Chương XVIII SỰ VÔ TỘI NGUYÊN THỦY VÀ TÌNH TRẠNG LỊCH SỬ CỦA CON NGƯỜI
23:16 |
Chương XVIII
SỰ VÔ TỘI NGUYÊN THỦY VÀ
TÌNH TRẠNG LỊCH SỬ CỦA CON NGƯỜI
1.
Chúng ta tiếp tục suy tư trên cơ sở giả thiết tất cả những gì đã gặt
hái được cho tới nay qua những phân tích trước đây. Chúng phát xuất từ
câu trả lời của Đức Giêsu cho những kẻ chất vấn Người (Tin mừng thánh
Matthêu 19,3-9, và thánh Marcô 10,1-12), về vấn đề hôn nhân, về sự bất
khả phân ly và tính duy nhất của hôn nhân. Thầy Giêsu đã khuyên họ xem
xét kĩ lưỡng điều vốn có từ «thuở ban đầu». Và chính nhờ đó,
trong những bài suy tư của chúng ta cho đến nay, chúng tôi đã cố tạo lại
cách nào đó cái thực tại hiệp nhất, hay đúng hơn, hiệp thông ngôi vị,
vốn được đôi bạn nam nữ sống từ «thuở ban đầu». Kế đến, chúng tôi đã thử đi sâu vào nội dung súc tích của câu St 2,25: «Bấy giờ, con người và vợ mình, cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau».
Những lời đó nói đến hồng ân về sự vô tội (hay trong trắng) nguyên thủy, đồng thời tỏ lộ đặc tính của nó một cách tổng hợp. Trên cơ sở ấy, thần học đã xây dựng hình ảnh tổng thể về sự trong trắng và công chính nguyên thủy của con người trước khi có tội nguyên tổ, bằng cách áp dụng phương pháp khách thể hóa, vốn là đặc thù của siêu hình học và của nhân học siêu hình. Trong bài phân tích này, chúng tôi nghiêng về việc xét đến khía cạnh chủ thể tính nhân văn hơn. Vả lại, mặt ấy xem ra gần gũi với các bản văn nguyên thủy hơn, nhất là trình thuật thứ hai về tạo dựng, tức bản văn Giavít.
2. Không như một số chú giải nào đó, điều sau đây xem ra là khá rõ ràng: đó là «kinh nghiệm về thân xác» - điều mà chúng ta có thể rút ra từ các bản văn cổ St 2,23 và St 2,25 – cho thấy con người đã đạt tới một mức độ «tâm linh hóa» khá cao nào đó rồi, khác với tình trạng cũng bản văn ấy nói tới sau khi phạm tội nguyên tổ (St 3), tình trạng mà chúng ta đã biết đến từ kinh nghiệm của con người «lịch sử». Trong tình trạng nguyên thủy đó, con người sống một mức độ tâm linh rất khác, hình thành nên bởi những sức mạnh bên trong chính con người phối hợp với nhau, khác với tình trạng hiện nay. Con người nguyên thủy sống tương quan giữa xác và hồn như ở một mức độ khác, một tỉ lệ cân xứng nội tại giữa các cảm giác, tình cảm và tâm linh ở tầm mức khác, nghĩa là những giác quan nội tại qui hướng về các ơn huệ của Chúa Thánh Thần ở một tần suất khác. Tất cả những điều ấy thích ứng và đồng thời xác định tình trạng vô tội nguyên thủy của con người, và cũng giúp ta hiểu hơn trình thuật của Sáng thế. Thần học cũng như Huấn quyền của Giáo hội đã cho những chân lí nền tảng này một hình thức riêng [1].
3. Trong khi phân tích cái «thuở ban đầu» theo hướng thần học thân xác, chúng ta dựa trên lời của Đức Kitô, những lời chính từ miệng Người đã tham chiếu đến «thuở ban đầu». Người nói : «các ông không đọc thấy điều này sao: “Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hóa đã làm ra con người có nam có nữ?”» (Mt 19,4). Như thế, Người đã truyền cho chúng ta và vẫn luôn truyền cho chúng ta hãy quay về với mầu nhiệm tạo dựng sâu thẳm. Và chúng ta đã làm điều đó với ý thức trọn vẹn về ơn huệ tình trạng vô tội nguyên thủy, tình trạng riêng của con người trước khi phạm tội. Dẫu có hàng rào ngăn cách không thể vượt qua giữa chúng ta với tình trạng của con người nam và nữ xa xưa lúc bấy giờ (nhờ ơn huệ của tình trạng ân sủng gắn liền với mầu nhiệm tạo dựng), tình trạng cả hai người vốn là quà tặng cho nhau, thế nhưng chúng ta cũng thử tìm hiểu tình trạng vô tội nguyên thủy ấy như thế nào trong mối liên hệ với tình trạng «lịch sử» của con người sau khi phạm tội : «status naturae lapsae simul et redemptae» (tình trạng của bản tính vừa đã sa ngã vừa được cứu chuộc).
Từ tình trạng «hậu nghiệm lịch sử» (a posteriori storico), chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa nguyên thủy của thân xác, và mối liên hệ giữa thân xác với bản tính vô tội nguyên thủy trong «kinh nghiệm thân xác», như đã được trưng ra một cách thật ý nghĩa trong trình thuật của Sách Sáng thế. Chúng ta kết luận rằng điều quan trọng và thiết yếu là xác định mối liên hệ này, quan trọng không những đối với «tiền sử thần học» của con người trong đó cuộc sống lứa đôi hầu như được thấm nhập hoàn toàn bởi ân sủng vô tội nguyên thủy. Nó còn quan trọng thiết yếu vì có thể mạc khải cho chúng ta biết những cội rễ thường tồn của ethos [thiên hướng – N.D.] của thân xác, về phương diện nhân văn và (nhất là) về thần học.
4. Con người bước vào trong thế giới, và có thể nói, đã đi vào mạng lưới thâm sâu nhất của tương lai và lịch sử mình, với ý thức về ý nghĩa hôn phối của thân xác mình, một thân xác với giới tính nam và nữ của mình. Sự vô tội nguyên thủy bộc lộ ý nghĩa ấy làm nên tình trạng «đạo đức» (etica) và hơn thế nữa, về phần mình, nó làm nên tương lai của ethos con người. Điều ấy hết sức quan trọng đối với thần học thân xác. Đó là lí do tại sao chúng ta phải xây dựng thần học thân xác này «từ thuở ban đầu», trong khi theo đuổi cẩn thận những lời chỉ dẫn của Đức Kitô.
Trong mầu nhiệm tạo dựng, người đàn ông và người đàn bà được Đấng Tạo Hóa «trao ban» cho nhau một cách đặc biệt. Điều đó không chỉ ở trong phạm vi cặp vợ chồng đầu tiên và sự hiệp thông ngôi vị đầu tiên, nhưng trong toàn bộ viễn tượng của cuộc sống và gia đình nhân loại. Sự kiện căn bản của cuộc sống con người trong mọi giai đoạn của lịch sử của mình, đó là Thiên Chúa «đã tạo dựng họ có nam có nữ», và quả thật Ngài luôn luôn tạo dựng con người với cách thức như thế và luôn luôn là như thế. Hiểu những ý nghĩa nền tảng ẩn chứa trong chính mầu nhiệm tạo dựng, cũng như ý nghĩa hôn phối của thân xác (và những điều kiện nền tảng của ý nghĩa ấy) là điều quan trọng và thiết yếu để biết con người là ai và con người phải là ai, và từ đó biết phải tổ chức sinh hoạt của mình như thế nào. Đó là điều thiết yếu và quan trọng cho tương lai của ethos con người.
5. Đoạn St 2,24 cho thấy rằng cả hai người đàn ông và người đàn bà đã được tạo dựng nên cho cuộc hôn phối: «bởi thế, người đàn ông sẽ lìa bỏ cha mẹ và gắn bó với vợ mình và cả hai sẽ nên một xương một thịt». Từ đó mở ra một viễn tượng sáng tạo lớn lao. Chính viễn tượng cuộc sống của con người ấy được liên tục làm cho mới nhờ «sự sinh sản» [procreazione] (hoặc ta cũng có thể nói, nhờ «sự tự sản» [autoriproduzione]). Viễn tượng đó bám rễ sâu vào trong tâm thức của nhân loại (x. St 2,23) và trong ý thức đặc biệt về ý nghĩa hôn phối của thân xác (St 2,25). Người đàn ông và người đàn bà, trước khi là chồng là vợ (cụ thể điều đó chỉ được nói tới ở St 4), từ mầu nhiệm tạo dựng họ xuất hiện trước hết như là anh em chị em trong cùng nhân tính. Hiểu ý nghĩa hôn phối của thân xác với giới tính nam và nữ của nó biểu lộ cho người ta thấy sự tự do thâm sâu của họ, sự tự do của trao ban.
