Thụ thai nhân tạo: một nhận định trên quan điểm Y khoa và Thần học luân lý Công Giáo
18:23 |
Thụ thai nhân tạo:
một nhận định trên quan điểm Y khoa và
Thần học luân lý Công Giáo
Bs. Trần Như Ý-Lan
Vào
những ngày cuối năm 2013, một mẩu tin cuốn hút khá nhiều bạn đọc: “Câu
chuyện tình ‘cổ tích’ thời nay”. Nhân vật chính, chị tiến sĩ Hoàng thị
Kim Dung, 34 tuổi, Hà Nội, đã hạ sinh “mẹ tròn con vuông” hai bé trai
xinh xắn khỏe mạnh bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, với tinh trùng lấy
từ mẫu tinh hoàn của người chồng yêu quý của chị đã mất vì tai nạn cách
nay gần bốn năm. Số đông người, cả các bạn công Giáo, xúc động và cảm
phục trước tình yêu chung thủy và lòng can đảm của chị Dung, đồng thời
ca ngợi thành công “trên cả tuyệt vời” của khoa học kỹ thuật mà trước
đây khoa học đành “bó tay.com”: lần đầu tiên tại Việt
Nam thụ tinh nhân tạo thành công từ tinh trùng của mô tinh hoàn trích
năm-sáu giờ sau khi người nam đã qua đời. Mẫu tinh hoàn đó đã được cất
giữ ở -196OC và bảo quản đặc biệt.[1]
Nhưng
rồi, người Công giáo lại băn khoăn: Giáo hội không cho phép thụ thai
nhân tạo! Phải chăng Giáo hội quá “bảo thủ”, đang đi ngược dòng chảy của
trào lưu văn hóa thời đại và khoa học kỹ thuật tiên tiến? Có bạn trẻ
trách móc: Các vị giáo hoàng, giám mục, hồng y và thần học gia luân lý
vốn đã viết nên luật cấm thụ thai nhân tạo là những người sống độc thân,
nên không cảm thông được nỗi thống khổ, khao khát có con của các cặp vợ
chồng vô sinh chăng? Có bạn còn đặt câu hỏi: Các vị có cảm động không
nếu biết câu chuyện sinh con của chị Kim Dung, xuất phát từ tình yêu son
sắt đối với người chồng trẻ đã khuất ? Nếu có, thì tại sao lại không
cho phép thụ thai nhân tạo?
Là
người làm khoa học, phục vụ chăm sóc sức khỏe người bệnh hơn 20 năm
nay, có những giờ phút tranh đấu với cái chết để giành giật sự sống cho
bệnh nhân, và từng khám cho một số phụ nữ vô sinh, tôi đồng cảm với cảm
xúc và hiểu được chất vấn của các bạn trẻ Công Giáo. Tuy nhiên, chúng ta
hãy “chơi đẹp” và công bằng với nhau nhé. Xin hỏi trước khi các bạn
trách móc “mấy vị giáo hoàng, hồng y, giám mục bảo thủ không bắt kịp
thời đại” (!), các bạn có bao giờ nghiêm túc tìm hiểu lý do nền tảng tại
sao các vị ấy, những con người thông thái thánh thiện của Giáo Hội, lại
dạy như thế? Xin mách với các bạn là các “đấng bậc” ấy còn có cả một ủy
ban cố vấn gồm các nhà khoa học hàng đầu thế giới trong nhiều lãnh vực
để bàn hỏi khi các ngài quyết định các vấn đề luân lý liên quan đấy nhé.
Các bạn có hiểu hết thụ thai nhân tạo tiến hành như thế nào? Cùng với
thành quả “super” của nó là đứa trẻ, các bạn có biết đầy đủ các
hậu quả tiêu cực mà thực hành thụ thai nhân tạo đã và đang gây ra cho
xã hội, cho con người?
Bài viết nhận định vấn đề đang “hot”
này trên quan điểm y khoa và luân lý Công Giáo, suy tư một phần gợi ý
từ câu chuyện thời sự trên đây, được dư luận chung ủng hộ và đang tạo
được hàng triệu fan hâm mộ. Bài viết nhìn nhận tiến bộ đáng
thán phục của khoa học về thụ thai nhân tạo, đồng thời phân tích sâu xa
hơn kỹ thuật “làm ra” con người này, trên phương diện nhân linh và thần
linh. Bài viết chứng tỏ Huấn quyền Công giáo không chấp nhận các biện
pháp thụ thai nhân tạo không phải là do không quan tâm đủ đến con người
với các nhu cầu yêu thương và hạnh phúc trần thế, nhưng vì Giáo hội rất
yêu mến và rất trân trọng con người, ra sức gìn giữ phẩm giá của con
người, và mong muốn con người có được hạnh phúc đích thật trong viễn
cảnh cánh chung. Sứ điệp trung tâm mà Giáo hội loan báo là “loài người
được Thiên Chúa yêu thương”, con đường Giáo hội muốn dẫn các bạn đi là
con đường “thương yêu và sự thật”.[2]
Ước mong các bạn kiên nhẫn tìm hiểu chiều sâu của giáo huấn Tòa Thánh
về thụ thai nhân tạo trước khi phê phán hay chống đối. Cuộc đối thoại
giữa chúng ta vẫn còn tiếp diễn trong đời sống.
Một
điều cơ bản trong đời sống luân lý, tôi xin nhắc các bạn trẻ, là thái
độ cần có đối với luật Chúa, mà Giáo hội thay mặt Chúa để giải thích. Có
lẽ hơn một lần, các bạn thầm trách sao luật Chúa, luật Giáo hội nặng nề
quá, “làm khổ” dân tình. Chúng ta thường quan niệm đời sống luân lý như
việc tuân giữ một số điều mà Chúa hay Giáo hội truyền dạy hay cấm. Quan
niệm này dễ đưa đến thái độ thiếu trưởng thành, ấm ức như đứa trẻ vì bị
cha mẹ cấm cửa đủ thứ, và nếu không tuân thì bị phạt.[3]
Các bạn làm như Chúa là một “ông chủ” hay “ông vua” độc tài, dân làm
theo ý Ngài thì Ngài “khoái chí”, dân không làm theo thì Ngài “nổi xung”
vì chạm đến uy quyền của Ngài. Đúng ra, phải hiểu rằng Thiên Chúa yêu
thương loài người. Chúa vui khi con người hạnh phúc, Chúa buồn khi con
người làm hại chính mình. Luật Chúa là để giúp con người đừng làm hại
chính mình, để con người đạt đến hạnh phúc đích thật. Các hành vi luân
lý như là phương thế để đạt tới hạnh phúc đích thật: cái gì dẫn tới hạnh
phúc đích thật là tốt, cái gì làm cho ta mất hạnh phúc đích thật là
xấu. Hiểu như vậy, việc ấn định điều thiện ác không phải là do từ một sự
truyền buộc hay cấm đoán bên ngoài, nhưng là nằm trong bản chất nội tại
của con người, tùy theo nó giúp cho con người đạt được cứu cánh của
cuộc đời hay không. Luật Chúa và luật Giáo hội là để giúp con người sống
đúng phẩm giá mình, chọn điều lành, tránh xa điều xấu. Có được hiểu
biết như thế, tâm tình các bạn sẽ tốt hơn khi tìm hiểu luật Chúa, luật
Giáo hội.
Trước
hết, để hiểu rõ hơn hầu đánh giá trung thực hơn về thực hành thụ thai
nhân tạo, tôi giới thiệu sơ lược vài kỹ thuật thụ thai nhân tạo chính
yếu đang áp dụng hiện nay.
- Các kỹ thuật thụ thai nhân tạo hiện nay
Thụ
thai (hay thụ tinh) nhân tạo là kỹ thuật tạo phôi bằng cách cho tinh
trùng của người nam kết hợp với trứng của người nữ không qua hành vi
giao hợp, nhưng nhờ các phương tiện kỹ thuật hiện đại khác. Thụ tinh
nhân tạo có thể được phân làm hai loại phương pháp chính: 1/ Sự thụ tinh
xảy ra trong cơ thể người nữ; 2/ Sự thụ tinh xảy ra ngoài cơ thể ngươi
nữ và sau đó chuyển phôi vào tử cung. Thụ tinh nhân tạo có thể là đồng
ngẫu hay dị ngẫu. Thụ tinh nhân tạo đồng ngẫu là dùng giao tử của một
cặp vợ chồng; thụ tinh nhân tạo dị ngẫu là dùng giao tử của người thứ ba
ngoài cặp vợ chồng.
