Chiêm ngắm huyền nhiệm tình thương nơi cuộc đời thánh Martinô
01:46 |
Chiêm ngắm huyền nhiệm tình thương
nơi cuộc đời thánh Martinô
Nguyễn Trọng Viễn, OP.
Có một lối nhìn khác
mà tôi thích thú hơn, đó là lối nhìn của linh mục Henri J.M. Nouwen,
trong tác phẩm Những Dấu Chỉ của Sự Sống. Cha Nouwen, theo gợi ý của một
người bạn chuyên phục vụ người khuyết tật, Jean Vanier, đã khám phá ba
dấu chỉ đặc biệt của tình yêu Kitô giáo trong Tin Mừng : mật thiết,
phong phú và xuất thần.
Có lẽ có thể nhìn một cách đơn giản hơn : trong Thiên Chúa, chân lý và tình yêu là một[1].
Rồi chân lý được gồm gói trong đức Kitô, đức Ái hay tình yêu cũng được
gồm gói trong đức Kitô. Nơi Thiên Chúa, caritas và veritas là một, thì
trong đức Giêsu Kitô, chân lý và đức ái cũng vẫn là một[2];
và là một trong mầu nhiệm Nước Trời. Mầu nhiệm Nước Trời thể hiện cả
chân lý và tình yêu một cách phong phú vô tận và linh diệu bất ngờ. Với
mầu nhiệm ấy, điều cần thiết không chỉ là nghiên cứu như một vấn đề,
nhưng còn cần “chiêm ngắm”[3].
Đây là huyền nhiệm phong phú và linh diệu của Nước Trời nơi cuộc đời
một con người hèn mọn nhất trong các vị thánh, và thánh nhất trong những
người hèn mọn, đó là thánh Martino de Porres. Cũng cần phải nói thêm là
: chân lý của Chúa ban cho ta là chân lý cứu độ; và tình yêu Thiên Chúa
ban cho ta cũng là tình yêu cứu độ. Chỉ trong ý nghĩa cứu độ, chỉ trong
vận hành của lịch sử cứu độ mà chân lý và tình yêu của Chúa mặc khải
cho con người mới được sáng lên, sáng lên ý nghĩa huyền nhiệm. Điều này
có nghĩa là chúng ta có thêm một tiêu chuẩn để phân biệt những thứ chân
lý / tình yêu giả với chân lý / tình yêu thật; và để hiệp nhất những thứ
chân lý và tình yêu có vẻ khác nhau nhưng lại đích thực là một trong
cùng vận hành cứu độ.
1. Mầu nhiệm Nước Trời
Sám hối vì Nước Trời
Chúa Giêsu khởi đầu
sứ vụ công khai bằng lời loan báo Mầu nhiệm Nước Trời, và Ngài cũng cho
thấy cách thức để đi vào mầu nhiệm ấy chính là sự sám hối.
“Sau khi ông Gio-an
bị nộp, Đức Giê-su đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa.
Người nói : "Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em
hãy sám hối và tin vào Tin Mừng." (Mc 1,14-15)
Tại sao phải sám hối
? Sám hối là từ bỏ tội lỗi, sám hối là thay đổi lối sống, nhưng sâu xa
hơn hết, sám hối là thay đổi não trạng, thay đổi cách nghĩ. Đó là vì mầu
nhiệm Nước Trời luôn là điều bất ngờ có tính cách đảo ngược. Chẳng phải
chỉ những người Do Thái thời Chúa Giêsu cần phải sám hối, thay đổi não
trạng để có thể “hiểu” được Nước Trời, nhưng chính Hội Thánh trong suốt
hành trình của mình, cũng như mỗi người Kitô hữu, trong suốt hành trình
tâm của mình, vẫn luôn phải sám hối, vẫn luôn phải nhờ Thánh Thần Chúa
để có thể thay đổi não trạng.
Có lẽ đây là một
điều mà người Kitô hữu hiện nay phải lưu ý nhiều. Với đa số người tín
hữu, sám hối bị giản lược thành bản so sánh đời sống hằng ngày với Thập
Điều của Cựu Ước. Với những linh mục, tu sĩ, hình như người ta lấy việc
học hỏi, nghiên cứu để hiểu Nước Trời hơn là một sự rộng mở để Thánh
Thần Chúa thay đổi não trạng. Nếu nghiên cứu và học hỏi có thể cho ta
hiểu được một phần nào mầu nhiệm Nước Trời, thì sức mạnh để đi vào Nước
Trời vẫn luôn là ân sủng, vẫn luôn bắt nguồn từ chính tình yêu và chân
lý cứu độ được Thánh Thần khai mở ra cho Hội Thánh và cho mỗi người tín
hữu. Chính vì thế mà một con người hèn mọn như thánh Martinô lại có thể
biểu lộ mầu nhiệm Nước Trời rõ rệt hơn hết trong một tu viện Đa Minh
cũng như nơi thành phố Lima thời ấy.
Quả thật, nếu để ý
một chút, chúng ta sẽ thấy rõ tính mầu nhiệm Nước Trời luôn có tính cách
đảo ngược. Từ việc Ngôi Lời trong vĩnh cửu nay trở nên xác phàm, từ
việc Chúa chọn đức Maria, một cô gái đồng trinh, vô danh tiểu tốt, để
làm mẹ, từ việc Chúa chọn một gia đình dân thường chứ không phải gia
đình quyền quí, và chọn sinh ra trong hang đá bò lừa… cho đến Bài giảng
trên núi; cho đến cung cách thể hiện “lòng nhân chứ không phải lễ tế”
(Mt 9,13); cho đến lời dạy về quyền bính trong cộng đoàn Hội Thánh; cho
đến những giáo huấn trong diễn từ cáo biệt; và cho đến cách người đi vào
cuộc Tử nạn–Phục sinh…., tất cả đều là một sự đảo ngược kỳ lạ đối với
cách nghĩ thông thường của con người. Ta có thể nói được rằng ai không
thấy được tính đảo ngược của Chúa, thì cũng chưa thấm nhuần mầu nhiệm
Nước Trời. Trong khi đó, cám dỗ của con người luôn là muốn thích nghi,
thoả hiệp Nước Trời với nước thế gian, nước thế gian trong cách nghĩ đầy
lý lẽ của mình, nước thế gian trong lối sống tà tà của mình, nước thế
gian trong cơ chế tổ chức của cộng đoàn hay của chính Hội Thánh, nước
thế gian trong những giá trị hão huyền như danh giá,…
Nước Trời mời gọi
sám hối, mời gọi người tín hữu liên tục sám hối, mời gọi chính cơ chế
Hội Thánh hay cộng đoàn sám hối. Nếu sống đức tin, theo tinh thần
Vatican II, là sống đời mình như một lịch sử ơn cứu độ, nghĩa là sống
chính lịch sử đời thường của mình trong sự sám hối cách nghĩ, cách chọn
giải pháp, cách phản ứng… của mình trong sự so chiếu với mầu nhiệm Nước
Trời, thì ta lại càng thấy rõ tính cách thiếu sám hối chân chính, cả nơi
những nhà nghiên cứu Kinh Thánh, “đấng bậc” cũng như nơi đời sống người
tín hữu nói chung. Nước Trời là một sự đảo ngược, nên cần thiết phải có
một phương thức đảo ngược cách nghĩ, một lòng sám hối chân thực
(métanoia) để đi vào Nước Trời.
Mầu nhiệm đảo ngược
căn bản chính là mầu nhiệm Thập Giá. Thập giá xưa kia là sự điên rồ đối
với người Hy Lạp, là sự chướng kỳ đối với người Do Thái, thì ngày nay,
Thập Giá vẫn luôn là những khác biệt mang tính đảo ngược đối với cách
nghĩ cũng như thực tế cuộc sống xã hội và Giáo Hội, ở đây và lúc này.
“Trong khi người
Do-thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy-lạp tìm kiếm lẽ
khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Ki-tô bị đóng đinh,
điều mà người Do-thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại
cho là điên rồ. (1 Cr 1, 22-23 )
Tại sao lại đảo ngược ?
