Sống Theo Thần Khí.

01:22 |
 Sống Theo Thần Khí.

Trích thư thứ nhất của thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô (1Cr 2, 10-13).

10 Thưa anh em, chúng ta đã được Thiên Chúa mặc khải cho, nhờ Thần Khí. Thật vậy, Thần Khí thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa. 11 Vậy ai trong loài người biết được những gì nơi con người, nếu không phải là thần trí của con người trong con người ? Cũng thế, không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là Thần Khí của Thiên Chúa. 12 Phần chúng ta, chúng ta đã không lãnh nhận thần trí của thế gian, nhưng là Thần Khí phát xuất từ Thiên Chúa, để nhận biết những ân huệ Thiên Chúa đã ban cho chúng ta. 13 Để nói về những điều đó, chúng tôi không dùng những lời lẽ đã học được nơi trí khôn ngoan của loài người, nhưng dùng những lời lẽ học được nơi Thần Khí; chúng tôi dùng những lời lẽ Thần Khí linh hứng để diễn tả thực tại thuộc về Thần Khí.

 Suy niệm:

Nếu như hơi thở cần thiết cho sự sống con người thế nào thì Thần Khí cần thiết cho đời sống đức tin thế đấy và còn hơn thế nữa. Thần khí chính là nguồn sinh khí nuôi sống đức tin của người Kitô hữu.

Thật vậy, mỗi giây phút của cuộc sống, con người chúng ta đều phải được Thần khí nuôi dưỡng. Khi ta cầu nguyện, làm việc lành phúc đức, làm việc từ thiện bác ái hay làm bất cứ việc gì với ý ngay lành, thánh thiện thì Thần Khí Chúa luôn hoạt động trong chúng ta. Trước hết,Thần Khí giúp ta có lòng mến, soi sáng hướng dẫn và ban ơn khôn ngoan cho ta vì: “chúng ta đã được Thiên Chúa mặc khải cho, nhờ Thần Khí. Thật vậy, Thần Khí thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa”. Và: “không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là Thần Khí của Thiên Chúa”.

Chính vì thế, để có thể sống đời Kitô hữu tốt lành, chúng ta cần phải tập sống kết hiệp với Thần khí Chúa, luôn mở rộng cõi lòng mình ra để Thần Khí Chúa tác động. Và, chúng ta phải noi gương thánh Phaolô khi thi hành sứ vụ hay là bổn phận hằng ngày trong đời sống, luôn sống theo Thần Khí và để Thần Khí hướng dẫn trong mọi việc: “chúng tôi không dùng những lời lẽ đã học được nơi trí khôn ngoan của loài người, nhưng dùng những lời lẽ học được nơi Thần Khí ; chúng tôi dùng những lời lẽ Thần Khí linh hứng để diễn tả thực tại thuộc về Thần Khí.”

Như thánh Tông đồ khuyên bảo, chúng ta đừng có cậy dựa vào những gì học được nơi trí khôn ngoan và sự hiểu biết của con người, nhưng chúng ta phải dùng những lời lẽ học được nơi Thần Khí. Điều đó, thánh Martinô thân yêu của chúng ta đã thực hiện một cách triệt để trong suốt cuộc đời của ngài.

Từ khi là một y tá kiêm nghề hớt tóc, thánh Martinô đã sống và làm việc theo sự hướng dẫn của Thần Khí Chúa. Thánh nhân đã để cho Thần khí Chúa hoạt động trong con người nhỏ bé của mình. Thánh Martinô đã buông mình dưới sự dẫn dắt của Thần Khi từ những công việc bé nhỏ nhất trong đời sống hằng ngày của mình.

Cũng nhờ Thần Khí Chúa tác động và thúc đẩy, thánh nhân đã dâng hiến cuộc đời cho Chúa trong dòng Anh Em Giảng Thuyết để phụng sự Thiên Chúa và phục vụ tha nhân. Nếu như khi còn ở ngoài đời thánh Martinô đã sống theo Thần Khí thế nào, thì khi vào dòng, thánh nhân càng để cho Thần Khí dẫn dắt hướng dẫn mình thế đấy.

Công việc hằng ngày của thánh nhân là phục vụ săn sóc bệnh  nhân,là những công việc “không tên”, là những công việc tầm thường, nhưng nhờ sống theo Thần Khí, thánh Martinô đã biến những công việc tầm thường ấy thành những công việc phi thường. Và như thế, công việc của thánh nhân không chỉ là những công việc bổn phận, nhưng mang lại ơn cứu độ cho chính bản thân và cho tha nhân.

Với bàn tay chất chứa tình yêu thương, thánh Martinô đã xoa dịu vết thương lòng và thể xác nơi những con người cùng khổ. Thánh nhân đã yêu thương, nâng đỡ, chở che và giúp họ tìm ra ý nghĩa cuộc đời và giá trị của cuộc sống trần gian. Không dừng lại ở đó, thánh Martinô còn giúp những người đến với ngài nhận ra và sống theo sự hướng dẫn của Thần Khí, hướng mọi người về cuộc sống và quê hương đích thực trên trời.


Lạy Chúa, xin ban cho chúng con Thần Khí Chúa, để chúng con sống theo sự hướng dẫn của Thần Khí và buông mình theo Thần Khí Chúa hầu chúng con trở thành những chứng nhân đích thực cho Tình Yêu Chúa giữa cuộc đời. Xin cho mỗi chúng con biết rộng mở cõi lòng mình ra để Thần Khí Chúa tác động như xưa đã tác động thánh Martinô, để cùng với thánh nhân chúng con có được một sự xác tín như thánh Phaolô rằng: “chúng tôi dùng những lời lẽ Thần Khí linh hứng để diễn tả thực tại thuộc về Thần Khí”

Lạy thánh Martinô, xin giúp mỗi chúng con biết sống theo gương sáng của ngài. Xin chuyển cầu cho chúng con là những người đang thành tâm cầu khẩn ngài cho chính bản thân, người thân, gia đình chúng con cũng như cho những người nghèo khổ túng bấn trong xã hội hôm nay Amen.
Tá Đương OP
Xem thêm…

Hiến dâng thân mình làm của lễ dâng Chúa.

01:18 |
Hiến dâng thân mình làm của lễ dâng Chúa.


Trích thư của thánh Phaolô Tông đồ gửi giáo đoàn Rôma (Rm 12, 1-2).

1 Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người. 2 Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa : cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo.

 Suy niệm:

Cuộc đời chúng ta một chuỗi hồng ân Thiên Chúa ban tặng. Hồng ân nối tiếp hồng ân. Từ hư vô, Thiên Chúa đã yêu thương tạo thành, cho ta được làm người và làm con Thiên Chúa trong lòng Giáo Hội, Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta thân xác và sự sống thần linh của Ngài, để chúng ta được tham dự vào sự sống và vinh quang của Chúa. Chúa cũng muốn chúng ta dùng thân xác đó để yêu mến và phụng sự Chúa. Qua thánh Phaolô Tông đồ, chúng ta được mời gọi: “hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa”.

Hiến thân làm của lễ là biến cuộc đời chúng ta thành lễ phẩm, được gom kết từ những hy sinh nhỏ bé, những lao công vất vả, những giọt mồ hôi nước mắt đến những đau khổ lớn lao trong cuộc đời mỗi người chúng ta. Hiến thân phụng sự Chúa đòi hỏi chúng ta an vui với những gì Chúa trao ban. Khước từ những hưởng thụ không cần thiết,  để chia sẻ cho người thiếu thốn. Biết chế ngự bản thân, vượt thắng những khuynh hướng xấu. Chết đi cho con người cũ, tức là những hành vi ám muội, những ham muốn tội lỗi, mặc lấy tâm tình, các nhân đức của Chúa Giêsu, luôn hướng thượng, luôn xin vâng ý Cha dẫu có phải chết.

Với ý nghĩa đó, thánh Martinô thân yêu của chúng ta đã hoàn toàn dâng hiến cuộc đời của ngài làm lễ vật dâng tiến Thiên Chúa. Noi gương Thầy Chí Thánh Giêsu, thánh Martinô đã trao hiến cả cuộc đời của mình cho Thiên Chúa và tha nhân. Thánh nhân đã thực sự đáp lại lời mời gọi của Chúa qua đoạn Kinh Thánh mà chúng ta vừa nghe hôm nay.

Cuộc đời của thánh Martinô  là một cuộc đời dâng hiến liên lỉ. Dâng hiến từ những hoàn cảnh khó khăn, thử thách, những nỗi bi đát trong cuộc sống đến những niềm vui, cuộc sống  thanh bình trong tu viện, từ khi là một cậu bé mồ côi, bị xã hội và chính cha ruột của mình bỏ rơi, đến việc dâng hiến cuộc đời qua nếp sống tu trì trong dòng Đaminh và cho đến khi hoàn tất cuộc đời trong dòng.

