HÃY NHỚ TỚI CÙNG ĐÍCH - THỨ HAI 05.01 - Thứ Hai sau lễ Hiển Linh

06:19 |
 
Tung hô Tin Mừng x. Mt 4,23
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Đức Giê-su rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng Mt 4,12-17.23-25
Nước Trời đã đến gần.
 Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
12 Khi ấy, Đức Giê-su nghe tin ông Gio-an đã bị nộp, Người lánh qua miền Ga-li-lê. 13 Rồi Người bỏ Na-da-rét, đến ở Ca-phác-na-um, một thành ven biển hồ Ga-li-lê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, 14 để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a đã nói : 15 Này đất Dơ-vu-lun, và đất Náp-ta-li, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Gio-đan, hỡi Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại ! 16 Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.
17 Từ lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu rao giảng và nói rằng : “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.”
23 Thế rồi Đức Giê-su đi khắp miền Ga-li-lê, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân. 24 Danh tiếng Người đồn ra khắp xứ Xy-ri. Thiên hạ đem đến cho Người mọi kẻ ốm đau, mắc đủ thứ bệnh hoạn tật nguyền : những kẻ bị quỷ ám, kinh phong, bại liệt ; và Người đã chữa họ. 25 Từ miền Ga-li-lê, vùng Thập Tỉnh, thành Giê-ru-sa-lem, miền Giu-đê và vùng bên kia sông Gio-đan, dân chúng lũ lượt kéo đến đi theo Người.
Tranh: Carl Heinrich Bloch. The Holy Night. 1867. Museum of Natural History, Copenhagen

HÃY NHỚ TỚI CÙNG ĐÍCH

Một ngày nọ, triết gia Diogène đến giữa chợ Athène và dựng một cái lều, trên đó có ghi hàng chữ: “Ở đây có bán sự khôn ngoan.” Một bậc khoa cử thành Athène thấy vậy, sinh tò mò, bèn sai đầy tớ của mình đến xem sao. Người đầy tớ đến đưa cho triết gia 2 hào và bảo chủ của anh muốn có được sự khôn ngoan. Triết gia bỏ tiền vào túi rồi nói với anh: “Anh hãy về đọc lại cho chủ của anh nghe câu này: Trong tất cả mọi sự, hãy nghĩ đến cùng đích.”

Khoa học kỹ thuật phát triển làm cho cuộc sống đầy đủ hơn cả về vật chất lẫn tinh thần. Tuy nhiên, đó cũng là nguyên nhân đưa con người rơi vào ảo tưởng nghĩ rằng mình có thể làm chủ mọi sự và chỉ có cuộc sống đời này mới có giá trị. Chủ nghĩa “hưởng thụ” cùng những căn bệnh như lười biếng, ích kỷ, hận thù và chia rẽ... đang hủy diệt sự sống trên trái đất và tước đi hạnh phúc đời đời của con người.

Chỉ khi nhìn nhận giới hạn của bản thân, cúi đầu trước Thiên Chúa, khi ấy con người mới giữ được trái đất này và được hưởng hạnh phúc đời đời.

Lạy Chúa là cùng đích đời con, con trông cậy Chúa!
 

Xem thêm…

Đi xe buýt riêng cho nữ, tôi rất… xấu hổ

06:15 |

Hoài Hương

Ảnh minh họa: GDVN

Vấn đề là phụ nữ và xã hội phải biết phản ứng và chống lại quấy rối tình dục chứ không phải giải quyết bằng cách mở tuyến riêng cho nữ. Tôi sẽ rất xấu hổ nếu phải đi tuyến xe bus riêng vì nguyên nhân này!
Lại tiếp tục ưu tiên phụ nữ… ăn cơm xó bếp