Chúng ta có thể tìm
thấy câu trả lời trong cách nói của ngôn sứ Isaia : đường lối của Chúa
vượt cao hơn đường lối của con người (Xc. Is 55,9). Đường lối của Chúa
cao hơn không phải chỉ vì Chúa khôn ngoan hơn, nhưng còn là vì Thiên
Chúa yêu thương nhiều hơn, tình thương lớn hơn của Chúa vượt quá cách
suy nghĩ tầm thường của con người. Như đã nói, nơi Thiên Chúa, chân lý
và tình yêu là một; nơi đức Kitô, chân lý và tình yêu là một; nơi mầu
nhiệm Nước Trời, chân lý và tình yêu cũng là một. Tính cách hoà hợp đó
cũng thể hiện nơi những gì được sáng tạo trong Ngôi Lời có từ muôn thuở
và sứ điệp Nước Trời của đức Giêsu. Tính cách hoà hợp ấy cũng thể hiện
trong mầu nhiệm cứu độ mà những ai biết Chúa Cha thì cũng biết Chúa
Giêsu… Thế nhưng, con người đã không dễ dàng thấy được sự hoà hợp ấy,
nên đã phân ly những gì Thiên Chúa đã nối kết; để rồi nhân danh chân lý
để làm những điều phản lại tình yêu, hoặc nhân danh tình yêu để làm
những điều sai trái.
Làm sao giữ được nét hoà, nét duy nhất giữa chân lý và tình yêu ?
Chúng ta có thể thấy
một chút ánh sáng hướng dẫn khi nhìn lại sự tiến triển về quan niệm mạc
khải từ công đồng Vatican I đến Vatican II. Trong khi, đối với Vatican
I, mạc khải là Thiên Chúa mạc khải những chân lý vô ngộ của Ngài, thì
đối với Vatican II, mạc khải lại là mạc khải chính bản thân của Chúa.
“Thiên Chúa nhân
lành và khôn ngoan đã muốn mạc khải chính mình và tỏ cho mọi người biết
mầu nhiệm thánh ý Ngài {X. Ep 1,9}. Nhờ đó, loài người có thể đến cùng
Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, ngôi Lời nhập thể trong Chúa Thánh Thần, và
được thông phần bản tính của Thiên Chúa {X. Ep 2,18; 2P 1,4}. (MK 2)
Chúng ta cũng biết,
Vatican II đã thêm vào một phương thức mạc khải của Thiên Chúa, Thiên
Chúa không chỉ mạc khải bằng Lời, nhưng còn bằng hành động. Cả Lời cũng
như hành động của Thiên Chúa đều chỉ là mạc khải chính bản thân Ngài.
Nơi bản thân Ngài, chân lý và tình yêu là một, và trong mạc khải cứu độ
của Ngài, chân lý cứu độ cũng như tình yêu cứu độ chỉ là một.
“Công cuộc mạc khải
này được thực hiện bằng các hành động và lời nói liên kết mật thiết với
nhau. Nên các việc Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử cứu rỗi bày tỏ,
củng cố giáo lý và những điều được giải thích qua lời nói. Còn lời nói
thì công bố các việc làm và khai sáng mầu nhiệm chứa đựng trong đó. Nhờ
mạc khải này, chân lý thâm sâu về Thiên Chúa cũng như về phần rỗi con
người được sáng tỏ nơi Chúa Kitô, Đấng trung gian, đồng thời là sự viên
mãn của toàn thể mạc khải” {MK 2a}.
Thật ra, con đường
của triết gia Parménide (khoảng 540-470), đồng nhất hữu thể với tư
tưởng, để rồi triết lý chỉ việc ráp nối các tư tưởng, chính con đường đó
đã chia lìa, phân đôi mọi thực tại, lãnh vực lý thuyết dần dần khác với
lãnh vực thực hành; rồi đến một lúc nào đó, lãnh vực siêu hình lại trái
ngược với lãnh vực luân lý. Ngược lại, từ tư tưởng của Héraclite
(khoảng 540-475), người ta thấy rằng : ở đỉnh cao minh triết, siêu hình
và luân lý đồng nhất với nhau; còn ở đáy sâu của thứ triết lý vụn vặt,
thì siêu hình[4] khẳng định một đàng, luân lý lại đòi hỏi một đàng khác. Đó cũng là con đường lãng quên hữu thể của triết học Tây phương.
Cũng gần giống như
vậy, chính con đường xa rời “bản thân Chúa”, khiến cho chân lý và tình
yêu xa rời nhau; khiến cho nhiều khi ta muốn thực hành chân lý thì lại
thấy ngược với đức ái, và nhiều khi thực hành đức ái thì lại ngược với
chân lý.
Cuộc sống nhân trần
thì không có sự đồng nhất tất nhiên giữa hai lãnh vực khác nhau, không
có sự hoà hợp dễ dàng giữa chân lý và đức ái, nhưng người tín hữu thì,
đúng ra, chỉ có một điều cần thiết mà thôi, đó là chọn Chúa Giêsu, theo
Chúa Giêsu. Chính bản thân Chúa Giêsu là Đường, là sự Thật và là sự Sống
(Xc. Ga 14,6), chứ không phải một con đường nào, một sự thật hay sự
sống nào khác. Người Kitô hữu chọn Chúa Giêsu thì chỉ có một tiêu chuẩn
duy nhất, đó là muốn những gì Chúa muốn, làm những gì đẹp ý Chúa… Cũng
thế, Thánh Thần, trong Tân Ước, không còn được hiểu là một năng lực mà
người tín hữu có thể chiếm hữu và “cất trong túi”, nhưng là một Đấng mà
người tín hữu chỉ có thể sống-với, để cho Ngài đồng hành và để Ngài
“nói” khi ta phải ra trước “công hội” (Xc. Mc 13,11).
Có con đường của
thánh Thomas, thiết tha đi tìm chân lý của Chúa, nhưng vẫn luôn là khát
vọng “con chỉ cần chính Chúa” như lời Thomas trả lời với Chúa trong
những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời; và có con đường của Martinô,
khởi đi từ tình thương, khám phá lòng nhân ái của Chúa đổ xuống những
người cùng khổ, và chính cách thức sống ấy trở nên một sự cật vấn cho
những người chỉ biết có một thứ chân lý khô khẳng. Cả hai con đường đó
đều là con đường tìm kiếm chính Chúa, tìm kiếm Nước Thiên Chúa, cả hai
đều là phương thức thể hiện con đường “tìm kiếm Nước Thiên Chúa” trước
hết (Xc. Mt 6,33). Đây chính là con đường của những vị thánh, khác với
con đường của những học giả hoặc những người làm việc xã hội thuần tuý.
Con đường tìm kiếm Thiên Chúa, “tìm kiếm Nước Thiên Chúa trước” sẽ đưa
các thánh vượt qua những đối lập trong thế giới con người, để hoá giải
những đối lập ấy trong chính bản thân của Chúa Giêsu. Cái “trước” ở đây
không phải chỉ theo nghĩa thời gian, nhưng là một sự ưu tiên, một sự nắm
chắc lấy chính Chúa trong nỗi thiết tha đi tìm “Danh Cha, Nước Cha và Ý
Cha”. Những gì Ngài sẽ ban cho sau cũng không phải chỉ là của cải,
không phải chỉ là sự thành đạt, nhưng còn là nét hoà trong chân lý và
tình yêu mà trước đó ta chưa thấy được. Như thế, ai đó gắn bó với bản
thân Chúa Giêsu và thiết tha đi tìm Nước Thiên Chúa thì vẫn có thể hoặc
“đào bới sách vở”, hoặc “lấy đường phố làm phòng tu”.
Từ nẻo đường của
Martino, chúng ta có thể tìm ra động lực sám hối bằng con đường tình
yêu. Thay vì những hiểu lầm của người Do Thái về Đấng Mêsia quyền lực
cũng như về mầu nhiệm Nước Trời như vương quốc trần gian, người Kitô hữu
có thể khám phá thấy trong mầu nhiệm Nước Trời có động lực của mầu
nhiệm tình yêu của Thiên Chúa luôn cao hơn cách nghĩ của con người.
Chúng ta có thể chiêm ngắm huyền nhiệm tình yêu Thiên Chúa trong mầu
nhiệm Nước Trời, xét như một sự đảo ngược cách hiểu của con người, để
rồi nhận ra chính tình yêu thương lạ lùng của Thiên Chúa là căn nguyên
tạo nên mọi sự đảo ngược ấy. Tình yêu Thiên Chúa trở thành một thách đố
với cách hiểu thông thường, và thôi thúc sám hối. Sám hối là sám hối vì
tình yêu Thiên Chúa và sám hối là thay đổi não trạng để hiểu huyền nhiệm
tình yêu cứu độ của Thiên Chúa, vì chính huyền nhiệm tình yêu cứu độ
của Thiên Chúa như một bóng dáng bao trùm và ẩn khuất trong mầu nhiệm
Nước Trời.