Từ đó khai mào sự hiệp thông các ngôi vị, trong đó người ta gặp gỡ nhau và trao ban cho nhau hoàn toàn với trọn vẹn con người chủ thể mình. Như thế cả hai triển nở như là những con người–chủ thể, và giúp nhau triển nở qua thân xác và qua sự «trần truồng» mà không bị xấu hổ. Trong sự hiệp thông các ngôi vị đó, sự đơn độc nguyên thủy thâm sâu (của con người đầu tiên và của tất cả mọi người) được bảo đảm hoàn toàn, nhưng đồng thời sự đơn độc ấy một cách kì diệu được thấm nhập và mở rộng ra bởi tặng phẩm tha nhân. Nếu người đàn ông và người đàn bà không còn là tặng phẩm vô cầu trao ban cho nhau như xưa kia nữa trong mầu nhiệm sáng tạo, bấy giờ họ sẽ nhận ra nhau rằng mình «trần truồng» (x. St 3). Và bấy giờ nảy sinh trong tâm hồn họ sự xấu hổ vì trần truồng, là điều mà họ chưa từng cảm thấy trước đó trong tình trạng vô tội nguyên thủy. Sự vô tội nguyên thủy vừa bộc lộ vừa tạo nên ethos hoàn hảo của tặng phẩm trao ban. Chúng ta sẽ còn trở lại luận cứ này.
-------------------------
[1] «Si quis non confitetur primum hominem Adam, cum mandatum Dei in paradiso fuisset transgressus, statim sanctitatem et justitiam, in qua constitutus fuerat, amisisse... anathema sit» (Conc. Trident.,
Sess. V, can. 1, 2; D.B. 788, 789). (Dịch: «Nếu ai không tuyên tín rằng
Ađam, con người đầu tiên, sau khi đã phạm giới răn của Chúa trong vườn địa đàng và lập tức mất đi sự thánh thiện và sự công chính mà Chúa đã thiết lập... thì bị tuyệt thông» (Cđ Trentô, kỳ họp thứ 5 (17/6/1546), điều 1, 2; DB 788, 789).
AI ĐÁNH MẤT CUỘC ĐỜI?
19:38 |
AI ĐÁNH MẤT CUỘC ĐỜI?
Một giáo sư thuê một người chèo đò chở ông ta qua dòng sông. Trên đường đi họ cùng trò chuyện:Giáo sư hỏi: Ông có biết gì về địa chất không?
Người lái đò: Tôi không biết
-Thế thì ông đã đánh mất 1/3 cuộc đời rồi, nhà khoa học nói – Vậy ông có biết gì về bộ môn Thực vật học không ? Đây là bộ môn cực kỳ hay.
Người lái đò lúc này hơi bối rối: " Uhm..tôi cũng không biết."
Giáo sư lắc đầu tỏ vẻ ái ngại: Thế ông lại đánh mất hơn nửa cuộc đời của mình rồi. Cuộc sống thật vô nghĩa khi ta không biết quanh ta có biết bao điều thú vị.
Người lái đò cuối mặt lặng lẽ chèo. Bất chợt 1 cơn gió to nổi lên, làm lật con thuyền, 2 người đều ngã xuống sông. Người lái đò hỏi: Thế ông có biết bơi không?
Vị giáo sư run rẫy: Không! Tôi không biết, cứu tôi với!
-Thế thì ông đã đánh mất cả cuộc đời rồi!, Người lái đò đáp lại.
@/ Bài học rút ra là, cho dù bạn có bao nhiêu kiến thức uyên bác thế nào đi nữa, nêu không trang bị kỹ năng cho mình, bạn vẫn sẽ rất yếu ớt giữa cuộc đời.
100 lời khuyên lúc lâm chung của vị Thầy thuốc Trung y 112 tuổi (phần 2)
17:06 |
Biên tập: Tuệ Minh
Món quà để lại lúc lâm chung của
một vị Thầy thuốc Trung y cao tuổi, thật quá tuyệt vời! Tổng cộng có
100 điều, mỗi điều đều rất cao thâm, nên cần phải đọc đi đọc lại nhiều
lần, nó sẽ giúp bạn đề cao nhận thức đối với sức khỏe!
21, Tục ngữ có câu “Linh cơ nhất động,
kế thượng tâm lai” (nhạy bén hễ động, nảy ra sáng kiến). Chữ “cơ” nếu
như có thể thực sự hiểu được thấu, thế thì ngộ tính của bạn được tính là
đã khai mở rồi. Thầy giáo dạy người, bác sỹ trị bệnh, kỳ thực chính là
đang chỉ ra cái “cơ” này của bạn, khiến cái “cơ” này của bạn khai mở.
cái “cơ” này có lúc cũng gọi là “then chốt”. Đương nhiên cái “cơ” này
khởi tác dụng là có điều kiện, cũng giống như khinh khí chỉ khi đạt đến
nồng độ nhất định, thì gặp lửa mới có thể bùng cháy. Hãy nhớ kỹ, tác
dụng của người khác đều là nhân tố bên ngoài, bản thân bạn mới thực sự
là nguyên nhân bên trong.
22. Kỳ thực, rất nhiều sự phát hiện và
phát minh chân chính, điều cần thiết [để sáng tạo ra chúng] không phải
là cái gọi là hệ thống kiến thức trên sách vở; mà hoàn toàn ngược lại,
một người chưa từng thông qua bất kể sự giáo dục nào một cách hệ thống,
nhưng ngộ tính rất cao, là người có tư duy cởi mở, họ thường thực sự ngộ
ra được chân tướng.
23. Con người tối kỵ nhất là loạn chữ,
loạn tâm, khi đối ngoại có thể làm hỏng việc, đối nội có thể ảnh hưởng
đến khí huyết, làm mất đi sự hoạt động thông thường. Phàm là khi vui
buồn, tức giận, hoài nghi, lo lắng, đều là loạn, là căn nguyên của bệnh
tật và đoản thọ, không chỉ khi dưỡng bệnh mới không nên loạn, mà khi
bình thường cũng rất kỵ tâm loạn.
24. Giận nhiều hại gan, dâm nhiều hại thận, ăn nhiều hại ruột, ưu tư hại lá lách, phẫn nộ hại gan, sầu muộn hại tinh thần.
25, Khi đổ bệnh, đều do tâm suy yếu,
ngoại tà thừa cơ xâm nhập. Mà khi tâm yếu khí nhược, mỗi khi do tâm tình
hỗn loạn, thân thể không sung mãn, xuất hiện đủ loại bất an, Tham ăn,
tham thắng, tham đạt, tham vui an dật, đều đủ để dẫn đến bị bệnh. Khi
tham mà không được, thì dễ dẫn đến giận dữ. Hay giận dữ khiến tâm khí
hỗn loạn, gan mật rối loạn, sáu mạch chấn động, ngũ tạng sôi trào, ngoài
tà cùng lúc đó mà thừa cơ xâm nhập, đó là nguyên nhân của bệnh tật.
26, Người thường mong cầu trường thọ,
trước tiên phải trừ bệnh. Mong cầu trừ bệnh, phải biết dụng khí. Muốn
biết dụng khí, trước hết phải dưỡng sinh. Phương pháp dưỡng sinh, trước
hết phải điều tâm (điều hòa tâm thái).
27, Con người do khí trong ngũ hành mà
sinh, nhục thân lấy khí làm chủ. Khí bị hao tổn ắt sinh bệnh, khí ứ động
không thông cũng sinh bệnh. Muốn trị bệnh này, ắt phải trị khí trước
tiên.
28. Khí để thông huyết, huyết để bổ khí,
tuy hai mà như một vậy. Phàm là người nhìn nhiều (sử dụng mắt nhiều) ắt
tổn thương huyết, nằm nhiều tổn thương khí, ngồi nhiều tổn thương thịt,
đứng nhiều tổn thương xương, đi nhiều tổn thương gân, thất tình lục dục
quá độ ắt tổn thương nguyên khí, hại tới tâm thận. Như ngọn lửa cháy
mạnh mẽ, bị hao tổn dương khí.
29. Trị bệnh về ngũ tạng, đầu tiên cần
bổ khí. Thận là cấp bách nhất. Bổ khí nghiêm cấm động tâm, động tâm ắt
nóng gan, các mạch bị chấn động, chân thủy sẽ hao tổn. Tâm bị động, sẽ
dẫn khởi phong. Phong động ắt hỏa vượng, hỏa vượng ắt thủy can, thủy can
ắt địa tổn.
30. Tâm định thần nhất, người được chữa
bệnh cần tín tâm kiên định chuyên nhất, lưỡng tâm tương hợp, có thể trị
khỏi bách bệnh, không cần dùng thần dược.