1.Sự thụ tinh xảy ra trong cơ thể người nữ
a. Thụ tinh nhân tạo bằng phương pháp bơm tinh trùng vào buồng tử cung (Intra-uterine insemination - IUI)[4]
là phương pháp điều trị vô sinh đầu tay hiện nay và được áp dụng phổ
biến nhất vì được đánh giá là hiệu quả nhất. Kỹ thuật thực hiện IUI
thường bao gồm ba bước: Kích thích buồng trứng – Chuẩn bị tinh trùng –
Bơm tinh trùng.
- Kích thích buồng trứng (Ovarian stimulation):
Dùng thuốc để kích thích buồng trứng tạo được sự phát triển của ba, tối
đa là bốn, trứng trưởng thành và chuẩn bị nội mạc tử cung cho sự làm
tổ của phôi. Nếu số trứng trưởng thành nhiều hơn bốn, tỉ lệ đa thai
thường cao.
- Lấy tinh trùng: Tinh
dịch thường được lấy khoảng hai giờ trước khi thực hiện bơm tinh trùng.
Tinh dịch được lấy bằng thủ dâm vào trong lọ sạch, tiệt trùng. Có khi
lấy tinh trùng trực tiếp từ mào tinh hoàn. Tiến hành chọn các tinh trùng
bình thường, di động tốt và loại các tế bào chết, các vi sinh vật có
hại cho tinh trùng.
- Bơm tinh trùng vào buồng tử cung: Tinh trùng sau khi chuẩn bị phải được giữ ấm và bơm vào buồng tử cung vào ngày trứng rụng.
H.1 Tinh trùng chứa trong môi trường vô trùng ( trái) và Bơm tinh trùng vào tử cung ( phải)[5]
- Chuyển giao tử vào vòi Fallope (GIFT Gamete Intrafallopian tube Transfer)
Trứng được lấy ra từ người nữ bằng các kỹ thuật như trong thụ tinh trong ống nghiệm (được
mô tả bên dưới), sau đó một hoặc nhiều trứng được đặt vào một ống thông
có chứa tinh trùng đã được lấy trước và xử lý để tăng khả năng thụ
tinh. Sau đó, ống thông chứa trứng và tinh trùng được đưa vào vòi fallope của người nữ, sau đó tinh trùng và trứng được thổi ra khỏi ống và sự thụ tinh diễn ra trong cơ thể người nữ.
2. Sự thụ tinh xảy ra ngoài cơ thể người nữ
a.Thụ tinh trong ống nghiệm (In Vitro Fertilization IVF)
Người nữ được dùng thuốc để kích thích buồng trứng tạo ra nhiều trứng trưởng thành. Noãn
được
lấy từ người nữ qua việc soi ổ bụng, hoặc kỹ thuật hút xuyên âm đạo
dưới sự hướng dẫn của siêu âm. Tinh trùng (thường được lấy do thủ dâm
hoặc đôi khi trực tiếp từ mào tinh hoàn) và noãn được cho thụ tinh trên
đĩa petri rồi đặt vào tủ ủ ấm; và hợp tử (trứng đã thụ tinh)
phát triển thành phôi đến ngày thứ ba hay thứ năm, sau đó được chuyển
vào buồng tử cung. Để bảo đảm tỉ lệ thành công cao và vì giá thành cao
cho mỗi lần thụ tinh, nhà chuyên môn thường cho nhiều trứng và tinh
trùng thụ tinh với nhau, tạo ra nhiều “hợp tử người mới,” sau đó chuyển
từ hai đến bốn phôi non vào tử cung để tăng xác suất làm tổ của phôi và
khả năng phát triển của phôi thai. Các phôi còn lại sẽ được đông lạnh
để dùng lại, nếu lần cấy thứ nhất không thành công, hoặc sẽ được dùng
cho các mục đích nghiên cứu khác.
b. Chẩn đoán di truyền tiền cấy phôi vào tử cung (Pre-implantation Genetic Diagnosis PGD)[6]
PGD
là một cách thức rà soát tiền cấy phôi có thể thực hiện bởi kỹ thuật
được dùng trong IVF. Trước khi chuyển phôi vào tử cung, các phôi được
phân tích chất liệu di truyền để chọn lọc phôi tốt thì giữ lại và phôi
có bất thường di truyền thì loại bỏ. PGD thường được thực hiện khi cha
mẹ có nguy cơ bệnh lý di truyền hoặc mẹ lớn tuổi.
c.Chuyển hợp tử vào trong vòi fallop (ZIFT- Zygote Intra-Fallopian Transfer)
Kỹ
thuật tương tự như IVF nhưng thay vì chờ phôi phát triển vài ngày trong
tủ ủ như IVF, hợp tử ngay khi vừa thụ tinh được chuyển vào vòi Fallope
để phôi phát triển trong cơ thể người mẹ sớm.
d.Bơm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI Intra-Cytoplasmic Sperm Injection)
d.Bơm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI Intra-Cytoplasmic Sperm Injection)
Là
phương pháp tương tự IVF nhưng có thay đổi chút ít. Kích thích buồng
trứng bằng nội tiết tố, lấy noãn như tiến trình IVF. Một tinh trùng khỏe
mạnh duy nhất được chích vào trong bào tương của một noãn. Tiến trình
được thực hiện dưới kính hiển vi cùng với nhiều vi dụng cụ. Khi noãn
được cố định, nhà chuyên môn bơm tinh trùng vào bào tương noãn bằng một micropipette.
Sau đó noãn (cùng với tinh trùng bên trong) được đặt vào môi trường cấy
để thụ tinh xảy ra. Phôi được đặt vào tủ ủ khoảng ba-năm ngày rồi
chuyển vào tử cung.
Với hiểu biết cơ bản về kỹ thuật thụ thai nhân tạo, chúng ta tìm hiểu giáo huấn Giáo hội.
- Kinh Thánh và truyền thống Giáo hội thấu hiểu và đồng cảm với nỗi thống khổ của vợ chồng vô sinh
Thánh
Kinh cho thấy gia đình đầy đủ con cái là một trong các dấu chỉ ơn phúc
của Thiên Chúa: “Này, con cái là hồng ân của Chúa, con mình sinh hạ là
phần thưởng Chúa ban” (Tv 127, 3). Nỗi thống khổ của các đôi vợ chồng
không con cái được miêu tả rõ ràng trong tâm tình của Abraham thưa với
Chúa: “Lạy Đức Chúa, Chúa sẽ ban cho con cái gì? Con ra đi mà không con
cái” (St 15,2) hay của Rakhen khóc than với chồng: “Hãy cho tôi được có
con, không thì tôi chết mất” (St 30,1). Thật vậy, không chỉ các đôi vợ
chồng ở trong hoàn cảnh vô sinh mà cả vợ chồng đầy đủ con cái cũng đều
cảm nghiệm sâu xa rằng “Con cái đúng là món quà cao quý nhất của hôn
nhân, góp phần căn bản vào hạnh phúc của cha mẹ”.[7]
III. Giáo huấn Giáo hội về hôn nhân và việc tạo sinh con người
Chúng
ta tiếp tục theo dõi câu chuyện sinh con của chị Kim Dung. Quả thật,
nhìn hai bé trai xinh xắn, lòng tôi cũng “tan chảy”vì yêu mến, nhưng lại
rất nghĩ ngợi. Niềm vui sự sống mới nảy sinh còn đó thì vài vấn nạn đã
được đặt ra. Ngày 31/12/2013, Phó Cục trưởng Cục Hộ tịch, quốc tịch,
chứng thực - Bộ Tư pháp Nguyễn Văn Toàn phân tích, do khoảng trống pháp
luật, hai bé ra đời bằng tinh trùng lấy từ tử thi người cha coi như con
ngoài giá thú, chưa thể làm khai sinh tên cha. Chánh Văn phòng Bộ Tư
pháp Trần Tiến Dũng cũng phân tích, quy định về đăng ký khai sinh hiện
nay chưa tính đến trường hợp này. Tuy nhiên, ông cho rằng áp dụng quy
định về con sinh ngoài giá thú cho cặp song sinh này cũng không đúng,
cần nghiên cứu thêm, và bổ sung luật hiện hành.[8]Thạc
sĩ Luật học Bùi Tiến Đạt, nghiên cứu sinh tại Úc chia sẻ: “Người vợ lấy
tinh trùng của chồng đã chết để thụ tinh nhân tạo. Người đã chết liệu
có quyền có con theo cách này không?...Người vợ có được quyền làm như
vậy mà không quan tâm đến ý muốn của chồng? Giả sử chồng không muốn thì
sao”. Ngoài ra, còn vấn đề thừa kế sau này, Luật sư Giang Văn Quyết nhận
định , “…việc sinh con sau như thế này cũng sẽ ảnh hưởng đến quyền thừa
kế, quyền khai sinh của đứa trẻ chứ không đơn thuần chỉ dừng lại ở quan
hệ mẹ con”.[9]
Những
ai ủng hộ việc thụ thai nhân tạo hai bé có bao giờ nghĩ đến sự kiện hai
bé ngay trong bào thai đã chịu nỗi bất hạnh bị áp đặt bởi chính người
mẹ yêu thương mình, tuy người mẹ hoàn toàn không mong muốn: mồ côi cha.