[1]
Xc. T/đ Caritas in veritate, s.1. Xin nói thêm : Deus caritas est /
Deus veritas est. Như vậy, nói đùa theo kiểu ngắn gọn hiện nay : Deus
Ca-ve-ritas est; mà cave lại có nghĩa là gái bao !!!, một loại người hèn
mọn được Chúa yêu thương và dẫn dắt đến chân lý cứu độ. Đây là “lý
luận” kiểu huyền nhiệm !!!
[3]
Gabriel Marcel cho chúng ta thấy sự khác biệt của “huyền nhiệm” và “vấn
đề”. Người ta thường hay tưởng lầm nhiều điều thuộc lãnh vực huyền
nhiệm nhưng không được chiêm ngắm mà lại được mang ra giải quyết như một
vấn đề.
Sống ơn gọi Giảng Thuyết theo gương thánh Martinô (tiếp theo)
01:43 |
Sống ơn gọi Giảng Thuyết theo gương thánh Martinô
(tiếp theo)
Nói với Chúa trong tình mến
Ngay
từ thuở niên thiếu, thánh Martinnô đã khao khát cuộc đời hoàn thiện,
khao khát chiêm ngưỡng Chúa và sống trọn vẹn cho Chúa. Khi bị người cha
đẻ từ chối, thánh nhân đã tìm được người Cha giàu lòng nhân ái, rất mực
yêu thương, là chính Thiên Chúa. Mỗi ngày thánh nhân tranh thủ thời gian
để được gần gũi Chúa, chiêm ngắm Chúa Giêsu Thánh Thể trong nhà chầu. Ở
nơi đó, thánh nhân tâm sự với Chúa, nói với Chúa về cuộc đời trần gian,
về những ưu tư của cuộc đời và những con người nghèo khổ trong thế
giới.
Có
lẽ trong những lúc thưa chuyện với Chúa, thánh Martinnô cũng nói với
Chúa về người cha của mình trong tình thương mến. Không phải Người “kể
tội” người cha “bội bạc” của mình, cho bằng Người cầu xin Chúa biến đổi
tâm hồn ông và mở mắt tâm hồn để ông nhận biết tình thương Thiên Chúa
dành cho ông qua cuộc đời, qua gia đình và qua những người con. Đó là
qùa tặng quý báu, là hồng ân của Chúa trao ban, nhưng ông đã không biết
đón nhận mà đành tâm chối từ. Như thế, thánh nhân càng thương thay cho
người cha của mình. “Khi lên tám tuổi, Martin có gặp thân sinh mình,
nhưng ông vẫn không nhìn con, và còn khinh bỉ như trước. Em rất buồn
nhưng không khóc, chỉ chạy đến cùng Chúa và phó thác cuộc đời trong tay
Người như người cha nhân lành... Đã sẵn có lòng thương người tha thiết,
Martin chẳng những không oán ghét người cha tàn nhẫn, trái lại còn quí
mến và luôn cầu nguyện cho người.”[1]
Có
lẽ thánh Martinnô đã phải thao thức lắm để nhiều đêm Người thưa chuyện
vãn với Chúa không phải vì cảnh tượng đau buồn khi tuổi thơ của Người
chứng kiến cảnh “Nhìn thấy ai ai cũng đều vui bên mẹ cha, giọt lệ em rơi
hoà chung với nỗi buồn bước đi trong chiều mưa.”[2]
Nhưng, thánh nhân thao thức cho sự vô tâm của xã hội, của con người,
của sự phân biệt màu gia, chủng tộc mà quên đi trách nhiệm và bổn phận
của con người, sự liên đới với nhau, vô tình đã làm nên nhưng cảnh sống
vô cùng bi thảm.
Có
lẽ thánh Martinnô cũng không xót xa cho gia cảnh “mẹ góa, con côi” nhà
mình, cho bằng Người thương cho số phận những con người bị xã hội ruồng
rẫy, gạt ra bên lề, những con người cùng chung số phận với Người: những
người nghèo khổ đầy đường đầy chợ, những con người bệnh tật đau thương,
cơm không có ăn, áo không có mặc, thuốc không có uống... đâu cũng thấy
khổ và khổ, khiến thánh Martinô động lòng trắc ẩn và càng thao thức hơn
trước những cảnh đời như thế. Như Đức Giêsu xót thương dân chúng lầm
than, khổ cực, khi Ngài “Thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm
than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt.”[3] Thánh Martinô đã có cùng một sự chạnh lòng như thế!
Và
hơn nữa, thánh Martinnô không oán hận hay than trách những con người đã
gây nên thương đau cho xã hội, cho con người như thế; trái lại, thánh
nhân yêu thương họ, cầu nguyện cho họ, nói với Chúa về họ, về tương lai
và phần rỗi của họ… Chính những thao thức, những lời tâm tình của thánh
Martinnô với Chúa, và chính sự động lòng trắc ấn của thánh Martinnô,
Chúa đã biến đổi cõi lòng người thế. Điều này được minh chứng cụ thể nơi
người cha ruột của thánh nhân khi đón nhận lại người con của mình.
“Nhận thấy cách ăn ở nết na của hai mẹ con bà Anna. Don Juan bị lương
tâm cắn rứt, rồi không bao lâu, ông giác ngộ, nghĩ đến tình phụ tử, nhớ
đến bổn phận làm cha. Thế là ông sám hối và thân hành đến đón con về ở
với mình.”[4]
Qua
một chi tiết cụ thể đó, chúng ta cũng thấy được phần nào giá trị và sức
mạnh của lời cầu nguyện. Chỉ có Chúa mới có thể biến đổi tâm hồn con
người. Lời cầu nguyên chân thành của thánh Martinnô đã vượt thắng sự ích
kỷ của con người.
Nếu
như thuở thiếu thời thánh Martinnô đã có một sự khát khao “nói với
Chúa” đặc biệt như thế, thì khi lớn lên, nhất là khi đã là tu sĩ Đaminh,
thấm nhuần tinh thần của cha Tổ phụ dòng, thánh nhân càng gia tăng lòng
yêu mến Chúa và nhu cầu “Nói với Chúa” càng nhiều, khi chứng kiến nỗi
khổ của nhân gian. Vì lẽ đó, Chúa đã thấu hiểu cõi lòng thánh Martinnô
mà thi thố quyền năng Ngài nơi người con thảo của Chúa qua vô vàn phép
lạ thánh nhân đã thực hiện để “cứu nhân độ thế”. Nhờ đó cuộc đời Người
như là “tấm bánh bẻ ra” trao tặng những người cùng khốn đến với thánh
nhân. “Một trong những ơn riêng Thiên Chúa ban cho thánh Martinô là ơn
làm cho bánh hóa nhiều. Mỗi sáng Martinô thường ăn uống thật vội vã để
có giờ tiếp đón hàng trăm người đang đợi thầy ngoài cửa.”[5]
Thánh
Martinô là thế đó. Cuộc đời Người đã kết hợp nhuần nhuyễn những hoạt
động cấp bách bên ngoài với nếp sống chiêm niệm bên trong. Sức mạnh
thiêng liêng của thánh Martinô được kín múc từ việc cầu nguyện và hiệp
lễ mỗi buổi sáng. Điều này đã giúp thánh nhân đủ sức cáng đáng tất cả
những công việc trong một ngày sống. Đó là sức mạnh lớn lao nhất của
Người trong vai trò tu sĩ. Chính vì thế, thánh Martinô đã sống Tin Mừng
một cách triệt để giữa dòng đời: yêu thương những người bất hạnh, săn
sóc những người ốm đau, bệnh tật, xoa dịu những tâm hồn đau khổ, chữa
lành những vết thương thể xác cũng như tinh thần cho nhiều người. Thánh
nhân ý thức rằng, mỗi lần làm như thế cho tha nhân chính là làm cho
Chúa.[6]
Khi
đã “nói với Chúa” về nhân gian, về những khổ đau của con người, về cuộc
sống trần gian, thấu hiểu được “nhân tình thế thái” như thế, thánh
Martinô được thúc đẩy, cần thiết phải “nói về Chúa ” cho mọi người để họ
nhận biết, yêu mến và phụng sự Thiên Chúa để được ơn cứu độ.[7]
Nói về Chúa trong tinh thần bác ái yêu thương
Trong
các hoạt động tông đồ của thánh Martinô, nỗi bật nhất là đời sống bác
ái yêu thương. Bác ái yêu thương là một chứng từ sống động cho cho việc
loan báo Tin Mừng. Có thể nói rằng, đỉnh cao của đời sống
Kitô giáo là đạt tới Đức Ái hoàn hảo. Sống Bác ái là liên kết
với Chúa thành một khối duy nhất, vì Chúa là Tình Yêu. Ngược lại, sống
ích kỷ, thiếu bác ái tức là tự tách rời khỏi khối Tình Yêu Thiên Chúa,
để đi vào con đường diệt vong, lang thang, tối tăm, hận thù ghen ghét
muôn đời, tượng trưng bằng sự khóc lóc và nghiến răng.[8]
Thánh
Martinô đã thấm nhuần điều đó! Thánh nhân đã thực hiện trọn vẹn
lời dạy của Chúa qua đời sống khiêm nhu, bác ái, cảm thông và
chia sẻ với những người cùng khốn trong xã hội. Người đã yêu
thương và làm tất cả vì tình yêu. Người đã nhìn thấy Đức Kitô đang hiện
diện nơi những người anh em da màu, nơi những vết thương lở loét hôi
thối trên thân thể những người nô lệ,… Khi đặt tay băng bó những vết
thương đó, là lúc thánh Martinô đang thực hiện lời dạy của Đức Kitô: “Vì
xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn ; Ta khát, các ngươi đã cho uống ; Ta
là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước. Ta trần truồng, các ngươi đã cho
mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng ; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi
han.”[9]
Bằng
chính đời sống khiêm tốn, thánh nhân đã nêu gương cho anh em trong tu
viện về lối sống của một tu sĩ Giảng thuyết, luôn mặc lấy tâm tình khiêm
cung của Thầy Chí Thánh Giêsu. Bằng việc tuân giữ kỷ luật tu trì trong
nếp sống Đaminh thánh nhân đã trở thành bài giảng hùng hồn cho nhân thế.