31. Bệnh của con người có thể chia thành
2 loại: một là kinh lạc cơ bản thông suốt nhưng khí không đủ. Biểu hiện
là thường xuyên đau chỗ này chỗ kia, đó là vì khí của anh ta không đủ
để khí hóa thức ăn, từ đó sản sinh ra tương hỏa (cũng gọi là hư hỏa),
thuận theo kinh lạc di chuyển hỗn loạn trong thân thể, chỗ nào thông thì
chạy qua chỗ đó, gặp phải chỗ bị tắc nghẽn, chỗ đó ắt sẽ bị đau. Những
người như vậy uống một chút thuốc liền lập tức thấy công hiệu. Hai là
kinh lạc không thông, khí không có chỗ nào để lưu lại trong thân thể.
Biểu hiện bề ngoài không có chút dấu hiệu nào của bệnh tật, nhưng một
khi đã phát bệnh thì rất nặng, hơn nữa loại người này dù uống thuốc gì
thì hiệu quả cũng rất chậm, hoặc căn bản không có tác dụng gì.
Chủ phát gọi là cơ. Mũi tên muốn bay ra
từ cánh cung, bắt buộc phải có cái cơ này để phát động. Bất kỳ sự tình
nào cũng đều như thế, đều có một cái cơ, chỉ khi nào kích động cái cơ
này, thì sự tình mới phát sinh, nếu chẳng kích động được cái cơ này, các
điều kiện khác dẫu có nhiều đến mấy, cũng không có cách nào dẫn khởi sự
việc. Vậy rốt cuộc cơ nó là cái thứ gì, nó chính là nhân tố then chốt
để phát sinh mọi sự việc. Nó là điểm, không phải là diện. Thế nhưng nếu
kích động được điểm này, thì có thể kéo theo cả một diện. Cho nên bệnh
cơ là nhân tố then chốt nhất trong sự phát sinh, phát triển và biến hóa
của bệnh, (cũng có thể nói, bệnh cơ một khi khai mở, bệnh trạng của
người đó sẽ hiển hiện ra, người đó sẽ tiến nhập vào trạng thái tuần hoàn
ác tính của bệnh, đối lập với bệnh cơ là “sinh cơ”. Khi sinh cơ mở ra,
người đó sẽ tiến nhập vào trạng thái thuần tốt đẹp của quá trình hồi
phục. Thực tế bệnh cơ và sinh cơ là hai phương diện của cùng một thứ, là
một cặp âm dương. Khi bệnh cơ mở ra, sinh cơ sẽ đóng lại; khi sinh cơ
mở ra, bệnh cơ tự nhiên cũng sẽ đóng. Đây gọi là pháp biện chứng).
32. Cảnh giới cao nhất của Trung y là
dưỡng sinh, cảnh giới cao nhất của dưỡng sinh là dưỡng tâm. Cho nên, đối
với dưỡng sinh mà nói, hạ sỹ dưỡng thân, trung sỹ dưỡng khí, thượng sỹ
dưỡng tâm. Nhìn một cá nhân cũng giống như thế, nhìn tướng không bằng
nhìn khí, nhìn khí không bằng nhìn tâm.
33. Tâm thần bất an, tâm tình nóng vội,
là căn nguyên dẫn đến bị bệnh và tử vong. Phương pháp giữ tâm bình an,
là bí quyết số một trong việc bảo vệ sinh mệnh. Tâm có thể chủ động tất
cả. Tâm định ắt khí hòa, khí hòa ắt huyết thuận, huyết thuận ắt tinh lực
đủ mà thần vượng, người có tinh lực đủ thần vượng, lực đề kháng nội bộ
sẽ khỏe, bệnh tật sẽ tự tiêu tan. Cho nên để trị bệnh đương nhiên cần
lấy dưỡng tâm làm chủ [yếu].
34. Phong hàn âm dương mùa hạ nóng ẩm,
đều có thể khiến cho con người mắc bệnh. Ngộ nhỡ lực đề kháng yếu, [bệnh
tật] sẽ thừa cơ xâm nhập. Người có thân thể yếu nhược thường nhiều
bệnh, chính là cái lý này. Người giàu có điều kiện bảo hộ tốt, như
ăn-mặc-ở v.v… Người nghèo có lực đề kháng, nếu như khí đủ thần vượng, lỗ
chân lông dày khít, không dễ bị [bệnh tật] xâm nhập v.v… Người giàu ăn
nhiều đồ béo ngọt, hại dạ dày hại răng. Người nghèo hay phải chịu đói,
thức ăn không phức tạp, nhờ đó mà không bị bệnh ở ruột. Người giàu
thường nhàn hạ, vì thế mà nhiều phiền muộn. Người nghèo lao động nhiều,
nhờ đó mà bệnh tật ít. Người giàu không tạo phúc mà chỉ hưởng phúc, chỉ
toàn tiêu phúc, tiêu cạn ắt nghèo. Người nghèo có thể cần kiệm, đó chính
là tạo phúc, khi quả chín sẽ giàu có. Phàm là điều kiện bảo hộ ăn-mặc-ở
đầy đủ thì lực đề kháng về tinh khí thần sẽ yếu. Điều kiện bảo hộ kém,
lực đề kháng ắt sẽ mạnh.
35. Mới khỏi bệnh nặng, cần tránh cắt tóc, rửa chân, tắm gội
36. Con người đều muốn cầu trường thọ vô
bệnh, thân thể luôn khỏe mạnh. Muốn thân thể khỏe mạnh, đương nhiên cần
điều tiết tinh khí thần. Muốn điều tiết tinh khí thần, đương nhiên cần
cự tuyệt sự can nhiễu của những thứ tà. Muốn chặn đứng tà, đầu tiên cần
phải dưỡng tâm. Muốn dưỡng tâm, cần phải hóa giải tam độc tham-sân-si.
Muốn hóa giải tam độc này, bắt buộc phải học tâm giới. Nhưng muốn giữ
được giới về ngôn từ lời nói, không nói không làm những việc vô ích, cần
phải khai [trí] huệ, vứt bỏ đi những điều ngu muội, và bắt buộc phải
đạt được định trước tiên. Muốn đạt được định, tất phải học tản bộ.
37. Có thể tĩnh ắt phải là người nhân [nghĩa], có nhân [nghĩa] ắt sẽ thọ, có thọ chính là hạnh phúc thực sự.
38. Tất cả những pháp môn tu thân tu
tâm, chỉ có bí quyết gồm 2 từ: một là phóng hạ, hai là quay đầu. Phóng
hạ đồ đao, lập địa thành Phật; Biển khổ vô biên, quay đầu là bờ. Chỉ cần
phóng hạ, quay đầu, người bệnh lập tức khỏi, người mê lập tức giác ngộ.
Đây mới thực sự là người có vô lượng thọ.
39. Người mà tâm quá lao lực, tâm trí
mệt mỏi thì gan sẽ vượng, tâm quá lao lực chính là tâm quá đầy, không
rỗng. Tâm đầy, ắt không thể dung nạp can (mộc) sinh chi hỏa, tâm không
dung nạp can sinh chi hỏa, khí trong gan ắt sẽ tích tụ lại nhiều. Gan là
mộc khắc thổ, nên tì vị sẽ mắc bệnh, tiêu hóa sẽ không tốt, dinh dưỡng
không đủ, tối ngủ sẽ không yên. Mộc lại khắc thủy, từ đó mà thận thủy bị
thiếu, thủy không đủ ắt hỏa càng vượng, tâm thận có liên hệ tương hỗ,
nên tâm khí càng yếu, bệnh phổi sẽ hình thành. Nội bộ có mối liên quan
tương hỗ, một thứ động sẽ kéo theo toàn bộ đều động, một chỗ bị bệnh sẽ
khiến toàn cơ thể bị bệnh. Người có cái tâm nhiễu loạn, chính là do cái
tâm ngông cuồng đầy tham vọng, cho nên muốn trị bệnh cần làm an cái tâm
này lại, an cái tâm này lại chính là chấm dứt vọng tưởng, để chấm dứt
vọng tưởng cần có tâm sáng, tâm sáng chính là tự giác ngộ, mà để đạt
được khỏe mạnh thì công hiệu nhất lại là ở tản bộ.
40. Tản bộ là phương pháp điều hòa tâm,
tâm điều hòa ắt thần an (tinh thần an lạc), thần an ắt khí đủ, khí đủ ắt
huyết vượng, khí huyết lưu thông, nếu có bệnh có thể trừ bệnh, nếu
không đủ có thể bồi bổ, đã đủ rồi có thể gia tăng. Bệnh hiện tại có thể
trừ, bệnh tương lai có thể phòng tránh. Điều tâm còn khiến cho thần minh
(tinh thần minh mẫn sáng suốt), thần minh ắt cơ linh, người có tâm
thanh tĩnh thật tuyệt diệu biết bao, họ có cái nhìn biện chứng, tác
phong bề ngoài linh hoạt, thấu hiểu các nguyên lý một cách chính xác,
liệu sự nhìn xa trông rộng, gặp loạn bất kinh, thấy cảnh đẹp không bị mê
hoặc, có thể thông đạt mọi thứ, bản thân không có những ý kiến chủ quan
sai lệch, đại cơ đại dụng, chính là từ đó mà ra.
