.
Thật vậy, những kinh nghiệm nguyên thủy này được đan dệt sâu vào trong
cuộc sống hằng ngày đến nỗi cách chung ta không nhận ra tính đặc biệt
của chúng. Trên cơ sở những gì đã được phân tích cho tới bây giờ, chúng
ta đã có thể nhận thấy điều mà chúng ta ngay từ đầu gọi là «mạc khải của
thân xác» một cách nào đó giúp ta khám phá ra sự lạ thường của cái bình
thường. Điều đó là có thể bởi vì mạc khải (mạc khải ban đầu được diễn
tả trước tiên trong trình thuật yahvit St 2-3, sau đó trong St 1) xét đến chính những kinh nghiệm nguyên thủy ấy, trong đó gần như hiện ra đầy đủ sự độc đáo tuyệt đối
của người nam cũng như nữ: xét như là con người, nghĩa là, nhờ thân xác
của mình. Kinh nghiệm về thân xác, như chúng ta khám phá trong các bản
văn kinh thánh đã được trích dẫn, hẳn là nằm ở ngưỡng cửa của mọi kinh
nghiệm “lịch sử” sau đó. Tuy nhiên, kinh nghiệm ấy xem ra cũng dựa trên
một chiều sâu hữu thể[1]
đến độ con người không nhận biết nó trong đời sống thường nhật của
mình, dẫu rằng cách nào đó, nó được giả thiết và mặc nhiên công nhận như
là thành phần của tiến trình hình thành nên hình ảnh của chính mình.
2. Thiếu suy tư dẫn nhập đó ta không thể xác định được ý nghĩa của sự trần truồng nguyên thủy cũng như phân tích đoạn St 2,25 như sau: «Bấy giờ cả hai, con người và vợ mình, đều trần truồng, nhưng họ không cảm thấy xấu hổ». Thoạt tiên, truyền thống yahvit đưa chi tiết có vẻ thứ yếu này vào trong trình thuật tạo dựng con người khiến ta có cảm tưởng như đó là một việc không thích hợp hay không đúng chỗ. Người ta có thể nghĩ rằng đoạn văn được trích dẫn không so sánh được với những gì đã được bàn đến trong những câu trước đó, và theo nghĩa nào đó nó vượt quá ngữ cảnh. Nhưng nhận định này không còn đứng vững khi phân tích sâu xa hơn. Thật vậy, St 2,25 là một trong những yếu tổ chủ chốt của mạc khải nguyên thủy, cũng quan trọng như những đoạn Sáng thế khác (2,20 và 2,23), là những đoạn đã giúp ta biết ý nghĩa của sự đơn độc nguyên thủy và sự hợp nhất nguyên thủy của con người. Ngoài những điều này, ý nghĩa của sự trần truồng nguyên thủy, như yếu tố thứ ba được nêu bật trong ngữ cảnh. Điều này trong phác thảo kinh thánh đầu tiên của khoa nhân học không phải là cái gì tùy phụ. Nhưng trái lại, nó chính là chìa khóa để hiểu được đầy đủ và tường tận.
3. Hiển nhiên, chính yếu tố này của bản văn kinh thánh cổ đóng góp đặc biệt cho thần học về thân xác, và là yếu tố tuyệt đối không thể bị bỏ qua. Những phân tích về sau sẽ xác nhận điều đó. Nhưng trước khi bàn đến, tôi xin phép nêu một nhận xét rằng chính đoạn St 2,25 đòi hỏi minh nhiên phải nối kết những suy tư về thần học thân xác với chiều kích chủ thể tính của nhân vị. Thật vậy, chính trong chủ thể tính này mà ý thức về ý nghĩa của thân xác được triển nở. Đoạn St 2,25 nói về điều ấy cách trực tiếp hơn những đoạn khác của bản văn yahvit, vốn được xác định như ghi chép đầu tiên của ý thức con người. Khi nói những con người đầu tiên, cả nam lẫn nữ, «đều trần truồng» mà «không cảm thấy xấu hổ», đoạn văn ấy chắc chắn mô tả tình trạng ý thức của họ, đúng hơn, kinh nghiệm về thân xác của nhau. Nghĩa là nó biểu lộ cái kinh nghiệm của người đàn ông về người phụ nữ bộc lộ mình nơi thân xác trần truồng, và tương tự ngược lại, cái kinh nghiệm về đàn ông của người đàn bà. Khi khẳng định «họ không cảm thấy xấu hổ», tác giả cố mô tả kinh nghiệm về thân xác ấy của nhau với mức chính xác cao nhất. Có thể nói mức chính xác này phản chiếu một kinh nghiệm cơ bản của con người theo nghĩa “thông thường” và tiền khoa học, nhưng nó cũng tương hợp với những đòi hỏi của khoa nhân học và nhất là nhân học hiện nay, vốn sẵn sàng tham khảo cái được gọi là những kinh nghiệm chiều sâu, như kinh nghiệm về sự xấu hổ [1].