Bằng đời sống đơn sơ, vui vẻ, thánh nhân trở thành bạn của nhiều người,
không phân biệt già trẻ, lớn bé, giàu sang hay thấp hèn, màu gia, chủng
tộc.
Từ
những cung cách sống giản đơn như thế, Thánh Martinô đã không chỉ sống
với Chúa, sống với anh em cách thân thiện, mà Người còn đến được với
muôn người trong mọi hoàn cảnh sống. Như thánh Tông đồ, thánh Martinô
cũng đã “trở nên yếu với những người yếu, để chinh phục những người yếu.
Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số
người.”[10] Chính vì thế, thánh nhân đã dẫn đưa nhiều người trở về với Chúa, đón nhận Tin Mừng cứu độ.
Đời
sống bác ái của thánh nhân là một bài giảng thuyết hùng hồn và có sức
thuyết phục nhất. Nhờ đời sống bác ái của mình, thánh nhân đã xoa dịu
biết bao vết thương nơi thể xác cũng như tâm hồn khổ đau của những người
đến với thánh nhân. Giữa một xã hội phân biệt màu da và giai cấp, thánh
Martinô đã hiện diện trọn vẹn tính nghèo khó, đơn sơ và yêu thương. Đây
là dấu chỉ sự hiệp nhất trong Đức Kitô. Sự hiện diện của thánh nhân cho
thấy Người đang đồng hành với người khốn cùng trong hy vọng và trong
tình thương. Thánh Martinô đã hiểu được rằng, Chúa Giêsu không chỉ chết
một lần trên cây thập tự, nhưng Ngài đang chết dần chết mòn nơi những
con người đang bị khinh khi và chối từ. Chúa Giêsu vẫn còn bị đóng đinh
và điệu ra pháp trường cho đến ngày Chung Cuộc.
Thánh
Martinô cảm nhận được rằng, để trở thành môn đệ Chúa Kitô, không gì
khác hơn là đón nhận chính cuộc sống như Chúa Kitô đã từng sống. Có
nghĩa là, thánh Martinô vui vẻ đón nhận khổ đau, sự khinh miệt và nghèo
hèn để Người có thể chiến thắng đau khổ trên cuộc đời này, tiêu diệt khổ
đau bằng chính sự đau khổ cùng với người nghèo và nhân danh người
nghèo.
“Thánh
Martinô không đến với người nghèo khổ bằng một túi tiền to hoặc bằng
một khả năng siêu đẳng. Martinô đến với người nghèo, trước tiên, như một
người nghèo, nhưng là một người nghèo có tấm lòng. Với tấm lòng yêu
thương bác ái, Martin thanh thản để cho đi những gì mình có được, để
cống hiến dù chỉ một chút công sức mà mình có thể làm được. Qua những
trợ giúp vật chất, Martin luôn trao tặng chính tấm lòng vàng của mình
cho những người nghèo khổ, chứ không phải là sự ban bố vung vãi quyền
năng dư thừa. Chính từ thái độ “trao tặng tấm lòng” như thế, Thiên Chúa
trân trọng, yêu thương, đón nhận và làm cho công việc của Martin trở nên
hiệu quả theo ý của Ngài.”[11]
Thánh
Martinô là tấm gương sáng ngời về đời sống bác ái, yêu thương.
Bằng một đời sống âm thầm, lặng lẽ, thánh nhân đã họa lại
chân dung Đức Giêsu khiêm hạ, yêu thương tất cả mọi người, nhất
là những người nghèo khổ. Và cứ thế, tình yêu thương đồng
loại, và muông thú, cỏ cây như vết dầu loang, loang mãi để cho
mầm tình yêu vươn nhánh, trổ bông và tỏa hương thơm ngát cho đời
sống Giáo Hội và từng người.
Qua
thánh Martinô, những mảnh đất tâm hồn cằn cỗi được tình yêu
yêu thương ấp ủ để vươn dậy những chồi non đạo hạnh thánh
thiện, sống tốt đời đẹp đạo, những tâm hồn bị thương tổn gặp
được niềm an ủi và chữa lành, và những tâm hồn băng giá được
hâm nóng niềm tin, trở nên nhiệt thành yêu mến và hăng say đời
sống chứng nhân. Qua thánh Martinô, những phận đời bị hất hủi,
bị lãng quên, đã tìm lại được hơi ấm tình người và giá trị
của chính mình bởi sự nâng niu trân trọng của thánh Martinô.
Qua
cách thức giảng truyền bằng tình thương, bằng đời sống bác ái yêu
thương, thánh Martinô đã xoa dịu biết bao đau khổ do bệnh tật thể xác
và tâm hồn. Nhiều cõi lòng nặng trĩu được nhẹ vơi, biết bao vết thương
gãy vỡ được hàn gắn, nhiều số phận thoát cảnh bị lãng quên và biết bao
tâm hồn sầu não tìm lại được niềm vui sống,… nhờ bàn tay da màu chất
chứa tình yêu thương và ấm áp, thánh Martinô đã làm cho nhiều người nô
lệ được sống đúng phẩm giá của con người. Hơn thế nữa, thánh Martinô đã
cho thấy sự hiện diện của Chúa Kitô, “vị lương y” đầy lòng thương xót và
từ tâm đối với tất cả mọi người không loại trừ một ai. Đời sống truyền
giáo, lối giảng thuyết, cách “Nói về Chúa” của thánh Martinô là thế đó.
Tạm kết
Giữa
dòng chảy ồn ào huyên náo của lối sống thực dụng của xã hội Lima thời
bấy giờ, thánh Martinô đã chọn cho mình một cuộc sống đơn sơ khó nghèo.
Giữa những lời mời gọi ngọt ngào đường mật của bao niềm vui thú nơi
người trẻ phơi phới tuổi xuân thì trong nhịp sống gấp gáp vội vàng và
đong đưa quyến rũ của dòng đời hối hả tìm hưởng thụ, thánh nhân đã chấp
nhận khước từ tất cả để lội ngược dòng đời dấn thân trọn vẹn hơn cho
Chúa và tha nhân trong đời sống tu trì. Giữa một xã hội phân chia giai
cấp giàu nghèo, sang hèn, kỳ thị chủng tộc, phân biệt màu da, tiếng nói,
thánh Martinô đã chọn lối sống yêu thương, hiệp nhất, phục vụ tất cả
mọi người trong Chúa Giêsu. Giữa trăm ngàn nẻo đường đời tu, thánh
Martinô đã chọn đời sống Trợ sĩ Đaminh trong khiêm tốn, âm thầm, lặng
lẽ, hy sinh, phục vụ quên mình vì Chúa và vì phần rỗi các linh hồn.
Là
một tu sĩ dòng Giảng thuyết, thánh Martinô không nói về Chúa bằng những
bài giảng thuyết lừng danh, cũng không phải bằng những trang suy tư
thần học cao siêu, nhưng bằng chính đời sống của mình. Thế nhưng bài
giảng đó hấp dẫn và cuốn hút hơn bất cứ một bài giảng nào.
