Khi tội ác trở thành dịch vụ

20:22 |

Khi tội ác trở thành dịch vụ

 
  Đoàn Đạt
Chỉ trong một thời gian ngắn, hàng loạt các vụ phạm tội có tính “xã hội đen” diễn ra gây hoang mang trong xã hội. Người ta có cảm giác bất an như thể đang có sự nổi lên, sự trỗi dậy của thế giới ngầm, của những thế lực hắc ám…
Ngay thanh thiên bạch nhật, giữa thủ đô, một người bị đâm chết trên xe ôtô chỉ vì “cái tội” đòi nợ quá gay gắt. Cái chết “trị giá” chỉ 30 triệu đồng tiền thuê mướn gây tội từ kẻ mượn nợ ông ta, cho thấy số phận của một con người mong manh biết dường nào trong cái xã hội mà tội ác giờ đã trở thành một loại hình “dịch vụ” khá phổ biến. Trong vụ án trên, hai kẻ nhận thực hiện dịch vụ tội ác còn “khuyến mãi” thêm nên dù chỉ được thuê đánh dằn mặt ban đầu đã đâm chết nạn nhân!
Còn vụ bắt hai ông trùm ở Bắc Ninh gần đây cho thấy khi thực hiện các dịch vụ tội ác người ta mới “khá khẩm” làm sao! Khi thực hiện các dịch vụ này, dưới vỏ bọc là hai doanh nghiệp, hai tay chủ thành đạt là Minh Sâm và Hưng Sóc có tiền tỷ, đi xe hơi hàng hiệu đến choáng ngợp, chẳng cần giấu diếm hay che đậy gì cả. Cũng từ hai vụ án này, người dân thấy thấp thoáng sự thông đồng, quan hệ của một số “cán bộ đỏ” và “xã hội đen” như một bài báo đã nhận định.
Kể từ khi “đế chế” của Năm Cam lụi tàn, người ta mới thấy sự trỗi dậy mạnh mẽ của thế giới ngầm như hiện nay. Dù cho cái ác, thế giới ngầm hay “xã hội đen” chưa bao giờ vắng bóng ở mọi xã hội trong mọi thời kỳ, thế nhưng vấn đề là vì sao hiện nay chúng lại lộng hành đến thế? Vì sao chúng lại dễ dàng thực hiện được các cuộc “tuyển quân”, “tập hợp lực lượng” trong xã hội như thế?
Có thể thấy dường như sự phát hiện và trấn áp tội phạm hiện nay vẫn còn mang tính bất cập. Việc ông trùm Nguyễn Ngọc Minh thành lập công ty Đại An và phất lên kể từ năm 2000, mãi đến năm nay mới bị phát hiện. Thậm chí, công ty này còn từng được tỉnh tin tưởng giao thi công cả một tỉnh lộ và thực hiện công việc đền bù giải toả một cách êm đẹp. Tội phạm, tội ác mang tính riêng lẻ hay có tổ chức đang xuất hiện ngày càng rộng khắp và diễn ra với tần suất cao hơn dù ngoài lực lượng an ninh, công an hiện nay, xã hội đã huy động đến lực lượng dân phòng và cả các “hiệp sĩ đường phố”.
Quan điểm về hình phạm của xã hội cũng cần xem xét lại. Có rất nhiều trường hợp các phạm nhân, ngay khi thụ án xong, vừa ra tù đã ngay lập tức phạm tội ở mức độ cao hơn so với lần phạm án trước. Đó có phải vì chế độ lao tù và quan điểm về “tiền án, tiền sự” khắc nghiệt đã khiến những người thụ án khó có con đường hoà nhập trở lại với cộng đồng? Nếu như xã hội bình thường khó có thể chấp nhận họ thì phải chăng đây là một “đội quân” lý tưởng cho thế giới ngầm tuyển mộ?
Vâng, đã đến lúc phải chấm dứt chuyện tội ác ngông nghênh “cưỡi” Phantom hay Bentley đi dạo giữa trần đời…
Xem thêm…

An-nam thời mạt giáo

20:14 |
 Baron Trịnh

1. Đề án “Thí điểm mô hình đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục tiểu học từ lớp 1 đến lớp 3 tại TP.HCM năm học 2014-2015” với kinh phí thực hiện là khoảng 4.000 tỉ đồng và áp dụng cho 327.127 học sinh đang gây nhiều tranh cãi lẫn bức xúc trong dư luận.
Tranh cãi không phải vì đổi mới hay đổi cũ, cải tiến hay cải lùi, cũng như cần-lao An-nam đã quá quen với những chính sách trên trời hay sặc mùi lợi ích nhóm trong ngành giáo dục. Mà là vì không hiểu tại sao Tp.HCM lại chọn và quyết liệt áp dụng cho toàn bộ các cháu học sinh từ lớp 1 đến lớp 3. Trong khi vấn đề này còn chưa rõ ràng về tính hiệu quả lẫn tác hại của nó, kể cả ở các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến như Hoa Kỳ. 
Mạng xã hội và báo chí gần như vỡ tung khi một Facebooker đưa tin về một loại máy tính bảng có thương hiệu AIC Group - Smart Education được nhập về từ Đài Loan với giá 900.000 đồng bởi Công ty Cổ phần Tiến bộ Quốc Tế (AIC) - một đơn vị tư vấn cho Đề án trên. Dư luận nghi ngờ rằng, đây chính là loại máy tính bảng được đề xuất trong Đề án “sặc mùi tiền, thiếu tình người” nêu trên với giá đề xuất tận… 3 triệu đồng. 