Qua số liệu thông kê  của tổ chức ActionAid VN và Trung tâm Nghiên cứu giới, Gia đình và Môi trường tại TP Hà Nội và TP. HCM đã công bố một con số nóng là có tới 31% nữ sinh bị lạm dụng tình dục trên xe bus. Sau đó, UB An toàn giao thông quốc gia đã có công văn yêu cầu hai địa phương kiểm tra.
Không thể hứng lên là làm
Tại buổi họp cuối năm, Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Quốc Hùng đã đưa ra yêu cầu và chỉ đạo TCT Vận tải Hà Nội (Transerco) nghiên cứu thí điểm một số tuyến phục vụ riêng hành khách nữ giới vào giờ cao điểm tại một số khu vực đông công nhân nữ và học sinh, sinh viên nữ đi lại bằng xe bus.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là khảo sát nói trên chỉ dựa vào một thiểu số nhỏ, chưa hẳn phản ánh tình trạng chung.
Nếu cứ lấy cớ để bảo vệ sự an toàn cho phụ nữ, thì e không chỉ xe bus, mà còn phải lập những đặc khu nữ giới riêng biệt, ở nhiều lĩnh vực,  thậm chí cả một “Vương quốc nữ” huyền thoại như trong truyện Tây du ký . Bởi, tính theo số liệu cập nhật trong 08 tháng gần đây (từ 1/4- 31/11), đường dây nóng của Transerco nhận được 43.012 cuộc gọi phản ánh của khách hàng, trong đó chỉ có 05 vụ phản ánh liên quan đến quấy rối tình dục, chỉ chiếm tỉ trọng 0,4% trong số vụ phản ánh về chất lượng dịch vụ và chiếm tỉ trọng 0,01% trong tổng cuộc gọi khách hàng gọi đến đường dây nóng Hanoibus.
Như vậy, có 1/10.000 lượt khách hàng phản ánh liên quan đến quấy rối tình dục. Nhìn theo số liệu đưa ra, có thể thấy quấy rối tình dục ở xe bus Hà Nội chưa phải là vấn đề nóng đến mức độ gây ảnh hưởng đến an toàn nữ giới.
Việc cần mở xe bus riêng cho nữ giới phải xem xét nhiều chiều, cả về kinh tế lẫn xã hội học, văn minh Thủ đô… chứ không thể “hứng” lên là làm.
Văn minh… thụt lùi?
Thật ra chuyện xe bus dành cho nữ giới không phải là phát minh hay sáng kiến mới mẻ gì, nó hiện vẫn đang được thực hiện ở một số quốc gia có nhiều người Hồi giáo với những giới luật riêng cho nữ giới ở châu Á, châu Mỹ như: Ấn Độ, Brazil, Nhật Bản, Iran, Đài Loan, Indonesia, Philippines, Malaysia và Tiểu vương quốc các nước Arab…
Họ đã áp dụng các toa tàu điện, xe bus và taxi  riêng, đều được sơn màu hồng, thậm chí tài xế cũng là phụ nữ để dành riêng cho phụ nữ và trẻ em, hạn chế triệt để tình trạng quấy rối tình dục hay vi phạm các giới luật của đạo Hồi ở các phương tiện giao thông công cộng. Nhưng những gì họ thực hiện ở các quốc gia này mang tính phân biệt kỳ thị nam – nữ lại là một biểu hiện lạc hậu còn sót lại của thời trung cổ.
Việc xúc tiến lập ra những tuyến xe bus riêng cho nữ giới, phải chăng là một bước văn minh thụt lùi?  Chiếu theo Luật Bình đẳng giới có hiệu lực từ tháng 11/2006, do Quốc hội VN ban hành, trong chương 1: Quy định chung, điều 7: Chính sách của Nhà nước về bình đẳng giới, khoản 3 quy định: Áp dụng những biện pháp thích hợp để xoá bỏ phong tục, tập quán lạc hậu cản trở thực hiện mục tiêu bình đẳng giới.
Thạc sĩ Xã hội học Thân Trung Dũng – Viện Nghiên cứu Truyền thống và Phát triển tỏ ý phản đối: Việc dành riêng xe bus cho phụ nữ sẽ gây ra sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ trong khi chúng ta đang không ngừng đấu tranh cho bình đẳng giới. Thứ hai, bản thân nhiều phụ nữ chưa chắc đã thích việc có một tuyết xe bus cho riêng mình vì ngoài việc thể hiện sự phân biệt đối xử nam – nữ còn liên quan tới những vấn đề nhỏ khác, vấn đề tình cảm, ví dụ một gia đình có cả nam – nữ muốn đi chung xe thì sẽ ra sao?
Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng cũng không đồng tình: Về mặt tiêu cực, sẽ vô tình tạo nên sự phân biệt, bất bình đẳng giới. Chưa kể là sẽ gây nên bất tiện cho hành khách là các thành viên trong gia đình có cả nam và nữ… Ngoài ra, làm như vậy sẽ tạo cho chúng ta cảm nhận về bức tranh an ninh trật tự của thủ đô không tốt.
Phải làm gì?