Mặc
dầu thánh nhân đã sống cách chúng ta hơn bốn trăm năm, nhưng vẫn luôn
có giá trị trong thời đại chúng ta hôm nay. Thế giới hôm nay còn đầy rẫy
chiến tranh và hận thù, cần lắm những tấm lòng nhân ái, hy sinh quên
mình như thánh Martinô. Chỉ những con người sống triệt để lối sống Tin
Mừng như thánh Martinô mới góp phần xoa dịu nỗi đau, mất mát do tình
trạng người bóc lột người gây ra.
Là
những người con, người bạn và là người anh em với thánh
Martinô, chúng ta cũng được mời gọi dấn thân, hy sinh phục vụ
quên mình như thánh Martinô. Chúng ta cũng được mời gọi trở nên
những Martinô thời đại. Thánh Martinô là mẫu gương tuyệt vời cho
chúng ta trong đời sống thánh hiến nói chung, cách riêng là đời sống
thánh hiến Dòng Anh em Giảng Thuyết.
Tá Đương, OP.
Sống ơn gọi Giảng Thuyết theo gương thánh Martinô
01:40 |
Sống ơn gọi Giảng Thuyết theo gương thánh Martinô
Khi
nói đến thánh Martinnô de Porres, người ta nghĩ ngay đến cụm từ “ông
thánh có tấm lòng vàng”, hoặc “ông thánh hay làm phép lạ”; “cha của
những kẻ khó nghèo, đau yếu”, nhiều người còn gọi thánh nhân bằng một
tên gọi thân thiện, gần gủi hơn, đó là “ông thánh da đen”… Tất cả những
cụm từ trên đây chỉ về thánh Martinô đều không sai, nhưng có lẽ bấy
nhiêu vẫn chưa đủ và sẽ không đủ khi nói về thánh nhân mà không nhắc
đến Người là một tu sĩ dòng Anh Em Giảng Thuyết.
Chính
trong môi trường của Dòng Giảng Thuyết, hấp thụ đời sống tu trì, thấm
nhuần tinh thần Đaminh, Martinnô de Porres đã trở thành một vị hiển
thánh lừng danh cho Giáo Hội bởi tinh thần “bác ái yêu thương, nhiệt tâm
phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân”. Chính vì thế, đời sống thánh nhân
đã trở thành một “kiểu mẫu” cho con người trong mọi thời đại, đặc biệt
đối với người tu sĩ Giảng Thuyết, cách riêng với anh em Trợ sĩ Đaminh.
Nếu
như đời sống của cha thánh Tổ phụ Đaminh được gói gọn trong câu châm
ngôn “Nói với Chúa và nói về Chúa”, thì thánh Martinnô de Porres cũng đã
thấm nhuần đời sống ấy trong tinh thần “xả kỷ hy sinh, tận tình bác
ái”. Đời sống của thánh nhân đã trở thành bài giảng thuyết lừng danh có
sức thuyết phục và cảm hóa được nhiều người không chỉ trong thưở bình
sinh của Người mà cả trong nhiều thời đại về sau. Trong tâm tình ấy,
người viết xin được chia sẻ đời sống của tu sĩ Martinnô de Porres qua ba
nét chính: sống với Chúa, nói với Chúa và nói về Chúa. Ba điều cốt lõi
đó đã làm nên con người Martinnô de Porres với tinh thần “xả kỷ hy sinh,
tận tình bác ái” và đã trở nên mẫu mực cho người tu sĩ Đaminh.
Sống với Chúa trong mọi hoàn cảnh
Chắc
hẳn ai trong chúng ta cũng thấu hiểu phần nào về hoàn cảnh bi đát và
đời sống thương tâm của thánh Martinô từ thuở thiếu thời. Thánh nhân là
kết quả của một mối tình “vụng trộm” giữa một chàng da trắng thuộc hàng
quí phái và một người dân da đen nô lệ mới được phóng thích tại thành
Lima, thủ đô nước Peru, cuối thế kỷ XVI. Thế nhưng, ngay từ lúc mới cất
tiếng khóc chào đời, thánh nhân đã bị chính cha ruột của mình từ khước
bởi vì nước gia “bánh mật” của Người[1].
Thánh
Martinô xuất thân từ một hoàn cảnh vô cùng bi đát và đắng cay. Bối cảnh
của cậu bé Martinô buổi thiếu thời thật khốn khổ. Hẳn như bao người
khốn khổ khác, người ta sẽ “trả thù đời,” bất mãn, và sống lê lết quậy
phá cho vui hết đoạn “đường đời bất công và khốn kiếp này”. Nhưng Martin
đã không làm thế. Từ nỗi oan nghiệt đó, thánh Martinô đã tìm được một
nơi nương tựa an toàn, một người Cha nhân ái là chính Thiên Chúa. Tìm
đến với Chúa, người Cha nhân lành, thánh Martinô đã cảm nếm được lời
thánh vịnh: “Dầu cha mẹ có bỏ con đi nữa,thì hãy còn có Chúa đón nhận
con.”[2]
Số
phận hẩm hiu bất hạnh, bị khinh dể bỏ rơi, đã không đẩy người rơi vào
hố sâu của tuyệt vọng, của cuộc sống “giang hồ”, nhưng đã khơi lên cái ý
thức, mối trăn trở là chia sẻ, cảm thông và nâng đỡ cho những anh chị
em đau khổ, bệnh tật, kém may mắn. Trong bàn tay quan phòng của Thiên
Chúa, biết bao lớp người đã tìm thấy được ở nơi thánh Martinô bác ái,
những lời ủi an, những sự giúp đỡ, những cứu chữa tận tâm về cả phần hồn
lẫn phần xác. Nhất là tìm thấy lại được sự bình an cho tâm hồn.
Trong
khi bị đời ruồng rẫy khinh chê, thánh Martinô không oán hận hay than
thân trách phận, nhưng Người đã tìm đến với Chúa Giêsu Thánh Thể và làm
bạn với Chúa trong nhà chầu, tâm sự, chuyện trò với Chúa và kín múc nơi
Chúa nguồn mạch sức sống, niềm an ủi và hạnh phúc được làm con cái Thiên
Chúa. Từ đó, thánh nhân đã thấu hiểu ý nghĩa và giá trị của cuộc đời.
Thánh nhân đã kết hiệp những khổ đau trong cuộc đời, những thiếu thốn,
những vất vả trong đời sống hằng ngày với thập giá Chúa Giêsu làm thành
hy lễ tiến dâng Thiên Chúa.
Khi
lớn lên, thánh Martinô theo học và hành nghề y tá. Thánh Martinô lấy
làm sung sướng vì được theo học một nghề hợp với sở thích của mình. Hy
vọng độc nhất của thánh nhân là với nghề y tá, Người sẽ có phương tiện
“cứu nhân độ thế”. Thánh nhân cảm thấy vui vì nhờ công việc này mà Người
có cơ hội phục vụ Chúa qua những người nghèo khổ, bệnh nạn tật nguyền
và những người bị bỏ rơi trong xã hội. Thánh nhân ý thức rằng, phục vụ
và yêu thương những con người khốn khổ đó chính là phục vụ Chúa vậy.[3]
Mặc dầu công việc bận rộn và vất vả, nhưng không vì thế mà thánh
Martinnô sao nhãng việc sống với Chúa, người luôn thánh hóa đời sống
hàng ngày bằng cách làm mọi việc vì Chúa cho sáng danh Chúa. “Trong
những giờ rãnh rỗi, Martinô thường tâm giao với Chúa: Than thở, cầu
nguyện, ban đêm, cậu có thói quen bớt giờ ngủ để nguyện gẫm. Nhiều lần
cậu quên cả ngủ để thức khuya cầu nguyện”[4].