Hơn nữa, dù khi sống, anh Ngọc, chồng chị Dung, đã có lần bày tỏ ý muốn
có thêm con trai. Nhưng liệu anh Ngọc có muốn tạo ra hai đứa con mồ côi
cha từ khi con còn chưa hiện hữu trong bụng mẹ? Vừa ra đời, căn tính của
hai bé cũng trở nên câu hỏi: khai sinh cha như thế nào? (Dù sao, phía
chính quyền cũng tỏ ra thấu hiểu hoàn cảnh đặc biệt mới nảy sinh. Ngày
10/1/2014 cặp song sinh đã được làm giấy khai sinh mang họ bố).[10]Chính
chị Dung cũng nhìn nhận, bên cạnh niềm hạnh phúc lớn lao có được hai
đứa con trai mang hình ảnh người chồng yêu dấu, chị thấm thía nỗi cô đơn
và gánh nặng khi một mình mang thai, nuôi ba con nhỏ, và phải nhận sự
trợ giúp từ người thân, bạn bè và xã hội.
Từ vài vấn nạn trên, chúng ta có lẽ bắt đầu dễ mở lòng hơn lắng nghe giáo huấn Giáo hội.
1.Hoàn cảnh ra đời của một con người phải là hôn nhân và gia đình.
Con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và được mời gọi tham dự vào tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi hằng sống.[11]
Hình ảnh Thiên Chúa được khắc ghi nơi mỗi người và con người được mời
gọi trở nên “con của Thiên Chúa” (Ga 1,12) nhờ Ngôi Lời Nhập Thể. Con
người phải thể hiện được hình ảnh Thiên Chúa nơi chính mình và đời sống
mình. Chính vì phẩm giá con người cao cả như thế, nên hoàn cảnh ra đời
cũng phải xứng hợp, đó là hôn nhân và gia đình: “Cội nguồn của sự sống
con người phải ở trong một bối cảnh chân thực của nó là hôn nhân và gia
đình, trong đó nó được sinh hạ nhờ một hành động biểu lộ tình yêu hỗ
tương giữa người nam và người nữ” (DP, s.6). Sinh con và nuôi
dạy con cái lớn khôn toàn diện là trách nhiệm nặng nề, vì thế, “đứa trẻ
có quyền được thụ thai, được cưu mang trong dạ mẹ, được sinh ra và được
nuôi dưỡng trong hôn nhân: chính là nhờ mối tương quan được bảo đảm và
thừa nhận với cha mẹ mình mà đứa trẻ ấy có thể khám phá căn tính của
riêng mình và đạt đến sự phát triển con người đích thực của nó.”[12]
Khi
dứt khoát chối từ mọi đối tượng khác và tự do ưng thuận bước vào đời
sống hôn nhân, các đôi vợ chồng đã hoàn toàn trao hiến cho nhau, đã
thiết lập nhau thành những người bất khả thay thế và không chia lìa
được, và vì thế, họ làm cho chính mình đủ tư cách để thực hiện những
chuyện rất “riêng biệt và độc quyền”: hành vi kết hợp thân xác và đón
nhận hồng ân sự sống. Cả hai cùng nhau chia sẻ và gánh vác trách nhiệm
nuôi nấng sự sống ấy lớn lên. Vì lẽ đó, hành vi trao hiến vợ chồng và
đón nhận hồng ân sự sống chỉ được xứng hợp trong bối cảnh gia đình.
2.Ý nghĩa của hành vi vợ chồng
Hiến chế Gaudium et Spes
khẳng định hành vi vợ chồng trong bối cảnh hôn nhân và gia đình “là
hành vi cao quí và chính đáng” (số 49.) Nó làm thăng tiến việc tự trao
ban cho nhau của đôi vợ chồng và mở ngỏ cho việc truyền sinh sự sống.
Hành vi này mang tính kết hợp, chia sẻ thân mật và độc quyền, bởi lẽ nơi
hành vi này, vợ chồng tương quan với nhau theo một cách thức độc nhất
và không thể thay thế. Qua hành vi vợ chồng, họ trở nên “một xương một
thịt” như lời Đức Piô XII nhận xét: “hành vi vợ chồng, tự cấu trúc bản
chất của nó, là một hành động của con người, là một sự tự trao ban trực
tiếp và đồng thời của người chồng và người vợ cho nhau để làm nên một sự
kết hợp “một xương thịt” theo ngôn ngữ Thánh Kinh.”[13]
Tự
trong bản chất, có một ý nghĩa kép của sự kết hợp và truyền sinh của
hành vi vợ chồng: “tự bản tính sâu xa của nó, hành vi hôn nhân liên kết
chặt chẽ hai vợ chồng, giúp họ tạo thành những đời sống mới theo đúng
những định luật cố hữu nằm ngay trong bản thể con người nam và người nữ”[14]
Nói cách khác, hiện hữu mối liên kết bất khả phân ly giữa ý nghĩa kết
hợp và truyền sinh của hành vi vợ chồng. Trong hành vi này, vợ chồng
được trở nên cộng sự của Thiên Chúa trong công trình tạo dựng con người:
“Qua việc hiến thân cho nhau,…, hai người hướng đến sự hiệp thông nên
một để hoàn thiện con người của nhau, hầu cộng tác với Thiên Chúa để
sinh ra và giáo dục những sự sống mới.” (DP. s. 6). Như thế,
khi tách rời sự truyền sinh khỏi hành vi vợ chồng, con người đã xâm phạm
đến chính nội tại phẩm giá con người, và con người bị trở nên “kém” hơn
điều chính con người phải là, và đồng thời, hình ảnh Thiên Chúa nơi con
người cũng bị xâm phạm.Thật vậy, ở các động vật khác, hành vi tính giao
giữa con đực và con cái chỉ có ý nghĩa sinh sản, được thúc đẩy bởi bản
năng. Tôi không phủ nhận, ở vài loài động vật như vượn, khỉ, cũng có
tình cảm ở một mức độ nào đó khi con đực và con cái kết giao. Nhưng chỉ
con người mới có sự kết hợp toàn diện thể xác, tình cảm, tâm hồn, thiêng
liêng trong hành vi giao hợp, và chính Thiên Chúa hiện diện trong hành
vi đó khi hai thể xác và hai tâm hồn nên một. Vậy ta có thể nói, hơi khó
nghe nhưng đúng bản chất, khi sự tạo sinh con người mới không ở trong
bối cảnh kết hợp vợ chồng, sự sinh sản chỉ ở tầm mức giống các động vật
khác mà thôi. Trong thụ thai nhân tạo, sự sinh sản con người bị hạ thấp,
chỉ mang tính máy móc kỹ thuật trong một quy trình “làm ra”, “sản xuất”
ra. Đây là điểm Giáo hội đặt trọng tâm.
3.Trong hành vi vợ chồng, sự sống con người được “sinh ra,” không phải được “làm ra”
Trở
lại câu chuyện sinh đôi trên đây, lần đầu tiên dự định chuyển phôi
không thành do chị Dung bị quá kích buồng trứng. Bác sĩ Lê Vương Văn Vệ,
giám đốc Bệnh viện Nam học và hiếm muộn Hà Nội, người trực tiếp trữ
đông tinh trùng lấy từ tử thi người chồng và làm thụ tinh nhân tạo cho
chị Dung, phải đưa phôi vào trữ đông lại và một thời gian sau mới
chuyển phôi lần hai. Câu nói đùa của bác sĩ Vệ khiến người đọc suy tư :
“Chúng tôi vẫn đùa rằng nếu hai bé này sau làm bác sĩ, chúng có thể kể
với đồng nghiệp là đã vào tủ đá hai lần, đều ở nhiệt độ -196OC. Ở nhiệt độ ấy, đá cứng hơn cả sắt.”[15]Thật
là hai đứa bé giống như một đồ vật nào đó, có thể được ông bác sĩ cất
vào tủ đá và có toàn quyền quyết định cho hai bé sống hay chết!