(Còn tiếp)
Bác sĩ mải ăn tết, trẻ sơ sinh tử vong bất thường, sản phụ nguy kịch
07:18 |
TMSS: Gần tới ngày thầy thuốc Việt Nam rồi mà đọc được tin này thật buồn. Ngành y là ngành bảo vệ và giành lấy sự sống từ tay tử thần mà thế này sao! Cần xem lại cách đào tạo cũng như cung cách của những người công tác trong ngành y tế. Có lẽ từ "cán bộ y tế" cần phải được loại ra khỏi từ điển ngành y vì nó biến nhân viên y tế trở thành cái máy mất lúc nào không hay!
------------------------------------------------------------
KHƯƠNG QUỲNH – HỮU DANH
![]() |
| Sản phụ Yến Linh được chuyển viện đến BV Từ Dũ trong tình trạng phải bóp bóng trợ thởvà cha ruột tại bệnh viện Từ Dũ |
Nhập viện chờ sinh trong điều kiện sức khỏe bình thường vào sáng Mồng 4 tết, nhưng sau đó gia đình sản phụ đã vô cùng đau đớn khi cháu bé đã tử vong, còn sản phụ được chuyển lên tuyến trên trong tình trạng bị cắt mất tử cung, sức khỏe nguy kịch
- Nghệ An: Làm rõ nguyên nhân một trẻ sơ sinh tử vong khi vừa lọt lòng
- Thêm 1 trẻ sơ sinh tử vong sau khi chào đời Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa
- Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa: Trẻ sơ sinh tử vong vì sự thờ ơ của bác sĩ
- Vụ trẻ sơ sinh tử vong ở BV Đa khoa Khánh Hòa - Bài cuối: Bác sĩ đơn phương phá hủy hợp đồng
Chiều 24.2, Công an tỉnh Tiền Giang đã phối
hợp Công an thành phố Mỹ Tho đến Bệnh viện Phụ sản Tiền Giang lấy hồ sơ
bệnh án sản phụ Nguyễn Thị Yến Linh (SN 1986, ngụ xã Tam Bình, huyện Cai
Lậy, tỉnh Tiền Giang) để làm rõ trường hợp chị Linh đến sinh con ở đây,
con bị tử vong và mẹ đang trong tình trạng nguy kịch. Thi thể cháu bé
đã được cơ quan giám định Pháp y tỉnh Tiền Giang giải phẩu để làm rõ
nguyên nhân tử vong. Hiện chị Linh đang được cấp cứu tại bệnh viện Từ Dũ
trong tình trạng bị cắt mất tử cung và không cầm được máu.
Bác sĩ Đặng Thanh Nga – Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Tiền Giang cho
biết, bước đầu đã đình chỉ công tác của kíp trực. Trong ngày 24.2, Hội
đồng khoa học cũng đã xem xét hồ sơ bệnh án để làm rõ tại sao lại xảy ra
sự cố đau lòng này.
Anh Nguyễn Văn Hải (SN 1982, chồng chị Linh) kể, chiều 22.2 (mùng 4
tết), chị Linh được gia đình đưa đến nhập viện chờ sinh và được bác sĩ
thông báo sức khỏe bình thường. Đến 10 giờ ngày 23.2, gia đình thấy
không ai nói gì nên có xin nhân viên y tế cho chuyển viện hoặc nếu sinh
thường không được thì sinh mổ. Nhiều nhân viên trấn an “ở đây bác sĩ
biết, nằm trong khả năng xử lý của bệnh viện” và không cho người thân
gặp mặt.
Đến gần 17h ngày 23.2, một người kêu gia đình sản phụ nói rằng “mẹ
yếu còn trẻ sơ sinh đã chết”. Anh Hải cho biết, đây là lần sinh thứ 3
của vợ anh. Hai lần trước, chị Linh đều sinh thường, con khỏe và cháu
nào cũng nặng hơn 3kg. Anh cho rằng, các y bác sĩ Bệnh viện Phụ Sản Tiền
Giang đã có sai sót và tắc trách, dẫn đến cái chết đau lòng của con
mình và vợ anh thì đang nguy kịch. Trong khi đó, suốt thời gian xảy ra
sự việc đến nay, bệnh viện không có một lời hỏi thăm động viên đến gia
đình.
Trao đổi với phóng viên Báo Lao Động, bác sĩ Trần Thanh Thảo - Giám đốc
Sở y tế tỉnh Tiền Giang cho biết bệnh viện đã có báo cáo ban đầu. Tuy
nhiên, do báo cáo còn chưa đầy đủ nên Sở yêu cầu báo cáo lại. “Thông tin
ban đầu, sản phụ sinh con thứ 3 nên bệnh viện nghi cơ tử cung mục, sản
phụ bị vỡ tử cung sau gây băng huyết, dẫn đến thai nhi tử vong. Hiện cơ
quan điều tra đã đến bệnh viện lấy toàn bộ hồ sơ bệnh án để làm rõ. Kết
quả điều tra sẽ là kết quả độc lập để xác định nguyên nhân, từ đó mới có
cơ sở xử lý vụ việc. Chúng tôi vẫn đang chờ kết quả này” – bác sĩ Thảo
nói.
Trong chiều 24.2, nhiều người thân của chị Linh đã đến Bệnh viện Phụ
sản Tiền Giang yêu cầu làm rõ thông tin có hay không chuyện các bác sĩ
mải ăn tết nên lơ là ca trực, giao việc cho các nữ hộ sinh nên xử lý sự
cố không kịp thời dẫn đến hậu quả trên.
| Anh Hải (trái) và cha ruột đang lo lắng cho sức khỏe của chị Linh tại bệnh viện Từ Dũ |
30 qui tắc nuôi con đáng phục của người Nhật
18:11 |
Cách dạy con của người Nhật từ lâu vẫn là điều được nhiều bà mẹ trên
toàn thế giới ngưỡng mộ. Khi biết tôi đang sinh sống và nuôi con tại
Nhật, đã có rất nhiều chị em ở Việt Nam thường xuyên hỏi tôi, nhờ tôi
chia sẻ về cách mẹ Nhật nuôi dạy con cái. Bởi như chúng ta biết, tất cả
các phụ huynh đều quan tâm đến cách giáo dục, học hỏi lẫn nhau. Tôi
không cho rằng mẹ Nhật dạy con là giỏi nhất, vậy nhưng họ quả thật có
những kinh nghiệm nuôi con rất đáng nể phục.
30 “chân lý” về
chuyện nuôi dạy con của mẹ Nhật được tôi đúc rút ra này, có thể hợp ý
người này, không đúng ý người kia. Nhưng với bản thân tôi, đây đều là
những kinh nghiệm rất thực tế và đáng suy ngẫm.
1. Trẻ em không cần phải quá thông minh. Thông minh, học giỏi không hẳn là một điều tốt, cái chính là cần có nhân cách tốt.
2.
Môi trường nuôi dạy con cái là rất quan trọng. Khó có thể dạy dỗ một
đứa trẻ nên người trong một gia đình hay xung đột, một trường học nhiều
trẻ hư hay một khu phố có tệ nạn.
3. Không bao giờ hình thành cho
trẻ một thói quen xấu. Không thỏa hiệp lợi ích ngắn hạn để hình thành
thói quen xấu cho con. Ví dụ như: đứa trẻ không ăn, đừng bao giờ bật
tivi cho con xem để xúc cơm. Để đạt được mục đích cho con ăn được thêm
vài thìa gạo, mẹ sẽ phải đánh đổi bằng một thói quen xấu rất khó bỏ.
4. Tôn trọng trẻ em, biết đồng cảm với trẻ.
5.
Luôn nói sự thật với con. Chỉ cần chú ý đến kỹ năng nói và cách nói là
được. Không bao giờ tỏ ra “ngoại giao”, nói dối với người khác trước mặt
con trẻ.
6. Không bao giờ thỏa hiệp với con dù biết trẻ sẽ mè nheo, phản đối. Thỏa hiệp chỉ khiến kết quả tồi tệ hơn.
7.
Chế độ ăn uống cho con phải cân bằng. Con dưới 1 tuổi sữa vẫn là nguồn
dinh dưỡng chính. Hơn 1 tuổi nên ăn 3 bữa một ngày, thực phẩm phải cân
bằng và phong phú.
8. Trẻ con không bao giờ để mình bị chết đói. Không cần ép con ăn, lo con đói.
9. Bữa ăn phải được diễn ra trong ghế ăn. Không ngồi thì không ăn.
10.
Bổ sung canxi cho trẻ nếu không thiếu thì không cần. Chỉ cần cho con
chạy nhảy dưới ánh mặt trời, tắm nắng thường xuyên là được.
11.
Cho trẻ mặt quần áo nên mặc nhiều lớp. Như vậy khi con nóng có thể cởi
bớt, lạnh có thể khoác thêm. Chơi thể thao toát mồ hôi có thể bỏ ra.
12. Xác định con lạnh hay không bằng cách kiểm tra cổ.
13. Cho trẻ ăn trái cây thường xuyên và mỗi ngày.
14.