Nhờ
đời sống thân tình với Chúa như thế, thánh Martinô đã nhận ra tiếng
Chúa gọi mời sống đời dâng hiến trong dòng Đaminh. Khi nhận ra tiếng
Chúa, thánh nhân đã từ bỏ mọi sự và dấn thân trong nhà Chúa với những
công việc tầm thường của một “người giúp việc”. Thế nhưng, thánh nhân đã
biến những công việc tầm thường ấy thành những công việc phi thường. Từ
ngày vào sống trong Tu viện, thánh Martinô càng cảm nhận tình thương
của Thiên Chúa và càng sống thân mật với Chúa hơn qua các công việc bổn
phận hằng ngày. “Kể từ nay, Martinô có mặt khắp nơi trong tu viện, từ
nhà nguyện cho đến nhà bếp, phòng ăn hoặc vườn rau. Tất cả mọi việc các
cha các thầy nhờ đến, Martinô luôn vui tươi phục vụ không hề gian khổ.”[5]
Sở
dĩ thánh Martinô có được động lực và sức mạnh để hành động như thế là
vì thánh nhân nhờ đời sống kết hiệp mật thiết với Chúa trong mọi khoảnh
khắc cuộc sống, nhất là khi chiêm ngắm mầu nhiệm tình yêu cứu độ của
Chúa Giêsu, được tình yêu Chúa Giêsu, Đấng đã vì yêu chết trên Thập giá
thúc đẩy. Bởi lẽ, “Thiên Chúa hiện diện trong linh hồn Martinô, làm cậu
nên sức mạnh và đầy nhiệt huyết giúp đỡ tha nhân và những người cần
đến.”[6]
Từ đó thánh nhân thấm nhuần tinh thần của Chúa Giêsu trong sự khiêm nhu
hiền hậu. Hay nói cách khác, thánh nhân đã đáp lại lời gọi mời yêu
thương của Chúa: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi,
vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ
ngơi bồi dưỡng.”[7]
Một
khi đã được Thiên Chúa bồi dưỡng và đỡ nâng, thánh nhân càng có đủ sức
mạnh và nghị lực để sống và sống hết tình với anh em trong sự khiêm nhu
chân thành. Đó là một cuộc đời âm thầm lặng lẽ, không hám danh, tham
lợi, không quyền cao chức trọng, và tưởng chừng như một kẻ “vô danh tiểu
tốt” trong tu viện. Nhưng chính trong sự lặng lẽ ấy, thánh nhân đã làm
nên “chuyện lớn” không chỉ trong tu viện mà cho cả thành phố Lima thời
bấy giờ. “Quả thật một cuộc đời âm thầm, bình dị chính là một cuộc đời
chìm khuất, nhưng đó là chìm khuất để ươm mầm cho sự sống thật. Hơn nữa,
một đời sống chìm sâu trong ánh sáng của Chúa; đó lại chính là ươm mầm
đời sống trong mảnh đất ân huệ để trổ sinh bông hạt là ý nghĩa chân
chính cho đời sống con người cách phong phú hơn hết.”[8]
Chính
vì thế, thánh nhân đã trở thành một “kiểu mẫu” người tu sĩ trong mọi
thời đại. Qua đó, thánh Martinô mời gọi mỗi chúng ta quý trọng đời sống
chiêm niệm để kín múc nơi Chúa nguồn mạch sức sống làm chất liệu cho lời
giảng thuyết của ta, để đời tu có ý nghĩa giữa một thế giới huyên náo
hôm nay. Điều kiện cốt yếu nhất để người tu sĩ hoàn thành tốt trọng
trách của mình giữa trần thế hôm nay như sứ mệnh và mục đích của Dòng
đòi buộc là lấy đời sống chiêm niệm làm căn bản. Nhờ đời sống cầu
nguyện, chúng ta để đạt tới sự hiểu biết, yêu mến và hiến thân trọn vẹn
cho Chúa Giêsu Kitô, nhiệt tâm phục vụ tha nhân. Và như thế, thánh
Martinnô không chỉ có sống trọn vẹn cho Chúa mà là một mẫu gương cho
người tu sĩ nói với Chúa.
Tá Đương OP
Kiên Nhẫn Với Cuộc Đời
01:39 |
Kiên Nhẫn Với Cuộc Đời
Tin mừng Chúa Giê-su Kitô theo thánh Luca
1 Đức Giê-su kể cho các môn đệ dụ ngôn sau đây, để dạy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản chí.2 Người nói: "Trong thành kia, có một ông quan toà. Ông ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì.3 Trong thành đó, cũng có một bà goá. Bà này đã nhiều lần đến thưa với ông: "Đối phương tôi hại tôi, xin ngài minh xét cho.4
Một thời gian khá lâu, ông không chịu. Nhưng cuối cùng, ông ta nghĩ
bụng: "Dầu rằng ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì,5 nhưng mụ goá này quấy rầy mãi, thì ta xét xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc."
6 Rồi Chúa nói: "Anh em nghe quan toà bất chính ấy nói đó!7
Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển
chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi
mãi? 8Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng minh xét
cho họ. Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên
mặt đất nữa chăng? "
Suy niệm
Câu
chuyện Tin mừng hôm nay thuật lại chuyện một bà góa kiên nhẫn trong
việc khiếu kiện. Chắc hẳn bà cũng chẳng tin gì ở ông quan tòa bất chỉnh
nhưng tin rằng: kiến tha lau cũng đầy tổ, mình cứ lì ra đấy khiếu kiện
chắc chắn quan tòa sẽ giải quyết và bà đã được như ý.
Câu chuyện ấy được Đức Giê-su chọn để
dạy các môn đệ một bài học về cầu nguyện. Cầu nguyện không còn phải
là lải nhải nói này nói kia nhưng là kiên nhẫn chờ đợi vì mọi sự sẽ đến
lúc. Kinh nghiệm này, chính cha ông chúng ta cũng truyền lại: Cố công
mài sắt có ngày nên kim là gì? Kiên nhẫn có thể giúp ta làm được những
chuyện tưởng như không thể nhưng lại có thể.
Một nghiên cứu khoa học gần đây cho
thấy: khi 4000 thiền sư về cùng hành thiền tại thủ đô của nước Mỹ thì
con số tội phạm ở đây cũng giảm đi 20%. Con số tội phạm này tăng lên khi
số thiền sư giảm đi. Đó là điều khiến chúng ta phải suy nghĩ về đời
sống cầu nguyện.
Cầu nguyện đòi buộc ta phải kiên
nhẫn để không những chuyển cầu cho người này người kia nhưng còn là liên
kết với mọi người để cùng cầu nguyện. Theo bản tính tự nhiên của con
người, ai cũng muốn hơn, ngay cả trong việc đạo đức, vậy nên thích cầu
nguyện một mình và làm nổi mình hơn là liên kết với người khác. Chính
việc này đòi buộc ta phải kiên nhẫn với chính mình để mình có thể mở
lòng ra đối với người khác và để người khác mở lòng ra đối với mình như
bà góa trên đây. Bf đã sẵn sàng trải lòng mình ra đối với quan tòa, và
vì thế, dù thế nào, cuối cùng quan tòa cũng mở lòng mình ra. Đó là một
bài học và một kinh nghiệm cho chúng ta trong vấn đề cầu nguyện và trong
thái độ của chúng ta đối với cuộc đời.
Có được thái độ kiên nhẫn đó hẳn trong
ta sẽ luôn tràn trề niềm hy vọng bởi: con người có khả năng thay đổi
và tình yêu Thiên Chúa thật vô bờ bến. Chúng ta kiên nhẫn không vì mình
giỏi, mình hay nhưng kiên nhẫn vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta, đã
kiên nhẫn và sẵn sàng tha thứ cho chúng ta dù ta đã bao lần lỗi phạm.
Vì vậy, Thiên Chúa yêu thương ta tha thiết thể nào thì chính ta cũng
được mời gọi hãy ôm lấy cuộc đời đầy bợn nhơ, đầy hôi thối, đầy mùi xú
uế này vào trong con người mình, vào trong trái tim của mình. Để cùng
với Giê-su, chúng ta kiên nhẫn với cuộc đời và cùng với Người và với
nhau chúng ta hy vọng thế giới này sẽ tốt đẹp hơn. Đó là điều thánh
Martino đã làm được khi đã ôm ấp và kiên nhẫn với bao người. cho đến tận
bây giờ, ngài vẫn thế, vẫn kiên nhẫn lắng nghe và chuyển cầu cho chúng
ta trước tòa Chúa chí tôn
Lạy Chúa, xã hội Việt Nam đang đầy dẫy
nhưng bất ổn, ngấm ngầm hay hiển hiện qua những vụ kiện tụng và đình
công. Xin Chúa thương bạn cho đất nước chúng con được bình an, mỗi người
có công ăn việc làm ổn định để có của nuôi thân, vun đắp cho gia đình
và giúp đỡ người khác. Xin cho chúng con luôn biết kiên nhẫn mà cầu
nguyện cho đất nước mình, đất nước thân yêu của chúng con.