4. Nói đến tính chính xác của trình thuật ở đây, trong mức khả năng của tác giả bản văn yahvit có được, chúng ta thấy cần phải xem xét những cấp độ của kinh nghiệm của con người “lịch sử”, là kẻ vốn mang trong mình di sản tội lỗi. Nhưng những kinh nghiệm ấy, xét về phương pháp luận, lại xuất phát từ chính tình trạng vô tội nguyên thủy. Trước đây chúng ta đã thấy rằng khi qui chiếu đến «thuở ban đầu» (mà chúng ta đã lần lượt phân tích qua các ngữ cảnh) Đức Kitô đã gián tiếp nói đến tính liên tục và kết nối giữa hai tình trạng ấy, như thể Người cho phép ta được băng qua thềm biên giới theo chiều ngược trở lại từ tình trạng tội lỗi “lịch sử” của con người lên đến tình trạng trong trắng nguyên thủy. Chính đoạn St 2,25 đòi hỏi cách riêng phải vượt tuyến. Ta dễ nhận thấy đoạn văn này, với ý nghĩa về sự trần truồng nguyên thủy nội tại trong đó, được đặt trong toàn thể ngữ cảnh của trình thuật yahvit như thế nào. Thật vậy, sau đó vài đoạn, cũng chính tác giả ấy viết: «Bấy giờ mắt của cả hai người mở ra và họ thấy mình trần truồng; họ kết lá vả làm khố che thân» (St 3,7). Trạng từ «bấy giờ» nói lên một thời điểm mới và một hoàn cảnh mới, hệ quả của sự bẻ gãy Giao ước thứ nhất. Đó là hoàn cảnh sau khi con người bị sa chước cám dỗ về cây biết thiện biết ác, cũng đồng thời là thử thách đầu tiên về “đức vâng phục”, nghĩa là biết nghe Lời Chúa trong tất cả sự thật của Lời ấy và đón nhận Tình Yêu, đúng theo tất cả những gì Thánh Ý Đấng Tạo Dựng đòi hỏi. Thời điểm mới hay hoàn cảnh mới này cũng hàm ẩn một nội dung mới và một phẩm chất mới của kinh nghiệm thân xác, người ta không còn có thể nói «họ trần truồng mà không cảm thấy xấu hổ». Bởi thế, sự xấu hổ không chỉ là một kinh nghiệm nguyên thủy, nhưng còn là một kinh nghiệm “giới hạn”.
5. Sự khác biệt về cách thức diễn tả giữa hai đoạn St 2,25 và St 3,7 rất có ý nghĩa. Trường hợp trước: «họ trần truồng mà không cảm thấy xấu hổ»; trường hợp sau: «họ thấy mình trần truồng». Phải chăng điều đó muốn nói rằng trong thuở ban đầu «họ đã không nhận thấy mình trần truồng»? rằng họ đã không biết và không thấy sự trần truồng thân xác của nhau? Sự biến đổi quan trọng mà bản văn kinh thánh ghi nhận về kinh nghiệm xấu hổ (sách Sáng thế vẫn còn nói tới, nhất là ở 3,10-12), xảy ra ở một bình diện sâu hơn bình diện của thị giác thuần túy. Việc phân tích đối chiếu giữa St 2,25 và St 3 đưa tới kết luận đương nhiên rằng vấn đề ở đây không phải là chuyến biến từ “không biết” sang “biết”, nhưng là một thay đổi triệt để về ý nghĩa của sự trần truồng nguyên thủy của người phụ nữ đứng trước người đàn ông và người đàn ông đứng trước người phụ nữ. Nó hiện lên từ tâm thức của họ, như hoa trái của cây biết thiện biết ác: «Ai đã cho ngươi biết là ngươi trần truồng? Có phải ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi ăn không?» (St 3,11). Sự thay đổi này liên quan trực tiếp đến kinh nghiệm về ý nghĩa của thân xác mình trước mặt Đấng Tạo Hóa và các loài thọ tạo. Sau đó, con người đã xác nhận điều ấy: «Tôi nghe tiếng bước chân của Ngài trong vườn và tôi sợ, vì tôi trần truồng, nên tôi lẩn trốn» (St 3,10). Nhưng cách đặc biệt, sự thay đổi ấy (bản văn yahvit đã mô tả cô đọng và đầy kịch tính) liên hệ trực tiếp đến tương quan giữa người đàn ông và người đàn bà, giữa phái nam và phái nữ.
6. Trong những phần khác của suy tư về sau này chúng ta sẽ còn phải trở lại phân tích sự thay đổi này. Giờ đây, khi đã đạt đến biên giới của cái «thuở ban đầu» mà Đức Kitô đã qui chiếu, chúng ta phải tự hỏi liệu có thể bằng cách nào đó tái tạo lại ý nghĩa nguyên thủy của sự trần truồng không, là điều mà trong sách Sáng thế vốn làm nên bối cảnh trực tiếp của giáo lí về sự hợp nhất của con người xét như là nam và là nữ. Điều ấy xem ra có thể được, nếu chúng ta lấy kinh nghiệm xấu hổ như điểm qui chiếu vì trong bản văn kinh thánh cổ kinh nghiệm ấy đã được trình bày rõ ràng như một kinh nghiệm “giới hạn”.
Chúng ta sẽ cố tái tạo lại ý nghĩa ấy trong những bài suy niệm sau này.
--------------
[1] X. ví dụ như M. Scheler, Über Scham und Schamgefühl, Halle 1914; Fr. Sawicki, Fenomenologia wstydliwosci [Hiện tượng luận về sự xấu hổ], Kraków 1949; và cả K. Woityla, Milośc i odpowiedzialność, Kraków 1962, tt. 165-185 (bản dịch tiếng Ý Amoree responsabilità, Roma 19782 , tt. 161-178).
[1] Chiều sâu hữu thế đó thuộc yếu tố cấu thành bản tính của con người.
Showbiz Việt:Ca sĩ cát sê trăm triệu, nhạc sĩ chết không quan tài chôn
15:10 |
Mao xếnh xáng xứ Tàu-khựa có câu nói "bất hủ" rằng: Trí thức không
bằng cục phân. Có nghĩa là chất xám của trí thức trong xã hội không bằng
một bãi cứt nát.
Điều này hoàn toàn đúng với thể chế mà quy hoạch nhân sự thượng tầng phải dính tý gốc gác bần cố nông, quản trị xã hội bằng bạo lực cách mạng và quyết tâm chính trị duy ý chí. Hai cuộc cách mạng văn hóa và cách mạng đại công nghiệp của xứ Tàu-khựa đã nói lên điều đó.