Thánh Martinô đã dùng chính cuộc đời mình tiến dâng Chúa và phục vụ tha nhân. Thánh nhân đã ý thức được việc phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân, nhất là những người nghèo khổ, bị ruồng rẫy trong xã hội, những người bệnh tật khổ đau thể xác và tâm hồn… Với bàn tay chất chứa tình yêu thương, thánh Martinô đã xoa dịu vết thương lòng và thể xác nơi những con người cùng khổ. Thánh nhân đã yêu thương, nâng đỡ, chở che và giúp họ sống xứng với phẩm giá con người.

Và qua đó, thánh Martinô đã giúp cho những con người cùng cực đau khổ đến với ngài được vững tin vào Chúa và sống cuộc đời có ý nghĩa hơn, sống cuộc đời làm con Chúa, kết hợp những khổ đau trong đời sống với thập giá Chúa Giêsu hầu đem lại ơn cứu đọ cho mình và thế giới. Và như thế, thánh Martinô ý thức được rằng, vinh quang chỉ có được sau khi đón nhận thập giá đời mình; nhờ đó, với đức tin kiên cường, tình yêu nồng cháy, và ý chí dũng mạnh, chúng ta giang rộng đôi tay ôm lấy thánh giá Chúa gửi đến.

Lễ vật dâng hiến của thánh Martinô  là thế đó. Noi gương thánh nhân, chúng ta cũng hãy dâng lên Chúa của lễ cuộc đời ta với những yếu đuối, mỏng manh của thân phận con người, với những khổ đau trong kiếp nhân sinh, với cả niềm vui, niềm hạnh phúc trong cuộc sống… chắc chắn Chúa sẽ ưng nhận của lễ như thế của chúng ta. Xin thánh Martinô  chuyển cầu cho mỗi người chúng ta và giúp chúng ta luôn biết nhìn lên ngài mẫu gương sống động trong đời sống đức tin thường ngày.

Lạy Chúa, giữa thế giới tục hóa hôm nay, xin cho mỗi người chúng con biết nhận ra đâu là ý nghĩa đích thực của cuộc sống. Giữa những chọn lựa của cuộc đời, xin cho chúng con biết chọn Chúa là gia nghiệp, là hạnh phúc và là lẽ sống của chúng con. Giữa những dục vọng đam mê trần thế, xin cho chúng con ý thức giá trị cao quý của việc hiến dâng phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân.. Để để giữa những lôi cuốn, rủ rê của thời đại, chúng con vẫn một niềm tín thác vào Chúa và cuộc đời chúng con luôn là lễ phẩm tiến Ngài.

Lạy thánh Martinô xin cầu cho tất cả mỗi người chúng con đang ngước trông lên ngài. Xưa xia thánh nhân đã cứu giúp những người nghèo khổ đói rách thế nào, thì hôm nay xin ngài cũng lấy tình thương ấy mà ủi an nâng đỡ chở che chúng con là những người tin tưởng và cậy trông vào ngài. Để qua đó, chúng con cũng biết yêu mến phụng sự Chúa và phục vụ anh chị em đồng lại như ngài. Amen.
Tá Đương OP
Xem thêm…

Bí Quyết Chữa Lành Của Thánh Martino

01:14 |
Bí  Quyết Chữa Lành Của Thánh Martino

Tin mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an (15, 5-8)

5 Khi ấy Chúa Giê-su nói với các môn đệ rằng: Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.6 Ai không ở lại trong Thầy, thì bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo. Người ta nhặt lấy, quăng vào lửa cho nó cháy đi.7 Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý.8 Điều làm Chúa Cha được tôn vinh là: Anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy.

Suy niệm


Chúng ta đã có những cảm nghiệm cũng như nghe người khác kể về những ơn lành nhận được nhờ lời chuyển cầu của thánh Martino. Đó là lý do khiến nhiều người dù xa thế nào cũng muốn dành ngày thứ năm hàng tuần về đây để kính nhớ và xin thánh nhân cầu thay nguyện giúp. Sức mạnh ấy đến từ đâu!

Sức mạnh ấy thánh nhân đã kín múc từ chính Đức Giê-su, là thầy của mọi vị thầy, là cây nho truyền nhựa sống cho mọi cành nho. Thánh nhân đã dành trọn cuộc đời mình để sống lời dạy, cũng là lời mời gọi của Đức Giê-su: Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được. Đó cũng là lý do để chúng ta tin tưởng vào ngài khi đến đây nhờ ngài chuyển cầu cho chúng ta.

Quả  thực, khi ý thức được điều này, có  lẽ, chúng ta không cần xin gì thêm mà chỉ xin thánh nhân cầu bầu cùng Chúa để cho ta được luôn là cành nho kết hợp với Cây Nho Giê-su. Kết hợp với Cây Nho, chúng ta sẽ không còn lo sợ hay thất vọng vè bất cứ điều gì xảy đến trong cuộc đời mình vì Giê-su đã hữa với chúng ta: Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý.8 Điều làm Chúa Cha được tôn vinh là: Anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy. Vì thế, điều hệ trọng nhất trong cuộc đời con người, đặc biệt hơn đối với mỗi Ki-tô hữu chính là cầu xin cho được luôn ở lại, ở cùng thầy Giê-su để đón nhận nhựa sống và sinh hoa trái như ý Chúa Cha mong muốn.

 
Lạy thánh martino, chúng con xin tạ ơn ngài vì tin chắc rằng ngài đã nghe thấu và không ngừng chuyển cầu cho chúng con.
Xin cho chúng con được luôn sống kết hiệp với Chúa như cành nho luôn kết hiệp với cây nho để có nhựa sống nơi mình mà sinh hoa quả đức ái như lòng Chúa ước mong.

Xin dạy chúng con bài học và ở lại cùng Chúa trong mọi biến cố cuộc đời để chúng con không bao giờ  thất vọng nhưng luôn vững tin là Chúa đã nhậm lời và thấu hiểu chúng con cần gì.

Xin cho chúng con cũng ý thức được sự giới hạn của mình để luôn biết nương tựa vào Chúa vì nếu không có Chúa, chúng con không thể làm được gì.

Lạy Chúa, xin hãy đến ở lại và ở mãi với chúng con. Xin cho chúng con luôn luôn thực thi điều Chúa muốn xảy đến nới chúng con. Amen
Xem thêm…

Tựa Nép Bên Lòng Chúa

01:06 |
Tựa Nép Bên Lòng Chúa


Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Mathêu (Mt 11, 28– 30).

28 Khi ấy, Đức Giêsu nói rằng: "Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. 29 Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. 30 Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng."

 Suy niệm:

Chúng ta đang sống những ngày cuối của tháng Sáu, tháng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Thánh Tâm Chúa Giêsu là biểu tượng Tình yêu cứu độ và lòng thương xót bao la của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Tình yêu ấy thể hiện nơi Chúa Giêsu và nhất là qua cái chết trên Thập giá. Từ cạnh sườn bị đâm thâu, Máu và nước tuôn chảy, hầu khơi nguồn ơn cứu độ. Người cho đi tất cả, ban phát mọi ơn và đã trở nên mọi sự cho mọi người. Từ cạnh sườn bị đâm thủng của Chúa Giêsu, Giáo Hội Chúa cũng được sinh ra, được lớn lên và được dưỡng nuôi. Trải qua hơn hai ngàn năm, Nguồn mạch thánh ân đó vẫn không ngừng tuôn chảy tới hết mọi người. Cạnh sườn bị đâm thâu đã trở nên nơi nương náu an toàn và vững chắc cho những ai khát khao tìm đến. Đến với Thánh Tâm Chúa, con người được thỏa lòng khát mong, được sự thanh thản tâm hồn, tìm được ủi an nâng đỡ và được xoa dịu mọi nỗi đau thương. Bao tâm hồn khô cằn được tắm gội ân sủng, xua tan bao rã rời mệt mỏi, bao ưu phiền trĩu nặng tâm tư.

Đoạn Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe hôm nay là một lời mời gọi yêu thương, là một sự nâng đỡ ủi an cho tất cả mỗi người chúng ta. Cuộc đời con người gặp phải rất nhiều khó khăn vất vả trong cuộc sống. Ở địa vị nào, bậc sống nào cũng phải đối diện với những khó khăn và thử thách.