Khi trẻ có triệu chứng cảm lạnh như chảy nước mũi, chỉ cần liên tục nhỏ
thuốc muối sinh lý. Không cần uống thuốc. Nếu con có virus cúm mới cần
uống thuốc, không uống quá 14 ngày.
15. Con sốt phải đưa đến bệnh viện khám, cố gắng yêu cầu xét nghiệm máu.
16. Ai cũng có thể bị bệnh, bị ốm. Do vậy khi một đứa trẻ bị cảm lạnh, bệnh nhẹ, đừng hoảng sợ. Không cần quá hoang mang.
17.
Nếu việc con làm không ảnh hưởng đến sự an toàn của con, đến lợi ích
của người khác, thì không được quá can thiệp vào hành vi của con.
18. Để trẻ chơi thoái mái, không giục giã.
19.
Không phải cứ cái gì nguy hiểm cũng cấm con không được tiếp cận. Nên
cho con biết nguy hiểm là như thế nào, xảy ra ở đâu, làm thế nào để
tránh. Cho con tiếp cận với nguy hiểm trong phạm vi kiếm soát.
20.
Cần để con có cơ hội tư trải nghiệm càng nhiều càng tốt. Không nên nói
trước kết quả với con. Hãy để bé tự khám phá, biết hậu quả, biết cách
thành công, biết cả thất bại.
21. Dạy trẻ học cách chờ đợi.
22. Dạy trẻ chịu trách nhiệm về hành động của mình.
23. Dạy trẻ cách cho đi và nhận lại là quá trình hai chiều. Người nhận cũng phải biết ơn.
24.
Hiện nay trong xã hội có rất nhiều phương pháp giáo dục sớm. Nếu không
thực sự hiểu, không biết làm thế nào thì đừng làm và đừng ép con.
25. Phải đảm bảo mỗi ngày đều có thời gian dành cho con, chơi với con.
26. Luôn có cách khiến con cười ít nhất vài lần một ngày để duy trì tâm trạng tốt.
27.
Dạy trẻ cách đối mặt với thất bại. Con có thể không hài lòng, có thể bỏ
cuộc, có thể cố gắng làm tiếp một lần nữa. Nhưng dứt khoát không khóc,
không được suy sụp.
28. Nguyên tắc cơ bản là không bao giờ được
đánh bạn trước, tấn công bạn trước. Trong nhà trẻ, có thể thu hút sự chú
ý của cô giáo và các bạn khác bằng cách hét lên.
29. Con có quyền quyết định những việc liên quan đến con.
30. Khi con được 4,5 tuổi, hãy dạy con cách tiêu tiền và cho con tiền tiêu vặt hàng tuần.
Chia sẻ của độc giả Thanh Nga (Nhật Bản)
Chương XVII: Sự trao hiến tặng phẩm xác thân cho nhau tạo nên một mối hiệp thông đích thực
23:13 |
Chương XVII:
Sự trao hiến tặng phẩm xác thân cho nhau tạo nên một mối hiệp thông đích thực
1.
Chúng ta tiếp tục khảo sát cái «thuở ban đầu» ấy, điều mà Đức Giêsu đã
nhắc tới trong khi trao đổi với những người Pharisêu về chủ đề hôn nhân.
Suy tư ấy đòi hỏi chúng ta phải vượt qua bên kia ngưỡng cửa của lịch sử
con người và đạt tới tình trạng trong trắng nguyên thủy. Để tìm hiểu ý
nghĩa của sự trong trắng ấy, theo cách nào đó chúng ta đã đứng trên nền
tảng của kinh nghiệm của con người «lịch sử», dựa trên nền móng là chứng
từ của tâm hồn, của ý thức (tâm thức).
2. Dựa theo phương pháp «hậu nghiệm lịch sử» chúng ta cố gắng xây dựng lại tính đặc thù của tình trạng trong trắng nguyên thủy ẩn chứa trong kinh nghiệm về thân xác của nhau và về ý nghĩa hôn phối của thân xác ấy, theo những gì mà St 2,23-25 đã chứng nhận. Hoàn cảnh mô tả ở đây cho ta thấy cái kinh nghiệm hồng phúc về ý nghĩa của thân xác, mà trong mầu nhiệm tạo dựng con người có đạt thấu được, có thể nói, là nhờ sự bổ sung cho nhau giữa hai yếu tố nam và nữ. Thế nhưng, ở nguồn cội của kinh nghiệm này phải có sự tự do nội tâm, một sự tự do của trao hiến hợp nhất đặc biệt với sự trong trắng đó. Ước muốn của con người từ thuở ban đầu là trong trắng, và như thế, họ dễ dàng trao hiến thân xác (với khác biệt giới tính) cho nhau như tặng phẩm ngôi vị. Bởi thế, sự trong trắng mà St 2,25 xác nhận có thể được định nghĩa như là sự trong trắng của kinh nghiệm về thân xác của nhau. Câu : «cả hai người, nam và nữ, trần truồng mà không cảm thấy xấu hổ» diễn tả sự trong trắng trong kinh nghiệm trao hiến thân xác mình cho nhau, một sự trong trắng khơi dậy ước muốn trong lòng trao cho nhau tặng phẩm chính con người của mình, đó là sự cụ thể hóa ý nghĩa hôn phối của giới tính (nam và nữ). Vậy, để hiểu được sự trong trắng của kinh nghiệm trao thân cho nhau, chúng ta phải cố làm rõ sự trong trắng trong sự trao hiến cho nhau tặng phẩm ngôi vị hệ tại ở điều gì. Quả thật, sự trao nhận cho nhau ấy là nguồn suối thật của kinh nghiệm về sự trong trắng.
3. Chúng ta có thể nói rằng một tâm hồn trong trắng trong khi trao hiến cho nhau (nghĩa là với ý hướng ngay lành) hệ tại ở sự người này «chấp nhận» người kia, một sự chấp nhận tha nhân tương hỗ như thế tương hợp với chính bản chất của tặng phẩm. Bằng cách đó, sự trao tặng cho nhau tạo nên mối hiệp thông các ngôi vị. Bởi thế, vấn đề là ở chỗ «tiếp đón» tha nhân và «chấp nhận» tha nhân. Đó chính là vì trong mối quan hệ tương hỗ này, điều mà St 2,23-25 nói tới, người đàn ông và người đàn bà trở thành tặng phẩm cho nhau, họ trao hiến cho nhau thật sự và cụ thể nhờ thân xác, một thân xác với giới tính là nam hay là nữ, của họ. Bởi thế, vấn đề là ở chỗ «chấp nhận» hay «tiếp đón» đó. Đó là điều diễn tả và bảo vệ ý nghĩa của sự trao hiến khi trần truồng trước mặt nhau và làm cho phẩm giá của tặng phẩm ngôi vị đối với nhau trở nên sâu sắc hơn. Phẩm giá đó tương ứng cách sâu xa với sự kiện Đấng Tạo Hóa đã tạo dựng (và vẫn còn tiếp tục tạo dựng) con người nam và nữ «vì chính họ». Sự trong trắng của «tâm hồn» và sự trong trắng của kinh nghiệm mang ý nghĩa là ta tham dự vào ý muốn hiện thực muôn đời miên viễn của Thiên Chúa.
Điều nghịch lại với sự «tiếp đón» hay «chấp nhận» tha nhân ấy như một tặng phẩm trao hiến có lẽ là sự tư hữu hóa chính tặng phẩm và như thế biến thành một cuộc đổi chác qua lại và thậm chí biến tha nhân thành một thứ «đồ vật cho tôi hưởng dùng» (đối tượng của dục vọng, của «chiếm hữu bất chính», vv...).
Chúng ta sẽ không bàn đến ở đây cách riêng biệt những phản đề (cái nghịch lại với sự trao hiến) rất đa dạng và có thể thấy trước. Thế nhưng, trong bối cảnh của đoạn St 2,23-25, cần nhận thấy rằng một hành động cưỡng bức tha nhân phải trao hiến và xem tha nhân thuần túy như một «đồ vật cho tôi hưởng dùng» như thế là đánh dấu một khởi đầu cho sự xấu hổ. Quả thật, sự xấu hổ tương ứng với một đe dọa làm tổn thương sự trao hiến trong nơi thân mật riêng tư và biểu lộ một tâm hồn sa ngã hết trong trắng trong kinh nghiệm về nhau.
4. Theo St2,25, «người đàn ông và người đàn bà không cảm thấy xấu hổ». Điều này cho phép ta đi tới kết luận rằng việc trao thân cho nhau được thực hiện (với toàn thể nhân tính, tức là với cả xác-hồn và giới tính khác biệt, của họ) trong điều kiện đặc trưng nội tâm (sự trong trắng) của hành vi tự hiến và tiếp nhận tha nhân như tặng phẩm được bảo toàn. Hai chức năng này của sự trao đổi hỗ tương gắn kết với nhau thật sâu xa trong toàn bộ quá trình «tự hiến». Hành động trao ban và đón nhận đi sâu vào trong nhau đến độ chính khi cho là nhận, và nhận trở thành cho đi.