Giáo
hội dạy, trong hành vi vợ chồng, vợ chồng không “làm ra” đứa bé, nhưng
họ trao ban tình yêu cho nhau qua cử chỉ trao hiến thân xác cho nhau và
mở ra với hồng ân sự sống con người. Đứa bé được sinh ra qua hành vi vợ
chồng là một ân ban của Chúa: “Con người ra đời phải là hoa trái của
hành động trao hiến hỗ tương của cha mẹ, và được thể hiện nơi hành vi vợ
chồng. Trong hành vi đó, người nam và người nữ cộng tác với công trình
của Đấng Tạo Hóa, trong tư cách là những tôi trung chứ không phải như
những chủ nhân” (DV II. B, c. 4c). Điều cần nhấn mạnh, trong
việc tạo sinh sự sống mới, có chính Thiên Chúa hiện diện và làm chủ: cha
mẹ sinh con theo định luật tự nhiên mà Thiên Chúa ghi khắc nơi bản tính
người nam, người nữ khi tạo dựng con người, và chính Thiên Chúa tạo
dựng linh hồn cho sự sống mới. Mọi người đều là hình ảnh Thiên Chúa, nên
tự bản chất, đứa bé cũng là một ngôi vị như cha mẹ mình. Vì thế, con
cái không thể được xem như “sản phẩm” của cha mẹ, được cha mẹ hay các
nhà khoa học “làm ra” hay “sản xuất” và có toàn quyền trên sự sống chết
và nhân vị của nó.
- Giáo huấn Giáo hội về thụ thai nhân tạo
Tôn
trọng khả năng chuyên môn của từng ngành khoa học, Huấn quyền không can
thiệp vào lãnh vực riêng của y khoa. Tuy nhiên Huấn quyền nhắc nhở khi
áp dụng các thành quả y khoa vào con người, các nhà khoa học có trách
nhiệm luân lý phải tôn trọng mọi nhân vị, trong mọi giai đoạn cuộc sống,
và các can thiệp sinh sản phải bảo đảm tính đặc thù của các hành vi
nhân vị truyền thông sự sống. Bởi sứ mạng đào luyện lương tâm, Huấn
quyền can thiệp bằng cách đưa ra các nguyên tắc luân lý phát xuất từ
chính bản tính con người (x. DP 10).
Giáo
hội không loại trừ tiên thiên các kỹ thuật thụ thai nhân tạo. Nếu kỹ
thuật nào không thay thế hành vi vợ chồng, mà chỉ trợ giúp hành vi vợ
chồng đạt đến mục tiêu truyền sinh của nó, thì được chấp nhận về mặt
luân lý (x. DV, II, B, 6, được trích lại trong DP 12).
Trước hết, thụ thai nhân tạo dị ngẫu bị loại trừ do xúc phạm bản chất đơn nhất của hôn nhân (x. DP
12). Hôn nhân công giáo thiết lập chỉ có người chồng mới có quyền làm
cha của con mình, và cũng như vậy, chỉ có người vợ mới có quyền làm mẹ
sinh ra con mình. Phẩm giá của đứa con đòi buộc đứa con phải là hoa trái
của hôn nhân, căn tính của đứa con phải được xác định bởi người cha và
người mẹ trong hôn nhân. Thụ tinh nhân tạo dị ngẫu là điều đối nghịch
luân lý: “Việc thụ tinh nhân tạo dị ngẫu nghịch lại với sự kết hợp trong
hôn nhân, và phẩm giá của đôi vợ chồng, nó trái với ơn gọi riêng của
cha mẹ, và trái với quyền của đứa con được thụ thai và được ra đời trong
hôn nhân và từ hôn nhân.” (DV, II. A, 2)
Thụ
thai nhân tạo đồng ngẫu cũng không được chấp nhận vì tất cả các kỹ
thuật đang được áp dụng hiện nay đều thay thế hành vi vợ chồng, tách rời
việc truyền sinh khỏi bối cảnh hoàn toàn nhân linh của hành vi vợ
chồng- bối cảnh duy nhất xứng hợp để một nhân vị ra đời.Ngay cả phương
pháp bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI) là phương pháp điều trị vô
sinh đầu tay và được áp dụng phổ biến nhất, và được đánh giá là kỹ thuật
điều trị vô sinh hiệu quả nhất hiện nay, mà nhiều người, ngay cả một số
linh mục, lầm tưởng là có thể chấp nhận về mặt luân lý vì sự thụ tinh
xảy ra trong cơ thể người nữ, cũng không được chấp nhận vì nó vẫn thay
thế hành vi vợ chồng.[16]Ngoài
ra, tinh trùng có được trong phương pháp này thường do thủ dâm, là một
hành vi không hợp luân lý mà do giới hạn bài viết, tôi không bàn đến ở
đây.
Trong
gần mười năm dạy môn Luân lý y sinh học, tôi nhiều lần được các học
viên chất vấn, hay phàn nàn rằng Huấn quyền quá cứng ngắc, câu nệ. Họ lý
luận rằng: đúng là lý tưởng khi đứa bé được sinh ra trong bối cảnh hôn
nhân, qua hành vi vợ chồng; nhưng có trường hợp quá đau khổ, thậm chí đe
dọa tan vỡ hôn nhân vì vô sinh, thì thôi “có còn hơn không”, vợ chồng
cứ làm thụ thai nhân tạo, tuy cách thức không phù hợp lắm, nhưng có được
đứa con!
Thưa
các bạn, trong luân lý Công giáo, “mục đích không biện minh cho phương
tiện”, mục đích tốt phương tiện cũng phải tốt. Thí dụ, không phải vì
muốn giúp người nghèo mà tôi có thể tham nhũng. Về tầm quan trọng của
cách thức, ông bà tổ tiên ta nói “cách cho quý hơn của cho”. Các bạn có
đồng ý, cùng là ăn uống, nhưng con người ăn uống thì khác với “chó, mèo”
ăn uống! Văn hóa Việt Nam ta còn có cả một bộ môn về nghệ thuật ăn uống
cơ mà. Một thí dụ khác, các bạn nam đã yêu và từng yêu, có lần muốn tỏ
tình với cô gái trong mộng của mình, đem tặng cô ấy một bó hồng mà bạn
đã bỏ hàng giờ ra để lựa mua, gói giấy thật đẹp trang trọng, nhưng cô ấy
lại chẳng màng tới, đã thế, lại quăng bó hoa dưới đất và đạp lên nó!!!
Có lẽ lúc ấy chẳng những bó hoa tan nát, mà quan trọng hơn, con tim bạn
đang tan vỡ, đúng không nào?
Vậy
thì bạn hình dung đi, con người mang hình ảnh Thiên Chúa, khi con người
bị xúc phạm, thì chính hình ảnh Thiên Chúa nơi con người cũng bị xúc
phạm. Thân xác con người là đền thờ Chúa Thánh Thần, khi thân xác con
người bị xúc phạm, thì chính Chúa Thánh Thần bị xúc phạm! Một thí dụ
khác, trên đời này mạng sống là một trong các giá trị cao quý nhất, thế
nhưng có vị thánh tử đạo đã thà mất mạng sống còn hơn bước qua thập giá
gỗ! Một thập giá gỗ có gì đâu, nhưng sâu xa, đó là biểu tượng niềm tin
của tôi vào Thiên Chúa; đạp qua thập giá gỗ thô sơ đó là tôi chối bỏ
Đấng tôi tôn thờ. Cuộc sống ngày nay của chúng ta có nhiều điều đòi hỏi
“tử đạo” tương tự như thế nếu chúng ta muốn sống niềm tin nghiêm túc.
Như tôi đã phân tích ở trên, tạo ra đứa trẻ ngoài hành vi vợ chồng là
xúc phạm đến phẩm giá đứa bé, và xúc phạm đến chính Thiên Chúa. Chấp
nhận đau khổ, không làm thụ thai nhân tạo, cũng là một cách tử đạo ngày
nay mà không mất mạng sống đó bạn ạ.