Trước những khó  khăn vất vả của cuộc đời, chúng ta được mời gọi đến với Chúa, tựa nép bên lòng Chúa, để trút mọi nỗi lo âu và gánh nặng cho Chúa. Đến với Chúa, chúng ta được nghĩ ngơi bồi dưỡng. Đến với Chúa, chúng ta có được sức mạnh để vượt qua mọi thử thách và khó khăn trong đời sống. Chúng ta hãy đến với Chúa, sống với Chúa để Ngài bổ dưỡng cho ta và để ta can đảm bước đi theo Ngài trên con đường Thập giá.

Thánh Martinô của chúng ta đã lắng nghe và đáp lại lời gọi mời yêu thương của Chúa. Thánh nhân đã đến nép mình bên Thánh Tâm Chúa, đã kín múc nơi đó nguồn sức mạnh và lòng can đảm để dấn thân phục vụ tha nhân trong tình yêu.

Là một con người với thân phận mỏng manh, yếu đuối như chúng ta nhưng, thánh Martinô đã có được sức mạnh lớn lao, làm được bao việc kỳ diệu là nhờ vào sức mạnh và ơn trợ lực của Thánh Tâm Chúa Giêsu. Mặc dầu bề bộn với công việc hằng ngày, thánh nhân vẫn luôn dành những thời gian quý báu để nghỉ ngơi bên Thánh Tâm Chúa, để được tiếp thêm sức mạnh và nghị lực để vững bước theo Chúa. Những giờ phút nghỉ ngơi bên Thánh Tâm Chúa và kín múc được sức mạnh từ Thánh Tâm Chúa là động lực giúp cho thánh Martinô luôn can đảm vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống.

Với lòng yêu mến Thánh Tâm Chúa Giêsu, thánh Martinô đã biến tất cả những công việc nhỏ bé hằng ngày của mình thành những cơ hội phục vụ thành ý Thiên Chúa và phục vụ anh chị em đồng loại, nhất là những người bần cùng nhất trong xã hội. Chính lòng mến đó đã thôi thúc thánh Martinô tận tâm yêu thương cứu giúp những ai nghèo hèn khốn khổ. Và như thế, thánh Martinô của chúng ta đã thành một con người vĩ đại, thành người cha của kẻ khó nghèo, thành người bạn của những người bị bỏ rơi và thánh một vị thánh vinh hiển hay làm phép lạ cứu giúp nhân gian.


Nếu như ngày xưa khi còn sống ở trần gian, thánh Martinô đã làm được những việc lớn lao như thế, thì ngày nay trên thiên đàng, thánh nhân còn làm được biết bao điều kỳ diệu cho chúng ta. Nếu như khi còn ở trần gian, thánh Martinô đã yêu thương những người túng cực bần cùng chạy đến van xin khẩn nài ngài như thế, thì ngày nay trên Thiên đàng, thánh nhân còn yêu thương nhân loại và những ai chậy đến ngài nhiều hơn nữa.

Giờ này chắc chắn, thánh Martinô đang lắng tai nghe lời cầu xin thống thiết của mỗi người chúng ta, chắc chắn ngài đang dõi mắt để ý đến những nỗi thống khổ của bao người và chắc chắn ngài sẽ chuyển cầu cho chúng ta trước tòa Chúa. Với tất cả tấm lòng chân thành và niềm tin mãnh liệt, chúng ta cùng đến với thánh Martinô, để người ban ơn nâng đỡ và dẫn đưa chúng ta tới Chúa.


Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu, còn niềm an ủi nào hơn, còn hạnh phúc nào bằng khi được tựa nép bên lòng Chúa, Chúng con xin dâng lên Chúa lời tri ân cảm mến vì tình thương bao la Chúa dành cho chúng con. Xin cho mỗi người chúng con luôn tìm đến bên Chúa, sống với Chúa, tựa nép bên lòng từ ái bao la của Chúa, để kín múc nguồn mạch ân sủng từ Thánh Tâm dịu hiền Chúa, hầu có đủ sức đón nhận gánh nặng cuộc đời và vượt qua mọi gian nan thử thách trong cuộc sống. 

Lạy thánh Martinô, cuộc sống chúng con không thể nào tránh khỏi những lo âu và gánh nặng. Khi gặp những gánh nặng đau buồn trong cuộc sống, xin giúp chúng con biết khôn ngoan đến với ngài để cùng với ngài tìm về với Chúa, tựa nép bên lòng Chúa yêu thương qua đời sống cầu nguyện và siêng năng lãnh nhận các bí tích, để được Chúa nâng đỡ ủi an mà đón nhận mọi sự trong bình an.

Xin thánh Martinô xin cầu bầu cho tất cả mỗi người chúng con đang tin tưởng, cậy trông và tha thiết cầu xin ngài. Như xưa thánh nhân đã cứu giúp những người nghèo khổ đói rách thế nào, thì hôm nay xin ngài cũng lấy tình thương ấy mà ủi an nâng đỡ chở che chúng con là những người tin tưởng và cậy trông vào ngài như vậy. Amen.
Tá Đương OP
Xem thêm…

Sức Mạnh Của Niềm Tin

01:04 |
Sức Mạnh Của Niềm Tin 


 Tin Mừng Chúa Giêsu Ki tô theo thánh Luca (Lc 17, 5 – 6).

5 Khi ấy, các Tông Đồ thưa với Chúa Giêsu rằng: "Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con." 6 Chúa đáp: "Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: "Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc", nó cũng sẽ vâng lời anh em.

 Suy niệm:


Qua đoạn Tin Mừng hôm nay, chúng ta đã thấy được sức mạnh và sự cần thiết của niềm tin. Các Tông Đồ của Chúa đã ý thức được điều cần thiết nhất của người môn đệ Chúa Kitô là phải có niềm tin. Trước những khó khăn và thách đố của cuộc đời, các ông đã cầu xin Thầy mình ban niềm tin cho các ông vì các ông biết rằng, không có niềm tin thì chẳng làm được việc gì.

Nhân dịp các môn đệ xin Chúa ban thêm niềm tin, Chúa nhấn mạnh về hiệu quả của niềm tin; niềm tin phó thác chân thành, niềm tin cậy dựa hoàn toàn vào Thiên Chúa, niềm tin đó dù nhỏ bé đến mấy cũng sẽ làm được những chuyện lớn lao trong cuộc sống. Niềm tin không chỉ thay đổi được vũ trụ vật chất mà còn thay đổi cả tâm hồn con người nữa.

Vì công việc của các Tông Đồ là loan báo Tin Mừng, là truyền bá niềm tin, một bổn phận của những kẻ đã nhận lãnh nhưng không nên phải cho nhưng không. Các ngài hành động nhân danh quyền bính của Thiên Chúa, các ông thành công nhờ Chúa tác động, vì thế Chúa dạy họ phải biết khiêm tốn trước những thành công của việc tông đồ, chứ đừng tự cao, đừng nghĩ mình có công lớn, để rơi vào thái độ đòi hỏi, lên mặt với Chúa.

Để diễn tả sức mạnh của niềm tin, Chúa Giêsu đưa ra hình ảnh một hạt cải nhỏ bé và một cây đại thụ. Người môn đệ Chúa Giêsu nếu có đức tin bằng hạt cải có thể khiến một cây đại thụ bật gốc xuống mọc ở biển, hoặc bảo núi dời chân đi chỗ khác. Đây là một hình ảnh nói lên hiệu năng vô cùng lớn lao của niềm tin. Quả thực, chính niềm tin cho chúng ta làm được những việc lạ lùng và đồng thời cho biết: chúng ta chỉ là những đầy tớ vô dụng, vì không có ơn Chúa, chúng ta chẳng làm được gì.

Niềm tin không những chỉ cần cho các Tông đồ, những kẻ có sứ mệnh Kitô hóa thế giới, mà còn cần cho hết mọi người chúng ta. Chúa Giêsu đòi các Tông đồ, các môn đệ và mọi tín hữu phải có đức tin như thế. Biết bao nhiêu vị Thánh đã đáp lại lời khuyên đó.Một trong những vị đó chính là thánh Martinô kính yêu của chúng ta đây.

Cũng là một con người với thân phận hèn yếu như chúng ta nhưng, thánh Martinô đã có được sức mạnh lớn lao và làm được bao việc kỳ diệu là nhờ vào sức mạnh của niềm tin. Chính niềm tin vào Chúa Kitô phục sinh là động lực giúp cho thánh Martinô luôn can đảm vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống. Với sức mạnh của niềm tin, thánh Martinô

Giống như người tôi tớ chỉ biết thi hành bổn phận, thánh Martinô cũng đã kí thác hoàn toàn cuộc đời mình trong tình yêu và trong sự quan phòng của Thiên Chúa. Nhờ sức mạnh của niềm tin, với tình yêu và lòng trung thành, thánh Martinô đã biến tất cả những công việc nhỏ bé hằng ngày của mình thành những cơ hội phục vụ thành ý Thiên Chúa và phục vụ anh chị em đồng loại, nhất là những người bần cùng nhất trong xã hội.