Thực tế ai đi xe bus ở VN đều chứng kiến cảnh chen lấn, chen chúc chật chội trong các chuyến xe, vào giờ cao điểm thì không có chuyến xe bus nào chở đúng số hành khách theo quy định, thậm chí vượt gấp đôi, gấp ba. Chưa kề còn vi phạm an toàn giao thông gây nhiều tai nạn thương tâm.
Và trong cái không gian chật kín người đó, cho dù không cố ý thì việc đụng chạm khó tránh khỏi, nói gì đến những kẻ biến thái, có tâm địa xấu (không chỉ quấy rối tình dục mà còn trộm cặp, móc túi…).
Để mang đến cảm giác an toàn khi đi xe bus, ngành GTVT nói chung, các Công ty vận tải hành khách nói riêng phải nghiêm khắc tuyệt đối tuân thủ quy định về số lượng khách trên xe, không để vượt quá quy định… Cần phải tăng cường số lượng xe bus, sắp xếp tổ chức tuyến xe thật khoa học theo giờ (như giờ cao điểm tăng xe, tăng chuyến, khoảng cách  giữa các chuyến ngắn..)
Ngoài ra vấn đề giáo dục ý thức ứng xử ở nơi công cộng cho người dân cũng là chuyện càn làm, có thể nói không với những chuyến xe nêm chặt người, không nên xô đẩy chen lấn, ứng xử văn minh văn hóa với phụ nữ, và dũng cảm lên án những hành vi xấu( hoặc là nạn nhân, hay người chứng kiến), không nên im lặng, làm ngơ…
Có những chế tài nghiêm khắc xử phạt những hành vi quấy rối tình dục trên phương tiên giao thông công cộng, vi phạm luật như trộm cắp, móc túi, bạo hành, cố tính gây mất trật tự …
Ý kiến của Tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu về vấn đề “xe bus nữ” rất đáng chú ý: Vấn đề là phụ nữ và xã hội phải biết phản ứng và chống lại quấy rối tình dục chứ không phải giải quyết bằng cách bảo vệ như thế. Tôi sẽ rất xấu hổ nếu phải đi tuyến xe bus riêng vì nguyên nhân này!
Đúng vậy, quan trọng là người phụ nữ cần có thái độ phản ứng và dám chống lại hành vi quấy rối tình dục.
Xem thêm…

Mạng người: quý giá và rẻ mạt

06:11 |
 Đoàn Khắc Xuyên


Cứu người bị kẹt trong sự cố sập hầm ở thủy điện Đạ Dâng, Lâm Đồng giữa tháng 12 vừa qua. Ảnh giadinhonline.vn



Nửa cuối tháng 12, khi trong không gian bắt đầu âm vang những giai điệu du dương của mùa Giáng sinh hòa cùng thông điệp “Bình an dưới thế cho người thiện tâm”, khi trên các đường phố đã bắt đầu rậm rịch không khí mua sắm mùa cuối năm thì hàng triệu con tim người Việt lại thắc thỏm từng ngày, từng giờ, từng phút với 12 con người bị kẹt trong đường hầm thủy điện Đạ Dâng, Lâm Đồng. Để rồi, khi 12 công nhân được cứu thoát vào chiều 19-2 sau 82 giờ bị kẹt trong bóng tối dưới đường hầm bị sập thì niềm vui như vỡ òa trên cả nước. 90 triệu người, 90 triệu con tim như được nối kết, như cùng nhịp đập với 12 sinh mạng quý giá kia.
Thế nhưng, cũng trong ngày 19-12 đó, vào tối khuya tại xã Thạch Bình, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa người dân đã đánh chết tại chỗ hai thanh niên và đánh trọng thương hai người khác vì bắt trộm chó của dân làng. Đây không phải là lần đầu tiên những kẻ trộm chó bị người dân phẫn nộ ra tay đánh chết tại chỗ hoặc chết trên đường đi cấp cứu, nhưng số lượng kẻ trộm chó bị đánh chết và bị thương lần này nhiều hơn những lần trước. Tuy nhiên, cái tin khủng khiếp này đã nhanh chóng bị chìm lấp đi giữa bao nhiêu tin tức thời sự khác, cả trong và ngoài nước. Bởi, qua rạng sáng 20-12, Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã bắt được Trần Văn Điểm (27 tuổi, quê Hải Dương), nghi can dùng dao đâm chết anh Trần Minh Phước, người phát cơm chay từ thiện tại vòng xoay Lê Văn Sung – Phạm Đình Hổ, TPHCM ngày 10-8-2014, khi Điểm đang lẩn trốn tại TPHCM. Trước khi bị bắt, chỉ trong vòng một tháng rưỡi Điểm đã kịp lạnh lùng gây thêm ba vụ giết người, cướp của tại ba tỉnh thành khác nhau: Bà Rịa – Vũng Tàu, Quảng Ngãi và Hải Phòng.