Lãnh đạo Tp.HCM và quan chức Sở GD&ĐT chống chế rằng đây mới là đề án, và chưa được phê duyệt nên chưa thể thực hiện. Bà chủ tịch HĐQT của AIC cho rằng công ty họ bị oan, máy tính họ nhập có kích thước 7,85 inch chứ không phải 7 inch sau khi không thể phủ nhận là họ có nhập 3.500 chiếc ở cảng Hải Phòng và 1.400 chiếc ở Nội Bài. Bà này nói rằng họ nhập về để tặng nhân viên và phục vụ công việc nội bộ(?).
Điều rất lạ là ngay sau đó, trang web của công ty này (aicvn.com) đã bị gỡ xuống. Năm ngoái, công ty này cũng bị báo chí phanh phui vụ nhập 150 lò đốt rác thải sinh hoạt cũ của Nhật về bán cho các bệnh viện làm lò đốt rác thải y tế với trị giá khoảng 300 tỷ đồng, trong khi một nguồn tin trên báo chí cho biết giá nhập khẩu của mỗi lò đốt này chỉ có 45.000 USD (khoảng 900 triệu đồng). 
Không biết máy tính bảng của công ty AIC nhập về có phải là loại sử dụng làm SGK điện tử đề xuất trong Đề án không? Và có thể sẽ không bao giờ được làm rõ bởi với sự phản đối quyết liệt của dư luận thì Sở GD&ĐT Tp.HCM khó mà triển khai đại trà Đề án này như ý định ban đầu. Tuy nhiên, đây là điều đáng mừng vì nếu Đề án này mà đã đi vào hoạt động thì người dân chỉ còn biết ngậm quả đắng. Bởi lẽ, dù phải tự tử để trở thành trở hộ nghèo để có thể vay tiền mua máy tính bảng cho con đi học như chị Nhân ở Cà Mau thì họ cũng phải làm. Vì con trẻ chính là cuộc sống của họ, việc học hành của con trẻ chính là tương lai của họ. 
Kinh doanh thì ai cũng muốn có lợi nhuận cao. Nhưng nếu kiếm tiền một cách bất chính bằng cách móc ngoặc giữa quan chức và doanh nghiệp thì đó là sự cạnh tranh bẩn thỉu của doanh nghiệp sự tham nhũng nghiêm trọng của quan chức. 
Thêm nữa, nếu kiếm tiền trên sức khỏe, sự hình thành nhân cách và tri thức của con trẻ - thế hệ xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong tương lai thì đó là kiểu kiếm tiền khốn nạn và thất đức nhất, có thể quy kết như tội phản bội tổ quốc. Bởi lẽ, những kẻ này đang làm cho đất nước trở nên nghèo đói, yếu hèn và bạc nhược. 
Bi kịch của xứ An-nam, là vì tiền, rất nhiều kẻ sẵn sàng bán rẻ lương tâm lẫn lòng yêu nước! 
 2. Dự thảo Đề án đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông do Bộ GD&ĐT chủ trì xây dựng đã được đưa ra thảo luận tại Ủy ban đổi mới giáo dục, Chính phủ đến Quốc hội.
Nhiều vấn đề trong Đề án dược đưa ra tranh luận sôi nổi bởi các nhà lãnh đạo cao cấp, các nhà quản lý giáo dục, các chuyên gia giáo dục đầu ngành. Trong đó vấn đề được dư luận quan tâm là Ban soạn thảo Đề án đề xuất chương trình THCS tăng lên thành 5 năm và chương trình THPT rút xuống còn 2 năm. Một số chuyên gia giáo dục còn đề xuất phương án mới là chương tiểu học là 6 năm, chương trình THCS 4 năm và THPT là 2 năm. 
Có điều, vẫn như thường lệ khi đưa ra một vấn đề mới, từ quan chức cao cấp đến lìu tìu, từ nhà quản lý chuyên môn đến chuyên gia đua nhau chém gió những thứ ở trên giời. Cũng có vài ý kiến tâm huyết của những người tâm huyết. Nhưng khốn nỗi, tiếng nói của họ thường không có trọng lượng nên chẳng giải quyết được gì ngoài để báo chí xáo xào tung hỏa mù dư luận. 
Điều có lẽ những người có tri thức và lương thiện đều nhìn thấy là để đổi mới, cải cách thì cần phải thực hiện từ cái gốc. Ấy nhưng các vị áo cao mũ dài lại toàn chém phần ngọn. Một nền giáo dục suy đồi, nát và thối như hũ tương có dòi thì chỉ còn cách ủ mẻ tương mới, chứ không thể vớt dòi ra để tương thơm ngon lên được. 
Và cái gốc trong đổi mới giáo dục là con người và cơ chế chứ không phải là đổi chương trình 4 năm thành 5 năm, hay biến sách giáo khoa giấy thành sách giáo khoa điện tử. 
Một người thầy giỏi về chuyên môn, có lương tâm và có tự trọng nghề nghiệp thì chắc chắn sẽ không bán điểm lấy tiền, đổi điểm lấy tình; không dạy thêm vì tiền; không dạy cho xong trách nhiệm. Đồng thời người thầy này sẽ luôn có tinh thần cầu thị học hỏi và đủ tri thức để học hỏi cái mới, cái tiên tiến trong giảng dạy. Nên cho dù có dạy bằng phương pháp truyền thống hay hiện đại thì chất lượng vẫn không thay đổi. 
Ngược lại, một người thầy kém về chuyên môn, thiếu cả lương tâm lẫn tự trọng nghề nghiệp thì sẵn sàng bán điểm lấy tiền, đổi điểm lấy tình; sẵn sàng bắt học sinh học thêm vì tiền; sẵn sàng đứng nhầm lớp. Những người thầy này sẽ không đủ tri thức và luôn giấu dốt nên không thể tiếp cận được cái mới, cái tiên tiến trong giảng dạy. Nên cho dù có dạy bằng SGK giấy hay SGK điện tử thì cũng chỉ biết đọc chép mà thôi. 
Một cơ chế tốt (bao gồm cả cơ chế về tiền lương, cơ chế về quản lý, cơ chế về trao đổi học thuật,…) sẽ đảm bảo cho người thầy đứng đúng lớp, làm đúng chuyên môn, tâm huyết và tận tụy với nghề nghiệp. Một cơ chế tốt sẽ đào thải những người thầy yếu kém cả về nhân cách lẫn chuyên môn, không để cho đám cơ hội chủ nghĩa leo sâu, leo cao vào các vị trí quản lý để lũng đoạn và làm suy thoái giáo dục. Một cơ chế tốt giúp người thầy độc lập về tư duy để có thể phát huy được năng lực chuyên môn, phát kiến được sáng tạo,… và tạo ra các sản phẩm có ích cho xã hội. Và cao hơn thế, một cơ chế tốt sẽ thay đổi được một nền giáo dục phục vụ đang suy thoái nghiêm trọng sang một nền giáo dục cống hiến với tương lai phát triển tươi sáng.
Những người đang xây dựng đề án, những người đang quản lý giáo dục, những chuyên gia giáo dục và các nhà giáo có biết điều này không? Họ biết, và biết rất rõ. Thế nhưng họ không thể làm, họ không dám làm. Bởi lẽ họ đã quen với những nghịch lý trong xã hội, họ không muốn mất nồi cơm đang có, họ không muốn mất cái mũ ô sa đang đội. Và họ chấp nhận khom mình, uốn lưỡi, bẻ cong câu chữ để chấp nhận cái nghịch lý đang tồn tại đó. 
Cũng có nhiều người muốn làm, muốn dấn thân vào những điều khó, điều khổ để mong muốn có một nền giáo dục tươi sáng cho nước nhà. Nhưng những người có đủ tâm, đủ tầm thì quá già để làm. Những người trẻ thì luôn thấy trước mặt một cái thòng lọng liên quan đến hệ tư tưởng, đến cơm áo gạo tiền và những mối quan hệ trong gia đình lẫn xã hội. 
Khi một người thầy đứng lên chống lại sự tiêu cực của lãnh đạo, sự dốt kém chuyên môn của đồng nghiệp, sự phi lý của cơ chế giáo dục,… mà bị quy chụp, gán ghép cho các tội như phá hoại, chống đối chủ trương đường lối, gây mâu thuẫn và mất đoàn kết nội bộ, suy thoái tư tưởng, đạo đức,… dẫn đến bị học trò và đồng nghiệp quay lưng, bị xã hội lên án, bị lãnh đạo trù dập, bị liên lụy đến người thân thì chắc chắn rằng, sẽ không ai muốn dấn thân cả, mặc dù họ hiểu, họ biết, và họ đau với nền giáo dục nước nhà. 
Thế nên, nếu không thay đổi được cái gốc mà chỉ loanh quanh cái ngọn thì cũng chỉ là bình mới rượu cũ mà thôi. Cho dù có các đề án hàng chục nghìn tỷ đồng, cho dù có học cái hay, cái tốt của Tây, của Tàu thì cuối cùng vẫn quay lại cái nền cũ. Giáo dục An-nam hiện tại cần người làm, làm thật, làm bằng cả sự hy sinh, tâm huyết và cống hiến, chứ không cần những hô hào, những quyết tâm và những tranh luận hàn lâm sáo rỗng. 
Không thể mong chờ một sự thay đổi kỳ diệu từ những “cây đũa thần” như kiểu Nghị quyết 29/NQ-TW mà ông bộ trưởng Luận coi như “triết lý giáo dục”. Đó là sự hoang tưởng về nhận thức, về tư duy. Bởi lẽ cho dù chủ trương, chính sách có hay đến mấy, có đúng đắn đến mấy,… nhưng vẫn cơ chế cũ, vẫn con người cũ thì không thể thay đổi theo chiều hướng tích cực được. Vụ việc Đề án sách giáo khoa điện tử cho học sinh lớp 1 đến lớp 3 ở Tp.HCM nêu trên là một ví dụ minh chứng rõ rệt nhất. 
Khốn nỗi, An-nam là một dân tộc ưa mê tín dị đoan, thậm chí là cuồng tín. Họ hy vọng vào sự may rủi, sự ban ơn của thần thánh nhiều hơn sự nỗ lực của bản thân, và họ vẫn mong chờ vào một cây đũa thần nào đó để có thể thay đổi nền giáo dục mà họ thấy đã mục nát.
Mặc dù, họ vẫn hiểu là chẳng bao giờ có thần, có thánh.

3. Giáo dục là cái gốc của văn hoá, là nền tảng cho sự phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá sự phát triển và văn minh của quốc gia đó. Chỉ có một nền giáo dục phát triển mới hình thành nên những thế hệ công dân có đầy đủ tri thức, lành mạnh tâm hồn để có thể đưa đất nước tiến lên sánh vai với các cường quốc năm châu. 
Vậy mà sau 69 năm độc lập, 39 năm thống nhất đất nước, nền giáo dục An-nam vẫn trì trệ, suy thoái và yếu kém. Thế nên phần lớn cần-lao An-nam khiếm khuyết về tri thức, què quặt về tâm hồn, bạc nhược về nhận thức và hèn nhát về suy nghĩ cũng không có gì là lạ cả. 
Dốt và hèn, không bao giờ trở thành thượng đẳng. 
 
Xem thêm…

Tiền thật- chất ảo và sự bí mật… công khai!

20:11 |

Tiền thật- chất ảo và sự bí mật… công khai!

Kỳ Duyên (bản gốc)
 
Câu chuyện tiền thật- chất lượng ảo, lại tiếp diễn ở một vụ việc khác gây xôn xao xã hội. Sau sự xôn xao về người lớn, giờ là sự xôn xao cho con trẻ.
—————
I-Xã hội đang ồn ào về vụ Minh “sâm”- ông trùm giang hồ xã hội đen đất Kinh Bắc vừa bị cơ quan chức năng bắt vì một loạt hành vi phạm tội. Mối thắt nút của vụ việc hình sự đầy kịch tính này khiến cho dư luận đàm tiếu và không kém phần hài hước là ở chỗ, ông trùm giang hồ kiêm đại gia, từng được ca ngợi bởi những hoạt động dân sinh xã hội bề nổi che mắt thiên hạ.

Doanh nghiệp Minh “sâm” từng được công nhận là “tập thể lao động xuất sắc” của tỉnh Bắc Ninh. Thậm chí Minh “sâm” từng được vinh danh là 01 trong 1000 doanh nhân tiêu biểu của cả nước trong dịp Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội. Mới hay, trong đời sống nhiễu nhương này, có rất nhiều giá trị đang bị rối loạn, lập lờ trắng đen. Tiền thật mà chất ảo.