Điều này hoàn toàn đúng với thể chế mà quy hoạch nhân sự thượng tầng phải dính tý gốc gác bần cố nông, quản trị xã hội bằng bạo lực cách mạng và quyết tâm chính trị duy ý chí. Hai cuộc cách mạng văn hóa và cách mạng đại công nghiệp của xứ Tàu-khựa đã nói lên điều đó.
Quay lại xứ An-nam, khi giá trị của chất xám rẻ hơn bèo,
mạt hơn cả thơ phong trào con cóc cụ. Khi tri thức của cần-lao quá thấp
để cảm thụ và tôn vinh những giá trị tinh hoa của trí tuệ thì những
chuyện như bài báo dưới này vẫn luôn tồn tại trong xã hội.
Thế nên, việc một gã đi vác thuê nhạc cụ bỗng chốc trở thành ông hoàng âm nhạc cũng là chuyện rất bình thường ở một xứ sở mà dân trí quá thấp.
Cơ khổ!
Thế nên, việc một gã đi vác thuê nhạc cụ bỗng chốc trở thành ông hoàng âm nhạc cũng là chuyện rất bình thường ở một xứ sở mà dân trí quá thấp.
Cơ khổ!
TMSS: Quên đi nhạc sỹ sáng tác chẳng khác gì đang quên đi nguồn cội tạo nên sức sống cho nó! Đây phải chăng là thực trạng của xã hội đang đánh mất cội nguồn!?
-----------------------------------------------------------------------------
Quốc Khánh
(GDVN) - Nhạc sĩ sáng tác ca khúc nổi tiếng Tình lỡ đã có lúc bị bỏ rơi ở
bến xe, phải sống với cuộc đời người ăn xin ở đó suốt 3 tuần liền.
Trong thời gian vừa qua, người yêu nhạc
Việt chứng kiến sự ra đi của nhiều nhạc sỹ lão thành. Bên cạnh nỗi buồn
về sự mất mát, khán giả chợt chạnh lòng khi biết cuộc sống cô độc, khó
khăn của không ít nhạc sỹ nổi tiếng với những bản tình ca bất hủ. Phải
chăng, chúng ta đang thiếu công bằng với những người sáng tác?
Ca sỹ quan trọng hơn…nhạc sỹ?
Trong thời gian vừa qua, một số bài hát thường chỉ được gắn với tên tuổi của ca sỹ thể hiện. Nhiều khán giả thậm chí không hề biết bài hát mà mình đang nghe do ai sáng tác. Đây là một thực tế đáng buồn. Nó phản ánh ý thức về bản quyền chưa cao của cả người nghe, người sản xuất và ca sỹ trình bày ca khúc.
Ca sỹ quan trọng hơn…nhạc sỹ?
Trong thời gian vừa qua, một số bài hát thường chỉ được gắn với tên tuổi của ca sỹ thể hiện. Nhiều khán giả thậm chí không hề biết bài hát mà mình đang nghe do ai sáng tác. Đây là một thực tế đáng buồn. Nó phản ánh ý thức về bản quyền chưa cao của cả người nghe, người sản xuất và ca sỹ trình bày ca khúc.
| Phương Mỹ Chi nhận giải 40 triệu đồng Bài hát yêu thích tháng 5 trong khi nhạc sỹ Tiến Luân chỉ nhận được 10 triệu đồng từ nhà tài trợ |
Một trong những điều khiến không ít khán giả cảm thấy khó hiểu chính là
sự “phân biệt đối xử” giữa nhạc sỹ và ca sỹ trong không ít chương trình
truyền hình lớn. Chẳng hạn, ở Bài hát yêu thích, ca sỹ thể hiện bài hát
xếp thứ nhất bảng xếp hạng tháng được thưởng 40 triệu đồng, trong khi
đó, nhạc sỹ sáng tác ca khúc chỉ được thưởng 10 triệu đồng! Đành rằng,
tiền bạc không có ý nghĩa ở lãnh địa nghệ thuật nhưng cách thưởng “chênh
lệch” này cho thấy sự thiếu coi trọng những người sáng tác? Phải chăng
ca sỹ trình bày còn quan trọng hơn cả người sáng tác ra ca khúc ấy?
Ít ai biết ông già 80 tuổi - nhạc sĩ sáng tác ca khúc nổi tiếng Tình
lỡ - nhạc sĩ Thanh Bình đã có lúc bị bỏ rơi ở bến xe, phải sống với
cuộc đời người ăn xin ở đó suốt 3 tuần liền. Mới đây, nhạc sỹ Thanh Bình
cũng ra đi trong cô quạnh. Số tiền quyên góp dưỡng già từ đêm nhạc do
ca sĩ Ánh Tuyết đứng ra tổ chức cho ông không rút ra được vì ông mất đột
ngột, quyền thừa kế duy nhất là con gái ông trong khi chị này đang ở
tù, nên gia đình phải xin một chiếc quan tài hình lục giác ở chùa để
nhạc sĩ an nghỉ.
| Chưa đến 20 người đến đưa tiễn NS Thanh Bình về nơi an nghỉ cuối cùng. Ảnh: Đời sống và Pháp luật |
Đám tang ông chỉ có khoảng 20 người tham
dự. Những ca sỹ từng nổi danh bằng ca khúc của ông cũng không xuất hiện
trong đám tang ngoài việc gửi tiền phúng viếng. Dường như với họ, như
vậy đã là “tận nghĩa” với người nằm xuống.