Hơn nữa, chính niềm tin và lòng trung thành trong những việc nhỏ và tận tâm yêu thương cứu giúp những ai nghèo hèn khốn khổ đã giúp thánh Martinô thành một con người vĩ đại, thành người cha của kẻ khó nghèo, thành người bạn của những người bị bỏ rơi và thánh một vị thánh vinh hiển hay làm phép lạ cứu giúp nhân gian.

Nếu như ngày xưa khi còn sống kiếp phàm nhân ở trần thế, thánh Martinô đã làm được những việc cả thế như thế, thì ngày nay trên tòa cao vinh hiển, thánh nhân còn làm được biết bao điều kỳ diệu cho chúng ta. Nếu như khi còn ở trần gian, thánh Martinô đã yêu thương những người túng cực bần cùng chạy đến cầu cứu ngài như thế, thì ngày nay trên Thiên đàng, thánh nhân còn yêu thương nhân loại gấp bội.

Giờ này chắc chắn, thánh Martinô đang lắng tai nghe lời cầu xin thống thiết của mỗi người chúng ta, chắc chắn ngài đang dõi mắt để ý đến những nỗi thống khổ của bao người và chắc chắn ngài sẽ chuyển cầu cho chúng ta trước tòa Chúa.

Nhờ sức mạnh của niềm tin, thánh Martinô đã làm được bao điều lạ lùng như thế. Chúng ta cũng hãy sống và đặt tất cả niềm tin yêu và hy vọng vào Chúa, nhờ lời cầu bầu của thánh nhân, chắc chắn Chúa sẽ dũ lòng xót thương đến mỗi người chúng ta.



Lạy Chúa, giữa thế giới vật chất đang được đề cao, giữa thời buổi mà nhiều học thuyết trái ngược với Kitô giáo xuất hiện, giữa những sóng gió cuộc đời, xin Chúa ban cho chúng con một Đức tin can trường, một lòng mến nồng nàn, và một đức cậy vững vàng để chúng con tín thác vào Chúa hầu vượt qua những thách đố trong đời sống chúng con. Xin cho chúng con luôn ý thức thân phận yếu hèn và lỗi lỗi của mình để chúng con cần đến Chúa và luôn tìm đến nương tựa vào Ngài với một niềm tin kiên vững hầu chúng con được vui sống và trổ sinh được nhiều hoa trái tốt lành nhờ sức mạnh của niềm tin vào Tình yêu của Chúa. Amen.

Lạy thánh Martinô xin cầu cho tất cả mỗi người chúng con đang ngước trông lên ngài. Xưa xia thánh nhân đã cứu giúp những người nghèo khổ đói rách thế nào, thì hôm nay xin ngài cũng lấy tình thương ấy mà ủi an nâng đỡ chở che chúng con là những người tin tưởng và cậy trông vào ngài. Amen.
Tá Đương OP
Xem thêm…

Nhân danh Đức Giê-su Ki-tô người Na-da-rét

00:58 |
Nhân danh Đức Giê-su Ki-tô người Na-da-rét

Lời Chúa trong sách công vụ: 3, 1-10
1 Một hôm, ông Phê-rô và ông Gio-an lên Đền Thờ, vào buổi cầu nguyện giờ thứ chín.2 Khi ấy, người ta khiêng đến một người què từ khi lọt lòng mẹ. Ngày ngày họ đặt anh ta bên cửa Đền Thờ gọi là Cửa Đẹp, để xin kẻ ra vào Đền Thờ bố thí.3 Vừa thấy ông Phê-rô và ông Gio-an sắp vào Đền Thờ, anh liền xin bố thí.4 Hai ông nhìn thẳng vào anh, và ông Phê-rô nói: "Anh nhìn chúng tôi đây! "5 Anh ta chăm chú nhìn hai ông, tưởng rằng sẽ được cái gì.6 Bấy giờ ông Phê-rô nói: "Vàng bạc thì tôi không có; nhưng cái tôi có, tôi cho anh đây: nhân danh Đức Giê-su Ki-tô người Na-da-rét, anh đứng dậy mà đi! "7 Rồi ông nắm chặt lấy tay mặt anh, kéo anh chỗi dậy. Lập tức bàn chân và xương mắt cá của anh trở nên cứng cáp.8 Anh đứng phắt dậy, đi lại được; rồi cùng với hai ông, anh vào Đền Thờ, vừa đi vừa nhảy nhót và ca tụng Thiên Chúa.9 Toàn dân thấy anh đi lại và ca tụng Thiên Chúa.10 Và khi nhận ra anh chính là người vẫn ngồi ăn xin tại Cửa Đẹp Đền Thờ, họ kinh ngạc sững sờ về sự việc mới xảy đến cho anh.

Suy niệm:

Đoạn Công vụ chúng ta vừa nghe có nhân vật trung tâm là thánh Phê-rô nhưng không phải Phê-rô. Phê-rô chỉ là người lên tiếng để nhân vật kia nổi bật lên, đó là Giê-su người Na-da-rét.

Quả  thực, như thánh Phê-rô và thánh Gio-am khẳng định, các ngài chảng có gì để cho ai cả, kể  cả anh què, nhưng có một thứ mà các ngài có thể cho đó là Đức Giê-su người Na-da-ret. Các ngài làm được tất cả những việc phi thường là nhờ dựa vào Giê-su Na-da-ret. Là nhờ nhân danh Giê-su Na-da-ret mà làm. Nhờ danh người mà các ngài làm được việc mà cho tới ngày nay, khi khoa học tân tiến vẫn không thể làm được đối với tất cả những căn bện bẩm sinh. Vậy đâu là sức mạn để các ngài làm được những việc như thế?

Sức mạnh ấy không đến từ nơi các ngài nhưng đến từ  Đức Giê-su là nghĩa thiết của các ngài. Các ngài có Chúa Phục sinh trong mình nên có thể làm  được những việc mà thường tình không ai nghĩ  tới.
Và hôm nay, với thánh Martino, chúng ta cũng nhận thấy điều đó. Thánh nhân cũng với đôi chân đôi tay như chúng ta, cũng với những suy nghĩ hạn hẹp như chúng ta, cũng với thân phận thấp cổ bé miệng như chúng ta nếu không muốn nói là thấp hơn cả chúng ta nữa. Ấy vậy mà thánh nhân lại là một vị thánh có thể làm phép lạ, có thể xuất hiện nhiều nơi cũng một lúc, có thể chữa được những căn bệnh mà cho tới nay không ai chữa được! Do đâu vậy!? 

 Do người thực sự là người nghèo của Chúa! Bạn nghèo của Chúa đã trao phó đời mình trong tay Chúa và chỉ tìm kiếm thực thi những gì để làm vinh danh Chúa! Tất cả chỉ có thế, thánh nhân làm mọi sự trong Chúa và nhân danh Chúa nên đã làm được những việc phi thường!

Nhìn lại, chúng ta thấy ngày nay dường như phép lạ trở  nên hiếm hoi hơn! Và có lẽ câu nói đùa cảu người dân bắc kỳ cũng nói lên phần nào về chúng ta: thánh Phê-rô thỉnh thoảng hay làm phép lạ! Có lẽ Phê rô mà họ muốn nhắc tới là chính chúng ta khi chúng ta quá gắn bó với vật chất và của cải, cũng như những gì thuộc về trần gain mà quên đi đức Ki-tô phục sinh. Chúng ta làm gì thì làm nhân danh mình với lý trí mà ý trí của ta hơn là nhân danh Chúa và đặt để trong thánh ý người.