Thật ra, cái sự tiền thật- chất ảo không hề hiếm hoi. Dù đôi khi nó gây bất ngờ.

Tỷ như cái kết quả công bố ngày 20/8 mới đây của Bộ Nội vụ phối hợp với Ngân hàng Thế giới, khảo sát thử nghiệm mức độ hài lòng của người dân với dịch vụ hành chính công (DVHCC) tại ba tỉnh: Phú Thọ, Thanh Hóa và Bình Định. Cuộc khảo sát nằm trong lộ trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020. Kết quả đẹp “như mơ” khiến cho cả cơ quan trong cuộc, và người ngoài cuộc ngỡ như mình… đang mơ: Hơn 80% số người dân hài lòng với DVHCC.
Trụ sở Công ty Đại An do Minh làm giám đốc (Ảnh: VietNamNet)
Cứ với con số này, chả mấy chốc mục tiêu của chương trình cải cách hành chính- đến 2015 có trên 60%; đến 2020 có trên 80% số người dân hài lòng về sự phục vụ của cơ quan hành chính, sẽ đạt được.

Cũng không chỉ có 03 tỉnh miền Trung khó khăn nói trên, cách đây ít lâu, xã hội đã ngỡ ngàng về chỉ số hài lòng của người dân trong các DVHCC được khảo sát tại t/p HCM, đô thị có trình độ dân trí vào loại khá cao của cả nước, mà báo chí gọi là “đẹp đến khó tin”.

Đó là giao thông công chính 99%, lao động – thương binh và xã hội 100%, nông nghiệp và phát triển nông thôn 94,3%, tài nguyên – môi trường: 90%. Còn ông Nguyễn Văn Quang, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế t/p HCM nói, ông ngỡ ngàng và không tin vào những con số này. Ông Quang không tin. Người dân t/p HCM không tin, và ngay cả những con số đó, nếu biết nói, có lẽ cũng phải bảo, chúng tôi còn không dám tin vào chính chúng tôi, nữa là...

Vậy nhưng những con số đó vẫn được trịnh trọng công bố, lưu trữ trong các tủ hồ sơ của các sở, ngành, như một thứ “bảo hiểm uy tín”… ảo về DVHCC.

Và nếu như tin vào tất cả các con số đẹp như mơ, đẹp đến khó tin đó, thì xã hội phải tin đánh giá của Bộ trưởng Nội vụ Nguyễn Thái Bình, khi ông đưa ra con số cũng rất… thái bình- là chỉ có trên dưới 1% số cán bộ, công chức chưa hoàn thành nhiệm vụ. Con số quá thái bình đó của ông, khi đó đã khiến xã hội bất bình. Vì đa số người dân lại không tin.

Cũng như hiện nay, đa số dư luận xã hội không hề tin vào những kết quả khảo sát mà Bộ Nội vụ vừa tiến hành, cho dù có cả, nói như nhà báo Đào Tuấn, “yếu tố nước ngoài” đo lường.

Vậy thì vì sao lại có những con số như đánh đố người dân… hái hoa tình yêu vậy: Tin- không tin; tin- không tin; tin- không tin…?

Đó là bởi Bộ Nội vụ đã tiến hành khảo sát một vấn đề nghiêm túc nhưng hoàn toàn thiếu hẳn một phương pháp khách quan, khoa học trong đo lường các chỉ số điều tra xã hội học. Và căn nguyên sâu xa phải chăng vẫn lại là bệnh thành tích quen thuộc? Nhìn ở tầm khái quát, đã có thể thấy cách khảo sát có 05 điểm phi khoa học.

-Về quy mô, việc khảo sát chỉ có 03/64 tỉnh, thành phố cả nước. Trong số 03 tỉnh đó, thực chất mỗi tỉnh chỉ khảo sát được hơn 1500 người. Liệu con số hơn 80% số dân hài lòng các DVHCC, bao gồm ở tất cả lĩnh vực cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép xây dựng công trình, cấp giấy đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp của 4500 người đó, có đại diện cho mức độ hài lòng của gần 90 triệu dân cả nước. Tỷ lệ 80% thực chất có “sai số” rất lớn, nếu mở rộng hơn nữa số đơn vị tỉnh, t/p được khảo sát?

- Điều bất ngờ nữa, xã hội có quyền nghi ngờ tính xác thực của con số hơn 80% số dân hài lòng với các DVHCC, nếu biết rằng, những người được khảo sát lại được trả … thù lao. Như một logic tất yếu, người được khảo sát sẽ khó mà có thể trả lời thẳng thắn, trung thực một khi “há miệng mắc… tiền”.

- Kết quả điều tra phụ thuộc rất nhiều vào trình độ những đối tượng được khảo sát, vào việc họ thường xuyên phải “cọ xát” với các DVHCC. Trong khi đó, theo báo Lao động, ngày 21/8, những người được khảo sát lại “có trình độ học vấn thấp, thiếu hiểu biết, nên khi trả lời đã phải..hỏi lại cán bộ cho rõ”. 

- Một điểm đáng chú ý, như ở tỉnh Phú Thọ, 46% số người được phỏng vấn thừa nhận là người “thân quen” của công chức. Liệu những câu trả lời có bảo đảm tính khách quan, hay đậm đặc sự… thiên vị?
- Việc đánh giá chất lượng phục vụ của DVHCC hay bất cứ lĩnh vực nào khác, lẽ đương nhiên phải do một cơ quan, một tổ chức tồn tại độc lập, khách quan với các ngành, các lĩnh vực. Tuy nhiên, do đặc thù, do những bất cập về tổ chức, mà cuối cùng, Bộ Nội vụ lại tự đánh giá mình (thông qua khảo sát công tác này tại các địa phương), tự đặt mình vào tình huống vừa đá bóng vừa thổi còi. Liệu kết quả này với những sai số lớn như đã phân tích trên, có đủ sức khiến xã hội tâm phục, khẩu phục?

Thực chất, những tỷ lệ phần trăm vừa công bố vẫn chỉ là những con số, những tỷ lệ “lạc quan” một cách… bi kịch. Bởi hiện trạng tiền thật- chất ảo đó không chỉ vô tình đem lại tâm lý tự mãn, “tự sướng” mà thực chất là bệnh thành tích về chất lượng DVHCC. Điều tệ hại hơn, kết quả đó không bảo đảm cơ sở khoa học để dựa vào đó, Nhà nước xây dựng các chính sách, định hướng phát triển DVHCC công nói riêng, cải cách hành chính nói chung một cách đúng đắn, chuẩn mực, mà có khi lại làm thiên lệch?

Đó chính là cái mất lớn nhất, sau cái được- những con số “ảo”

                           ****************

II- Câu chuyện tiền thật- chất lượng ảo, lại tiếp diễn ở một vụ việc khác gây xôn xao xã hội. Sau sự xôn xao về người lớn, giờ là sự xôn xao cho con trẻ.

Đó là đề án “Thí điểm mô hình đổi mới cơ bản và toàn diện GD tiểu học từ lớp 1 đến lớp 3 tại TP.HCM năm học 2014-2015” do sở GD t/p này vừa đưa ra. Nội dung của đề án là toàn bộ SGK truyền thống được đưa vào sách điện tử dưới dạng 3D kết hợp với âm thanh, hình ảnh được cài đặt vào máy tính bảng. Theo tính toán, đề án này cần đến 4000 tỷ đồng để đầu tư, trong đó ngân sách nhà nước chỉ chi một phần, còn lại là “xã hội hóa GD”, tức là các bậc cha mẹ phải mua sắm cho con em mình. Tính ra, sẽ có khoảng 320.000 máy tính bảng phải mua, trị giá mỗi máy tính từ 3- 5 triệu đồng. Có khoảng 451 trường tiểu học tham gia.

tiền thật, chất lượng ảo, ấn tượng trong tuần, Kỳ Duyên, bí mật, công khai, hậu thế
Máy tính bảng AIC Group có tên là Smart Education – Ảnh: Tuổi trẻ

Ngay lập tức, hàng trăm bài báo viết, trên mạng cá nhân phân tích, phản biện về vụ này. Thậm chí có báo gọi thẳng là “một đề án sặc mùi tiền và thiếu tính người”.

Vì sao và tự lúc nào, ngành GD trở nên “mất thiêng” đến vậy với xã hội? Và cứ bàn tới chuyện tiền bạc đầu tư cho GD, là XH phản ứng rất mạnh.

Đi ngược thời gian chút ít, chỉ mới hơn một con giáp thôi, sẽ hiểu vì sao XH mất niềm tin.

Đó là công cuộc đổi mới GD năm 2000 trước đây, với mục đích tăng cường thiết bị GD, đổi mới phương pháp dạy và học. Rút cục “hàng nghìn tỷ đồng ném ra gió”, còn thầy trò vẫn tiếp tục dạy chay- học chay?

Xã hội chưa quên câu chuyện 70000 tỷ đồng cho đổi mới CT, SGK tung ra trên báo chí năm 2011. Và mới đây, năm 2014, chỉ còn là 34000 tỷ đồng. Rút cục, người đứng đầu ngành phải công khai xin lỗi, vì chưa tính toán kỹ con số này, dù “trận đánh lớn” chưa… mở màn.