Ngoài
ra, các kỹ thuật của thụ thai nhân tạo, mục đích đầu tiên là phục vụ sự
sống và thường được thực hành với ý hướng này, thực tế mở ra các tấn
công mới đối với sự sống con người. Các kỹ thuật này gây ra nhiều vấn
nạn luân lý. Chẳng hạn, do tỉ lệ thất bại cao, thất bại cả trong việc
thụ tinh và còn nguy cơ chết trong sự phát triển tiếp sau đó của phôi,
và để giảm giá thành, các nhà chuyên môn thường tạo ra số phôi nhiều hơn
nhu cầu cho việc cấy vào tử cung người phụ nữ. Các phôi này, gọi là
“phôi dư”, sau đó bị phá hủy hoặc dự trữ đông lạnh để dùng trong nghiên
cứu, với danh nghĩa vì sự tiến bộ khoa học, thực chất hạ thấp sự sống
con người xuống cấp độ chỉ là một “chất liệu sinh học” có thể tùy nghi
sử dụng (x. EV 14). Hơn nữa, trước khi cấy vào tử cung, các
phôi sẽ được phân loại di truyền tốt xấu, phôi tốt được giữ lại, phôi
xấu bị loại bỏ. Sau hết, đa thai là một hậu quả khác của thụ thai nhân
tạo, và để bảo đảm thai phát triển tốt, nhiều khi bác sĩ sẽ thực hiện
phá thai chọn lọc, giữ lại thai mạnh khỏe và bỏ thai yếu hay dị tật. Cả
thầy thuốc và cha mẹ thực hành chủ thuyết ưu sinh, vốn đi ngược lại phẩm
giá con người.
Theo
giáo huấn Giáo hội, phôi người ngay từ lúc trứng thụ tinh đã khởi đầu
sự sống của con người, phải được tôn trọng và đối xử như con người và do
đó cùng lúc, quyền con người của phôi thai phải được nhìn nhận. [17]Bộ
Giáo lý đức tin dạy rằng: “Từ lúc trứng thụ tinh, một đời sống mới bắt
đầu không phải của người cha, cũng không phải của người mẹ; mà đúng hơn
là một con người mới với khả năng tăng trưởng riêng của mình. Hữu thể
người này không bao giờ có thể là người nếu nó không phải đã là người.” (Declaration on Procured Abortion,
12) …“Giáo huấn này vẫn còn giá trị và được xác định hơn … bằng những
khám phá mới đây của khoa Sinh học con người nhìn nhận rằng trong hợp tử
phát xuất từ thụ tinh, căn tính sinh học của một cá thể người mới đã
được cấu thành.” (DV, I,1.)
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II giải thích thêm: “Bộ gen
di truyền xuất hiện như yếu tố cấu tạo và tổ chức của cơ thể …nó điều
khiển và chi phối tính thành viên loài người, nối kết di truyền và những
đặc trưng thân thể và sinh học của tính cá thể. Nó có ảnh hưởng quyết
định trên cấu trúc của hiện hữu thể lý từ lúc khởi đầu thụ tinh cho đến
cái chết tự nhiên. Chính trên cơ sở của sự thật nội tại của bộ di
truyền, đã hiện diện ngay lúc tạo sinh, khi mà bộ di truyền của người
cha và người mẹ hợp nhất, mà Giáo hội đảm nhận chính mình công việc bảo
vệ phẩm giá của mỗi người ngay từ lúc khởi đầu sự hiện hữu của người
ấy.”[18]
Do
đó, Ngài tuyên bố: “Với uy quyền mà Đức Kitô trao cho Phê-rô và những
người kế vị ngài, và trong sự hiệp thông với các giám mục của Giáo hội
Công giáo, tôi xác nhận rằng việc trực tiếp và cố ý giết con người vô
tội luôn luôn là điều bất luân nghiêm trọng. Giáo lý này, dựa trên luật
không văn tự mà con người, dưới ánh sáng của lý trí, tìm thấy trong tim
mình (x. Rm 2, 14-15), được Thánh Kinh tái khẳng định, Truyền thống của
Giáo hội lưu truyền, và được Huấn quyền thông thường và phổ quát giảng
dạy” (EV 57).
Như
vậy, trữ đông lạnh phôi là xúc phạm phẩm giá con người. Dùng phôi làm
nghiên cứu, hủy các phôi có bất thường bệnh lý, là phá hủy sự sống con
người giai đoạn sớm. Ngoài ra, xã hội còn nhiều vấn nạn luân lý khác
trong thực hành thụ thai nhân tạo dị ngẫu :bán tinh trùng, bán trứng,
thuê người mang thai hộ, hôn nhân đồng huyết thống sau này khi các đứa
con thụ thai nhân tạo lớn lên (vì các người cho tinh trùng, cho trứng
đuọc giữ kín danh tính), thụ thai nhân tạo cho các cặp hôn nhân đồng
tính, cho cô gái già chưa chồng... Bạn thử tìm trên trang mạng với cụm
từ “bán trứng”, “bán tinh trùng”, bạn có thể thấy “một chợ chồm hổm”
loạn xà ngầu với đủ thứ rao “hàng”, quảng cáo liên quan việc “làm ra”
con người. Các giá trị gia đình của truyền thống, môi trường nhân bản bị
hủy hoại.
Vài kỹ thuật hỗ trợ sinh sản có thể được chấp nhận về mặt luân lý
Huấn thị “Hồng Ân Sự Sống” (Donum Vitae) do Bộ Giáo lý đức tin ban hành năm 1987, và cả tài liệu cập nhật của nó là “Phẩm giá nhân vị” (Dignitas Personae)
ban hành năm 2008, không nói rõ một kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nào thỏa
mãn được nguyên tắc đưa ra để có thể được chấp nhận về mặt luân lý,
ngoài nguyên tắc chính là bất cứ kỹ thuật nào thay thế hành vi vợ chồng
đều không thể chấp nhận. Vì vậy về điểm này, chỉ dựa vào ý kiến hữu lý
của một số thần học gia.[19]
Sau đây là vài kỹ thuật hỗ trợ sinh sản mà một số thần học gia biện
luận cho rằng có thể được chấp nhận về mặt luân lý Công giáo. Trong mọi
trường hợp, phải hiểu rằng các biện pháp này được sử dụng hợp luân lý
chỉ trong bối cảnh vợ chồng.
1) Thủ thuật nhằm tái định vị tinh trùng hay noãn trước hay sau hành vi giao hợp
- Trường hợp tắc nghẽn tại vị trí mào tinh: di chuyển tinh trùng qua chỗ nghẽn ở mào tinh trước khi thực hiện hành vi giao hợp.[20] Hoặc,trường hợp tinh trùng kém di chuyển, sau khi giao hợp, dùng syringe hút tinh dịch từ âm đạo và đẩy nó vào tử cung và vòi fallop.[21]
- Chuyển noãn vào đoạn dưới ống dẫn trứng (LTOT Low Tubal Ovum Transfer):
áp dụng trong trường hợp vòi trứng bị tắt nghẽn hay tổn thương. Tiến
trình này bắt đầu bằng dùng thuốc kích thích buồng trứng người nữ để tạo
nhiều noãn trưởng thành. Cặp vợ chồng giao hợp ngay trước thời gian dự
đoán trứng rụng. Ngay sau đó, nội soi ổ bụng để lấy noãn và đặt noãn vào
đoạn vòi trứng dưới chỗ nghẽn hay vào trong tử cung, và cặp vợ chồng
thực hiện giao hợp lần nữa để tăng cơ hội thụ tinh. Mặc dù thủ thuật này
được xem như có thể chấp nhận về mặt luân lý bởi Tổng giám mục Daniel
Pilarczyk của Cincinnati vào năm 1983[22] cũng như được ủng hộ bởi ý kiến thần học [23] , nó không còn được sử dụng vì tỉ lệ thành công rất thấp.[24]
2) Tạm thời đem tinh dịch ra ngoài sau hành vi giao hợp: Sau
hành vi giao hợp, tinh dịch được hút khỏi âm đạo, xử lý để nâng cao
nồng độ tinh trùng, hoặc lọc rửa loại các chất độc làm yếu hay bất hoạt
tinh trùng rồi bơm lại tinh trùng vào âm đạo.
Tuy nhiên, các thủ thuật này hầu như không áp dụng vì hiệu quả không đáng kể.
Kết luận
Giáo
hội đánh giá cao các nỗ lực nghiên cứu của các nhà khoa học trong lãnh
vực thụ thai nhân tạo nhằm giúp các cặp vợ chồng vô sinh có được đứa con
mà họ khao khát. Tuy nhiên, Giáo hội nhấn mạnh cần để ý đến nhân phẩm
của đứa bé được thụ thai, cũng như tính thánh thiêng của hôn nhân. Việc
dùng khoa học kỹ thuật can thiệp vào tạo sinh phải giữ được sự kết hợp
vợ chồng cách tự nhiên và tôn trọng tính thánh thiêng sự sống con người
ngay từ lúc khởi đầu. Giáo hội kêu gọi các nhà thần học, các nhà giáo
dục giúp giáo dân đào sâu và hiểu biết hơn và những lời dạy của Huấn
quyền về vấn đề giới tính và hôn nhân. Qua đó, cùng với Giáo hội, họ
bênh vực và bảo vệ những giá trị cao quí của con người, giúp con người
có một cuộc sống xứng với phẩm giá nhân vị.