Đã đành những kẻ bị đánh chết và bị thương trong vụ trộm chó ở Thanh Hóa là những kẻ cắp, nhưng vẫn thật khó mà hiểu được vì sao giá trị của mạng người lại khác biệt đến thế giữa hai trường hợp: trong vụ sập hầm thủy điện Đạ Dâng người ta nhận thức sự quý giá của mạng sống con người cao đến đâu thì trong vụ “hành quyết” tại chỗ hai kẻ trộm chó, mạng sống của con người lại bị coi rẻ bấy nhiêu, cho dù đó là những kẻ cắp.
Nhìn hai cái xác kẻ trộm chó nằm úp trên xe cảnh sát sau khi vụ việc đã xong, người ta không thể không bật ra câu hỏi: vì sao mạng người rẻ mạt đến vậy? Điều gì đã khiến cho cả kẻ trộm chó và người bị trộm coi rẻ mạng mình và mạng người đến vậy? Rẻ mạt trước hết ngay đối với những kẻ trộm chó khi họ bất chấp mạng sống của mình chỉ để đổi lấy một ít tiền bằng giá một con chó đi vào quán nhậu. Và rẻ mạt đối với những người bị mất chó, những người dễ dàng lấy đi một sinh mạng để bù vào khoản tài sản bị thiệt hại mà không cần đến sự phân xử của luật pháp trong khi họ hoàn toàn có thể bắt và giao nộp kẻ trộm chó cho công an, chờ tòa xử. Dù có biện minh cách nào (bức xúc vì mất vật nuôi, vì kẻ trộm nhiều lần ra tay mà không bị trừng phạt…) thì việc tự tiện lấy đi sinh mạng của người khác mà không chờ tiếng nói của công lý cũng là môt việc làm trái pháp luật, trái đạo lý.
Nếu là bạn, được người ta giao nộp kẻ trộm chó của bạn, liệu bạn có đủ can đảm hay sự độc ác để xuống tay lấy đi mạng sống của một con người cho dù người đó có xâm phạm tài sản của bạn (là một con chó)? Nếu không, thật khó chấp nhận đám đông trong cơn kích động lại có thể dễ dàng lấy đi mạng sống của một con người, dù đó là một kẻ cắp. Nếu phải đền tội, những kẻ cắp này sẽ phải đền tội không phải trước tòa án của đám đông phẫn nộ mà trước tòa án công lý, không thể chết vì luật rừng mà phải bị trừng phạt theo đúng pháp luật. Nếu chấp nhận luật rừng, luật rừng sẽ nhanh chóng lan ra như lửa gặp gió và không ai có thể biết được xã hội lúc ấy sẽ hỗn loạn thế nào. Và trong sự hỗn loạn ấy, biết đâu sẽ không chỉ có thêm những kẻ trộm chó bị đánh chết không cần ra tòa xử mà còn có thể có thêm những Trần Văn Điểm khác giết người như ngóe khi mà luật rừng, bạo lực, cái ác đã khuynh đảo cả xã hội.
Chúng ta vẫn thường kêu lên hai tiếng “man rợ” khi nghe tin đâu đó tại một nước châu Á hay Trung Đông đám đông ném đá xử tử hình những kẻ vi phạm luật tục của bộ tộc hay làng xã mà không cần tới tòa án. Những vụ hành quyết tập thể những kẻ trộm chó liệu có khác? Xã hội chúng ta đang ở đâu và đang đi về đâu khi mạng người bị coi rẻ đến vậy? Luật pháp đi đâu khi không thể ngăn người dân tự xử theo luật rừng? Và liệu có cách nào để đảo ngược chiều hướng ngày càng xấu này?
Xem thêm…