Xin Chúa thương nhìn đến các gai đình
Việt Nam đầy dẫy những bất ổn. Xin cho vợ chồng, cha mẹ con cái, anh chị
em biết kiên nhẫn với nhau để giả quyết những bất hòa cũng như xây dựng
một gia đình vững bền. Xin cho mỗi gia đình thực sự trở nên tổ ấm để
mỗi thành viên luôn muốn quay về và nghỉ ngơi.
Và với mỗi người trẻ hôm nay, nhiều khi
người lớn cảm thấy như bất lực trước sự thay đổi nhanh chóng. Xin cho
chúng con cũng biết kiên nhẫn và đồng hành với người trẻ trong việc tìm
kiến chân lý khoa học và đức tin. Xin Chúa thương đồng hành và giúp các
bạn kiên nhẫn với chính mình và với cha mẹ để xây dựng một thế giới ngập
tràn yêu thương và tin tưởng.
Xin Chúa cũng thương các bệnh nhân
và những người đau khổ, nhất là những người đang hiện diện nơi đây. Xin
cho mỗi người thể hiện sự kiên nhẫn ấy ra bên ngoài bằng niềm hy vọng,
vững tin và yêu mến cuộc đời này. Xin cho họ luôn thấy rằng: đời vẫn
đáng sống.
Chúng con xin dâng trao tất cả cho Chúa nhờ lời chuyển cầu của thánh Martino. Xin Chúa thương nhận lời. Amen.
Thiên Chúa Làm Việc Và Con Người Cũng Làm Việc
01:35 |
Thiên Chúa Làm Việc Và Con Người Cũng Làm Việc
Tin mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Gioan (5, 14-17)
14 Khi ấy, Đức Giê-su gặp
người đau ốm đã được người chữa bệnh trong Đền Thờ và nói: "Này, anh đã
được khỏi bệnh. Đừng phạm tội nữa, kẻo lại phải khốn hơn trước! "15 Anh ta đi nói với người Do-thái: Đức Giê-su là người đã chữa anh khỏi bệnh.16 Do đó, người Do-thái chống đối Đức Giê-su, vì Người hay chữa bệnh ngày sa-bát.17 Nhưng Đức Giê-su đáp lại: "Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc."
Suy niệm
Việc
làm là điều cần thiết trong xã hội loài người vì nó giúp con người làm
ra của cải để nuôi sống bản thân cũng như kiến tạo thế giới mỗi ngày
thêm tươi đẹp. Chính lao động làm cho cuộc sống con người trở nên có ý
nghĩa và sự tồn tại của họ trở nên có giá trị. Lao động vốn cao quý là
thế dưới con mắt thường ngày thì lại càng cao quý hơn dưới con mắt đức
tin vì Hội thánh dạy rằng: chính khi lao động, con người thực thi quyền
làm chủ địa cầu và tham gia cách trực tiếp vào công trình sáng tạo của
Thiên Chúa. Chính khi lao động, con người đang thực thi vai trò làm con
Thiên Chúa như Đức Giêsu vì Thiên Chúa Cha vẫn luôn làm việc. Đó là điều
chúng ta có thể mạnh dạn thưa lên: Thiên Chúa làm việc luôn và tôi cũng
làm việc luôn vì Đức Giêsu đã cùng chung chia thân phận con người của
chúng ta. Đây là một điều hết sức quan trọng chúng ta cùng suy niệm về thân phận con người trong một thế giới đang phát triển như vũ bão này.
Có lẽ ý thức được điều này nên thánh
Martino đã hết sức cần mẫn làm việc không ngừng nghỉ. Ngài đã không
ngừng làm việc để chu toàn công việc trong nhà dòng nhưng còn làm thêm
những công việc ngoài nhằm giúp cho người khác có được đời sống bình an
và hạnh phúc hơn. Chính bởi thế, thánh nhân đã không ngừng học hỏi để
có thể hành nghề y cách tốt đẹp nhất để cứu giúp con người. Đó là một
tình yêu mời gọi ngài đáp trả lại tình yêu của Chúa dành cho mình để rồi
ra đi đến với người khác. Đó là một trải nghiệm việc Thiên Chúa đón
nhận mình trong thân phận một người da đen vốn bị coi là thấp kém là nô
lệ nên ngài đã đón nhận tất cả mọi người, kể cả những kẻ bị xã hội lên
án. Chúng ta có thể thấy hành động yêu thương ấy trong việc ngài trồng
một vườn cây để cho mọi người tự do tới hái ăn.
Chính hành động xem ra tầm thường ấy đã
làm cho nạn trộm cắp trái cây trong vùng mất đi và nhưng khu vường xanh
tốt tạo thêm khí sống cho đời đã không ngừng phát triển. Tất cả nói lên
một điều: Martino đã không ngừng dùng con tim khối óc của mình để lao
động, cống hiến và phục vụ con người. Đó chính là điều làm nên giá trị
của ngài, điều làm cho ngài được mọi người nhớ đến và chạy đến với ngài,
một cuộc đời cống hiến và phục vụ được khơi nguồn từ chính tình yêu
Thiên Chúa. Tình yêu đã làm cho công việc trở nên vô giá. Đó là điều
chúng ta học hỏi nơi Martin và xin người dạy chúng ta cũng biết không
ngừng lao động trong yêu thương. Một trong những hành động yêu thương đó
chúng ta có thể thực hiện ngay lúc này là hiệp ý cẩu khẩn cùng Thiên
Chúa yêu thương cho những người đã đến nơi đây nhờ thánh Martino chuyển
cầu trong thời gian qua, cho những người thân yêu của chúng ta và cho
chính bản thân chúng ta nữa.
Chúa đã giao vũ trụ này để con người
cai quản và làm cho nó hoàn thiện hơn mỗi ngày theo ý Chúa. xin cho mọi
người ý thức được trách nhiệm đó mà biết sử dụng lao động cách xứng
hợp để làm cho thế giới này mỗi ngày một tốt đẹp hơn, xứng đáng là nơi
cho con người và muôn loài cư ngụ.
Trong năm qua, cả thế giới đang chao đảo
vì nền kinh tế suy thoái, nhiều người mất việc hoặc không có công ăn
việc làm. Xin Chúa thương giúp các nhà lãnh đạo quốc gia để trong suốt
năm Nhâm Thìn này, họ tìm ra con đường đẹp ý Chúa mà tạo thêm nhiều việc
làm mới ngõ hầu mọi người có điều kiện làm việc để nuôi sống bản thân
và giúp đỡ mọi người.
Nhàn cư vi bất thiện. Xin cho mỗi người
chúng con ý thức được giá trị của lao động mà biết bắt tay vào làm việc
để cổ võ cho sự sống và tình tương thân tương ái giữa con người.
Và lạy Chúa, chúng con xin dâng những
dự tính và công việc của chúng con lên Chúa. Xin Chúa thương thánh hóa,
chúc lành và cho mọi việc làm của chúng con sinh ích cho chính mình và
mưu ích cho phần rỗi của con người.
Xin Chúa thương chấp nhận lời cầu khẩn của chúng con nhờ lời thánh Martino chuyển cầu. Amen.
Muôn Loài Đợi Trông
01:31 |
Muôn Loài Đợi Trông
Lời Chúa trong thư thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Rôma (Rm 8,18-21)
Thật
vậy, tôi nghĩ rằng: những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được
với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta. Muôn loài thọ tạo
những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con
cái Người. Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng
muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt chịu vậy; tuy nhiên, vẫn còn niềm
trông cậy là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào
cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và
vinh quang.
Suy niệm:
Cuộc
sống luôn chất chứa hy vọng. Nếu không có hy vọng, có lẽ giữa đời
bể dâu này, chúng ta đã buông xuôi từ rất sớm. Nhưng không, chúng ta còn
quá nhiều hy vọng trong cuộc trần này.
Hy
vọng đó có thể rất đơn giản là được cơm no ấm áo, là thực hiện được ước
mơ của mình. Hy vọng thấy lũ cháu đàn con học hành tới nơi tới chốn và
an cư lạc nghiệp. Hy vọng có được sức khỏe… Hy vọng và hy vọng. Hy vọng
này được rồi chúng ta hy vọng một điều khác. Hy vọng nối tiếp hy vọng.
Hy vọng làm cho cuộc sống có ý nghĩa và đáng để sống cho dù muôn vàn khó
khăn, khó khăn chồng chất. Song nhiều khi chúng ta cũng mất hy vọng
khiến đời ta mất định hướng. Những lúc như thế, đoạn thư trên của thánh
Tông đồ quả là viên thuốc tăng lực cho ta lấy lại hy vọng.