Là
người Kitô hữu, “mọi người đều phải ý thức rằng sự sống con người và
nhiệm vụ lưu truyền sự sống không chỉ bị giới hạn ở đời này, việc đánh
giá chân thật và ý nghĩa đầy đủ của chúng chỉ có thể hiểu được khi quy
chiếu về vận mệnh vĩnh cửu của con người” (GLGHCG 2371).
Trong
1 Sm 1,1-8, câu nói của Elkanah rất có ý nghĩa, ông khuyên nhủ vợ mình
là Hannah, khi bà ấy khóc lóc không chịu ăn uống vì không thể sinh con :
“Tại sao em khóc, tại sao em không ăn? Anh đây không tốt hơn mười đứa
con trai sao?” Quả vậy, yêu nhau thực sự, đau khổ sẽ làm hai người gắn
bó, cần đến nhau hơn. Tuy đồng cảm với nỗi thống khổ của các cặp vợ
chồng vô sinh, Tòa Thánh kêu gọi các cặp vợ chồng đó, sau khi đã điều
trị vô sinh bằng các biện pháp chính đáng mà không thành công, thì hãy
chấp nhận “thân phận người” với các giới hạn không thể vượt qua. Lúc ấy,
vợ chồng được mời gọi đón nhận thánh giá, cùng với Chúa Giêsu trên
thánh giá dâng hy lễ lên Chúa Cha. Vợ chồng cố gắng vượt qua nỗi đau
riêng, mở lòng đối với các trẻ mồ côi bơ vơ, đón nhận chúng vào mái ấm
tình thương của gia đình mình, cho các em cơ hội thăng tiến. Đó cũng là
sống tình liên đới. Kinh hòa bìnhcủa Thánh Francis Assisi nhắc nhở:
“chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân”, khi quên mình thì gặp lại
cái tôi đích thật mang hình ảnh Thiên Chúa. Kinh nghiệm của nhiều cặp
vợ chồng vô sinh nuôi con nuôi cho thấy hạnh phúc do đứa con nuôi ấy
mang lại cũng thật nhiệm mầu bao la.
[1] Lan Anh, “Thành tựu của tình yêu và y học”, 29/12/2013
[2]X.
Sứ điệp của Đức Gioan Phaolô II ngày Quốc tế Giới trẻ năm 2002, được
Đức Hồng Y Nguyễn văn Thuận dùng lại trong lời giới thiệu về “Sứ điệp
lao tù”.
[3] X. Kim Thao, “Quan Niệm Về Thần Học Luân Lý Theo Thánh Tôma”, <http://daminhvn.net/tai-lieu/hoc-thuyet-thanh-thomas-aquinas/2256-quan-n...
[4] Theo BS Hồ Mạnh Tường, “ Thụ tinh nhân tạo bằng phương pháp bơm tinh trùng vào buồng tử cung”,
[5] Hình 1.2.3.4.6 và 7 lấy từ
[6]<http://www.fertilityspecialist.co.za/services/pre-implantation-genetic-d... Lấy ngày 30/6/2008
[7] Hiến Chế Mục Vụ, số 50.
[8] P. Thảo, “Trẻ sinh ra từ tinh trùng tử thi: Chưa thể khai sinh theo họ cha”, <http://dantri.com.vn/suc-khoe/tre-sinh-ra-tu-tinh-trung-tu-thi-chua-the-khai-sinh-theo-ho-cha-822027.htm>(31/12/2013).
[9]“Pháp luật 'bỏ ngỏ' vụ sinh con nhờ tinh trùng chồng đã chết”
<http://tuvan.doisongphapluat.com/tin-tuc-va-luat-su/goc-nhin/phap-luat-bo-ngo-vu-sinh-con-nho-tinh-trung-chong-da-chet-d4823.html?utm_source=taka-banner&utm_campaign=TakaTaka&utm_medium=exchange> (31/12/2013)[10] Tuấn Hợp, “Cặp song sinh ‘đặc biệt’ đã được khai sinh theo họ bố”, <http://dantri.com.vn/suc-khoe/cap-song-sinh-dac-biet-da-duoc-khai-sinh-t... (10/1/2014).
[11] Bộ Giáo Lý Đức Tin, Huấn Thị Dignitas Personae DP, s. 8.
[12] Bộ Giáo Lý Đức Tin, Huấn Thị Donum Vitae, DV, phần Giới Thiệu, câu hỏi 6.
[13] Pius XII, Address to Midwives, 29/10/1951. http://www.fisheaters.com/addresstomidwives.html (tra cứu 28/03/2013)
[14] Paul VI, Thông điệp Humanae Vitae, số 12.
[15] Lan Anh, Tâm Lụa, “Chuyện tình ‘cổ tích’ thời nay”, < http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/588359/chuyen-tinh-co-... (3/1/2014).
[16] Có thể tham khảo kỹ thuật thụ tinh nhân tạo bằng phương pháp bơm tinh trùng vào buồng tử cung ở bài viết của
BS. Hồ Mạnh Tường, “Thụ tinh nhân tạo bằng phương pháp bơm tinh trùng vào buồng tử cung” http://www.giaoducsuckhoe.net/article.asp?articleID=539&CategoryID=3&Sub...
BS. Hồ Mạnh Tường, “Thụ tinh nhân tạo bằng phương pháp bơm tinh trùng vào buồng tử cung” http://www.giaoducsuckhoe.net/article.asp?articleID=539&CategoryID=3&Sub...
[17]
Bộ Giáo lý Đức Tin, “Instruction on Respect for Human Life in Its
Origin and on the Dignity of Procreation,” (Rome, 22/2/1987), Donum Vitae, Origins (Vol.16, n.40, 3/ 1987) 701.
[18] Gioan Phaolô II, “Address to the Fourth General Assembly of the Pontifical Academy for Life (24/2/1998) L’Observatore Romano, 25/2/1998, 5.
[19] “Theological opinion on permissible assisted reproductive technologies (ART)”
http://www2.loras.edu/~CatholicHE/Arch/Sexuality/ART2.html
http://www2.loras.edu/~CatholicHE/Arch/Sexuality/ART2.html
[20]
John W. Carlson, “Interventions Upon Gametes in Assisting the Conjugal
Act toward Fertilization” , trong Kevin William Wildes, S.J. (ed.), Infertility: A Crossroad of Faith, Medicine, and Technology (Boston: Kluwer, 1997), tr. 109.
[21]Orville N. Griese, Catholic Identity in Health Care: Principles and Practice
(Braintree, MA: Pope John Center, 1987), tr. 42, 45; Carlson,
“Interventions Upon Gametes in Assisting the Conjugal Act toward
Fertilization”, tr. 111.
[22]Letter
of Archbishop Daniel Pilarczyk to Thomas Hammer, Chair of the Board of
Trustees, St. Elizabeth Medical Center, Dayton, Ohio; Peter Feuerherd,
New Hospital Infertility Program seen as a Blessing The Catholic Telegraph, Cincinnati, Ohio, 9/9/ 1983 at 124.
[23] X. Donald McCarthy, “Should Catholic Hospitals Encourage Low Tubal Ovum Transfers?” Hospital Progress
(March 1984): 55-6; DeMarco, “Catholic Moral Teaching and TOT/GIFT”,
tr. 126; William May, “Catholic Teaching on the Laboratory Generation of
Human Life”, in Marilyn Wallace, RSM and Thomas W. Hilgers (eds.), The Gift of Life The Proceedingsof a National Conference on the Vatican Instruction on Reproductive Ethics and Technology (Omaha, NB: Pope Paul VI Institute Press, 1990), tr. 87.
[24]DeMarco,
“Catholic Moral Teaching and TOT/GIFT,” p. 127; David S. McLaughlin, “A
Scientific Introduction to Reproductive Technologies” trong Donald G.