Vụ giẫm đạp ở Thượng Hải bộc lộ quản lý yếu kém của Trung Quốc

18:46 |

 
Công an làm hàng rào ngăn cản ở đại lộ Bund, nơi xảy ra thảm họa giẫm đạp, 02/01/2015. REUTERS/Aly Song
 
Con số hàng mấy chục người thiệt mạng trong vụ chen lấn dịp Tết Dương lịch ở Thượng Hải vừa qua, đã đưa ra ánh sáng những điểm yếu của một nước Trung Quốc đang phát triển mạnh, nhưng chính quyền cộng sản không thích ứng kịp với nhịp độ thay đổi nhanh chóng của xã hội.
Tối thứ Tư 31/12/2014, chỉ ít lâu trước khi bước sang năm mới 2015, thay vì một cuộc tập hợp hoan hỉ, yên bình mừng năm mới tại thủ đô kinh tế Trung Quốc, sự kiện này đã trở thành một cuộc hỗn loạn chết người, nơi người ta đã mang ra 36 xác chết. 
Vụ giẫm đạp trong đám đông tại Bund, đại lộ lịch sử bên bờ sông Hoàng Phố, cũng đã làm cho 49 người bị thương. Đây là thảm kịch tệ hại nhất tại Thượng Hải, từ sau vụ hỏa hoạn ở một tòa nhà chọc trời năm 2010 làm cho 58 người thiệt mạng. 
Li Juan chỉ đứng cách cô em gái Li Na có vài mét, nhưng đành phải bất lực nhìn cô giữ trẻ thở hơi cuối cùng. Anh rơi lệ khi nói với AFP : « Tôi không thể tin được là em gái tôi không còn nữa. Chính quyền phải chịu trách nhiệm về thảm kịch này ! Chỉ có vài công an đứng rải rác dọc theo đại lộ Bund ». 
Một video nghiệp dư đăng trên trang sina.com cho thấy một đám đông khổng lồ rất hỗn độn, đang đông đảo lên một cách bất ngờ, chen lấn nhau trên các bậc thang dẫn lên con đường dạo mát Bund chạy dọc theo dòng sông Hoàng Phố. Trong đám đông hỗn độn này, một vài nhân viên công an hiếm hoi tỏ ra bất lực trong việc ngăn cản những kẻ đang xô đẩy người khác, trong lúc các nạn nhân đã bất tỉnh. 
Một viên chức cao cấp của công an Thượng Hải, Cai Lixin, được nêu tên trên một trang mạng nhà nước, đã nhìn nhận rằng do không có « các sự kiện được chính thức tổ chức » ở địa điểm phổ biến này, nên lực lượng an ninh được bố trí ít hơn rất nhiều so với buổi lễ quốc khánh năm ngoái. Nhận định này sau đó đã bị xóa mất. 
Ngành công an tự biện hộ bằng việc khẳng định là đã gởi 700 nhân viên đến tại chỗ, sau khi thảm kịch đã xảy ra. 
Năm ngoái, khoảng 300.000 người đã tụ tập tại đại lộ Bund để mừng năm mới. Lượng người đi vui chơi năm nay đã tăng vọt. Tối qua Tân Hoa Xã nhìn nhận : « Chính quyền Thượng Hải đã phải lãnh một trận bão chỉ trích vì không có được những biện pháp dự phòng cần thiết ». 
Đối với những người dân Thượng Hải được AFP tiếp xúc tại chỗ, thì không có gì phải nghi ngờ : chính quyền chính là thủ phạm, do việc quản lý quá tệ hại những cuộc tụ tập đông người ; trong một đất nước mà chỉ những cuộc mít-tinh lớn do chính đảng Cộng sản tổ chức mới được cho phép. 
Theo các nhân chứng, số lượng người đông đảo và tâm lý hoảng loạn đã ngăn trở sự can thiệp của lực lượng cứu hộ, đặc biệt là các xe cứu thương không vào được. 
Một cư dân mạng có biệt danh Shenshan Laohan 96886 viết : « Tôi tin rằng đây là một vụ điển hình cho sự thiếu trách nhiệm của các cơ quan chính phủ phụ trách vấn đề an ninh. Họ đã đánh giá quá thấp tình hình, và đã thất bại trong việc sử dụng những biện pháp cần phải thực hiện tại chỗ ». 
Cai Jinjin thổ lộ sau cái chết của cô em họ Qi Xiaoyan, 21 tuổi, từ tỉnh An Huy lên chơi ba ngày trước đó : « Tôi chưa bao giờ tin nổi là một vụ như thế lại có thể xảy ra tại Thượng Hải ». 
Trong một chỉ trích hiếm hoi, Tân Hoa Xã cho rằng thảm kịch trên là « một tín hiệu báo động, nhắc nhở cho nền kinh tế thứ nhì thế giới : Trung Quốc vẫn luôn là một quốc gia đang phát triển, và việc quản lý các vấn đề xã hội rất yếu kém. Tại các nước phát triển, rất hiếm khi những sự cố tương tự lại gây ra thiệt hại nặng nề như thế ». 
Hôm qua, thứ Sáu 02/01/2015, chính quyền đã nhận diện được 32 trên tổng số 36 người bị thiệt mạng. Nạn nhân trẻ nhất là một cậu bé 12 tuổi. Tổng cộng có 28 nạn nhân từ 25 tuổi trở xuống, và 21 người trong số đó là nữ giới. 
« Tại bệnh viện, chúng tôi đã phải chờ đợi từ nửa đêm cho đến tận 21 giờ tối hôm sau mà không có bất cứ một thông tin nào, cho đến khi người ta bảo tôi hãy đến nhà tang lễ để nhận xác chồng tôi » - Fan Ping kể lại. Chồng của cô là Du Shuanghua, chết đi ở tuổi 37, là người cao tuổi nhất trong số các nạn nhân. Cô chưa dám nói gì với đứa con trai độc nhất mới lên tám. 
Tại nhà quàn, các gia đình hết sức đau buồn, một phụ nữ đã ngất đi vì tuyệt vọng. Một người cha đau khổ nói : « Con trai tôi đang nằm trong đó, tôi không thể nào tin được ». Xu Jianzhong, một tài xế taxi nhận xét : « Chắc chắn đại đa số các nạn nhân đều là con một trong gia đình ». 
Trong những năm gần đây, Thượng Hải được coi là tủ kính biểu trưng cho sự thành công của Trung Quốc, với khu phố siêu hiện đại Phố Đông (Pudong), hệ thống xe điện ngầm hàng đầu thế giới, xe lửa từ tính và thị trường chứng khoán đã đạt kỷ lục năm 2014. 
Mặt trái của sự thành công « là vấn đề quản lý » - đó là nhận xét của nhà kinh tế Andy Xie, mà nguyên quán là đại đô thị 24 triệu dân, chưa kể số lượng người nhập cư. Ông nói : « Tất cả những người đổ vào thành phố đã gây ra các vấn đề xã hội. Quản lý Thượng Hải không phải là chuyện dễ dàng, không có thành phố nào tương tự như vậy trên thế giới ».
Xem thêm…

HÀNH TRÌNH TÌM KIẾM CHÚA

17:49 |

  CHÚA NHẬT 04.01 CHÚA HIỂN LINH. 