5. St 2,23-25 cho phép ta suy diễn ra điều này, đó là: người đàn bà, kẻ được Đấng Tạo Hóa «trao ban» cho người đàn ông trong mầu nhiệm tạo dựng, nhờ sự trong trắng nguyên thủy nàng được «tiếp nhận», tức là được chấp nhận bởi người đàn ông như quà tặng. Về điểm này, bản văn kinh thánh hoàn toàn sáng sủa và rõ ràng. Đồng thời, sự đón nhận và chính cách thức đón nhận nàng từ phía người đàn ông có thể nói trở thành như là một sự trao hiến đầu tiên. Nói cách khác, người đàn bà, trong khi trao hiến mình (từ thuở ban đầu của mầu nhiệm tạo dựng khi người đàn bà được Đấng Tạo Thành trao ban cho người đàn ông) cũng đồng thời «tái khám phá chính bản thân mình», nhờ sự kiện nàng đã được chấp nhận và tiếp đón và nhờ cách thức mà người đàn ông đã đón nhận nàng. Thế đó, nàng khám phá lại chính mình chính khi mình hiến thân («nhờ sự chân thành tự hiến chính bản thân mình», Gaudium et spes 24), khi qua nhân tính và nữ tính của mình nàng được đón nhận như Đấng Tạo Hóa đã yêu thương tạo dựng nàng «vì chính nàng». Khi được đón nhận như thế toàn thể phẩm giá của một tặng phẩm được bảo đảm, nhờ hiến dâng bản thân trong toàn thể sự thật con người và thân xác nữ tính như thực tại vốn có của nàng, nàng đạt tới cõi thâm sâu riêng tư nhất của con người mình và sở hữu mình toàn vẹn. Ngoài ra, việc tìm gặp lại chính mình khi hiến thân trở nên một suối nguồn cho một sự tự hiến mới như hoa trái của một ý thức về tặng phẩm càng ngày càng đậm sâu hơn. Điều ấy phát triển là nhờ nội tâm sẵn có khuynh hướng trao hiến và trong điều kiện gặp được một sự đón nhận cũng như thế hay thậm chí sâu sắc hơn.
6. Trình thuật thứ hai xem ra muốn gán cho con người (người nam) từ «thuở ban đầu» chức năng của kẻ trước hết đón nhận tặng phẩm (x. nhất là St 2,23). Người phụ nữ «thuở ban đầu» được phó giao cho chàng chăm sóc, để ý, ân cần để «tâm» đến. Ngược lại, người nam theo nghĩa nào đó phải bảo đảm tiến trình trao nhận sự trao hiến, sự trao ban và sự đón nhận xâm nhập vào bên trong của nhau, và chính nhờ sự đi lại đó tạo nên mối hiệp thông các ngôi vị.
Nếu như, trong mầu nhiệm tạo dựng người phụ nữ là kẻ đã «được ban» cho người đàn ông, thì về phần mình, người đàn ông, khi đón nhận nàng như tặng phẩm với toàn vẹn sự thật về con người và nữ tính cuả nàng và nhờ thế mà làm cho nàng phong phú, cũng được nên phong phú. Người đàn ông được phong phú không chỉ nhờ nàng (kẻ đã hiến ban cho chàng chính con người với nữ tính của mình), mà còn nhờ sự trao hiến chính mình. Sự trao hiến từ phía người đàn ông đáp trả sự trao hiến của người phụ nữ, đối với chàng, làm cho mình thêm phong phú. Thật vậy, nó bộc lộ điều như là bản chất đặc thù của nam tính của chàng, điều ấy qua thực tại thân xác với giới tính của mình người ấy đạt tới cõi riêng tư sâu thẳm nhất của sự «sở hữu chính mình». Nhờ đó, chàng có khả năng trao hiến chính mình cũng như đón nhận tặng phẩm tha nhân. Bởi thế, người đàn ông không những đón nhận tặng phẩm, nhưng đồng thời còn được đón nhận bởi người nữ như một tặng phẩm, khi chàng biểu lộ cái yếu tính thiêng liêng nam giới tiềm ẩn của mình ra, cùng với toàn thể sự thật của thân xác và giới tính của mình. Bởi được đón nhận và đón tiếp như thế tặng phẩm nam tính của mình, chàng được phong phú thêm. Kế đến, sự đón nhận ấy (ở đó người đàn ông tìm gặp lại chính mình qua sự «chân thành tự hiến») trở thành ở nơi chàng một nguồn suối cho người phụ nữ được giàu thêm cách sâu sắc hơn. Sự trao đổi ấy có qua có lại (tính tương hỗ). Và trong đó những hiệu quả phát sinh cho nhau giữa sự «chân thành trao hiến» và «tìm gặp lại chính mình» được bộc lộ ra và tăng trưởng.
Bằng cách ấy, theo dấu vết của «cái hậu nghiệm lịch sử» - và nhất là theo dấu vết của trái tim con người – chúng ta có thể tái tạo và như là thiết lập lại sự trao hiến qua lại cho nhau tặng phẩm nhân vị, vốn đã được mô tả trong bản văn cổ hết sức phong phú và sâu sắc của sách Sáng thế.
CHÚC MỪNG NĂM MỚI
03:51 |
Khoảng khắc năm mới Ất Mùi đã gần tới. Quà Tặng Sự Sống xin kính chúc người người một năm mới tràn đầy duyên thiện, duyên lành như chính con dê là biểu tượng. Xin cho duyên thiện duyên lành này giúp mỗi người sống xứng đáng là người hơn mỗi ngày.
Xin sức sống của Chúa Xuân chảy tràn trên tất cả chúng ta!
Thành tâm kính chúc!
QTSS
Tin tưởng và phó thác vào Chúa quan phòng
00:31 |
Tin tưởng và phó thác vào Chúa quan phòng
Tin Mừng Mt 6, 25 – 34.
25 Khi ấy Đức Giêsu nói
rằng: " Thầy bảo cho anh em biết: đừng lo cho mạng sống: lấy gì mà ăn;
cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc. Mạng sống chẳng trọng hơn của
ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao?26 Hãy xem chim
trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha
anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao?27 Hỏi có ai trong anh em, nhờ lo lắng, mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang tay?28
Còn về áo mặc cũng thế, lo lắng làm gì? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng
mọc lên thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm lụng, không kéo sợi;29 thế mà, Thầy bảo cho anh em biết: ngay cả vua Sa-lô-môn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy.30
Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn, mai đã quẳng vào lò, mà Thiên Chúa
còn mặc đẹp cho như thế, thì huống hồ là anh em, ôi những kẻ kém tin!31 Vì thế, anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây?32 Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó.33 Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho.34 Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy.
Suy niệm
Ngày đầu năm chúng ta hướng về
Chúa với tâm tình tri ân cảm tạ. Qua một năm lao đao vất vả
trong cuộc sống thường ngày với kiếp sống con người. Mặc dù
phải trải qua những khó khăn trong cuộc sống, lắm lúc chúng ta
đã mãi mê thế sự mà quên lãng Chúa, nhưng Chúa vẫn yêu thương
và chờ đợi chúng ta. Và Ngài vẫn luôn đồng hành nâng đỡ chúng
ta trong đời sống hằng ngày. Vì thế, tâm hồn chúng ta đang
được tràn đầy niềm vui và hạnh phúc vì có Chúa đồng hành.
Chúng ta bước sang năm mới với niềm hân hoan phấn khởi.
Năm mới chúng ta thương chúc nhau
bình an,thành đạt. Nhưng sự thành đạt phải được kể là ý Chúa
mới làm cho ta được bình an hạnh phúc. Có Chúa, chúng ta
sẽ có tất cả, như lời Ngài dạy: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho”.
Đời ta nếu không có Chúa, mọi sự chẳng còn ý nghĩa gì, vì
tất cả sẽ qua đi theo năm tháng,chỉ có Chúa mới là vĩnh hằng,
bất biến.
Cuộc sống hôm nay, càng ngày càng tăng
tốc. Mỗi cá nhân đang bị lôi cuốn vào vòng xoáy của các quy luật xã hội.
Những áp lực của cạnh tranh, của nhu cầu hưởng thụ, của thái độ sống
hời hợt, của lòng vị kỷ cá nhân đang bóp chặt con người. Nó khiến mỗi
người sống trong vỏ bọc của cô đơn và căng thẳng. Họ đặt ý nghĩa cuộc
đời vào những giá trị chóng qua và do đó bất an là nỗi ám ảnh thường
trực. Hơn bao giờ hết, con người hôm nay đang khao khát sự bình an đích
thực
Chúng ta mong muôn bình an và hạnh
phúc không chỉ cho riêng mình mà cho mọi người, nhất là những
người thân yêu, con cái, cha mẹ, ông bà, anh chị em chúng ta…
Chúng ta mong muốn bình an và hạnh phúc không chỉ ngày đầu năm
mà suốt một năm, suốt cả cuộc đời. Khi tạo dựng nên con người,
Thiên Chúa cũng muốn cho con người được hạnh phúc và bình an.