Vụ việc ở cấp Bộ chưa xong, nay đến cấp sở.

Mới hay, trong thời buổi thế giới phẳng và thông tin đa chiều rất nhanh này, bất cứ vụ việc nào, mà “sặc mùi tiền”, đặc biệt trong GD, lĩnh vực dạy người, đòi hỏi sự minh bạch, công khai, đàng hoàng, thì y rằng vụ việc đó rối tung lên, trở nên phản tác dụng. Giáo dục t/p HCM đang tự cho mình… “nốc ao” trong con mắt hoài nghi của các bậc cha mẹ.

Không có gì đau khổ hơn là sự “mất thiêng” của ngành làm thầy thiên hạ.

Trước khi nói đến đề án máy tính bảng, không thể không nói tới sự thất bại của việc đưa thiết bị GD vào nhà trường trước đây. Cho dù hai loại thiết bị này khác nhau về nhiều phương diện, khác nhau cả về độ tuổi thực hiện, lẫn quy mô. Vì sao?

Vì những phát hiện của báo chí những ngày này xung quanh đề án máy tính bảng, đã có thể dự báo sự thành bại của một chủ trương.

Dư luận XH từng đặt rất nhiều câu hỏi, vì sao chất lượng thiết bị GD đã có bộ chuẩn, được ngành GD tổ chức đấu thầu hẳn hoi, nhưng khi đưa về trường, các thiết bị đó đã không thực hiện thành công các thí nghiệm đơn giản nhất về hóa, lý…v.v… Rút cục chất đống trong kho.

Đơn giản, là có một thực tế tồi tệ này. Sau khi các công ty thắng thầu, thì khi bắt tay vào sản xuất đại trà, họ sẽ thay bằng các vật liệu khác, giá thành rẻ mạt, không đúng quy chuẩn. Thí nghiệm là một hoạt động khoa học thực nghiệm, thực hành, mà vật liệu đã bị thay thế, thì thí nghiệm đó liệu có thể thành công không? Còn con đường vì sao các công ty ngang nhiên sản xuất những bộ TBGD không đủ chuẩn quy định, thì đó là một… bí mật.

Một bí mật khác, có những trường tiểu học nổi tiếng hẳn hoi, rất khốn khổ khi phải tiêu thụ TBGD cũ tồn kho từ quận đưa xuống. Không một bậc cha mẹ nào biết, con mình học CT, SGK mới, nhưng TBGD lại mua toàn… đồ cũ tồn kho từ nhiều năm trước đây, khi chưa cải cách.

“Nhân vật trung tâm” làm đảo điên các câu chuyện về TBGD, không ai khác, chính là đồng tiền. Nói đúng hơn, đồng tiền làm đảo lộn… lương tâm con người!
Và nay, đến lượt máy tính bảng.

Tiết lộ mới nhất của một kỹ sư tin học, giám đốc một công ty chuyên về máy tính ở t/p HCM (đăng trên VTC News, ngày 26/8) khiến người dân “sốc” thật sự. Đó là loại máy tính bảng này được mua với giá chỉ 900.000 đồng nhưng khi bán ra thị trường, thì đội lên từ 3 – 5 triệu đồng/chiếc. Theo vị này, chất lượng của máy tính bảng loại này rất thấp.

Báo GDVN, ngày 25/8, đặt câu hỏi ngay title bài: “Ai đứng sau đề án bắt học sinh mua máy tính bảng sặc mùi tiền”? Câu hỏi này vẫn chưa có câu trả lời? Hoặc đó cũng là một bí mật mà báo chí phải tiếp tục điều tra.

Nhưng có nhiều điểm không cần bí mật. Như khi trả lời phỏng vấn VTC News (ngày 22/8), Phó GS Văn Như Cương đã không chút vòng vo: Nhập máy TQ giá rẻ (và bán đắt- KD) cho học sinh thì chỉ “béo” nhà cung cấp thiết bị, còn lợi ích cho học sinh thì chưa thấy đâu! 

Và nhiều điểm khác, thuộc về khoa học GD, khoa học về con người, mà các quốc gia văn minh đi trước nước Việt đã chứng minh sự “lợi bất cập hại” của việc đưa quá sớm, máy tính bảng vào cho trẻ tiểu học, cũng không phải là bí mật. Như ở Pháp, Mỹ, Canada, Anh quốc…, đều có những cảnh báo, khuyến cáo không nên cho trẻ nhỏ sớm tiếp xúc với các đồ điện tử, trong đó có máy tính.

Bởi sự phát triển của đại não và hệ thần kinh của trẻ dễ bị tổn thương; trẻ dễ mắc các bệnh tim mạch; mắt, cột sống, hạn chế năng lực ngôn ngữ… Nghĩa là những gì của tuổi thơ tạo hóa ban cho một cách tự nhiên thì máy tính sẽ lấy bớt đi một cách tự nhiên, để trả lại những thương tổn âm thầm của thể chất, tinh thần, tâm lý, tâm hồn non nớt do cơ thể các bé còn đang giai đoạn lớn.

Không phải vô lý khi trang thông tin điện tử ProCon.org, được điều hành bởi một tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại Santa Monica, California (Mỹ) chuyên nghiên cứu về những vấn đề gây tranh cãi trong xã hội, vừa đưa ra mang tính tổng kết 15 điều lợi, 17 điều hại của việc sử dụng SGK điện tử của trẻ (Zing.vn, ngày 24/8) . Đáng chú ý, ở 17 điều hại là những vấn đề căn cốt GD trẻ tuổi thơ ấu, hạn chế sự hình thành thói quen, năng lực tư duy tích cực, và sự đầu tư tốn kém về tài chính kéo theo trong quá trình sử dụng. Đều là những điều xã hội VN cần giải quyết, do truyền thống “học gạo”, và mức sống phổ biến còn nghèo.

Nhưng điều bất ngờ ở SGK điện tử trên máy tính bảng vừa được ICT News thông tin, là ứng dụng dạng số hóa SGK chứ không hề có tương tác gì với người đọc. 

Và một điều nữa bí mật nhưng lại cần công khai. Rất nhiều câu hỏi của các chuyên gia, nhà quản lý GD đặt ra, tại sao đề án lại chọn lứa tuổi tiểu học, mà không phải lứa tuổi học sinh THCS trở lên?
Đây là một cách tính toán của máu kinh doanh đắc sách. Thành phố HCM là một đô thị phát triển, các bậc cha mẹ rất có ý thức lo cho con từ bé thơ. Số trẻ tiểu học lại rất đông- và điều này hứa hẹn là một… lượng khách hàng lớn. Có gì trẻ thơ cần mà cha mẹ không đáp ứng?

Thế nên theo tính toán của vị kỹ sư IT nói trên, nếu theo đề án này, có nghĩa một năm có khoảng 300.000 thiết bị biến thành rác thải công nghiệp. Lợi nhuận thu về cho các đơn vị kinh doanh thiết bị này lên tới hàng chục tỷ đồng/năm. Một con số tính toán quả là lạc quan. Giống sự “lạc quan” của DVHCC.

Nhưng là một cách làm GD đầy… bi kịch. Khi chỉ có tiền là trên hết. Đến đề án dạy trẻ cũng đậm đặc mùi kim tiền.

Thì hậu thế làm sao biết sống vì đất nước, vì cộng đồng đây?

Xem thêm…

Để Chiến Thắng

03:41 |
Để Chiến Thắng

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu được đầy Thánh Thần, liền rời vùng sông Giođan và được Thánh Thần đưa vào hoang địa ở đó suốt bốn mươi ngày, và chịu ma quỷ  cám dỗ. Trong những ngày ấy, Người không ăn gì và sau thời gian đó, Người đói. Vì thế, ma quỷ đến thưa Người: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy truyền cho đá này biến thành bánh đi". Chúa Giêsu đáp: "Có lời chép rằng: Người ta không phải chỉ sống bằng cơm bánh, mà còn bằng lời Chúa nữa".
Rồi ma quỷ lại đem Người lên cao hơn cho xem ngay một lúc tất cả các nước thiên hạ và nói với Người rằng: "Tôi sẽ cho ông hết thảy quyền hành và vinh quang của các nước này, vì tất cả  đó là của tôi và tôi muốn cho ai tuỳ ý. Vậy nếu ông sấp mình thờ lạy tôi, thì mọi sự ấy sẽ thuộc về ông!" Nhưng Chúa Giêsu đáp lại: "Có lời chép rằng: Ngươi phải thờ lạy Chúa là Thiên Chúa ngươi và chỉ phụng thờ một mình Người thôi".
Rồi ma quỷ lại đưa Người lên Giêrusalem, để Người trên góc tường cao đền thờ và bảo rằng: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy gieo mình xuống, vì có lời chép rằng: "Chúa sẽ truyền cho Thiên Thần gìn giữ ông!" Và còn thêm rằng: "Các vị đó sẽ giơ tay nâng đỡ ông khỏi vấp phải đá". Chúa Giêsu đáp lại: "Có lời chép rằng: Ngươi đừng thử thách Chúa là Thiên Chúa ngươi!" Sau khi làm đủ cách cám dỗ, ma quỷ rút lui để chờ dịp khác.
Ðó là lời Chúa.