Vậy hôm nay, chúng ta cùng nhau tập họp nơi đây trước tòa khấn thánh Martino, xin người cầu thay nguyện giúp chúng ta trước tòa Chúa. Xin người giúp chúng ta có được một đời sống thật sự kết hợp với Chúa phục sinh để chúng ta có thể đêm bình an và niềm vui phục sinh tới với những người bên cạnh chúng ta. Trong tâm tình đó, chúng ta hiệp ý dâng những ý nguyện của mình cũng với những ý nguyện sau đây

Lạy thánh Martin rất đáng mến, xưa người đã từng tự  nguyện trở nên dụng cụ của Chúa để Chúa thi thố quyền năng qua những phép lạ thực hiện bởi tay người. Xin cho chúng con cũng biết sống gắn bó mật thiết với Chúa để niềm vui phục sinh được mãi tỏa lan tới những người sống quanh con

Ngày hôm nay, thánh nhân vẫn không ngừng cầu bầu cùng Chúa  đổ ơn lành xuống cho tất cả những ai cầu khẩn người. Xin cho chúng con cũng trở nên máng chuyển trao ơn lành Chúa bạn qua việc cảm thông, chia sẻ và nâng đỡ những ai khốn khó nghèo nàn về vật chất cũng như tinh thần

Xin hãy cầu cùng Chúa để Chúa luôn ở cùng với mỗi người và mỗi gia đình chúng con, để như PHê-rô xưa, chúng con cũng dám nói với mọi người rằng: tôi không có gì cho ai, nhưng một thứ tôi có là Chính Đức tin vào Giê-su người Na-da-ret, tôi xin chia sẻ và chuyển trao cho hết thảy mọi người để mọi người cùng trỗi dậy và hưởng niềm vui với tôi.Amen.
Xem thêm…

Chương XXIII: Những vấn đề về hôn nhân trong cái nhìn toàn diện về con người

00:24 |
Chương XXIII:
Những vấn đề về hôn nhân
trong cái nhìn toàn diện về con người
hình internettht

1. Phúc âm theo thánh Matthêu và Marcô kể lại việc Đức Kitô trả lời cho những người Pharisêu khi họ hỏi Người về việc hôn nhân bất khả phân li. Họ tham chiếu tới luật Môsê cho phép trong một số trường hợp được trao giấy li dị. Đức Kitô nhắc họ nhớ lại những chương đầu của Sách Sáng thế, khi trả lời: «Các ông không đọc thấy điều này sao: “Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hóa đã làm ra con người có nam có nữ”,và Ngài đã phán: “Vì thế, người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt.” Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân li». Rồi nhắc đến câu hỏi của họ về luật Môsê, Người nói thêm: «Vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsê đã cho phép các ông rẫy vợ, chứ thuở ban đầu, không có thế đâu» (Mt 19,3tt; Mc 10,2tt.). Trong câu trả lời, Đức Kitô nhắc hai lần tới chữ «thuở ban đầu». Bởi thế, trong những bài phân tích chúng ta cũng đã cố gắng giải thích cái ý nghĩa sâu xa nhất của chữ «thuở ban đầu» này. Đó là gia sản đầu tiên của mỗi con người nam cũng như nữ trong thế giới. Là sự chuẩn nhận đầu tiên căn tính của con người theo lời mạc khải, là nguồn mạch đầu tiên của ơn gọi xác thực của con người như một ngôi vị được tạo dựng theo hình ảnh của chính Thiên Chúa.

2. Câu trả lời của Đức Kitô có ý nghĩa lịch sử, nhưng không chỉ mang tính lịch sử. Con người ở mọi thời đại đều nêu lên cùng một vấn đề đó. Những người thời nay cũng làm thế, nhưng trong những yêu sách của mình, họ không đề cập tới luật Môsê cho phép li dị, mà nại tới những hoàn cảnh khác và những luật lệ khác. Những câu hỏi họ nêu ra đó chất chứa nhiều vấn đề mà những người đàm đạo với Đức Kitô thời ấy không biết đến. Chúng ta biết đó là những vấn đề cụ thể có liên quan đến hôn nhân và gia đình đã được đệ trình lên Công Đồng sau cùng, lên đức Giáo hoàng Phaolô VI, và vẫn tiếp tục được trình bày thời đại sau Công Đồng, từng ngày trong những hoàn cảnh rất khác nhau. Chúng được nêu lên bởi những người độc thân, có gia đình, những người sắp kết hôn, những bạn trẻ, nhưng cũng có cả các nhà văn, nhà báo, các nhà chính trị, kinh tế và các nhà nhân khẩu học. Nói tóm lại, những vấn đề ấy được đặt ra bởi cả nền văn hóa, văn minh đương đại.

Tôi nghĩ rằng trong số những giải đáp của Đức Kitô cho những vấn đề của con người thời đại chúng ta vốn thường hay nôn nóng, giải đáp mà Người đã trả lời cho những người Pharisêu vẫn là nền tảng. Trả lời cho những chất vần đó Đức Kitô tham chiếu trước hết đến «thuở ban đầu». Có lẽ Người làm như thế một cách càng cương quyết và đi sâu vào nền tảng hơn đối với con người thời đại ngày nay. Bởi lẽ, nội tâm cũng như hoàn cảnh văn hóa của con người thời đại dường như đang rời xa cái «thưở ban đầu» ấy. Họ đang mang lấy những hình thức và chiều kích khác với hình ảnh «thưở ban đầu» của Kinh thánh trong những điểm càng ngày càng thấy rõ là xa lạ.

Thế nhưng, Đức Kitô có lẽ không chút ngạc nhiên vì những hoàn cảnh này, và tôi cho rằng Người vẫn tham chiếu đến cách đặc biệt cái «thưở ban đầu».

3. Chính vì thế, câu trả lời của Đức Kitô đòi phải được phân tích cách đặc biệt sâu xa. Thật vậy, trong câu trả lời ấy, những chân lí nền tảng và cơ bản về con người, nam và nữ, đã được nhắc đến. Đó là câu trả lời nhờ đó chúng ta thoáng thấy được cái cấu trúc của căn tính con người trong những chiều kích của mầu nhiệm tạo dựng và, đồng thời trong cả viễn tượng của mầu nhiệm cứu chuộc. Không có điều đó không có cách nào xây dựng một khoa nhân học thần học và, trong bối cảnh đó, xây dựng một khoa «thần học về thân xác» được. Từ đây mới có thể xuất hiện quan điểm kitô giáo thuần túy về hôn nhân và gia đình. Đức Phaolô VI đã cho thấy điều đó khi, trong thông điệp về những vấn đề hôn nhân và sinh sản trong ý nghĩa trách nhiệm của nó về mặt con người và đức tin, ngài nói đến «cái nhìn toàn diện về con người» (Humanae Vitae 7). Khi trả lời cho những người Pharisêu, Đức Kitô cũng đã cho những người đối thoại với Người thấy «cái nhìn toàn diện về con người» này. Không có cái nhìn đó những vấn đề liên quan tới hôn nhân và sin sản không thể có câu trả lời thích đáng. Cái nhìn toàn diện về con người đó phải được thiết lập ngay từ «thuở ban đầu».

Điều này cũng áp dụng cho não trạng ngày nay, như đã áp dụng cho những người đối thoại với Đức Kitô thời đó, dẫu theo cách khác. Chúng ta là con cháu của một thời đại, trong đó do sự phát triển của những bộ môn khác nhau, cái nhìn toàn diện này về con người có thể bị loại bỏ và thay thế bởi nhiều quan niệm thiên kiến. Những quan niệm ấy ở lại trong phương diện này hay phương diện khác của cái compositum humanum (tổ hợp nên con người), mà không đạt tới cái integrum (toàn thể) của con người, hay chúng để nó ở ngoài cảnh vực nhãn giới của chúng. Rồi, những khuynh hướng văn hóa khác nhau chiếm chỗ. Trên nền tảng những sự thật phiến diện này, những khuynh hướng ấy đưa ra những kế hoạch và những chỉ dẫn Như thế, con người trở thành một đối tượng của những kĩ thuật nhất định hơn là chủ thể chịu trách nhiệm về hành động của mình. Câu trả lời của Đức Kitô cho những người Pharisêu cũng có ý nói con người, dù nam hay nữ, là một chủ thể như thế, nghĩa là, một chủ thể quyết định về những hành động của mình dưới ánh sáng của sự thật toàn diện về chính mình, xét như là sự thật nguyên thủy, đúng hơn như là nền tảng của những kinh nghiệm đích thật của con người. Đây chính là sự thật mà Đức Kitô muốn ta tìm kiếm ngay từ «thưở ban đầu». Bởi thế chúng ta quay trở về với những chương đầu của Sách Sáng thế.

4. Khi nghiên cứu những chương này, có lẽ hơn những chương khác, chúng ta ý thức về ý nghĩa và sự cần thiết của «thần học thân xác». «Thưở ban đầu» nói tương đối ít về thân xác con người, theo nghĩa duy tự nhiên và hiện đại của từ ấy. Từ quan điểm này, trong nghiên cứu hiện tại, chúng ta đang ở một trình độ hoàn toàn tiền khoa học. Chúng ta hầu như chưa biết gì cả về các cấu trúc bên trong và về những qui luật chi phối cơ thể con người. Tuy nhiên, có lẽ bởi tính chất cổ xưa của bản văn sự mà cái nhìn toàn diện về con người, là một chân lí quan trọng, lại được mạc khải một cách hết sức đơn giản và đầy đủ. Chân lí này liên hệ đến ý nghĩa của thân xác con người trong cấu trúc của chủ thể ngôi vị. Hơn nữa, suy tư về những bản văn cổ ấy giúp ta mở rộng ý nghĩa ấy đến toàn thể lãnh vực liên chủ thể (tương quan giữa con người với con người), đặc biệt trong mối tương quan thường tồn giữa người nam và người nữ. Nhờ thế chúng ta có được một cái nhìn căn bản về mối tương quan này, một cái nhìn nhất thiết phải đặt ở nền tảng của mọi khoa học hiện nay về tính dục (theo nghĩa sinh học - sinh lý học) của con người. Điều đó không có nghĩa là ta gạt bỏ khoa học này, không màng tới những thành quả của nó. Ngược lại, khoa học có thể giúp ta hiểu biết về lối giáo dục con người phù hợp với giới tính, và về lãnh vực hôn nhân và sinh sản. Nếu quả thực là nó phải như vậy, trong mọi yếu tố của khoa học hiện nay người ta cần phải làm sao để luôn đạt tới điều căn bản và có thái độ cốt yếu kính trọng nhân vị, đối với mỗi cá nhân, dù nam hay nữ, cũng như đối với những mối quan hệ của họ.