Bình an đích thực chứ không phải giả tạo có donhu cầu hưởng
thụ của thời đại, do lòng ích kỷ, một thứ bình an do tiền
bạc mang lại.
Còn sự bình an của Chúa, một sự
bình an đích thưc. Sự bình an đó có thể làm cho con người phải
e dè, lưỡng lự do thiếu niềm tin tưởng phó thác vào tình yêu
và sự quan phòng của Ngài. Để đón nhận được niềm hạnh phúc
và sự bình an đích thực của Chúa, chúng ta phải đánh đổi tất
cả những gì là phù hoa giả tạo. Cũng đừng lo lắng quá thể
cho ngày mai vì “ngày mai, cứ để ngày mai lo”.
Để đón nhận được sự bình an và
hạnh phúc đích thực, chúng ta phải tuyệt đối tin tưởng và phó
thác vào sưu quan phòng yêu thương của Chúa, như chim trời, cỏ
cây…chúng chẳng lo lắng gieo trồng gì, nhưng Chúa vẫn chăm lo cho
chúng. Còn chúng ta, những người con của Chúa, chúng ta “đáng giá hơn muôn vàn chim sẻ”
vậy, chẳng lẽ Thiên Chúa lại không yêu thương hay sao, có điều
là chúng ta có dám tin tưởng và phó thác vào Chúa hay không?
Thánh Martinô kính yêu của chúng ta
là một mẫu gương của niềm tin tưởng phó thác và cậy trông
vào Chúa quan phòng. Cuộc đời của thánh nhân đã phải long đong
vất vả, bị xã hội bỏ rơi, bị người đời khinh miệt…Thế nhưng,
ngài đã không thất vọng, không nản lòng, không thù hận cuộc
đời, trái lại, ngài đã sống lạc quan yêu đời và làm cho cuộc
sống này có một ý nghĩa tốt lành nhờ tin tưởng phó thác và
cậy trông vào tình yêu và sự quan phòng của Thiên Chúa.
Và như thế, thánh Martinô không
chỉ làm cho cuộc sống của mình được hưởng trọn niềm hạnh
phúc và bình an của Chúa mà thánh nhân còn làm cho nhiều
người cũng được đón nhận tình yêu Chúa như ngài. Ngài đã hiểu
được tình yêu thương của Chúa và ngài đã kín múc nơi Chúa
tình yêu sung mãn và lòng thương xót vô biên.Và ngài đã không
giữ cho riêng mình nhưng đã chia sẻ cho mọi người, nhất là
những người bất hạnh khổ đau hơn.
Thánh Martinô đã thấu hiểu hoàn
cảnh của những con người cùng khốn và đã dùng tình yêu mà xoa
dịu vết thương tâm hồn cũng như thể xác những anh chị em đồng
loại.
Ngày hôm nay, trên tòa cao vinh hiển,
thánh Martinô vẫn luôn dõi mắt nhìn đến chúng ta, nhìn đến
những người nghèo khổ. Ngài đang lắng nghe lời nguyện xin của
chúng ta,của cộng đoàn chúng ta. Chúng ta cùng đến với
ngài,cầu xin với ngài và noi gương ngài,biết yêu thương và chia
sẻ với người cùng khốn như mình.
Lạy thánh Martinô, hôm nay ngàyđầu năm mới, chúng con đến với ngài, chúng con tin tưởng
nơi ngài, ngài đã thấu hiểu những nỗi lòng và ước nguyện của
chúng con, của cộng đoàn và của mỗi người chúng con đây, xin
ngài cầu khẩn Chúa ban cho chúng con những điều chúng con xin
và những ơn cần thiết cho đời sống đức tin của chúng con hôm
nay và mãi mãi. Amen.
VÌ SAO BẠN LÀ NGƯỜI GIÀU CÓ
22:25 |
VÌ SAO BẠN LÀ NGƯỜI GIÀU CÓ
Chàng thanh niên nọ lúc nào cũng
than vãn số mình không tốt, không thể giàu có được. Một ngày, một ông
lão đi qua, nhìn thấy vẻ mặt ủ ê của anh bèn hỏi:
- Chàng trai, sau trông cậu buồn thế, có việc gì không vui à?
- Cháu không hiểu tại sao cháu làm việc chăm chỉ, vất vả mà vẫn nghèo. – Chàng trai buồn bã nói.
- Nghèo ư, cháu là một người giàu có đấy chứ.
- Chưa ai nói với cháu như vậy cả, cháu rất nghèo.
- Giả như ta chặt một ngón tay cái của cháu, ta trả cháu 3 đồng vàng, cháu có đồng ý không?
- Không ạ.
- Giả như ta chặt của cháu một bàn tay, ta trả cháu 30 đồng vàng, cháu đồng ý không?
- Không bao giờ.
- Vậy ta muốn lấy đi đôi mắt của cháu, ta trả cháu 300 đồng vàng, cháu thấy thế nào?
- Cũng không được.
- Vậy, ta trả cháu 3.000 đồng vàng để cháu trở thành một ông lão như ta, già cả, lú lẫn được không?
- Đương nhiên là không.
- Cháu muốn giàu. Vậy ta sẽ đưa cho cháu 30.000 đồng tiền vàng để lấy đi mạng sống của cháu, cháu thấy thế nào?
- Cháu cảm ơn ông! Cháu đã hiểu cháu cũng là một người giàu có.
Trong cuộc sống, rất nhiều người thường than thân trách phận mà không
hiểu thực ra mình còn hạnh phúc hơn rất nhiều người khác. Bạn hãy xem:
- Nếu sáng nay tỉnh dậy, cảm thấy mình khỏe mạnh, thì bạn đã hạnh phúc hơn rất nhiều người không còn cơ hội sống đến ngày mai.
- Nếu bạn chưa bao giờ phải trải qua sự tàn phá của chiến tranh, sự đơn
độc, lạnh lẽo trong nhà tù, chưa bị đói rét rình rập, thì bạn đã may
mắn hơn 500 triệu người trên trái đất.
- Nếu trong tủ lạnh nhà
bạn có thức ăn, bạn có quần áo để mặc, có tiền để tiêu, thì bạn đã hạnh
phúc hơn biết bao người nghèo đói vô gia cư trên thế giới.
- Nếu bạn có tài khoản trong ngân hàng, thì bạn đã được xếp vào nhóm 8% những người giàu có trên thế giới.
- Nếu bố mẹ bạn vẫn còn sống và vẫn sống vui vẻ hạnh phúc bên nhau, thì
bạn thuộc số ít nhóm người hạnh phúc nhất trên thế giới.
- Nếu
trên khuôn mặt bạn lúc nào cũng nở một nụ cười tươi tắn, bạn luôn cảm
thấy lạc quan yêu đời, thì bạn là người vô cùng hạnh phúc bởi trên thế
giới có rất nhiều người muốn lạc quan như bạn mà cũng không được.
- Nếu bạn được ôm người thân vào lòng hay được dựa vào bờ vai của họ để
nói lên tâm sự của mình, thì bạn đã hạnh phúc hơn rất nhiều những người
không bao giờ nhận được tình yêu từ người khác.
- Nếu bạn đọc được những dòng chữ này, thì bạn hạnh phúc hơn 2 tỷ người không thể đọc được trên trái đất này.
Sau khi đọc xong những dòng chữ này, bạn có thể nhìn lại mình qua gương và mỉm cười: “Hóa ra, mình cũng là một người giàu có.”
TMSS sưu tầm
100 lời khuyên lúc lâm chung của vị Thầy thuốc Trung y 112 tuổi (phần 1)
17:00 |
Biên tập: Tuệ Minh
Món quà để lại lúc lâm chung của một vị
Thầy thuốc Trung y cao tuổi, thật quá tuyệt vời! Tổng cộng có 100 điều, mỗi
điều đều rất cao thâm, nên cần phải đọc đi đọc lại nhiều lần, nó sẽ giúp
bạn đề cao nhận thức đối với sức khỏe!
1. Hãy nhớ kỹ: Ngủ là yếu tố quan trọng nhất của
dưỡng sinh. Thời gian ngủ nên từ 21h đến 3h sáng. Vì thời gian này là mùa đông
trong ngày, mùa đông chủ yếu là ẩn náu, mùa đông mà không ẩn náu thì mùa xuân,
hạ sẽ không thể sinh trưởng, sang ngày hôm sau sẽ không có tinh thần.
2. Hết thảy các vị thuốc dùng để trị bệnh cho dù
là Trung y hay là Tây y đều chỉ là trị phần ngọn, không trị tận gốc. Tại vì hết
thảy bệnh tật đều bắt nguồn từ những nguyên nhân sai lầm mà sản sinh ra hậu quả
sai lầm. Nguyên nhân sai lầm mà không trừ dứt, thì hậu quả sẽ không thể bỏ tận
gốc. Nguồn gốc căn bản của sức khỏe là tại tâm. Hết thảy pháp từ tâm sinh ra.