Điều này khiến không ít người cảm thấy
đau xót khi nhiều fan cuồng chờ đợi hàng ngày trời để được gặp thần
tượng là một ca sỹ mới nổi nào đó. Thậm chí, sẵn sàng hôn chỗ ngồi của
“thần tượng” nào đó. Phải chăng, chỉ có các ca sỹ mới đáng được thần
tượng còn nhạc sỹ thì…không?
Các ca sỹ nhận cát-sê hàng trăm triệu để trình bày 1 bài hát nhưng đôi khi tác giả của bài hát đó chỉ nhắc tên đã là điều…hạnh phúc. Tiền tác quyền cho 1 nhạc sỹ (nếu may mắn) được trả theo đợt và chắc chắn nó nhỏ hơn rất nhiều con số “khủng” mà các ca sỹ nhận được trong mỗi lần đi diễn. Phải chăng, “tài năng” của ca sỹ quan trọng và “đáng giá” hơn rất nhiều tài năng của nhạc sỹ sáng tác ra ca khúc đó?
Đừng lãng quên nhạc sỹ
Người xưa có câu: “có bột mới gột nên hồ”, không có ca khúc hay, không có những cảm xúc chất chứa trong những ca từ, giai điệu thì sẽ không thể có 1 bài hát hay. Dù ca sỹ có “tài năng”, giọng hát có “mê hoặc lòng người” đến đâu đi chăng nữa cũng không thể nổi tiếng với 1 ca khúc tồi!
Các ca sỹ nhận cát-sê hàng trăm triệu để trình bày 1 bài hát nhưng đôi khi tác giả của bài hát đó chỉ nhắc tên đã là điều…hạnh phúc. Tiền tác quyền cho 1 nhạc sỹ (nếu may mắn) được trả theo đợt và chắc chắn nó nhỏ hơn rất nhiều con số “khủng” mà các ca sỹ nhận được trong mỗi lần đi diễn. Phải chăng, “tài năng” của ca sỹ quan trọng và “đáng giá” hơn rất nhiều tài năng của nhạc sỹ sáng tác ra ca khúc đó?
Đừng lãng quên nhạc sỹ
Người xưa có câu: “có bột mới gột nên hồ”, không có ca khúc hay, không có những cảm xúc chất chứa trong những ca từ, giai điệu thì sẽ không thể có 1 bài hát hay. Dù ca sỹ có “tài năng”, giọng hát có “mê hoặc lòng người” đến đâu đi chăng nữa cũng không thể nổi tiếng với 1 ca khúc tồi!
| Cuộc sống vất vả của các nghệ sỹ nổi danh 1 thời với hàng trăm vai diễn khiến không ít người cảm thấy chạnh lòng |
Từ trước đến nay, những ca sỹ nổi tiếng luôn gắn liền với một, hai ca khúc nào đó: Long Nhật, ca sỹ Mỹ Linh thành công với “Chị tôi” của nhạc sỹ Trọng Đài, Hồng Nhung nổi tiếng khi nhát nhạc Trịnh Công Sơn, Phương Mỹ Chi gây “bão” với “Quê em mùa nước lũ…Nói cách khác, không có ca khúc chắp cánh, ca sỹ sẽ không thể bay cao, bay xa trên bầu trời âm nhạc được.
Chính vì vậy, sẽ là tội lỗi và vô ơn nếu
chúng ta chỉ biết nâng niu, trân trọng những người thể hiện mà lãng
quên người đã viết lên những ca khúc ấy!
Thời gian vừa qua, nhiều nhạc sỹ lão thành đã ra đi, để lại những khoảng trống không thể khỏa lấp trong làng nhạc Việt. Sự ra đi lặng lẽ của họ khiến chúng ta giật mình nhận ra rằng: đôi khi khán giả, ca sỹ, những người thực hiện chương trình thiếu công bằng với những người sáng tác.
Thời gian vừa qua, nhiều nhạc sỹ lão thành đã ra đi, để lại những khoảng trống không thể khỏa lấp trong làng nhạc Việt. Sự ra đi lặng lẽ của họ khiến chúng ta giật mình nhận ra rằng: đôi khi khán giả, ca sỹ, những người thực hiện chương trình thiếu công bằng với những người sáng tác.
Nghịch lý giàu nghèo trong làng giải trí
không phải chỉ có thế. Cuộc sống nghèo khó, hiu quạnh của các nghệ sỹ
tài năng tham gia hàng trăm bộ phim lớn nhỏ như Tuấn Dương, Văn Hiệp,
Trần Hạnh,….khiến không ít người cảm thấy chua xót.
Đặc biệt, cố nhà thơ Trần Đình Chính đã phải “dứt ruột” bán bản quyền ca khúc Ở hai đầu nỗi nhớ để lấy tiền chạy thận. Tuy nhiên, đứa con “xuất sắc” này của Trần Đình Chính cũng không thể giúp ông thoát khỏi bạo bệnh.
Bên cạnh đó, những ca sỹ trẻ mới nổi bằng những scandal hay bước ra từ các cuộc thi ca nhạc lại có 1 cuộc sống vương giả với những căn nhà triệu đô, những show diễn với cát-sê hàng trăm triệu. Họ đang được xã hội ưu ái trả mức thù lao cao hơn rất nhiều những thứ họ xứng đáng được hưởng.
Tại sao lại có nghịch lý đau lòng này?
Đặc biệt, cố nhà thơ Trần Đình Chính đã phải “dứt ruột” bán bản quyền ca khúc Ở hai đầu nỗi nhớ để lấy tiền chạy thận. Tuy nhiên, đứa con “xuất sắc” này của Trần Đình Chính cũng không thể giúp ông thoát khỏi bạo bệnh.