Chính ở chỗ này suy tư về bản văn cổ Sách Sáng thế tỏ ra là không thay thế được. Đó thực sự là «khởi thủy» của thần học về thân xác. Việc thần học cũng xét tới cả thân xác không hề gây ngạc nhiên và bất ngờ cho những ai ý thức về mầu nhiệm và thực tại của nhập thể. Bởi Ngôi Lời Thiên Chúa đã nhập thể làm người, nên thân xác đi qua cổng chính vào thần học, là khoa học có đối tượng là Thiên Chúa. Nhập thể - và cả Cứu chuộc tuôn chảy ra từ đó – cũng trở thành nguồn suối cuối cùng của bí tích hôn phối. Chúng ta sẽ bàn đến đề tài này về sau cách rộng rãi hơn đúng lúc của nó.

5. Những vấn đề con người thời nay đặt ra cũng là những vấn đề của các Kitô hữu: của những người đang chuẩn bị cho bí tích hôn phối hay những người đã sống đời hôn nhân (vốn là một bí tích của Giáo hội) rồi. Những vấn đề này không chỉ là những vấn đề của khoa học, nhưng còn là những vấn đề của đời sống con người. Rất nhiều người và nhiều Kitô hữu tìm cách hoàn tất ơn gọi của mình trong hôn nhân. Rất nhiều người muốn tìm thấy ở đó con đường cứu độ và nên thánh.

Đối với họ, câu trả lời của Đức Kitô cho những người Pharisêu, là những người nhiệt thành với Giao ước cũ, là đặc biệt quan trọng. Những ai tìm hoàn tất ơn gọi làm người và Kitô hữu trong hôn nhân đều được mời gọi trước hết biến thần học về thân xác này, khởi sự ở nơi những chương đầu Sách Sáng thế, trở thành nội dung của đời sống và lối sống của họ. Quả thật, điều hết sức quan trọng là, trên con đường ơn gọi này, ý nghĩa của thân xác với giới tính (nam tính và nữ tính) của nó phải được ý thức thật sâu sắc. Điều rất cần thiết là phải có một ý thức xác đáng về ý nghĩa hôn phối, ý nghĩa sinh sản của thân xác, bởi lẽ toàn thể đời sống vợ chồng phải thường xuyên toát ra sự sung mãn và tính nhân vị trong cuộc sống chung, trong hành vi ứng xử, trong tình cảm! Điều này càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết trong bối cảnh của nền văn minh hiện nay chịu áp lực của lối tư duy và nhận định theo hướng duy vật và duy lợi. Khoa sinh học – sinh lí học hiện nay có thể cho ta nhiều thông tin chính xác về tính dục con người. Thế nhưng, tri thức về phẩm giá của thân xác con người và giới tính còn cần phải được múc tận những nguồn mạch khác nữa. Một nguồn đặc biệt là chính Lời Thiên Chúa, chứa đựng mạc khải về thân xác, một mạc khải lên đến tận nguồn của «thuở ban đầu».

Thật là ý nghĩa khi Đức Kitô trả lời những vấn đề này, Người đã truyền lệnh cho con người phải quay về bằng cách nào đó đến ngưỡng cửa của lịch sử thần học của mình! Người ra lệnh cho họ đặt mình ở biên giới giữa tình trạng hạnh phúc, vô tội nguyên thủy và cái di sản của sự sa ngã lần đầu tiên. Không phải Người muốn nói với con người rằng con đường Người dẫn họ, người nam và người nữ, đi vào bí tích hôn phối, con đường cứu chuộc thân xác, phải đi qua sự phục hồi phẩm giá này (trong đó ý nghĩa đích thực của thân xác con người, đồng thời ý nghĩa nhân vị và «hiệp thông» của thân xác được thực hiện) hay sao?

6. Giờ đây, chúng ta kết thúc phần thứ nhất của suy tư về đề tài quan trọng này. Để trả lời thật thấu đáo những vấn đề, đôi khi khiến ta rất băn khoăn, về hôn nhân (và chính xác hơn, về ý nghĩa của thân xác), chúng ta không thể chỉ dừng lại ở câu trả lời của Đức Kitô cho những người Pharisêu khi Người nại đến «thuở ban đầu» (x. Mt 19,3tt; Mc 10,2tt). Chúng ta còn phải xét đến những lời tuyên bố khác nữa của Người. Trong số đó đặc biệt có hai đoạn có tính tổng hợp đặc thù. Đoạn thứ nhất, từ diễn từ trên núi, nói về những khả năng của tâm hồn con người liên hệ đến sự ham muốn xác thịt (x. Mt 5,8). Đoạn thứ hai liên hệ khi Đức Giêsu nói đến sự phục sinh trong tương lai (Mt 22,24-30; Mc 12,18-27; Lc 20,27-36).

Hai đoạn này sẽ là chủ đề suy tư kế tiếp của chúng tôi.


Xem thêm…

Giá trị của sự Chọn lựa Nước Trời

00:57 |
Giá trị của sự Chọn lựa Nước Trời


Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Mathêu. (Mt 13, 44 - 46)

44Khi ấy Đức Giêsu nói rằng: "Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy.
45 "Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp.46 Tìm được một viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy.


 Suy niệm:


Qua đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe, Chúa Giêsu dạy cho chúng ta bài học về thực tại Nước Trời. Khi nói về Nước Trời, Chúa Giêsu đã dùng những hình ảnh gần gủi để diễn tả. Hôm nay, Chúa Giêsu đã dùng hai hình ảnh so sánh là: kho báu chôn giấu trong ruộng và viên ngọc quí để nói lên thái độ dứt khoát định đoạt của mọi người phải có trước Tin Mừng cứu độ của Ngài. Qua đó, Chúa mời gọi chúng ta hãy biết khôn ngoan, can đảm, dứt khoát chọn lựa Nước Trời Tin Mừng cứu độ như là những gì quý báu nhất của đời sống chúng ta.

Trong cuộc sống, người Kitô hữu cũng phải biết cương quyết và liều lĩnh như người tìm được viên ngọc quí hay như người đi tìm kho làng trong ruộng, và khi tìm thấy họ về nhà bán hết mọi sự để mua cho bằng được viên ngọc quí hay thửa ruộng ấy. Thái độ dấn thân này đòi hỏi các tín hữu đầu tư tối đa tâm trí và mọi khả năng của mình, dám bán hết của cải mình có để chiếm đoạt được ơn cứu độ.

Bán hết  đi cũng có nghĩa là siêu thoát khỏi mọi của cải và khước từ chúng để có thể theo Chúa Giêsu và sống nghèo khó trong vật chất và tinh thần. Đó là tất cả những đòi hỏi của Tin Mừng trong việc chiếm hữu Nước Trời, mà tất cả những ai đang khao khát tìm kiếm.
Giữa một thế giới thực dụng hôm nay, dấn thân theo những đòi hỏi của Tin Mừng quả là một thách đố  lớn đối với người Kitô hữu chúng ta. Vì  thế, chúng ta cần phải cố gắng hy sinh nhiều, nhất là chúng ta phải xin Chúa ban ơn sức mạnh cho mỗi người để niềm tin được phát triển và trưởng thành. Có như thế, chúng ta mới nhận ra được giá trị cao quý của Nước Trời. Khi đó, chúng ta mới có thể khước từ tất cả những gì cản trở chúng ta trên hành trình tìm kiếm Nước Trời.

Thánh Martinô  đã nhận ra được giá trị cao quý  của Nước Trời như thế. Chúng ta có thể ví được thánh nhân như là người thương gia trong bài Tin Mừng hôm nay, ngươid đã tìm thấy kho tàng trong ruộng, đã tìm thấy viên ngọc quý nên đã tìm cách để mua lấy nó. Để chiếm hữu được Nước Trời, thánh nhân không chỉ bán tất cả những gì mình có mà còn sẵn sàng hy chịu đựng tất cả để đoạt được nước đó.