Suy niệm

Ngày nay, người ta nói nhiều về việc đi vào sa mạc  – sa mạc tâm hồn. Tuy nhiên cũng hơn bao giờ hết, hôm nay con người đang sợ thinh lặng nếu không muốn nói là thấy mình bị vong thân. Tại sao vậy!
Tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy viễn cảnh của việc vào sa mạc. Vào sa mạc tức là vào nơi cô tịch để một mình đối diện với chính Chúa và với chính mình – để biết mình và biết Chúa – chính cái biết này là bảo chứng cho chúng ta biết: mình không bị vong thân. Viễn cảnh của sự thinh lặng là một cuộc trai tịnh để lòng trở nên trống, để loại bỏ đi những rào cản, để nhìn nhận rõ chính con người mình. Đây cũng là cuộc chiến đấu mạnh mẽ và cam go nhất để chúng ta kiểm chứng lại sự trung thành với Thiên Chúa là Cha và với ta trong ơn gọi làm người!
“ Thắng vạn quân không bằng thắng chính mình.”Đức Thích Ca Mâu Ni nói cho ta sự khó khăn về phương diện con người, nhưng phần nào cũng có thể áp dụng cho khía cạnh đời sống tâm linh. Ma quỷ hay một thế lực nào lôi kéo, cám dỗ thì vẫn là yếu tố bên ngoài, bên lề cuộc sống, còn quyết định sau cũng vẫn là chính chúng ta. Như vậy, mọi thứ bên ngoài chỉ là tác động còn trở ngại lớn nhất vẫn là chính ta. Tuy nhiên, chúng ta có đầy tràn hy vọng và tin chắc sẽ thắng vì Đức Ki-tô  - Đầu của chúng ta hôm nay đã thắng. Người đã thắng nhờ sống gắn bó trong tình thân với Thiên Chúa.
Đức Giê-su đã chiến thắng bằng chính Lời của Thiên Chúa. Người không dùng khí giới của con người nhưng dùng khí giới của sự trung thành và tín thác tuyệt đối vào Thiên Chúa – điều được thể hiện rõ trong câu trả lời của Đức Giê-su đối với quỷ. Người cậy dựa vào Lời không có nghĩa là một sự là một sự hiểu biết thuần trí nhưng là đi vào trong tương giao của sự biết – biết Thiên Chúa. Biết chính là biết thánh ý Thiên Chúa, là đi vào trong tương giao của tình thân và thực thi thánh ý Thiên Chúa Cha. Làm sao có thể biết nếu không thường xuyên tiếp xúc và đi vào trong thâm giao với Người. Làm sao có thể biết nếu chúng ta mãi để những ồn ào của cuộc sống che lấp và không dám đi vào sa mạc của lòng mình!
Nhìn lên Martino, chúng ta thấy người cũng mang trong mình thân phận như chúng ta. Martino cũng đã chịu những thử thách trong chính hoàn cảnh của Ngài. Người mang thân phận da đen, đối tượng thuộc đẳng cấp thấp nếu không muốn nói là nô lệ trong thời đại đó. Ngài là một người con lai,  cha không dám nhận do nước da đen. Ngài cũng bị cám dỗ bởi cái nghèo của gia đình. Ngài cũng bị thử thách trong chính đức ái khi dám bớt tiền chợ của mẹ để cho người nghèo rồi chấp nhận bị la mắng .v.v. Martino cũng đã chịu những thử thách nhưng người cũng đã chiến thắng nhờ lòng tin và cậy dựa vào Thiên Chúa. Chính vì thế mà người không ngừng rút vào nơi kín đáo của căn nhà nội tâm để đi vào mối thâm giao với Thiên Chúa. Điều đó được chứng thực bằng chính đời sống thánh thiêng của ngài, trong những lần ngất trí và ơn chữa bệnh cũng như tình mến dạt dào của Martino đối với mọi người. Vì vậy, Martino luôn an vui trong địa vị của mình nhằm phục vụ và mời gọi anh chị em mình đến với Thiên Chúa – nguồn bình an đích thực.

Lời nguyện:
Ngày nay, nhiều người sợ thinh lặng, sợ đối diện với chính mình – chúng ta cùng cầu xin Chúa, qua lời cầu khẩn của thánh Martino, ban cho chúng ta một đức tin mạnh mẽ, lòng cậy vững vàng, lòng mến sắt son. Xin Chúa giúp chúng ta mỗi ngày biết đi  vào căn phòng nội tâm để sám hối, làm mới lại mình và gặp gỡ Thiên Chúa tình yêu.
Chúa đã chiến thắng nhờ sụ trung thành và tin tưởng tuyệt đối vào Cha. Xin cho chúng mỗi người gia đình chúng con được trung thành với nhau; cho mỗi chúng con biết trung thành trong ơn gọi làm người, làm con Chúa và luôn an vui tin tưởng vào tình yêu của Chúa vì chính Chúa hằng chiến thắng và yêu mến chúng con.
Thánh Phao lô nói: điều tôi muốn thì tôi không làm nhưng điều không muốn tôi lại cứ làm. Xin cho chúng con ý thức thân phận hữu hạn của mình mà biết khiêm tốn chậy đến với Lời Chúa và Thánh Thể, nơi chúng con đi vào mối tương giao thân tình và kín múc nguồn sức mạnh chiến thắng từ chính Chúa.
Xin nhận lời thánh Martino chuyển cầu mà thương chấp nhận lời chúng con cầu xin. Amen
Xem thêm…

Nói “xin lỗi” khiến tôi văn minh thêm!

02:33 |

 TMSS: Ai chiến thắng mà chưa hề chiến bại, ai nên không mà chưa dại một lần. Xin lỗi chính là chấp nhạn hạn chế của mình để mình tiến lên.

Theo THĐP

 Nói “xin lỗi” khiến tôi văn minh thêm!

Featured Image: Wikipedia Commons

Đường phố Việt Nam dường như có đầy đủ mọi thứ, duy nhất một thứ ít được dùng trên phố: Lời xin lỗi! Hồi ở Việt Nam, bản thân tôi cũng ít dùng những từ này, nhưng mọi sự thay đổi khi tôi sang bên Âu châu, nơi mấy từ “I’m sorry” được nói một cách thoải mái nhất.
Một ngày đi phố, nếu vô tình tôi chạm phải một người lạ, tôi xin lỗi và cũng được đáp lại một câu tương tự. Nếu trễ hẹn với ai đó, câu đầu tiên tôi thốt ra là lời xin lỗi trước khi ngụy biện một điều gì. Nếu tôi có phạm phải những sai lầm, dù là nhỏ nhặt, tôi xin lỗi. “Văn hóa xin lỗi” của người phương Tây đã thay đổi hoàn toàn tôi. Bất cứ nơi đâu và bất cứ lúc nào, hễ nếu chẳng may gây ảnh hưởng, tiếng xin lỗi ngay lập tức được người ta nói ra và trao cho nhau mà chẳng phân biệt già trẻ, lớn bé, kẻ lạ hay người thân trong nhà.
Nhưng với đa số người Việt thì khác: Họ không bằng lòng để phải nói ra lời xin lỗi. Điều này có vẻ không tương xứng với bề dày mấy nghìn năm văn hóa và kinh nghiệm ứng xử được đúc kết từ bao đời của dân tộc. Người Việt đề cao lối ứng xử tế nhị, ý tứ và trọng hòa thuận. Với họ lời nói vừa “chẳng mất tiền mua” mà còn có giá trị như những “gói vàng” nên phải “lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Ấy vậy mà nhiều khi mắc những sai lầm, nhiều người thật khó khăn để nói lời xin lỗi như một lối ứng xử thông thường nhất!