Bên cạnh đó, những ca sỹ trẻ mới nổi bằng những scandal hay bước ra từ các cuộc thi ca nhạc lại có 1 cuộc sống vương giả với những căn nhà triệu đô, những show diễn với cát-sê hàng trăm triệu. Họ đang được xã hội ưu ái trả mức thù lao cao hơn rất nhiều những thứ họ xứng đáng được hưởng.
Tại sao lại có nghịch lý đau lòng này?
TÔN GIÁO NÀO TỐT NHẤT
03:10 |
TÔN GIÁO NÀO TỐT NHẤT
SỰ THẬT sẽ giải phóng anh em! (Ga 8,32)
Leonardo Boff, và Đức Đạt Lai Lạt Ma…
Tại một cuộc hội thảo bàn tròn về “Tôn giáo và tự do” có Đức Đạt Lai Lạt Ma và tôi cùng tham dự. Lúc tạm nghỉ, tôi hỏi ngài vừa tinh nghịch vừa tò mò:“Thưa ngài, tôn giáo nào tốt nhất? ”
Tôi nghĩ ngài sẽ nói: “Phật giáo Tây tạng” hoặc “Các tôn giáo phương Đông, lâu đời hơn Ki-tô "giáo nhiều”.
Đức Đạt Lai Lạt Ma trầm ngâm giây lát, mỉm cười và nhìn vào mắt tôi…
Điều này làm tôi ngạc nhiên vì tôi biết đây là một câu hỏi ranh mãnh.
Ngài trả lời:
“Tôn giáo tốt nhất là tôn giáo đưa anh đến gần Đấng tối cao nhất. "Là tôn giáo biến anh thành con người tốt hơn”.
Để giấu sự bối rối của tôi trước 1 câu trả lời đầy khôn ngoan như thế, tôi hỏi:
“Cái gì làm tôi tốt hơn? ”
Ngài trả lời:
“Tất cả cái gì làm anh
"Biết thương cảm hơn
"Biết theo lẽ phải hơn
"Biết từ bỏ hơn
"Dịu dàng hơn
"Nhân hậu hơn
"Có trách nhiệm hơn
"Có đạo đức hơn”.
“Tôn giáo nào biến anh thành "như vậy Là tôn giáo tốt nhất”.
Tôi thinh lặng giây lát, lòng đầy thán phục, ngay cả bây giờ, khi nghĩ đến câu trả lời đầy khôn ngoan và khó phản bác:
“Anh bạn tôi ơi! Tôi không quan tâm đến tôn giáo của anh.
"Điều thật sự quan trọng đối với tôi là cách cư xử của anh đối với "người đồng đẳng, gia đình, công việc, cộng đồng và đối với thế "giới.
"Hãy nhớ rằng vũ trụ dội lại hành động và tư tưởng của chúng ta. "Quy luật của hành động và phản ứng không chỉ dành riêng cho vật "lý.
"Nó cũng được áp dụng cho tương quan con người.
"Nếu tôi ở hiền, thì tôi gặp lành,
"Nếu tôi gieo gió, thì tôi gặt bão.
"Những gì ông bà nói với chúng ta là sự thật thuần túy.
"Chúng ta luôn nhận được những gì chúng ta mong muốn cho "người khác.
"Hạnh phúc không phải là vấn đề số mệnh. Đó là vấn đề lựa chọn.”
Cuối cùng ngài nói:
“Hãy suy tư cẩn thận vì Tư tưởng sẽ biến thành Lời nói,
"Hãy ăn nói cẩn thận vì Lời nói sẽ biến thành Hành động,
"Hãy hành xử cẩn thận vì Hành động sẽ biến thành Thói quen,
"Hãy chú trọng Thói quen vì chúng hình thành Nhân cách,
"Hãy chú trọng Nhân cách vì nó hình thành Số mệnh,
"Và Số mệnh của anh sẽ là Cuộc đời của anh.
"… và …
"Không có tôn giáo nào cao trọng hơn Sự thật."
"Biết thương cảm hơn
"Biết theo lẽ phải hơn
"Biết từ bỏ hơn
"Dịu dàng hơn
"Nhân hậu hơn
"Có trách nhiệm hơn
"Có đạo đức hơn”.
“Tôn giáo nào biến anh thành "như vậy Là tôn giáo tốt nhất”.
Tôi thinh lặng giây lát, lòng đầy thán phục, ngay cả bây giờ, khi nghĩ đến câu trả lời đầy khôn ngoan và khó phản bác:
“Anh bạn tôi ơi! Tôi không quan tâm đến tôn giáo của anh.
"Điều thật sự quan trọng đối với tôi là cách cư xử của anh đối với "người đồng đẳng, gia đình, công việc, cộng đồng và đối với thế "giới.
"Hãy nhớ rằng vũ trụ dội lại hành động và tư tưởng của chúng ta. "Quy luật của hành động và phản ứng không chỉ dành riêng cho vật "lý.
"Nó cũng được áp dụng cho tương quan con người.
"Nếu tôi ở hiền, thì tôi gặp lành,
"Nếu tôi gieo gió, thì tôi gặt bão.
"Những gì ông bà nói với chúng ta là sự thật thuần túy.
"Chúng ta luôn nhận được những gì chúng ta mong muốn cho "người khác.
"Hạnh phúc không phải là vấn đề số mệnh. Đó là vấn đề lựa chọn.”
Cuối cùng ngài nói:
“Hãy suy tư cẩn thận vì Tư tưởng sẽ biến thành Lời nói,
"Hãy ăn nói cẩn thận vì Lời nói sẽ biến thành Hành động,
"Hãy hành xử cẩn thận vì Hành động sẽ biến thành Thói quen,
"Hãy chú trọng Thói quen vì chúng hình thành Nhân cách,
"Hãy chú trọng Nhân cách vì nó hình thành Số mệnh,
"Và Số mệnh của anh sẽ là Cuộc đời của anh.