Không chỉ  thế, thánh Martinô còn hướng dẫn và chỉ  vẻ cho người khác biết được giá trị  của Nước Trời và mời họ đón nhận. Bằng cuộc sống đơn sơ khiêm tốn và yêu thương của mình, thánh Martinô đã giúp cho bao con người tìm thấy kho tàng quý giá là Nước Trời và giúp họ đón nhận Tin Mừng của Thiên Chúa.

Thánh nhân luôn khao khát cho mọi người được hưởng ơn cứu độ Chúa ban và ngài đã dùng chính cuộc đời mình để dẫn đưa người ta đến với Chúa. Chính vì thế, ngài đã đón nhận mọi gian nan thử thách của cuộc sống, ngài chấp nhận những khổ đau trong kiếp nhân sinh miễn làm sao chiếm đoạt được Nước Trời và làm cho nhiều người được chung hưởng vinh quang Nước Trời.

Ngày nay trên tòa cao vinh hiển, thánh nhân đã được hưởng hạnh phúc Nước Trời, nhưng ngài vẫn luôn đưa mắt dõi nhìn người thế chúng ta. Thánh nhân vẫn luôn cầu bầu cho chúng ta trước tòa Chúa. Với với tất cả niềm tin yêu và cậy trông, chúng ta cùng đến với thánh Martinô, cầu xin thánh nhân và học hỏi nơi ngài cách sống, cách nên thánh giữa những thách đố của thời đại chúng ta hôm nay.


Lạy Chúa, cuộc sống hiện tại của  chúng con được dệt bằng một chuỗi của vui tươi và sầu khổ, thành công và thất bại, sum họp và li tán. Tất cả những điều đó nhắc nhở chúng con rằng cuộc sống này chóng qua và mời gọi mọi người nghĩ đến giá trị vĩnh cửu. Trong mọi sự, xin cho chúng con biết tìm kiếm những giá trị vĩnh cửu của Nước Trời, và biết sống những giây phút hiện tại như chính giờ phút chúng con phải đến gặp gỡ Chúa. 

Xin thánh Martinô cầu bầu cùng Chúa ban thêm niềm tin và sức mạnh cho mỗi người chúng con để chúng con biết can đảm chọn lựa những giá trị của Tin Mừng Nước Trời và khước từ những gì đi làm cản trở hành trình chúng con tiên về Nước Chúa. Amen.
Xem thêm…

Chương XXII: Chu kỳ Biết – Sinh hạ và viễn tượng Sự Chết

00:15 |
Chương XXII:

Chu kỳ Biết – Sinh hạ và viễn tượng Sự Chết

1. Chúng ta đang đến hồi kết thúc phần suy tư trong đó chúng ta đã cố theo đuổi tiếng gọi của Đức Kitô gởi đến chúng ta qua Matthêu (19,3-9) và Marcô (10,1-12): «Các ông không đọc thấy điều này sao : “Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hóa đã làm ra con người có nam có nữ”, và Người đã phán: “Vì thế, người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt”?» (Mt 19,4-5). Sự kết hợp vợ chồng theo Sách Sáng thế được định nghĩa như là hành động «biết»: «Ađam ăn ở với Evà, vợ mình. Bà thụ thai và sinh ra... và nói : “Tôi đã được một người nhờ Đức Chúa”» (St 4,1). Trong những suy tư trước chúng ta đã cố gắng làm rõ nội dung của cái «biết» Thánh kinh đó. Với cái «biết» đó, con người nam cũng như nữ, không chỉ đặt tên riêng cho mình như đã làm khi đặt tên cho các sinh vật khác (animalia) và bởi đó con người sở hữu chúng, nhưng còn «biết» theo nghĩa của đoạn St 4,1 (và cả những đoạn Kinh thánh khác). Điều đó có nghĩa là con người thực hiện điều mà danh xưng «con người» muốn diễn tả: đó là thực hiện nhân tính trong con người mới được sinh ra. Bởi thế, theo nghĩa nào đó con người thực hiện chính mình, tức là, con người – nhân vị.

2. Bằng cách đó chu kì «biết-sinh hạ» của Kinh thánh khép lại. Chu kì «biết» đó được tạo thành bởi sự kết hợp các ngôi vị trong tình yêu thương, kết hợp với nhau mật thiết đến nỗi nên một xương một thịt. Sách Sáng thế vén tỏ cho chúng ta biết đầy đủ sự thật về chu kì này. Con người, nam và nữ, theo Kinh thánh nhờ «biết» nhau mà thụ thai và sinh con. Sinh linh mới đó giống con người và có thể được mang danh xưng «con người» («tôi đã được một người»). Như thế, con người, có thể nói được là, đã chiếm hữu được chính nhân tính, hay đúng hơn, chiếm lại được nhân tính. Thế nhưng, việc ấy xảy ra cách khác so với cách con người đã chiếm hữu các sinh vật khác (animali) khi đặt tên chúng. Thật vậy, khi đó con người đã trở thành chúa tể của các loài, đã bắt đầu thực hiện nội dung của mệnh lệnh Đấng Tạo Hóa: «Hãy chinh phục và thống trị mặt đất» (x. St 1,28).

3. Tuy nhiên, phần đầu của cũng mệnh lệnh ấy lại nói: «Hãy sinh sôi nẩy nở và nên đầy dẫy trên mặt đất» (St 1,28), nó mang một nội dung khác và chỉ một yếu tố khác. Trong hành động «biết» này, người đàn ông và người phụ nữ cho chào đời một hữu thể giống như họ, và có thể cùng nhau nói: «Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi» (St 2,24). Trong cái «biết» này cả hai người như «ngây ngất». Cả hai người như cùng bị mê dại vì cái nhân tính mà họ muốn diễn tả lại trong sự kết hợp và «biết» nhau, muốn sở hữu nó một cách mới mẻ. Cái nhân tính ấy được chào đời từ chính họ, từ chính nhân tính của họ, từ thân xác của người đàn ông và người đàn bà đã chín muồi cách kì diệu nơi họ. Và sau cùng, qua những chuỗi thụ thai và sinh hạ liên tiếp vốn đã có từ thuở ban đầu ấy, họ nhận được nhân tính ấy từ chính mầu nhiệm sáng tạo.

4. Theo nghĩa này, cái «biết» của Kinh thánh có thể được hiểu là «sở hữu». Có thể nhìn thấy ở đây một điều gì của Kinh thánh tương tự với «eros» hay chăng? Thật ra đây là hai lãnh vực ý niệm, hai thứ ngôn ngữ khác nhau: một của Kinh thánh và một của Platon. Phải thật thận trọng nếu chúng được dùng để giải thích cho nhau [1]. Thế nhưng, dường như trong mạc khải nguyên thủy không có ý tưởng người đàn ông sở hữu người phụ nữ, và ngược lại, như một thứ đồ vật. Nhưng đàng khác, ai cũng biết rằng do hậu quả của tội nhiễm sau khi tổ tông phạm tội, con người (đàn ông và đàn bà) phải xây dựng lại, dẫu rất khó nhọc, ý nghĩa của quà tặng trao hiến cho nhau cách vô vị lợi. Đây sẽ là chủ đề của chúng ta trong những phân tích sắp tới.

5. Mạc khải về thân xác, ở trong Sách Sáng thế và nhất là trong chương 3, tỏ lộ cách rõ ràng và ấn tượng rằng chu kì «biết-sinh hạ», vốn bén rễ sâu xa từ trong tiềm thể của thân xác con người, được đặt bên dưới qui luật của đau khổ và sự chết, sau khi tổ tông phạm tội. Thiên Chúa Giavê nói vời người đàn bà: «Ta sẽ làm cho ngươi đau đớn thật nhiều khi thai nghén; trong đau đớn, ngươi sẽ sinh con đẻ cái» (St 3,16). Ở chân trời cái chết xuất hiện trước mắt con người, cùng với mạc khải ý nghĩa sinh sản của thân xác trong hành vi của đôi vợ chồng «biết» nhau. Người đàn ông đầu tiên đặt tên cho vợ mình là Evà, «vì bà là mẹ của chúng sinh» (St 3,20), khi ông đã nghe được lời tuyên án xác định toàn bộ cái viễn ảnh của cuộc sống con người «từ bên trong» của cái biết thiện biết ác. Viễn ảnh này được xác nhận bởi những lời sau đây: «Ngươi sẽ về lại bụi đất, vì tự đất ngươi đã được rút ra. Bởi ngươi là bụi đất ngươi sẽ trở về đất bụi» (St 3,19).