Thực
thế, hy vọng thì nhiều nhưng có một thứ hy vọng không ai không hy vọng,
ngay cả kẻ không tin: hy vọng mình sẽ không bị lãng quên, sẽ thoát khỏi
cảnh hư ảo và được sống đời đời. Đó là lý do mà ngân hàng xác ướp bên
Anh quốc được rất nhiều người gửi xác với hy vọng, một ngày nào đó, khoa
học tiến bộ, họ sẽ được hồi sinh. Tuy nhiên, sự hồi sinh ấy rồi cũng
mất đi. Duy chỉ có sự phục sinh trong đức Kitô mới đem lại cho chúng ta
sự sống tròn đầy, viên mãn. Bởi vậy, không chỉ chúng ta đâu, nhưng muôn
loài, cùng với chúng ta ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc
cách trọn vẹn con người và thế giới này. Muôn loài cùng với chúng ta
được cứu chứ không riêng gì con người. Đó là kế hoạch của Thiên Chúa. Vì
vậy, chính chúng ta có trách nhiệm trong việc đưa những đứa em yêu dấu
của chúng ta là muôn sinh vật, là vũ trụ này vào lòng từ bi của Thiên
Chúa để cùng với chúng ta, những đữa em đó được hưởng niềm vui cứu độ.
Và quả
thật, hôm nay, đến trước thánh Martino, chúng ta cảm nghiệm sâu xa lòng
mến của người dành cho những đứa em bé bỏng. Chắc chắn, thánh nhân đã ý
thức nhứng đứa em này sẽ được cứu cùng với mình nên đã hết sức yêu mến
chúng, chăm sóc chúng và tô điểm cho chúng. Chúng ta biết được điều này
khi nguyện kinh khấn ngài: Ngài yêu thương cả những thú vật ngoài đồng.
Và trong tiểu sử còn cho thấy, ngài trồng cây và điểm trang cho chúng
bằng tình yêu để làm cho không gian sống thêm đáng yêu và thế giới thêm
đẹp mỗi ngày. Tất cả chỉ vì lòng mến và hy vọng: muôn loài được cứu độ
cùng mình, cùng mình thoát khỏi cảnh hư ảo và hưởng niềm vui trong ngày
Chúa quang lâm. Lẽ nào chúng ta không muốn như thánh Martino đã muốn!
Lạy
Chúa, Chúa đã dựng nên muôn vật, trao cho chúng con cai quản và dụng
chúng trong đức công bằng. Xin thương dạy chúng con sống như thánh
Martino đã sống, sống yêu thương chân thành không chỉ đối với con người
mà với muôn tạo vật là những tặng phẩm Chúa ban tặng cho chúng con.
Xin
cho chúng con cũng luôn ý thức rằng, Thiên Chúa cứu là cứu cả thế giới
chứ không riêng gì con người mà biết chung tay đắp xây một thế
giới đẹp tươi, một thế giới tràn ngập tình yêu thương và bình an
như thánh Martino đã nêu gương.
Xin
Chúa thương gìn giữ và thắp lên trong chúng con Đức Hy Vọng nêu như bị
leo lét và vụt tắt. Xin đừng để khi nào chúng con mất Đức Cậy Trông để
xứng đáng vui hưởng hạnh phúc trong ngày Chúa trở lại.
Và lạy
Chúa, xin cho những đứa em thân yêu của chúng con đây là những thụ tạo
được Chúa dựng nên, đang cùng vui sống và hiện diện với con người, được
vui hưởng niềm vui cứu độ.
Lạy
Chúa Giêsu, chúng con cảm tạ Chúa vì chắc chắn Ngài sẽ không để chúng
con rơi vào cảnh hư ảo vì đó là điều Chúa chẳng muốn. Chúng con tin
tưởng như thế, và cùng với thánh Martino, chúng con cầu xin Chúa.
Món Nợ Đức Ái
01:26 |
Món Nợ Đức Ái
Lời Chúa trong thư thánh Phaolô gửi tín hữu Rôma
Anh em thân mến! 8 Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; vì ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật.9
Thật thế, các điều răn như: Ngươi không được ngoại tình, không được
giết người, không được trộm cắp, không được ham muốn, cũng như các điều
răn khác, đều tóm lại trong lời này: Ngươi phải yêu người thân cận
như chính mình.10 Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy.
Suy niệm
Mỗi ngày, mỗi tuần có biết bao người
đến khấn xin thánh Martin, Đức Mẹ, thánh Giuse để được ơn này ơn khác,
trong đó, rất nhiều người xin cho thoát khỏi cảnh nợ nần.
Quả thực, nhiều người mừng thầm vì mình
không mắc nợ ai! Phải vậy chăng? Nước mỹ hùng cường vẫn nợ như Chúa
Chổm. Khối EU phồn thịnh là thế đang lâm vào bế tắc với những khoản nợ
khổng lồ. Và, Việt Nam cũng thế, nếu cứ đà phát triển như hiện tại, 100
năm nữa chưa trả hết nợ. Những khoản nợ là mối lo cho biết bao người,
bao gia đình và quốc gia. Những khoản nợ làm cho người ta luôn cảm
thấy như ngồi trên đống lửa và không chút bình an. Song, có một thứ nợ,
rất nhiều khi ta lãng quên.
Ra đường, ta lấn làn đường làm người
khác phải lùi lại sau. Đến ngã tư, đèn đỏ, ta bấm còi inh ỏi thúc
người trước vượt hoặc chính ta vượt luôn. Những hành động rất nhỏ như
thế thể hiện một tâm hồn khép kín chỉ lo cho chính mình mà quên đi
người khác. Đôi khi, ta không gây ra sự mất công bằng ấy cách rõ rệt,
nhưng lại thờ ơ trước những nỗi đau buồn của anh em mình. Chính sự thờ
ơ làm cho ta phát ra những lời nói vô cảm, những hành động không tương
xứng khiến anh em mình đau khổ. Và còn nhiều điều khác nữa, nếu thành
thật nhìn nhận, tất cả chỉ vì thiếu đức ái. Đây là món nợ thực sự
không ai không mắc phải bởi, con người không ai là một hòn đảo nhưng
luôn sống liên đới với nhau cách chặt chẽ. Cuộc đời cần lắm sự tương
thân tương ái – món nợ chúng ta trả cả đời này cũng chưa thỏa.
Hơn ai hết, thánh Martino hiểu
rõ về món nợ này. Chính vì hiểu mà người vẫn luôn tìm cách xoa dịu
những nỗi đau của con người khi ngài còn sống. Chình vì hiểu mà ngài
luôn sẵng sàng nghe tất cả những ai chạy đến với Ngài hôm nay, để rồi,
như sứ giả tình thương, Ngài chuyển cầu cùng Chúa cho họ. Và, một trong
những cách thế đặc biệt thánh nhân dùng khi còn sống để trả món nợ
này là lần chuỗi mân côi. Thánh nhân ý thức rằng, chuỗi mân côi, và mỗi
chục kinh luôn khởi sự từ Chúa và kết thúc thuộc về Chúa. Chuỗi mân
côi cũng chính là sự liên đới giữa những con người. Những con người
được kết nối với nhau do bởi sợi dây Đức Ái, sợi dây Giêsu. Chính bởi
thế mà Ngài không ngớt nguyện kinh mân côi để chuyển cầu cho tất cả
những ai cần đến Ngài. Đó là điều thật ý nghĩa khi chúng ta đến với
ông thánh đen trong những ngày này. Chúng ta cùng với
Người dâng lên Chúa những ước nguyện sau đây:
Lạy Chúa, chúng con tin tưởng Chúa đã
nhận lời chúng con nguyện xin. Nhưng Chúa muốn chúng con kiên tâm bền
trí hơn nữa trên con đường cầu nguyện. Xin cho chúng con trong tháng
mân côi này, được noi gương thánh Martino xưa, biết yêu mến chuỗi mân
côi, vũ khí rất thánh thiện Thân Mẫu Chúa trao ban mà năng nguyện ngắm
và đi vào con đường tình yêu của Chúa.
Xin cho việc lần chuỗi ấy sinh ơn ích
cho gia đình, cho những người thân yêu của chúng con, và được biệt cho
tất cả những ai đã qua đời.
Xin cho chúng con cũng biết dùng chuỗi
mân côi như một cách thế hữu hiệu để trả món nợ Đức Ái, món nợ làm cho
chúng con sống có ý nghĩa và tròn đầy trong tương quan với nhau.
Chúng con xin cảm tạ và ngợi khen Chúa!