"… và …
"Không có tôn giáo nào cao trọng hơn Sự thật."
TMSS sưu tầm
BẢO HIỂM HAY MẮC HIỂM
01:39 |Người bệnh bấm bụng vượt tuyến
TT - Nhiều bệnh nhân bảo hiểm y tế đi khám bệnh ngoại trú vượt tuyến đều bấm bụng nói: vẫn phải vượt tuyến, dù biết quyền lợi bị cắt toàn bộ kể từ ngày 1-1-2015 khi Luật bảo hiểm y tế (sửa đổi) có hiệu lực.
![]() |
| Một người dân đọc thông báo về việc sửa đổi, bổ sung chế độ bảo hiểm y tế trái tuyến được dán tại Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) - Ảnh: Nguyễn Khánh |
Ghi nhận của PV Tuổi Trẻ sáng 5-1 tại một số bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến trung ương ở TP.HCM cho thấy nhiều bệnh nhân bảo hiểm y tế (BHYT) vượt tuyến đều chấp nhận đóng tiền để được khám ở bệnh viện họ tin tưởng.
Giữa đường ngã bệnh, làm sao?
Tại khoa khám bệnh Bệnh viện Nhân dân 115 (Bệnh viện 115),
bà Tạ Thị Kim Châu (74 tuổi, Long An) cho biết bà đăng ký khám bệnh ban
đầu tại Trung tâm Y tế huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Bà Châu bị bệnh tim, đã từng đi khám bệnh ở Trung tâm Y tế
huyện Bến Lức nhưng bệnh không thuyên giảm, nửa năm qua bà phải đến Bệnh
viện 115 khám bệnh. Uống thuốc thấy bớt và khỏe trong người nên bà theo
điều trị ở bệnh viện này luôn.
Bà Châu là cán bộ hưu trí, điều kiện kinh tế có hạn nên để
đến được Bệnh viện 115, bà phải đón xe buýt đi từ nhà lúc 6g, tốn 21.000
đồng là tới bệnh viện.
“Bây giờ Nhà nước không cho hưởng quyền lợi 30%, chắc là tôi
phải khám dưới đó. Nhưng khám BHYT ở huyện thuốc không đầy đủ, sẽ làm
bệnh trở lại. Nếu sức khỏe có vấn đề gì thì tôi lại chạy lên đây. Phải
tự đóng tiền thôi, chứ biết làm sao bây giờ!” - bà Châu than thở.
Cũng tại Bệnh viện 115, chị Lê Thị Phương Thúy (Q.Tân Phú,
TP.HCM) hối hả đẩy xe lăn đưa cha là ông Lê Thanh Phương (70 tuổi, Thái
Bình) vào khoa khám bệnh. Theo chị Thúy, ông Phương vào TP.HCM thăm con
cháu và bất ngờ bị yếu nửa người, mất cảm giác.
“Ba tôi vào TP.HCM thăm con cháu, đột ngột bị bệnh mới phải
đến bệnh viện chứ đâu muốn đi vượt tuyến. Thẻ BHYT của ba tôi đăng ký ở
Bệnh viện Đa khoa Tiền Hải, Thái Bình. Không lẽ bây giờ phải đưa ông ra
ngoài đó khám bệnh?” - chị Thúy giãi bày.
Chị Thúy nói trong trường hợp này, Nhà nước nên linh động giải quyết cho bệnh nhân BHYT để người bệnh không bị thiệt thòi.
Tại Bệnh viện Đại học Y dược TP.HCM, ở khu vực tiếp nhận
bệnh dán rất nhiều thông báo: “Kể từ ngày 1-1-2015, thực hiện Luật BHYT
sửa đổi, bổ sung, bệnh viện ngừng thanh toán BHYT vượt tuyến cho người
bệnh khám ngoại trú”.
Nhiều người đọc xong liền bước sang khu khám dịch vụ. Trong
số bệnh nhân đi khám BHYT vượt tuyến ngoại trú có ông Nguyễn Hải Đăng
(68 tuổi, Bình Thuận). Ông Đăng có thẻ BHYT ban đầu ở Bệnh viện huyện
Hàm Thuận Bắc nhưng tháng nào ông cũng đến đây khám bệnh, lấy thuốc.
Lý do ông bỏ tuyến ban đầu là: “Tôi bị bệnh tiểu đường hơn
mười năm nay, đã bị biến chứng suy thận. Tôi đã khám ở bệnh viện tuyến
huyện, tuyến tỉnh nhưng không hiệu quả nên mới vượt tuyến. Không được
hưởng quyền lợi 30% thì tôi đóng tiền. Bệnh biến chứng rồi, phải chịu
thôi. Nếu bệnh viện nơi tôi ở có bác sĩ giỏi, trang thiết bị tốt thì tôi
không vào đây. Mỗi lần đi cực khổ lắm. Được hưởng quyền lợi 30% cũng bù
được tiền xe, được đồng nào đỡ đồng ấy”.
“Tin buồn với tôi”
Trong khi đó, trước khu khám bệnh Bệnh viện Ung bướu đông
nghẹt bệnh nhân đứng chờ. Chị H.T.T., 26 tuổi, ở Bình Dương, mắc bệnh
bướu cổ nhưng chị bảo chỉ tin và chọn Bệnh viện Ung bướu TP.HCM vì tuyến
dưới không phải bệnh viện chuyên khoa nên không yên tâm.