Gianh Đinh, tác giả bài viết
Trên thực tế, nhiều người Việt có lối hành xử “côn đồ”. Môt ví dụ thường ngày như nhỡ có hai người đâm quẹt xe vào nhau, ngay lập tức họ xuống xe và cãi lộn cãi lý để tránh đền bù dù chưa cần biết thiệt hư thế nào, có khi lại ẩu đả với nhau mà “chẳng lý sự lý siếc gì sất”! Ngược lại, ở phương Tây, họ xuống xe xin lỗi và cùng nhau gọi cảnh sát đến giải quyết mà chẳng mấy khi lời cãi cọ qua lại: Ai sai ai đúng, cứ theo luật mà định đoạt.
Triết gia Đức Feurbach nói: “Bản chất của con người chỉ bộc lộ ra trong giao tiếp.” Một lời xin lỗi được nói ra dù có thể chưa giải quyết được vấn đề nhưng nó thể hiện mình là con người lịch sự, có tư cách và văn hóa. Lời xin lỗi trực tiếp góp phần giải tỏa những khúc mắc và giúp cho con người trở nên vị tha hơn. Còn lối hành xử “côn đồ” chỉ làm cho con người thêm phần “dã man” hơn!
Một điều kỳ quặc trong xã hội Việt Nam là người lớn hiếm khi nói lời xin lỗi với con trẻ. Có lẽ đối với họ, trứng không thể khôn hơn vịt và người lớn thì luôn đúng chăng? Trong gia đình cha mẹ cũng ít khi xin lỗi con cái mà thường là con cái hay cảm ơn và xin lỗi cha mẹ. Điều này cũng tác động không nhỏ đến cách ứng xử của con trẻ: Tuổi càng lớn thì việc nói lời xin lỗi càng ít đi, dần dần chẳng khác gì những ông bố bà mẹ của chúng!
Vậy vì sao nhiều người Việt không bằng lòng để phải nói ra lời xin lỗi? Ấy một mặt là do cái tôi của họ quá cao, không chịu nhún nhường. Người Việt rất trọng “sĩ diện” và cảm giác làm sai một điều gì đó khiến họ có vẻ bị mất mặt nên cố tình lấp liếm. Nhất là giới quan chức, thử hỏi với hàng tá những sai lầm trong quản lý, có mấy lần họ ra mặt xin lỗi dân hay tìm cách chối đẩy trách nhiệm? Mặt khác, nhiều người Việt Nam ít khi cảm ơn hay xin lỗi chỉ vì cho đó là một sự khách sáo hoặc họ không có thói quen sử dụng những từ ngữ trên. Hay phải chăng người Việt đang trở nên lỏng lẽo trong những chuẩn mực ứng xử?
Làm người chẳng mấy khi được vẹn toàn trăm đường nên có những sai lầm là điều tất nhiên. Có thừa nhận sai lầm, xin lỗi và tiến hành sửa sai mới là cách ứng xử đúng mực. Có biết cảm ơn và nói lời xin lỗi thật lòng mới phù hợp với đạo lý truyền thống và chiều dài văn hóa của dân tộc. Một lời xin lỗi cho những sai lầm dù nhỏ nhặt nhất cũng giống như “những lời nói thân thiện, tuy chẳng đáng giá, nhưng mang lại nhiều điều” (Ngạn ngữ Tây Ban Nha).
Còn với tôi, nói xin lỗi với những sai lầm, tôi thấy mình văn minh thêm!

Giang Đinh
Xem thêm…

Đề án 4000 tỷ mua “văn minh”

02:27 |

 "Giáo dục đi đầu, CHÂN THIỆN MỸ
Rồi mới mơ mộng, học tư duy"

Theo THĐP

 Featured Image: Nguyễn Viết Cường


“Trẻ xưa” 1 túi 2 vở 1 giáo khoa
1 vở trên lớp 1 về nhà
Luyện dăm con chữ vài phép toán
Xong rồi chạy nhảy sướng như quan
“Trẻ nay” 1 cặp, đống vở, đống giáo khoa
Học trường chưa đủ, cô kèm nhà
Phổ thông, nhạc họa rồi ngoại ngữ
Mười một giờ đêm, cháu mệt nhừ
“Trẻ xưa” học ít toàn la cà
Đứa thì đồng ruộng, đứa gốc đa
Chăn trâu diều sáo hồn phiêu lãng
Câu cá bắt chim cười thật vang
“Trẻ nay” toàn bị nhốt trong nhà
Chẳng được chạy nhảy, chẳng chơi xa
Bố cho “láp tóp” xem “iu túp”
Mẹ tặng “ai phôn” chơi “sa ga” (candy saga)
————————————————–
Trẻ ngồi một góc cười u mê
Cách cười thật nhạt, mặt ngô nghê
2 mắt nặng đeo cặp kính trễ
2 tay cầm máy, thật là phê
Bố mẹ khen rằng thằng này ngoan
“Ai ti” tin học thật vẹn toàn
Láp bố lôi ra nghịch nhoay nhoáy
“Ai phôn” của mẹ, chẳng loay hoay
Bố vỗ đùi mẹ, khen thật hay
Thằng Bốp đúng con của bố mày
Nuôi con thế này, nhàn thân xác
2 vợ chồng mình, cứ “thênh thang”
——————————————————
Bỗng một ngày….
Bố gọi vài câu, nó quay ngang
Mặt đờ mắt đớ, miệng 2 hàng
Rồi ôm máy tính cười ngơ ngáo
Bố nó há mồm…Có khi…DOWN
Bố ôm thằng Bốp, mẹ khóc gào
Than ôi thân hỡi, tại vì sao?
Vì thằng công nghệ, vì máy tính
Nên giờ tự kỷ chứ làm sao.
————————————————————–
“Phần nhiều do giáo dục mà nên” – (Trích thơ Bác)
Nếu muốn phát triển, cần vững bền
Giáo dục đi đầu, CHÂN THIỆN MỸ
Rồi mới mơ mộng, học tư duy
Nghe đâu có gói 4 ngàn tỷ
Mua sách điện tử, học “văn minh”
“Minh” đâu chẳng rõ, “văn” chẳng thấy
Chỉ thấy thương thôi, giấy trắng tinh

________________________________________
Nghĩ lại cái cảm giác của những ngày xưa cũ, những ngày mà trẻ con háo hức vào năm học mới, chứ không đều đều cắp cặp đi học cả năm như bây giờ: Đón bộ sách cũ của chị hàng xóm (đến lớp 9 vẫn dùng sách cũ), đọc ngấu nghiến quyển Tiếng Việt, quyển Truyện đọc, sách Kỹ Thuật…, rồi mấy chị em quây lại, đứa bọc vở, đứa là lại giấy xi măng, đứa khâu khâu dán dán…
Trẻ có ý thức giữ gìn sách vở, cái nhãn vở được tỉa tót cẩn thận, rồi dán gọn gàng trên cái bìa vở là tờ báo Nhân Dân cũ. Sách vở sau khi được bọc lại, bìa sách lại cứng như mới, thơm nồng mùi giấy xi măng, rồi ép dưới vài ba viên gạch cho phẳng….
Thực sự thấy tiếc ngày xưa… Khi mà trẻ em – Những trang giấy trắng, được những người Thầy vẽ những nét đầu tiên chỉnh chu, trách nhiệm.

Nguyễn Viết Cường
Xem thêm…

Tính Luân Lý Của Việc Tạo Sinh (tiếp theo…) - Giáo Huấn của Giáo Hội

17:47 |

Tính Luân Lý Của Việc Tạo Sinh (tiếp theo…)

Chương II (tiếp theo)