McCarthy (ed.), Reproductive Technologies, Marriage and the Church (Braintree, MA: Pope John Center, 1988), tr. 64St Martino - Tấm Bánh của Thiên Chúa
22:37 |
St Martino - Tấm Bánh của Thiên Chúa
Tin Mừng theo thánh Luca
Đám đông dân chúng biết thế, liền đi
theo Người. Người tiếp đón họ, nói với họ về Nước Thiên Chúa và chữa
lành những ai cần được chữa. 12 Ngày đã bắt đầu tàn. Nhóm
Mười Hai đến bên Đức Giê-su thưa Người rằng: "Xin Thầy cho đám đông
về, để họ vào các làng mạc nông trại quanh đây, tìm chỗ trọ và kiếm
thức ăn, vì nơi chúng ta đang ở đây là nơi hoang vắng."13
Đức Giê-su bảo: "Chính anh em hãy cho họ ăn." Các ông đáp: "Chúng con
chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá, trừ phi chính chúng con phải
đi mua thức ăn cho cả đám dân này."14 Quả thật có tới chừng
năm ngàn đàn ông. Đức Giê-su nói với các môn đệ: "Anh em hãy bảo họ
ngồi thành từng nhóm khoảng năm mươi người một."15 Các môn đệ làm y như vậy, và bảo mọi người ngồi xuống.16
Bấy giờ Đức Giê-su cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên
trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho môn đệ để các ông dọn ra
cho đám đông.17 Mọi người đều ăn, và ai nấy được no nê. Những miếng vụn còn thừa, người ta thu lại được mười hai thúng.
Suy Niệm
Cơm
ăm, áo mặc, ước uống, thuốc men, nhà cửa, tiền tài danh vọng… có thể
giúp cho con người kéo dài sự sống, khẻo mạnh, sung túc…Thế nhưng,
những thứ đó lại không thể bảo đảm cho con người thoát được cái chết
cho dầu người ta có sở hữu nhiều của cải vật chất đến đâu đi chăng nữa.
Vậy mà, biết bao người vẫn mê mải đi tìm thứ lương thực mau qua chóng
mất ấy, khiến Đức Giêsu phải nhắc nhở: “Anh em hãy ra công làm việc
không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn
đem lại phúc trường sinh”.
Lương thực đem lại phúc trương sinh ấy chính là Đức Giêsu như Ngài đã khẳng định: “tôi là bánh từ trời xuống”
Trong những giây phút ngắn
ngủi được ở bên Chúa hôm nay, chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho chúng
ta được luôn ghi nhớ lời dạy của Chúa và ra công làm việc hơn nữa, Để
có thể gặt hái được thứ lương thực Ngài đã hứa.
Trong các chiến dịch trang cửu, các ứng
viên thương đưc ra nhiều lời hứa, nhiều chương trình cải cách, nhiều
viễn tưởng tốt đẹp… cho một tương lai sáng lạn hơn để thuyết phục mọi
người đầu phiếu cho mình. Tuy nhiên, biết bao nhiêu lần trong lịch sử,
những lời hứa đó cũng chỉ là lời hứa suông mà thôi, viễn cảnh tốt đẹp
kia chỉ là bản vẽ; hết nhiệm kỳ, đôi khi tình trạng lại còn tồi tệ hơn
trước.
Còn trong đoạn Tin Mừng chúng ta vừa
nghe, Đức Giêsu khẳng định Ngài chính là “Bánh Trương Sinh” và Ngài
hứa rằng: “ai đến với Ngài, không hề phải đói; ai tin vào Ngài, chẳng
khát bao giờ!”. Đức Giêsu đã không hứa suông; Ngài đã hứa điều đó sau
phép lạ hoá bánh ra nhiều như một minh chứng cho lời hứa. Lời hứa ấy
được ký kết bằng bí tích Thánh Thể trong bữa tiệc ly, được hoàn tất
bằng cái chết và sự phục sinh của Ngài. Một lời hứa ngàn vàng không đổi
được vì được bảo chứng bằng chính mạng sống của Con Thiên Chúa.
Chúng ta biết rằng: chúng ta được tạo
thành là nhờ Thiên Chúa và cho Thiên Chúa, dù chúng ta có muốn hay
không. Cơn đói khát của chúng ta là đói khát Thiên Chúa. Vì thế, mọi
lương thức trần gian mau hư nát chỉ làm cho con người them khát thêm
mà thôi. Lương thực đích thực và duy nhất của chúng ta là lương thực
phát xuất từ Thiên Chúa. Ngoài Thiên Chúa, không có gì có thể làm thoả
mã con người hoàn toàn được. Vì vậy, Chúa Giêsu đã và đang mời gọi
chúng ta hãy đến với Ngài để được no thoả, vì Ngài là “Bánh Trương
Sinh”, là “Nước Hằng Sông”. Người không lừa dối chúng ta đâu, chỉ có
chúng ta có chịu tin vào Ngài hay không mà thôi.
Vì đã hứa nên Đức Giêsu đã chấp nhận
cái chết để cho chúng ta được sống. Còn mỗi người chúng ta đã hứa gì
với Ngài? Và đã thực hiện lời hứa ấy ra làm sao?
Chúng ta hãy năng đến với Chúa Giêsu
Thánh Thể để tâm sự, để chia sẻ với Chúa những vui buồn, sương khổ,
những thành công và những thất bại chúng ta gặp trong cuộc sống để được
Ngài nâng đỡ ủi an và bổ sức cho.
Mỗi khi có thể chúng ta hãy chuẩn
bị tâm hồn mình cho xứng đáng để rước lấy Mình và Máu Thánh Chúa, để
linh hôn chúng ta không con phải đói phải khát nữa.
Thánh Martinô, được ví như tấm bánh bẻ
ra cho những người nghèo. Tấm bánh ấy, được bẻ ra và trao ban, trao ban
cho những người đói để họ được no nê. Vì vậy, Martinô được mệnh danh
là cha của kẻ nghèo. Vì trong xuất cuộc đời của ngài chỉ biết yêu
thương và phục vụ những người nghèo. Xin thánh nhân cầu cũng Chúa cho
hết mọi người được bình an và hạnh phúc. Amen
NHÂN PHẨM GIÁ 5000!?
07:27 |
Chỉ 5k
Ông già giữ xe có xăm một con hổ trên cánh tay. Chỗ giữ
xe của ông đông khách đến bực mình. Giá rẻ, không "kỳ thị" xe gì. Nhận
hết. Ông thường không từ chối khách giữ
xe, vì ai cũng có việc cần mới đi lên cái cơ quan bên hông bãi đó. Nhưng
một sáng, ông nói: Cô để xe lên kia giúp tôi. Ông chỉ vào chỗ trống. Cô
gái không để xe vào vị trí được chỉ dẫn, mà chỉ de lên lề, xuống và
tháo khẩu trang, đóng cốp xe, và hỏi ông phiếu giữ xe. Ông im lặng... Và
gầm lên:
![]() | |||
| 5000 có đủ để mua nhân phẩm! Có đủ để mình lên voi và cho người khác xuống chó! - ảnh Argibankphuyen |
- Đi chỗ khác gửi. Đây hết chỗ rồi!
Cô gái không hề kém cạnh, cô hỏi sao không đưa phiếu cho cô.
Ông ngang bướng:
- Cô đi chỗ khác, tôi hết chỗ rồi!
Trong khi đó, bãi xe còn một đoạn dài chưa có xe nào để, và tất nhiên, chỗ ông đã chỉ dẫn cô cũng chưa có ai đậu.
Tôi nghe xong câu chuyện thì đi vào khu xin giấy tờ. Cũng không để ý nhiều.
Cho đến một lần khác, tôi quay lại tòa nhà đó, và đi thẳng xuống hầm để xe vì trời mưa, không đậu xe chỗ ông.
Một hàng xe dài dâng lên liên tục vì ai cũng muốn vào làm giấy tờ, lại
giờ cao điểm. Bốn anh thanh niên mặc đồ bảo vệ cao to, còng lưng đẩy
từng chiếc xe đậu lung tung vào chỗ. Chỉ 2 phút sau, mọi việc mất kiểm
soát, vì tất cả mọi người đều đậu bất cứ chỗ nào mình thích. Cuối cùng,
chú bảo vệ già nhất làm việc điều tiết phải la lên: Các anh chị ơi, đậu
sát vào vị trí trong vạch dùm tôi, cả ngàn chiếc, anh em xếp sao được.
Mặc kệ. Mọi người chỉ đơn giản là thắng xe, gạt chống, lột áo mưa và bỏ
chiếc xe nằm ở bất cứ chỗ nào họ thấy tiện. Trong hầm nóng, 4 anh bảo
vệ cúi gằm mặt đẩy, kéo từng chiếc xe vào đúng vạch sơn vàng và thẳng
hàng, áo nhễ nhại mồ hôi.
Lúc đó, tôi đã nghĩ đến ông giữ xe có
hình xăm bên ngoài và trò ngang bướng của ông ở trên kia. Có những người
rất kỳ lạ, họ nghĩ rằng họ bỏ ra 5k-10k tiền giữ xe, và họ có quyền ném
xe dưới lề đường, bất chấp tình huống của một bãi giữ xe hàng ngàn
chiếc và sự vất vả của người làm công việc này.