Tính chất căn bản của bản án đó được xác nhận bởi chứng cớ kinh nghiệm của toàn thể lịch sử của con người trên trái đất này. Chân trời sự chết mở rộng ra trên toàn thể viễn ảnh cuộc sống con người trên trái đất, một cuộc sống vốn đã được cắm vào trong chu kì «biết-sinh hạ» nguyên thủy của Kinh thánh. Con người đã phá vỡ Giao ước với Đấng Tạo Hóa, khi hái trái cây biết thiện biết ác thì bị Thiên Chúa Giavê tách lìa khỏi cây sự sống: «Bây giờ phải làm sao cho nó đừng giương tay hái cả cây sự sống nữa mà ăn, hầu được sống mãi mãi» (St 3,22). Bằng cách đó, sự sống đã được ban cho con người trong mầu nhiệm tạo dựng không bị lấy đi. Nhưng sự sống ấy bị hạn chế ở trong biên giới của sự thụ thai, sinh nở và sự chết, và trầm trọng hơn, bị giam hãm trong viễn ảnh của tội lỗi di truyền. Tuy nhiên, sự sống ấy lại được ban cho con người, theo nghĩa nào đó, như một nhiệm vụ trong cùng chu kì luôn tái diễn. Câu nói: «Ađam ăn ở với («biết») Evà vợ mình, bà đã mang thai và sinh con» (St 4,1) giống như một dấu ấn in vào mạc khải nguyên thủy của thân xác ngay từ thuở ban đầu của lịch sử con người trên trái đất. Lịch sử này luôn được hình thành mới mẻ trong chiều kích căn bản nhất của nó gần như từ «thuở ban đầu», nhờ chính hành động «biết-sinh hạ» ấy, điều mà Sách Sáng thế đã nói tới.

6. Bởi thế, mỗi người mang trên mình mầu nhiệm của «thuở ban đầu» của mình, được nối kết chặt chẽ với ý thức vế ý nghĩa sinh sản của thân xác. Xem ra St 4,1-2 không nói về đề tài mối tương quan giữa ý nghĩa sinh sản và hôn phối của thân xác. Có lẽ ở đây chưa tới lúc, cũng không phải là nơi, giải thích mối tương quan này mặc dù trong những phân tích kế tiếp điếu ấy có vẻ rất cần thiết. Sẽ cần phải đặt lại những câu hỏi liên hệ tới sự biểu hiện xấu hổ nơi con người, xấu hổ của người nam và của người nữ, mà trước đó con người không hề kinh nghiệm. Nhưng giờ đây, chúng ta chưa để ý đến điều đó. Điều đáng chú ý vẫn còn là sự kiện «Ađam ăn ở với («biết») Evà vợ mình, bà đã mang thai và sinh con». Đây chính là ngưỡng cửa của dòng lịch sử của con người. Đây là «thuở ban đầu» của con người trên trái đất. Đứng ở ngưỡng cửa này người nam và người nữ ý thức ý nghĩa sinh sản của thân xác mình: nam tính ẩn chứa trong mình ý nghĩa của phụ tính và nữ tính ẩn chứa ý nghĩa của mẫu tính. Nhân danh ý nghĩa đó, một ngày kia Đức Kitô sẽ đưa ra một câu trả lời minh bạch cho vấn đề được đặt ra bởi những người Pharisêu (x. Mt 19; Mc 10). Mặt khác, khi đi sâu vào nội dung đơn sơ của câu trả lời ấy, chúng ta cũng đồng thời cố làm sáng tỏ bối cảnh của cái «thuở ban đầu» mà Đức Kitô tham chiếu tới. Thần học thân xác có gốc rễ từ nơi đó.

7. Trong con người, ý thức về ý nghĩa của thân xác và ý thức về ý nghĩa sinh sản của thân xác gặp gỡ ý thức về sự chết, có thể nói đó là viễn cảnh chắc chắn nằm sẵn nơi chúng. Tuy nhiên, chu trình «biết-sinh sản» luôn trở lại trong lịch sử con người. Trong đó, sự sống luôn đấu tranh không ngơi nghỉ với cái viễn ảnh lạnh lùng của sự chết, và luôn chiến thắng. Điều đó giống như cái lí do sự sống – vốn biểu lộ ra qua «sinh sản» - không bao giờ đầu hàng bao giờ cũng là bởi cái «biết» ấy. Với cái biết ấy, con người vượt qua nỗi cô độc của mình và lại quyết định tự khẳng định mình trong một «tha nhân». Cả hai, người nam và người nữ, khẳng định điều đó trong một con người thứ ba mới được sinh hạ. Trong sự khẳng định này, «cái biết» trong Kinh thánh xem ra có được một tầm vóc còn lớn hơn. Dường như nó có một chỗ ở trong «thị kiến» của chính Thiên Chúa, với thị kiến đó trình thuật tạo dựng con người thứ nhất (người «nam» và người «nữ» được tạo dựng «theo hình ảnh của Thiên Chúa») kết thúc. «Thiên Chúa thấy mọi sự mình đã làm ra ... thật là tốt đẹp» (St 1,31). Dẫu con người có hết mọi kinh nghiệm cuộc sống của mình, dẫu chịu nhiều đau khổ, thất vọng về chính bản thân mình, dẫu sống trong tình trạng tội lỗi, và sau cùng dẫu sống dật dờ trong viễn cảnh sự chết, nhưng «cái biết» luôn được đặt ở «khởi đầu» của cuộc «sinh hạ». Như thế, xem ra con người được tham dự vào «thị kiến» của chính Thiên Chúa : Thiên Chúa Đấng Tạo Hóa «thấy ... quả thật, điều ấy rất tốt đẹp». Ngài luôn xác nhận lại sự thật của những lời này.

------------------------------------

[1] Theo Platon, «eros» là tình yêu khao khát cái Đẹp siêu việt và bộc lộ sự khao khát vô độ hướng đến đối tượng vĩnh cửu của nó. Bởi thế, eros luôn nâng những gì thuộc phạm trù nhân bản hướng đến cảnh vực thần linh, nơi duy nhất có thể thỏa mãn nỗi hoài niệm của linh hồn vốn bị giam hãm trong vật chất. Đó là một tình yêu không lùi bước trước sức mạnh lớn lao nhất, hầu đạt tới được sự xuất thần ngất ngây của kết hợp. Do đó, đó là một tình yêu qui ngã (egocentrico), là dục vọng thèm khát dẫu nó hướng đến những giá trị cao cả (x. A. Nygren, Erôs et Agapé, vol. II, Paris 1951, pp. 9-10).

Qua các thế kỉ, qua nhiều biến đổi, ý nghĩa của «eros» đã bị hạ thấp giá trị chỉ còn mang ý nghĩa thuần túy về dục tình. Đoạn văn sau đây của P. Chauchard có vẻ thậm chí như khước từ những đặc tính về tình yêu nhân văn nơi «eros»: «Phát triển tính dục không hệ tại ở những mánh khóe kĩ thuật nhạt nhẽo, nhưng ở sự nhìn nhận đầy đủ tính tâm linh của nó, bởi lẽ eros chỉ mang tính nhân văn khi nó được Agapé ban sức sống và Agapé đòi hỏi phải được nhập thể trong Erôs» (P. Chauchard, Vices des vertus, vertus des vices, Paris 1963, p. 147).

So sánh cái «biết» của Kinh thánh và «eros» của Platon người ta thấy sự khác biệt giữa hai quan niệm này. Khái niệm của Platon dựa trên cơ sở là sự hoài niệm cái Đẹp siêu việt và sự trốn thoát khỏi thế giới vật chất. Ngược lại, Kinh thánh hướng tới thực tại cụ thể, và xa lạ đối với não trạng nhị nguyên phân biệt giữa tinh thần và vật chất cũng như không hề biết tới thái độ thù nghịch đặc biệt đối với vật chất («Và Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp»: St 1,10.12.18.21.25).

Trong khi quan niệm của Platon về eros vượt quá ranh giới của cái «biết» nhân văn trong Kinh thánh, quan niệm hiện nay thì lại xem ra quá chật hẹp. Cái «biết» Kinh thánh không giới hạn ở sự thỏa mãn bản năng hay hưởng thụ khoái lạc, nhưng đó hoàn toàn là một hành vi nhân văn, có ý hướng sinh sản, và cũng là sự biểu lộ của tình yêu liên vị (x. St 29,20; 1Sm 1,8; 2Sm 12,24).

Xem thêm…

Copyright ©THT - Được biên soạn và sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau - Ghi rõ nguồn:quatangsusong.blogspot.com/ - Khi phát hành thông tin trên trang này
Gx Đaminh | Namkna | Trung Tâm Học Vấn Đaminh | Kho tài liệu hay |