IV. Giáo Huấn của Giáo Hội
 1. Ðối với việc thụ tinh nhân tạo
Thụ tinh nhân tạo là làm cho thụ tinh không phải bằng cách giao hợp tự nhiên, mà là bằng những kỹ thuật hỗ trợ nhân tạo, máy móc, như dùng ống tiêm để chuyển tinh trùng vào bên trong âm đạo của người phụ nữ. Nếu lấy tinh trùng của một “đệ tam nhân vô danh” thì gọi là thụ tinh nhân tạo dị hợp hay khác nguồn (Fécondation artificielle hétérologue). Nếu lấy tinh trùng của chồng chì gọi là thụ tinh nhân tạo đồng hợp hay cùng nguồn (Fécondation artificielle homologue). Có 3 trường hợp:
a. Thụ tinh nhân tạo dị hợp (khác nguồn – AID: Artificial Insemination with the Donor’s sperm)
Vào năm 1949, Ðức Giáo Hoàng Pi-ô XII đã tuyên bố về việc thụ tinh nhân tạo với tinh trùng của một người hiến vô danh (AID) là trái luân lý: “Sự thụ tinh nhân tạo dị hợp nghịch với tính duy nhất của hôn nhân, với phẩm giá của vợ chồng, với ơn gọi riêng của cha mẹ và với quyền của đứa trẻ được thụ thai và sinh ra trong hôn nhân và do hôn nhân”.
Ngài nói tiếp: “Luật của Chúa và luật tự nhiên tích cực công bố rằng sự truyền sinh của đời sống con người mới chỉ là hậu quả của hôn nhân mà thôi. Nhân phẩm của vợ chồng, sự thiện ích và giáo dục con cái được bảo đảm chỉ có trong hôn nhân. Cũng vậy, việc thụ tinh nhân tạo bị kết án nơi người vợ có chồng khi tinh trùng được lấy nơi người thứ ba chứ không do chồng. Vợ chồng có quyền trên thân xác của nhau với mục đích truyền sinh, cho dù vợ chồng đồng ý, việc thụ tinh nhân tạo cũng làm mất đi sự ràng buộc hôn nhân lúc ban đầu, mà đúng ra sự ràng buộc luân lý và pháp lý phải tồn tại giữa đứa con và cha mẹ như là kết quả tự nhiên của việc truyền sinh trong hôn nhân”.
Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin, trong Huấn Thị Donum Vitae, đã khẳng định: “Việc nhờ đến giao tử của người thứ ba, để có được tinh dịch hay noãn cầu, là một sự vi phạm tới sự cam kết hỗ tương giữa vợ chồng và là một thiếu sót trầm trọng đối với tính duy nhất là đặc tính thiết yếu của hôn nhân. Việc thụ tinh nhân tạo dị hợp phạm tới quyền của đứa trẻ, lấy mất đi của nó mối liên hệ với nguồn gốc là mối quan hệ con cái – cha mẹ… Việc đó cũng xúc phạm tới ơn gọi chung làm cha, làm mẹ của đôi vợ chồng…, tước đoạt tính duy nhất và tính toàn vẹn của khả năng sinh sản của hai vợ chồng…”
Vậy, có thể đi đến kết luận đối với việc thụ tinh nhân tạo dị hợp như sau:
“Vậy phải coi việc làm cho một người phụ nữ có chồng thụ tinh nhờ tinh dịch của một người cho không phải là chồng mình, và việc dùng tinh dịch của một người đàn ông để làm cho thụ tinh một noãn cầu không phải của vợ mình là trái phép, xét về mặt đạo đức. Ngoài ra, việc thụ tinh nhân tạo nơi một người phụ nữ không kết hôn, độc thân hay góa bụa, dù cho tinh dịch là của ai đi nữa, cũng không thể biện minh được về mặt đạo đức”.
b. Thụ tinh nhân tạo đồng hợp (cùng nguồn – AIH: Gọi là Artifical Insemination with the Husband’s sperm)
Giáo Hội cũng lên án hành vi thụ tinh nhân tạo với tinh trùng của người chồng (AIH), vì nó trái luân lý. Giáo huấn của Giáo Hội cũng dựa trên tính chất đặc thù của việc vợ chồng và của sự tạo sinh con người. Ðức Pi-ô XII nói:
“Trong cơ cấu tự nhiên của nó, việc vợ chồng là một hành vi riêng tư, hai người đích thân trực tiếp cộng tác với nhau, do bản chất của các tác nhân và do tính chất của hành vi, việc này biểu lộ một sự hiến dâng người nọ cho người kia, làm cho họ kết hợp nên một thân một xác như lời Kinh Thánh”.
Trong diễn văn tại Ðại Hội Thế giới lần II ở Naples về khả năng sinh sản và không sinh sản (Fécondité et là stérilité) của con người, ngày 19.5.1956, Ðức Pi-ô XII đã nói: “Không bao giờ được tách rời các khía cạnh của việc vợ chồng và các điều tốt lành của hôn nhân, đến độ tích cực loại bỏ hoặc ý định tạo sinh, hoặc việc giao hợp”.
Ðức Phao-lô VI cũng bác bỏ hình thức thụ tinh này (AIH) dựa trên ý định của Thiên Chúa muốn liên kết hai ý nghĩa của việc vợ chồng, đó là kết hợp và tạo sinh. Ngài nói:
“Kết hợp và tạo sinh, bằng một mối dây không thể tháo gỡ và con người không thể tự ý phá bỏ. Trong thực tế, việc vợ chồng, do cấu trúc thâm sâu của nó, kết hợp hai vợ chồng bằng một mối dây liên kết rất sâu sắc, khiến họ đủ khả năng tạo nên những đời sống mới, theo các luật lệ đã được ghi tạc trong chính hữu thể của người nam và người nữ. Chính bằng cách bảo vệ hai khía cạnh chính yếu: kết hợp và tạo sinh, mà việc vợ chồng giữ trọn được ý nghĩa yêu thương lẫn nhau một cách đích thực và duy trì sự qui hướng về ơn gọi cao quí làm cha mẹ của con người”.
Cũng theo chiều hướng giáo huấn đó, Ðức Gio-an Phao-lô II, trong buổi tiếp kiến chung ngày 16.1.1950, đã nói rằng: “Hai vợ chồng biểu lộ cho nhau tình yêu riêng của họ trong “ngôn ngữ thể xác”, nó bao gồm rõ rệt “những ý nghĩa phu phụ” cùng với những ý nghĩa phụ mẫu” . Và trong diễn văn tại Hiệp Hội các Thầy thuốc thế giới khóa 35, ngày 29.10.1983, Ngài đã nói: “Con người bắt nguồn từ một sự tạo sinh nối liền với sự kết hợp không những sinh lý mà còn thiêng liêng của cha mẹ, là những người được kết hợp nhờ dây liên kết hôn nhân”.
Chính Công đồng Va-ti-ca-nô II, trong Hiến Chế GS. 51, cũng đã nói: “Chính những hành vi đặc thù của đời sống vợ chồng, được thực hiện đúng theo phẩm giá đích thực của con người, đều phải được kính cẩn tôn trọng… những tiêu chuẩn ấy sẽ tôn trọng ý nghĩa trọn vẹn của sự trao hiến và sinh sản con cái trong khung cảnh tình yêu đích thực.”
Bộ Giáo Luật 1983, điều 1061, khoản 1, nói rằng: “Hôn nhân gọi là thành nhận và thành toại, nếu đôi bên đã theo cách thức hợp với nhân tính thực hiện tác động phu thê tự nó có khả năng sinh sản con cái; tác động này là mục tiêu tự nhiên của hôn nhân và làm cho vợ chồng trở thành một xương một thịt.”
Vậy, con người phải được đón nhận trong cử chỉ kết hợp và yêu thương của cha mẹ, do đó, việc tạo sinh một đứa bé phải là hoa trái của sự dâng hiến người nọ cho người kia, việc dâng hiến này được thực hiện trong việc vợ chồng, trong đó, hai người cộng tác vào công trình của tình yêu sáng tạo như người tôi tớ, chứ không phải như kẻ làm chủ.
c. Việc chuyển tinh dịch:
Khi Ðức Pi-ô XII lên án hình thức thụ tinh nhân tạo khác nguồn (AID) và cùng nguồn (AIH), thì Ngài lại để ngỏ một hình thức gọi là “phương tiện nhân tạo nhằm giúp cho hành vi vợ chồng đạt được cứu cánh của nó”. Ngài nói: “Không nhất thiết cấm đoán việc sử dụng một số phương tiện nhân tạo chỉ nhằm giúp cho hành vi tự nhiên dễ dàng hoặc chỉ giúp cho hành vi tự nhiên thực hiện bình thường, đạt được cứu cánh của nó”.
Có lẽ từ lời nói này của Ðức Pi-ô XII, Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin, trong Huấn Thị Donum Vitae, đã nói rằng: “Việc truyền tinh nhân tạo đồng hợp bên trong hôn nhân, không thể chấp nhận được, trừ trường hợp người ta không dùng phương tiện kỹ thuật để thay cho việc giao hợp, nhưng chỉ coi nó như một trợ cụ, giúp cho việc giao hợp được dễ dàng và đạt được cứu cánh riêng của nó”
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là hình thức lấy tinh dịch như thế nào để được coi là hợp luân lý? Ðây là một vấn nạn đang được tranh luận nhiều giữa các nhà thần học. Chúng ta sẽ tìm hiểu vấn đề này trong phần quan điểm của các thần học gia dưới đây. Ở đây, lập trường của Huấn Quyền Giáo Hội thì đối với những tiến trình nào lấy tinh dịch của người chồng để cho thụ tinh với trứng nơi người vợ bằng cách giao hợp với bao cao su, giao hợp nửa chừng hay thủ dâm, thì bị coi là trái luân lý và bị cấm. Ðức Pi-ô XII đã bác bỏ mọi hình thức thụ tinh cùng nguồn mà trong đó tinh dịch được cung cấp từ những hành vi đi ngược với tự nhiên.
Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin nói: “Nếu phương tiện kỹ thuật làm cho việc giao hợp dễ dàng hay giúp nó đạt được những mục tiêu tự nhiên của nó, phương tiện đó có thể được chấp nhận về mặt đạo đức. Ngược lại, nó không hợp đạo đức, nếu nó thay thế việc giao hợp. Việc truyền tinh nhân tạo thay thế việc vợ chồng bị cấm đoán, vì có sự cố tình tách biệt hai ý nghĩa của vợ chồng. Việc thủ dâm thường làm để có tinh dịch, là một dấu chỉ khác của sự tách biệt nói trên: ngay cả khi làm vì mục đích tạo sinh, thủ dâm vẫn mất cái ý nghĩa kết hợp của nó”.