Cô gái kia, quen
thuộc y như lũ người tôi gặp, họ đang mải mê đi xin giấy tờ. Họ cần o
bế một ai khác. Họ không quan tâm đến những người thấp kém, người cởi
trần, người mặc áo bảo vệ, người dưới hầm. Họ có 5k - đủ sức chi trả để
lên xe xuống ngựa, vứt xe đấy, mặc cho ai phải xoay sở cực khổ thế nào
với việc họ phải làm, thế mới đáng số tiền bỏ ra.
5k có đủ một
bữa cơm cho người giữ xe không? 5k có đủ để biến một người thành đẳng
cấp hơn so với một người khác không? - Hay những người giữ xe là những
kẻ không xứng đáng được đối thoại, được tôn trọng, hay đáng đời họ làm
giữ xe thì phải đẩy xe, kéo xe chứ, than phiền gì nữa?
Ta quá
quen với cách tưởng thưởng cho mình quyền được trèo lên lưng người khác
cưỡi vì có đủ tiền bỏ ra mua dịch vụ, hay phải cảm thấy được cưỡi thì
mới xứng đáng với số tiền bỏ ra. Ta quên mất cách phải tôn trọng người
khác - như người - cũng giống mình.
Họ quên mất rằng, chỉ cần
đạp ga xe, chạy nhấn lên 2 giây nữa, vượt qua vạch vàng, và kéo chiếc xe
sát vào chiếc bên cạnh, họ đã giúp những người bảo vệ bớt đi bao nhiêu
mồ hôi, cơn mệt mỏi, và cả sự ức chế trong không gian ngột ngạt thiếu
khí của hầm để xe. Hoặc nếu ai giỏi tưởng tượng hơn, những anh bảo vệ đó
không xứng đáng bị đối xử thô thiển như vậy, vì họ đang làm thuê với
những đồng lương rẻ mạt và cực nhọc của người lao động tay chân.
Với em khách giữ xe thanh lịch có 5k kiểu vậy, gầm lên và đuổi đi như
ông giữ xe già , có lẽ là trò rất bực mình mà ông ấy phải làm, để khỏi
phải cầu xin như chú bảo vệ bên dưới hầm, với 1 lũ vô tâm kỳ lạ
-------------------
TMSS: Ai cũng muốn được tôn trọng nhưng lại không muốn tôn trọng người khác hỏi sao nhận lại!
Lòng vị tha – Chìa khóa cho một cuộc sống Hạnh Phúc
05:39 |Lòng vị tha – Chìa khóa cho một cuộc sống Hạnh Phúc
Khi cảm thấy giận dữ, cơ thể thể chúng ta sẽ sản sinh ra một chất làm cho chúng ta cảm thấy rất khó chịu với mọi thứ xung quanh. Sự giận dữ, nếu không được hóa giải thì nó sẽ vẫn nằm ẩn sâu ở trong tàng thức mỗi chúng ta, nó không mất đi. Đó là một trong những mối nguy hiểm tiềm tàng đối với niềm hạnh phúc trong cuộc sống của chúng ta.
Bạn
không thể có những bắt đầu mới, những sự khởi đầu tốt đẹp với bất kỳ mối
quan hệ nào, với một ai đó, với tiền bạc và nhiều thứ khác, cho tới khi
bạn giải phóng được những cảm xúc giận dữ bực bội kéo dài bấy lâu nay
với ba mẹ bạn, với vợ hoặc chồng, bạn bè, người yêu hay bất cứ người nào
đó, đã làm tổn thương bạn trong quá khứ. Nếu không buông bỏ những cảm xúc đó thì bạn sẽ lại kéo dài nỗi đau ấy ở trong tâm hồn bạn.
Một câu trích dẫn mà tôi rất tâm đắc đó là: “Khi bạn giữ sự tức giận ở trong lòng thì cũng giống như việc bạn đang uống thuốc độc và cầu mong cho người khác chết”
Vậy làm thế
nào chúng ta có thể giải phóng sự giận dữ ở trong bạn? Chúng ta hãy cởi
mở và tha thứ đối với những hành vi của những người xung quanh: HÃY THA THỨ CHO HỌ VÌ HỌ KHÔNG BIẾT ĐIỀU ĐÓ.
Cách tốt nhất để loại bỏ đi sự giận dữ là học cách tha thứ cho người
khác, thậm chí họ mắc phải những sai lầm chết người. Hãy làm tất cả
những gì tốt nhất vào bất cứ thời điểm nào, dù đó có thể không phải là
thời điểm tươi sáng trong cuộc đời chúng ta, nhưng đó có thể là thời
điểm tốt nhất trong thời gian đó. Hiểu về chân lý đơn giản này sẽ hỗ trợ
rất nhiều cho chúng ta trong việc loại bỏ sự tức giận ra khỏi cuộc sống
chúng ta.
Có bao giờ
trong cuộc sống bạn cảm thấy mình trở nên giận dữ? Đó không phải là một
điều gì đó quá lớn trong cuộc sống. Đó là câu chuyện về kết quả và sự
lựa chọn của chúng ta ở mỗi khoảnh khắc xảy ra trong cuộc sống. Tất cả
những gì chúng ta cần phải làm là nhớ lại những sự việc, những con người
ở một hoàn cảnh nào đó làm cho chúng ta cảm thấy giận dữ và cả những
phản ứng khác nữa có thể là do sự lo sợ, mong muốn sự công nhận từ người
khác! Khi đó, hãy lùi lại một vài bước để có thể quan sát chúng, những
vấn đề mà bạn đang mắc phải, đừng lãng tránh hay tỏ ra lo sợ trước
chúng, hãy đối diện để trở vượt qua chúng!
Khi nhận
thức được vấn đề, bây giờ chúng ta có cơ hội để có một sự lựa chọn mới
nhằm hỗ trợ cho sự phát triển của chúng ta trong cuộc sống, chúng ta có
thể chủ động chọn những phản ứng của chúng ta trước một vấn đề nào đó
trong cuộc sống – hãy tha thứ và tiếp tục tiến tới – hãy nhớ rằng cố kìm
nén sự giận dữ trong lòng chỉ càng làm gia tăng thêm nỗi đau trong
chúng ta.
Vì vậy, bạn không cần phải quên nhưng bạn cần sự tha thứ. Lòng vị tha là chìa khóa,
bởi vì khi bạn cảm thấy nhẹ nhàng buông bỏ những hành đông hay sự việc
khó chịu, chính bạn đã được giải thoát khỏi sự giận dữ và những cảm xúc
không tốt xung quanh những sự việc đó.
Kìm nén sự
giận dữ trong lòng sẽ tạo nên nhiều vết thương và sự đau đớn cho tâm hồn
bạn. Vì lợi ích của riêng bạn, hãy nói với những người bạn cảm thấy
giận dữ, một cách chân thành rằng, bạn tha thứ cho họ, bạn sẵn sàng bỏ
qua những lỗi lầm mà họ đã vô tình hay cố ý gây ra cho bạn. Tha thứ
không có nghĩa là tìm cách quên đi tất cả mọi thứ, chắc chắn bạn sẽ nhớ.
Tha thứ là cách chữa lành vết thường tâm hồn.
Điều quan
trọng mà bạn cần ghi nhớ: Đừng chấp nhận bất cứ điều gì từ thế giới bên
ngoài. Đừng lo lắng người khác sẽ nghĩ gì về bạn, đừng lo sợ họ sẽ phản
ứng như thế nào đối với hành động tha thứ của bạn, có thể họ sẽ nói với
bạn rằng họ không cần bạn phải tha thứ bất cứ điều gì cho họ hay họ sẽ
có những hành động khác. Vấn đề ở đây không phải là họ như thế nào, đây
là cách thức giúp bạn loại bỏ sự giận dữ và hàn gắn vết thương tâm hồn.
Hãy tập trung vào chính bạn, nghe và chấp nhận những thực tại, và đó là
cách làm giúp bạn trở nên hòa hợp với thế giới xung quanh.
Hãy thực
hành và nói cho chúng tôt biết về những trải nghiệm, những cảm xúc của
bạn sau khi thực hành lòng vị tha! Điều gì tạo nên sự thay đổi tích cực
và đầy ý nghĩa trong cuộc sống của bạn về những điều đã xảy ra khi bạn
loại bỏ được những cảm xúc bực tức và sự giận giữ với một vài người quan
trọng trong cuộc sống của bạn?
TMSS sưu tầm