“Đây là tin buồn với tôi” - một phụ nữ chừng 50 tuổi, ở Đồng
Nai, từng được bác sĩ chẩn đoán theo dõi nang ở vú, chia sẻ. Tuy nhiên,
những lần tái khám sắp tới, bà bảo vẫn đón xe đò lên bệnh viện khám
cũng chỉ vì bà không yên tâm khi khám bệnh ở tuyến dưới.
Tại nhà thuốc Bệnh viện Ung bướu, bà L.T.T. (54 tuổi, ở Cái
Bè, Tiền Giang), mắc bệnh cường giáp, than thở vẫn đi khám vượt tuyến
nhưng trước đây nhờ được BHYT thanh toán 30%, bà chỉ đóng hơn 40.000
đồng tiền thuốc, còn hôm nay thấy bác sĩ cho thêm một loại thuốc mà phải
đóng 290.000 đồng.
Một người bức xúc: “Nghe nói cứ phải có giấy chuyển viện mới
được BHYT thanh toán. Dưới quê, những trường hợp gần chết mới được
chuyển viện. Cứ yêu cầu khó như thế này thì không ai mua BHYT nữa”.
Rồi bà suy nghĩ: “Kiểu này là bác sĩ của TP trị cho người
TP, bác sĩ ở quê trị cho người dân quê. Vậy bác sĩ ở quê yếu thì người
dưới quê chịu chết hết hả? Làm như vậy đâu có công bằng với những người ở
quê”.
Tại Bệnh viện Chợ Rẫy, số bệnh nhân đến khám cũng không giảm
so với những ngày trước đó. Bác sĩ Nguyễn Hữu Long, phó phòng kế hoạch
tổng hợp Bệnh viện Chợ Rẫy, cho biết ngày đầu tiên thực hiện Luật BHYT
sửa đổi diễn ra suôn sẻ.
Tính đến 15g30 cùng ngày, bệnh viện đã tiếp nhận 3.975 bệnh
nhân đến khám vượt tuyến, tương đương với những ngày bình thường khác
(4.131 bệnh nhân).
Bác sĩ Đặng Huy Quốc Thịnh - phó giám đốc Bệnh viện Ung bướu
TP.HCM - cho biết ngày 5-1, số bệnh nhân đến khám tại bệnh viện vẫn
không có gì thay đổi và chưa nhận được phản ứng gay gắt nào từ phía bệnh
nhân.
Theo thống kê của Bệnh viện Ung bướu, đến 15g cùng ngày bệnh
viện đã tiếp nhận 1.658 bệnh nhân đến khám, trong khi trước đó có
1.600-1.700 bệnh nhân. Số bệnh nhân vượt tuyến trước đó 390-400
người/ngày, còn đến 5-1-2015 do BHYT không thanh toán nên bệnh viện
không thống kê nữa.
| Ông Lê Thanh Phương (70 tuổi, quê Thái Bình) trên đường thăm con ở TP.HCM thì đổ bệnh. Ông chấp nhận điều trị tại Bệnh viện 115 vì không thể về Thái Bình chữa trị - Ảnh: L.Th.Hà |
Chính sách chưa theo kịp
Bác sĩ Nguyễn Đình Phú - phó giám đốc Bệnh viện 115 - cho
biết trước khi thực hiện Luật BHYT sửa đổi, trung bình mỗi ngày bệnh
viện có khoảng 200 bệnh nhân BHYT đi khám bệnh vượt tuyến.
Giai đoạn đầu mới thực hiện luật, có thể người vượt tuyến sẽ
giảm nhưng về lâu dài nếu bệnh viện tuyến dưới không đáp ứng được yêu
cầu khám chữa bệnh thì người dân sẽ lại vượt tuyến.
Trong khi đó, bác sĩ Vũ Trí Thanh - trưởng phòng kế hoạch
tổng hợp Bệnh viện Đại học Y dược TP.HCM - cho biết trung bình mỗi ngày
bệnh viện có khoảng 1.000-1.400 bệnh nhân đi khám bệnh BHYT ngoại trú
vượt tuyến. Đa số bệnh nhân đi khám bệnh vượt tuyến có bệnh thật sự và
đến khám ở các chuyên khoa tim mạch, nội tiết, nội thần kinh, nội tiêu
hóa...
Theo các bác sĩ, về lý thuyết Luật BHYT sửa đổi theo xu
hướng chung của thế giới là phải có phân tuyến khám chữa bệnh để giảm
tải cho tuyến trên, quyền lợi của bệnh nhân sẽ được hưởng nếu đi khám
bệnh đúng tuyến, không có bệnh nhân nào “đi thẳng một phát” lên bệnh
viện tuyến trên, bệnh viện chuyên khoa...
Tuy nhiên, để thực hiện được việc này, ở nước ngoài đã phát
triển mô hình bác sĩ gia đình rất tốt. Khi người bệnh mắc bệnh vượt quá
khả năng của bác sĩ gia đình thì họ sẽ có trách nhiệm giới thiệu lên
tuyến trên.
Trong khi hiện nay mạng lưới bác sĩ gia đình cũng như y tế
cơ sở (trạm y tế) tại VN chưa phát triển và đủ lực để thực hiện nhiệm vụ
chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân. Do vậy, việc cắt giảm quyền
lợi khi khám bệnh vượt tuyến, trái tuyến là thiệt thòi cho người bệnh.
|
Bệnh nhân thiệt khi bệnh viện cho ra ngoại trú nhằm giảm tải
Trước công văn hướng dẫn thực hiện Luật BHYT sửa đổi, bổ sung về
“trường hợp có thẻ BHYT tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến thì
cơ quan BHYT không thanh toán các trường hợp điều trị ngoại trú”, cuối
tháng 12-2014 Bệnh viện Ung bướu đã làm văn bản khẩn gửi cơ quan Bảo
hiểm xã hội (BHXH) TP.HCM về việc thực hiện Luật BHYT sửa đổi, bổ sung.