Lễ trọng



Xem thêm…

Gợi ý suy niệm Phúc Âm Chúa Nhật Lễ Hiển Linh - năm B (2015)

06:19 |

Epiphany
 
Reading I: Isaiah 60:1-6
 
Reading II: Ephesians 3:2-3,5-6

Lễ Hiển Linh
 
Bài Đọc I: Isaia 60,1-6

 Bài Đọc II: Êphêsô 3,2-3.5-6

Gospel
Matthew 2:1-12
1 Now when Jesus was born in Bethlehem of Judea in the days of Herod the king, behold, wise men from the East came to Jerusalem, saying,
2 "Where is he who has been born king of the Jews? For we have seen his star in the East, and have come to worship him."
3 When Herod the king heard this, he was troubled, and all Jerusalem with him;
4 and assembling all the chief priests and scribes of the people, he inquired of them where the Christ was to be born.
5 They told him, "In Bethlehem of Judea; for so it is written by the prophet:
6 'And you, O Bethlehem, in the land of Judah, are by no means least among the rulers of Judah; for from you shall come a ruler who will govern my people Israel.'"
7 Then Herod summoned the wise men secretly and ascertained from them what time the star appeared;
8 and he sent them to Bethlehem, saying, "Go and search diligently for the child, and when you have found him bring me word, that I too may come and worship him."
9 When they had heard the king they went their way; and lo, the star which they had seen in the East went before them, till it came to rest over the place where the child was.
10 When they saw the star, they rejoiced exceedingly with great joy;
11 and going into the house they saw the child with Mary his mother, and they fell down and worshiped him. Then, opening their treasures, they offered him gifts, gold and frankincense and myrrh.
12 And being warned in a dream not to return to Herod, they departed to their own country by another way
Phúc Âm
Mátthêu 2,1-12
1 Khi Chúa Giêsu ra đời tại Bêlem, miền Giu đê, thời vua Hêrôđê trị vì, có mấy nhà hiền sĩ từ phương Đông đến Giêrusalem,
2 và hỏi: "Đức Vua dân Do Thái mới sinh hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người."
3 Nghe tin ấy, vua Hêrôđê bối rối, và cả thành Giêrusalem cũng xôn xao.
4 Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế, các kinh sư trong dân lại, và hỏi cho biết Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu.
5 Họ trả lời: "Tại Bêlem, miền Giu đê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng:
6 Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giu đa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Israel dân ta sẽ ra đời".
7 Bấy giờ vua Hêrôđê bí mật vời các nhà hiền sĩ đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện.
8 Rồi vua phái các vị ấy đi Bêlem và dặn rằng: "Xin qúy ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người."
9 Nghe nhà vua nói thế, họ ra đi. Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông, lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại.
10 Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng.
11 Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình bái lạy Người, rồi mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và một dược mà dâng tiến.
12 Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình.
Interesting Details 
  • Bethlehem is a small town six miles south ofJerusalem.
  • Israel was ruled by the Romans and King Herod was the Roman appointed ruler of Palestine. He maintained law and order with cruelty. The Jews were waiting for a Savior to come.
  • The ancients believed that each person was represented by a star at birth.
  • The Magi belonged to a priestly caste in Persiawhere their principal task was to be intellectual and religious advisers to the Persian kings. They were trained in philosophy, medicine, and above all in astronomy.