Tâm tịnh thân sẽ tịnh. Vì thế khi bị bệnh rồi, không được hướng ngoại cầu, phải
dựa vào hệ thống phục hồi của bản thân để chữa trị bệnh của chính mình. Kỳ thực
con người và động vật là giống nhau, bệnh của động vật đều là tự dựa vào bản
thân mà tự hồi phục, và con người cũng có khả năng đó.
3. Quan niệm đúng đắn có tác dụng giúp người bệnh
tiêu trừ bệnh tật tốt hơn nhiều so với sử dụng biệt dược đắt đỏ và phẫu thuật.
Có được quan niệm đúng đắn, bạn sẽ có quyết định đúng đắn, bạn sẽ có hành vi
đúng đắn, và bạn sẽ có thể phòng ngừa rất nhiều bệnh tật phát sinh.
4. Con người vốn hội tụ hết thảy trí huệ, tuyệt
đối không phải là học từ trong sách vở, mà là từ tâm chân thành, tâm thanh tịnh
của bản thân, từ trong [thiền] định mà sinh ra.
5. Trong giới sinh vật con người là linh thể có
cấu tạo hoàn mỹ nhất, khi con người được sinh ra là đã có một cơ thể khỏe mạnh;
sự điều chỉnh trạng thái khỏe mạnh của con người là dựa vào chính hệ thống điều
tiết phục hồi của bản thân để hoàn thành, chứ không phải dựa vào nhân tố bên
ngoài, các nhân tố bên ngoài chỉ có tác dụng phụ trợ.
6. Đại đa số hiện tượng bệnh tật của con người là
hiện tượng biểu hiện khi cơ thể đang điều tiết, thanh lọc những thứ không tốt
trong thân thể, là trạng thái biểu hiện ra khi cơ thể tự động điều tiết trở lại
trạng thái cân bằng, vì thế chúng ta nên coi đó là hiện tượng sinh lý bình
thường, chứ không nên coi đó là căn bệnh để tiêu diệt. Vì vậy khi con người bị
bệnh, nhất định không nên có tâm thái oán trách và giận giữ, tâm lý phải ổn
định, tâm định thì khí sẽ thuận, khí thuận thì máu sẽ thông, khi thuận huyết
thông thì trăm bệnh đều sẽ tiêu tán.
7. Sức khỏe của con người không thể xa rời hai
nhân tố: 1) Khí huyết đầy đủ; 2) Kinh mạch thông suốt ( bao gồm huyết quản và
đường thông bài tiết những thứ cặn bã).
8. Khí huyết đầy đủ dựa vào: sự đầy đủ về thức ăn
+ dịch mật + bắt buộc trong khoảng thời gian (sau khi trời tối đến 1h40 sáng)
có thể ngủ ngon giấc (thời gian này đại não hoàn toàn không làm việc, đều do
thần kinh thực vật làm chủ đạo) + có thói quen sinh hoạt lành mạnh.
9. Kinh mạch thông suốt cần: Tâm thanh tịnh. Hết
thảy thất tình lục dục đều có thể phá hoại tâm thanh tịnh, từ đó phá hoại sự
lưu thông bình thường của kinh mạch.
10. Duy trì một cơ thể khỏe mạnh khỏe mạnh không
chỉ cần “tăng thu” (gia tăng khí huyết), mà còn cần “tiết chi” (giảm thiểu sự
hao tổn khí huyết).
11. Ăn uống quá độ không những không thể gia tăng
khí huyết, mà còn trở thành những thứ cặn bã mang gánh nặng cho cơ thể, hơn nữa
còn bị tiêu hao khí huyết để thanh lọc chúng đi. Lục phủ ngũ tạng là một xưởng
gia công khí huyết, thức ăn là nguyên vật liệu, năng lực gia công là hữu hạn,
còn thức ăn là vô hạn, cho nên số lượng thức ăn nhất thiết phải được khống chế.
12. Vận động thích hợp có thể giúp cho khí huyết
lưu thông, nhưng đồng thời cũng tiêu hao đi khí huyết. Sự tuần hoàn của cơ thể
tại vi mô chủ yếu dựa vào trạng thái lỏng và tĩnh mà đạt được, đây cũng là điều
không thể thiếu cho một cơ thể khỏe mạnh.
13. Chất cặn bã trong cơ thể càng nhiều sẽ cần
càng nhiều khí huyết để thanh lọc chúng, nhưng khi chất cặn bã nhiều lên và làm
tắc huyết mạch sẽ làm giảm thiểu khí huyết, cái đó sẽ dẫn đến sự tuần hoàn ác
tính, cũng chính là cơ lý khiến con người già yếu đi. Vì vậy nếu con người muốn
khỏe mạnh không già yếu thì phải: 1) Giảm thiểu chất cặn bã trong cơ thể; 2)
Tăng cường sự thông suốt của các đường kinh mạch; 3) Tăng cường khí huyết trong
cơ thể.
14. Tin tưởng vào thuốc, tin tưởng vào số liệu
kiểm tra, không bằng tin tưởng vào cảm giác của bản thân, tin tưởng rằng chính
mình có đầy đủ năng lực để điều tiết. Nhưng trước hết bạn cần phải là người đắc
đạo (trí huệ đã khai mở), mới có thể phân biệt được hết thảy những điều này.
15. Sự khỏe mạnh, khởi đầu từ việc điều hòa tâm
tính. Vì sức khỏe của bạn, bạn hãy tu Phật. Tu Phật đạt được sự vui vẻ đó là sự
hưởng thụ tối cao của đời người.
16. Đối với người có bệnh cũ mà nói, chỉ khi có
khí huyết đầy đủ (một là thông qua phương pháp bổ sung khí huyết như đã giới
thiệu ở đây, hai là thông qua việc đi tản bộ để đánh thông khí cơ), bệnh tình
mới có thể hiển hiện ra. Vì thế người luyện công sau khi công phu đã đạt đến
một trình độ nhất định đều xuất hiện một vài hiện tượng “bệnh”. Đến lúc đó phải
vững vàng kiên định, tâm thần phải tĩnh lại và luyện nhiều tĩnh công hơn để gia
tăng khí huyết của bản thân, để mau chóng vượt qua giai đoạn này.
17. Con người làm trái với quy luật dưỡng sinh,
mặc dù không nhất định sẽ bị bệnh ngay lập tức, nhưng một khi đã hình thành
thói quen, liền gia tăng nguy cơ mắc bệnh. Điều này giống với luật lệ giao
thông, bạn vi phạm luật lệ giao thông, không nhất định sẽ xảy ra sự cố, nhưng
tình trạng nguy hiểm là có thể thấy rất rõ ràng.
18. Tại sao con người nhất thiết phải duy trì
trạng thái đói khát nhất định thì mới có lợi cho dưỡng sinh? Kỳ thực đây chính
là sự vận dụng tuyệt diệu của chữ “Hư”. Đạo gia giảng, hư thì linh. Chính cái
đó cùng với sự khiêm tốn khiến cho con người tiến bộ, giống như tự mãn khiến
con người lạc hậu, vì thế con người nhất thiết phải thường xuyên duy trì trạng
thái “hư linh”, mới có thể luôn luôn duy trì sự thanh tỉnh, duy trì sự khỏe
mạnh.
19. Con người muốn khỏe mạnh, thì nhất thiết phải
làm cho bên trong cơ thể có đầy đủ “khí” để “khí hóa” những thức ăn đi vào. Chỉ
có như thế, thì bên trong thân thể bạn mới không tích tụ chất cặn bã, sẽ không
có thức ăn thừa bị phóng thích và phân tán “hư hỏa” gây tổn hại các cơ quan nội
tạng trong cơ thể bạn. Cái “hư hỏa” còn làm tổn hại “khí” của bạn. Vì thế, từ
trên ý nghĩa đó có thể thấy, con người hiện đại bị bệnh, đại đa số là do ăn
uống không điều độ mà thành.
20. “Nằm lâu hại khí”, “Ngồi lâu hại thịt”, “Nhàn
hạ ắt khí ứ đọng”, lại dưỡng tĩnh quá độ, sẽ khiến công năng tiêu hóa của tì vị
bị hạ thấp, chức năng của tạng phủ ì trệ, khí huyết lưu chuyển ứ tắc không
thông thuận, lực đề kháng giảm, khả năng miễn dịch bị tổn hại, lượng đường, mỡ,
axit uric, huyết áp tăng cao, dần dần lâu ngày, con người sẽ sinh bệnh, hơn nữa
đa phần đều là thân thể yếu nhiều bệnh, ví dụ như cảm mạo thường xuyên, không
muốn ăn, thần trí mỏi mệt, sốt ruột căng thẳng v.v…
(Còn tiếp)