Trong đó nêu rõ: “Theo chủ trương giảm tải của BHYT, bệnh viện
phải chuyển số lượng lớn bệnh nhân nội trú sang khu vực ngoại trú (thực
chất là bệnh nhân nội trú, chưa xuất viện). Từ trước đến nay, cơ quan
BHXH TP.HCM vẫn thanh toán những trường hợp này như quyền lợi của bệnh
nhân nội trú (theo hướng dẫn thực hiện Luật BHYT sửa đổi, bổ sung là
quyền lợi BHYT 40% trái tuyến).
Đề nghị cơ quan BHXH TP.HCM tiếp tục giải quyết quyền lợi BHYT 40%
trái tuyến cho những bệnh nhân này như những bệnh nhân nội trú”. Tuy
nhiên đến ngày 5-1, Bệnh viện Ung bướu vẫn chưa nhận được văn bản nào từ
BHXH TP trả lời về đề nghị này.
|
LÊ THANH HÀ - THÙY DƯƠNG
Phải tự chi trả khám chữa bệnh trái, vượt tuyến tỉnh và Trung ương
Theo quy định của Luật BHYT sửa đổi có hiệu lực từ ngày 1-1-2015,
quyền lợi bảo hiểm y tế của người dân sẽ được mở rộng. Việc sửa đổi, bổ
sung Luật lần này quan tâm nhiều đến quyền lợi của người tham gia BHYT
nhằm giảm gánh nặng chi phí khám, chữa bệnh, tăng khả năng tiếp cận dịch
vụ y tế đối với một số đối tượng chính sách.
Theo các chính
sách về BHYT hiện hành, Nhà nước đã bảo đảm ngân sách để mua thẻ BHYT
cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng kinh tế xã hội khó
khăn, đặc biệt khó khăn. Từ ngày 1-1-2015, người dân sinh sống ở các xã
đảo, huyện đảo cũng được Nhà nước mua thẻ BHYT. Chính phủ đã hỗ trợ tối
thiểu 70% mệnh giá thẻ BHYT đối với người cận nghèo, khuyến khích các
địa phương sử dụng ngân sách địa phương, các nguồn vốn khác và Bộ Y tế
cũng đã huy động một số dự án để hỗ trợ thêm cho người cận nghèo tham
gia BHYT.
Từ 1-1-2015, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số
sinh sống ở vùng kinh tế khó khăn, đặc biệt khó khăn được Quỹ BHYT thanh
toán 100%, thay vì phải đồng chi trả 5% như trước đây. Đáng chú ý, từ
ngày 1-1-2015, một số đối tượng như: Lực lượng quân đội, công an, người
có công với cách mạng, cựu chiến binh, trẻ em dưới 6 tuổi, người thuộc
diện hưởng trợ cấp xã hội... khi đi khám, chữa bệnh sẽ được Quỹ BHYT chi
trả 100% chi phí khám, chữa bệnh.
Khám
bệnh vượt tuyến tỉnh, người bệnh sẽ không được Quỹ BHYT thanh toán 50%
như trước đây (Ảnh: đăng ký khám bệnh tại BV Đa khoa tỉnh Quảng Ninh)
Đối
với người bệnh có thời gian tham gia BHYT 5 năm liên tục tính từ thời
điểm người đó tham gia BHYT tới thời điểm đi khám, chữa bệnh lũy kế
trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở (tương đương 7 triệu đồng) - trừ
trường hợp tự đi khám, chữa bệnh không đúng tuyến - cũng sẽ được Quỹ
BHYT chi trả 100%. Người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng
tháng, người thuộc hộ cận nghèo sẽ được Quỹ BHYT chi trả 95%.
Theo
Luật mới này, các trường hợp tự tử, tự gây thương tích, tai nạn giao
thông, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cũng sẽ được quỹ BHYT thanh
toán. Luật cũng định tham gia bảo hiểm y tế là bắt buộc. Khi mua theo hộ
gia đình, người dân sẽ được giảm trừ mức đóng. Người thứ nhất đóng mức
4,5% lương cơ sở - khoảng 600.000 đồng một năm; người thứ hai, ba, tư
lần lượt sẽ bằng 70, 60, 50% mức đóng của người thứ nhất. Từ người thứ
năm trở đi đóng bằng 40% mức đóng của người thứ nhất.
Một
trong những điểm mới mà người bệnh cần lưu ý là khi đi khám bệnh vượt
tuyến ở tuyến tỉnh và tuyến trung ương người bệnh sẽ phải tự chi trả.
Trước
đó khi đi khám, chữa bệnh trái tuyến, người bệnh được chi trả ở các mức
30%, 50% và 70% chi phí tương đương với bệnh hạng bệnh viện. Tuy nhiên,
từ ngày 1-1-2015, khi vượt tuyến trung ương, người bệnh chỉ được thanh
toán 40% khi nằm viện điều trị nội trú; người đi khám, kê đơn, điều trị
ngoại trú sẽ không được thanh toán.
Tương tự khi vượt tuyến
tỉnh, mức hưởng sẽ là 60% chi phí, chỉ áp dụng với điều trị nội trú. Với
tuyến huyện, mức hưởng trong năm 2015 sẽ là 70% chi phí khám, chữa
bệnh. Từ 1-1-2016 thì sẽ là 100% chi phí trong cùng địa bàn tỉnh. Từ
1-1-2021, mức chi trả sẽ nâng lên 100% chi phí điều trị nội trú trong
phạm vi cả nước.
Tmss tổng hợp từ báo tuổi trẻ và báo tiếp thị