  • The meanings of the gifts:
1. Gold: In the ancient time, gold was considered as a precious metal reserved only for the royalty. Gold is offered to infant Jesus as the king.
2. Frankincense: Incense has always been a favorite part of religious ritual not only for its air-sweetening power but also because the rising plumes of smoke seems to be visible prayers bridging heaven and earth. The gift of frankincense adverts to Christ's priestly role.
3. Myrrh: Myrrh is used to heal and embalm death body. The gift of myrrh implies the human nature of the infant Jesus and also announces his future death.
Chi Tiết Hay
  • Bê-lem, nơi Chúa sinh ra là một thôn làng nhỏ cách Giê-ru-sa-lem 6 dặm về phía nam.
  • Ít-ra-en thời ấy bị đế quốc Rô-ma đô hộ. Hê-rô-đê được Rô-ma bổ nhiệm cai trị xứ Pa-lét-tin. Ông nổi tiếng là người tàn bạo.
  • Dân chúng thời đó tin rằng mỗi người có một ngôi sao chiếu mệnh.
  • Ba nhà hiền sĩ đến từ vùng Tiểu Á. Họ là những người thông thái. Sở trường của họ là nghiên cứu về khoa chiêm tinh và được xem là cố vấn của nhà vua về đời và đạo. Họ theo ánh sao đi tìm sự xuất hiện của một Đấng Cứu Thế.
  • Ý nghĩa của lễ vật:
1. Vàng - Thời xưa, vàng có tính cách quý báu và cao sang, chỉ dành cho vua chúa. Vàng có ý nói Chúa Giêsu hài đồng là Vua.
2. Nhũ Hương - Trầm hương chỉ dùng trong việc tế lễ. Hơn thế nửa, trầm hương ở đây nói lên sự ca ngợi và thờ lạy. Trầm hương có ý nói Chúa hài đồng là Thiên Chúa.
3. Một dược - Một dược dùng để chữa lành người bệnh và tẩm liệm thi thể người chết thời đó. Một dược nói lên nhân tính của hài nhi và cái chết sau này của Chúa Giêsu.
One Main Point 
The visitation of the Persian Magi is regarded as the revelation of God to the world. God invites all, both Jews and Gentiles, to share equally the salvation brought by Christ.
Một Điểm Chính 
Sự viếng thăm của ba nhà hiền sĩ được coi là cách Thiên Chúa dùng để tỏ mình ra cho nhân loại. Chúa mời gọi mọi người, cả Do Thái lẫn người ngoại giáo, cùng đến nhận lãnh ơn cứu rỗi.
Reflections
  1. What do I think about the Magi? What do they impress me most?
  2. If the infant Christ is born today, what presents do I offer Him?
  3. The infant Christ was born in the manger and revealed himself to the three Magi and to the uneducated shepherds. How do I "reveal" myself to others? How do I treat others?
  4. After the encounter with God, the three Magi returned home via another route. Believe in God, which "path" do I take in my daily life?
  5. God called for the Magi via a simple symbol, a star. This star was the main reason that attracted their attention. In my daily life, how do I recognize God's wills?
  6. The three Magi recognized God through the image of an infant born in the manger. How does my daily life reflect the image of God?
Suy Niệm
  1. Tôi nghĩ gì về ba nhà hiền sĩ? Điều gì ở họ làm tôi xúc động nhất?
  2. Tôi có lễ vật gì tặng Chúa Hài Đồng nếu Ngài sinh ra ngày hôm nay?
  3. Chúa sinh ra nơi máng cỏ và tỏ mình ra với ba nhà hiền sĩ thông thái và nhiều mục đồng dốt nát. Là một Kitô hữu, tôi đã "tỏ mình" ra như thế nào với mọi người chung quanh tôi? Tôi có khinh bỉ những ai không bằng tôi (địa vị, học thức, tài chánh, kiến thức...)?
  4. Sau khi gặp Chúa rồi, ba nhà hiền sĩ trở về bằng lối khác. "Gặp Chúa" qua đức tin, tôi đã chọn con đường nào trong cuộc sống hằng ngày?
  5. Chúa đã kêu gọi ba nhà hiền sĩ bằng một dấu hiệu quen thuộc với họ trong ngành chiêm tinh, đo là một ngôi sao. Trong đời sống và việc làm thường nhật, để hiểu Thánh ý Chúa, tôi đã nhận ra dấu hiệu nào?
  6. Ba nhà hiền sĩ nhận thấy Chúa qua hình ảnh một hài nhi nằm trong máng cỏ. Lối sống của tôi đã thể hiện hình ảnh nào để cho mọi người thấy được Chúa ở trong tôi?
 