Bộ Giáo Lý Ðức Tin cũng bác bỏ hình thức thủ dâm trên đây, bởi vì: “Nó thiếu cái quan hệ vợ chồng mà đạo đức đòi hỏi, quan hệ thực hiện được ý nghĩa trọn vẹn của việc dâng hiến hỗ tương và tạo sinh con người, trong một tình yêu chân thực”.
2. Ðối với việc thụ tinh trong ống nghiệm (In Vitro Fertilization)
Trong bài nói chuyện với những thành viên của Ðại Hội Thế Giới lần thứ II về sự thụ thai và son sẻ ngày 19.5.1956, Ðức Pi-ô XII đã lên án là vô luân đối với hình thức thụ tinh trong ống nghiệm. Ngài nói: “Về những thí nghiệm thụ tinh thai nhi trong ống nghiệm nhân tạo phải bị loại bỏ như một điều vô luân và tuyệt đối bất hợp pháp”. Ðức Gio-an XXIII đã cấm dùng các phương pháp tạo sinh không phù hợp với nhân phẩm con người. Ngài nói:
“Thiên nhiên đã trao việc thông truyền sự sống con người cho một hành vi, được thực hiện bởi một chủ thể ý thức – và do đó bị chi phối bởi các luật rất thánh của Thiên Chúa: các luật có tính bất khả xâm phạm và bất biến này phải được nhìn nhận và tuân giữ. Vì vậy, không được dùng các phương tiện và các phương pháp luật cho phép dùng trong việc truyền sinh các thảo mộc và cầm thú”.
Sở dĩ Giáo Hội cấm hình thức thụ tinh trong ống nghiệm là vì nhiều lý do:
- Vì phương pháp lấy tinh trùng khỏi người chồng liên quan đến hình thức dùng bao cao su, giao hợp nửa chừng, hay thủ dâm, vốn đã bị Giáo Hội lên án.
- Tiến trình thụ tinh trong ống nghiệm tách biệt hành vi hôn nhân khỏi sự truyền sinh. Ngay cả khi tinh trùng được lấy cách hợp pháp thì hình thức thụ tinh trong ống nghiệm cũng bị cấm chỉ. Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin khẳng định:
“Theo Giáo Lý truyền thống về các điều tốt lành của hôn nhân và phẩm giá của con người, Giáo Hội đứng ở quan điểm đạo đức vẫn chống việc thụ tinh trong ống nghiệm; việc này tự nó trái với luật đạo đức và đi ngựơc lại phẩm giá của việc tạo sinh và của sự kết hợp vợ chồng, ngay cả khi người ta làm mọi cách để tránh việc sát hại phôi thai người”.
- Vì việc thụ tinh trong ống nghiệm chỉ là kết quả của kỹ thuật và kỹ thuật chủ trì việc thụ tinh. Do đó, nó không được Giáo Hội chấp nhận. Bởi vì:
“Nó không thực sự có được, cũng không tích cực được mong muốn như là sự biểu thị và hoa trái của một hành vi đặc thù của sự kết hợp vợ chồng. Như vậy, trong việc thụ tinh trong ống nghiệm đồng hợp, ngay cả xét trong bối cảnh của những việc giao hợp thực sự, việc tạo sinh con người, khách quan mà nói, thiếu sự hoàn thiện riêng của nó: đó là nó phải là đích điểm và hoa trái của một việc giao hợp, trong đó hai vợ chồng có thể trở thành “cộng tác viên của Thiên Chúa” trong việc thông ban sự sống cho một nhân vị mới”.
- Vì việc thụ tinh trong ống nghiệm dẫn đến một sự “thặng dư” phôi thai, bị hủy bỏ hoặc cho đông lạnh, nhiều phôi sẽ bị hy sinh vì những lý do ưu sinh, kinh tế hay tâm lý… hoặc đem dùng làm vật thí nghiệm. Các kỹ thuật hay hình thức này gây thiệt hại cho sự toàn vẹn của sự sống phôi thai và do đó, Giáo Hội lên án: “Các phương thức đó trái với phẩm giá con người có nơi phôi thai và đồng thời phạm tới quyền của mọi người được thụ thai và sinh ra trong hôn nhân và do hôn nhân”.
 3. Ðối với việc sinh sản vô tính trên con người (Human Cloning)
Ðây là một vấn đề lớn vừa mới phát sinh trong những năm gần đây. Do đó, chúng ta chỉ có Giáo huấn của Vị Giáo Hoàng đương nhiệm là Ðức Gio-an Phao-lô II và của ủy ban Giáo Hoàng Học Viện về sự sống cũng như của Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin.
Trong phương pháp tạo sinh dòng vô tính, ta nhận thấy có liên quan đến vấn đề sản xuất phôi thai, lấy tế bào gốc và việc cấy ghép cơ phận. Do đó, ta sẽ lần lượt tìm hiểu xem Giáo Huấn của Giáo Hội nói gì về các vấn đề đó. Việc sinh sản vô tính nơi con người là một hành động không thể chấp nhận được về mặt luân lý. Bởi vì, phương pháp này nảy sinh ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, không chỉ về thể lý hay tâm lý, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến lãnh vực luân lý đạo đức. Do đó, Giáo Hội lên án phương pháp này.
Phản ứng chống lại cuộc thí nghiệm sinh sản vô tính một phôi thai người đầu tiên do Công ty Mỹ tiến hành được công bố trên truyền ngày 25.11.2001, tại Va-ti-can ngày 28.11.2001, Ðức Gio-an Phao-lô II đã nói:
“Sinh sản vô tính là một mối nguy lớn cho sự sống… Chủ nghĩa nhân đạo thực sự có thể không bao giờ cho phép những phương pháp và những cuộc thí nghiệm, là những mối đe dọa có chương trình cách hệ thống và khoa học, chống lại sự sống con người. Hãy bảo vệ không khoan nhượng sự sống và giá trị con người trong việc tôn trọng luật luân lý”. Ngài nói tiếp: “Mọi thủ thuật nhằm thương mại hoá bộ phận con người hay xem chúng như vật đổi chác hay mua bán đều không thể chấp nhận được về mặt luân lý, vì rằng sử dụng thân thể như một “đồ vật” là phạm đến phẩm giá của con người, dẫu cho mục đích có tốt đi nữa thì những cách xử lý đó cũng vẫn là bất hợp pháp về mặt luân lý”.
Chính Ðức Phao-lô VI đã khẳng định: “Con người phải tôn trọng luật của quá trình sinh sản, ấy là nhìn nhận mình không phải là chủ nhân ông của nguồn sống nhân loại mà chỉ là thừa tác viên cho ý định của Tạo Hóa. Vì con người ta không có toàn quyền về thân xác mình thế nào, thì với một lý do đặc biệt hơn nữa, cũng không có toàn quyền về những khả năng sinh sản, chúng thuộc về lưu truyền sự sống, mà Thiên Chúa là nguyên tắc. “Sinh mạng con người phải được coi như là sự thánh” – Lời huấn từ của Ðức tiền nhiệm Gio-an XXIII – vì ngay từ khởi nguyên, nó trực tiếp kêu gọi đến tác động tạo thành của Thiên Chúa”.
Vì phương pháp sinh sản vô tính cũng bao hàm các kỹ thuật truyền sinh nhân tạo, mà các kỹ thuật này đều bị Giáo Hội lên án, vì lý do phản lại đạo đức – luân lý. Trong Thông Ðiệp Tin Mừng về Sự sống, Ðức Gio-an Phao-lô II nói: “Ngày nay, các kỹ thuật truyền sinh nhân tạo khác nhau, là những kỹ thuật dường như phục vụ sự sống… thực tế cũng đang mở ra những thách thức mới chống lại sự sống. Ngoài việc các kỹ thuật này không thể chấp nhận được về mặt luân lý, bởi vì chúng tách rời sự truyền sinh thuộc lãnh vực hoàn toàn nhân bản khỏi hành vi vợ chồng, chúng còn có tỷ lệ thất bại cao, không những trong việc thụ tinh mà còn trong việc phát triển sau này của phôi, có nguy cơ tử vong, thời gian thường là rất ngắn…”.
Trong diễn từ tại Hội Nghị Quốc Tế Về Cấy Ghép diễn ra tại Rô-ma, ngày 29.8.2000, Ðức Gio-an Phao-lô II nói: “Trong mọi biến cố, các phương pháp không kính trọng phẩm giá và giá trị của con người phải luôn luôn bị loại bỏ. Tôi đang đặc biệt nghĩ đến những toan tính dùng phương pháp sinh sảnh vô tính trên con người nhằm có những cơ quan để cấy ghép: Những kỹ thuật này, trong mức đó� chúng liên quan đến việc sử dụng và phá hủy những phôi thai con người, không thể chấp nhận được về mặt đạo đức – luân lý, dù khi những mục tiêu đề ra tự nó là tốt”.
Cũng trong diễn từ này, Ngài cũng khẳng định mục đích căn bản của y khoa là phục vụ sự sống con người, nhưng nó vẫn có những giới hạn, do đó, y khoa phải được thực hiện theo một tiêu chuẩn căn bản liên quan đến phương diện nhân loại học và đạo đức học. Ngài nói: “Mục đích căn bản của y khoa là phục vụ sự sống con người… Trong phạm vi của khoa học y khoa, tiêu chuẩn căn bản phải là sự bảo vệ và cổ võ sự thiện hảo toàn diện của con người, phù hợp với phẩm giá độc nhất là phẩm giá của chúng ta do bởi nhân tính chúng ta. Bởi vậy, hiển nhiên là mọi tiến trình của y khoa được thực hiện trên con người đều có giới hạn: không chỉ những giới hạn về khả năng kỹ thuật mà còn những giới hạn được xác định bởi lòng kính trọng đối với chính nhân tính, hiểu trong sự toàn vẹn của nó: “Ðiều gì có thể về mặt kỹ thuật, thì không vì lý do đó mà có thể chấp nhận về mặt đạo đức”.
 Phó Tế Nguyễn Văn Tâm, DCCT

 

Xem thêm…

Copyright ©THT - Được biên soạn và sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau - Ghi rõ nguồn:quatangsusong.blogspot.com/ - Khi phát hành thông tin trên trang này
Gx Đaminh | Namkna | Trung Tâm Học Vấn Đaminh | Kho tài liệu hay |