Xem thêm…

Án tử hình oan và làn sóng cải cách luật pháp ở Trung Quốc (phần 3 và hết)

02:31 |

Nguyễn Huyền Trang

 Các bản án oan sai cho thấy nhiều lỗ hổng trong hệ thống pháp lý của Trung Quốc, từ việc dùng cực hình, bức cung nghi can, đến việc sử dụng pháp luật làm công cụ trả đũa luật sư biện hộ, đến sự thiếu độc lập và vô tư trong hoạt động xét xử giữa ba bên điều tra, công tố và tòa án. Luật Khoa tạp chí xin giới thiệu phần cuối báo cáo về cải cách tư pháp ở Trung Quốc: Những bài học từ các vụ án oan sai.
Để khắc phục những sai sót dẫn đến các vụ án oan sai, Trung Quốc cần hướng đến một giải pháp cải cách pháp lý toàn diện, thúc đẩy hệ thống tranh tụng thay thế cho hệ thống tố tụng và minh bạch hóa hoạt động điều tra, xét xử.
Cải cách toàn diện hệ thống pháp lý
Trung Quốc cần một hướng tiếp cận toàn diện để đặt dấu chấm hết cho lề lối làm việc truyền thống. Đất nước này cần cải cách toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự bởi việc đưa ra các biện pháp ngăn ngừa tình trạng kết án oan sai sẽ là bất khả nếu như cải cách hoạt động tố tụng hình sự không đi liền với cải cách toàn bộ hệ thống pháp lý.
Trước hết, cần có một sự chuyển đổi giá trị trong các cuộc cải cách pháp lý của Trung Quốc. Thay vì tập trung vào mục đích trấn áp, kiểm soát tội phạm, cải cách pháp lý ở đất nước này cần hướng đến sự cân bằng giữa mục đích duy trì trật tự xã hội và bảo vệ quyền cũng như lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan. Văn hóa trấn áp, kiểm soát tội phạm là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng mô hình tranh tụng chưa phát huy được hiệu quả trên thực tế, dù đã được đưa vào luật từ năm 1996.
Ngoài ra, như có thể thấy qua các vụ án oan sai ở Trung Quốc, một nguyên nhân khiến người vô tội phải nhận án oan là hoạt động điều tra, xét xử thường được thực hiện trên giả định có tội thay vì vô tội. Vì giả định có tội, nên lực lượng điều tra tìm mọi phương cách để thu thập chứng cứ có lợi cho hướng điều tra của mình, bất kể phương cách đó vi phạm pháp luật. Cả She Xianglin và Zhao Zouhai đều bị dùng cực hình – họ bị thẩm vấn liên tục suốt một thời gian dài, không được nghỉ ngơi, không được ăn uống đủ, thậm chí bị đánh đập, hăm dọa. Cũng vì giả định có tội, nên các thẩm phán có xu hướng “thà giết nhầm còn hơn bỏ sót”, sẵn sàng kết án người vô tội, thay vì tuyên trắng án khi vụ án xuất hiện những dấu hiệu đáng ngờ.
Có nhiều ý kiến cho rằng trở ngại lớn nhất mà Trung Quốc phải đối mặt không phải là đưa ra các điều luật mới, mà là ở việc triển khai các điều luật đó. Vì vậy, để các cải cách pháp lý phát huy hiệu quả, những động cơ khiến cơ quan điều tra, công tố và tòa án tập trung vào mục tiêu đạt được tỷ lệ phá án, xử án cao phải được loại bỏ. Thực thi công lý cần phải là mục tiêu cao nhất trong công tác điều tra, xét xử.
 

Bức ảnh nổi tiếng của Reuteurs: Một tử tù nữ, người Quảng Châu, gào thét trước giờ hành hình.
Xây dựng hệ thống pháp lý minh bạch, độc lập
Không chỉ giúp khôi phục niềm tin của người dân vào hệ thống pháp lý, tăng cường tính minh bạch còn là điều kiện cần để tránh tình trạng xử oan người vô tội. Ngoài ra, minh bạch hóa hoạt động điều tra, xét xử cũng cho phép giám sát toàn hệ thống pháp lý một cách hiệu quả và rộng khắp, từ đó tránh được tình trạng lạm dụng chức quyền từ phía các nhà chức trách.
Như có thể thấy, một dấu hỏi nổi bật hẳn lên trong các vụ án oan sai là những lời phản cung của bị can tại tòa. Trong vụ Zhao Zhouhai, Zhao đã nhận tội tất cả 9 lần. Nhưng sau mỗi lần kết thúc thẩm vấn, Zhao đều phản cung và cho biết đã bị tra tấn cho đến khi chịu nhận tội. Để tránh tình trạng bức cung, việc ghi hình các phiên thẩm vấn và phát lại băng hình thẩm vấn như một chứng cứ phục vụ xét xử là cần thiết.
Tiến trình minh bạch hóa cũng cần được thúc đẩy qua việc tăng cường hơn nữa vai trò của luật sư biện hộ trong thủ tục tái thẩm án tử hình. Làn sóng cải cách pháp lý năm 2010 của Trung Quốc được đánh dấu bằng sự kiện Tòa án Nhân dân Tối cao khôi phục quyền tái thẩm các bản án tử hình. Tuy nhiên, thủ tục tái thẩm vẫn còn thô sơ và nhiều thiếu sót. Các tòa tái thẩm thường được tổ chức kín, thiếu hẳn thông tin từ phía biện hộ. Vì vậy, để hạn chế nguy cơ xảy ra án oan, các luật sư cần được tham gia và thực hiện vai trò biện hộ trong các phiên tòa tái thẩm.
Mối quan hệ khăng khít của cơ quan điều tra, công tố và tòa án, và sự lệ thuộc của các cơ quan này vào ủy ban nội chính cũng là một yếu tố khác làm tăng nguy cơ xảy ra án oan sai ở Trung Quốc. Từ lâu, mối quan hệ giữa cơ quan điều tra, công tố và tòa án đã được ví như ba chân kiềng, tuần tự và phối hợp cùng nhau trong hoạt động trấn áp, kiểm soát tội phạm. Thiếu sự kiểm tra và cân bằng, các cơ quan này không thể thực hiện tốt vai trò bảo vệ công lý, và thường đứng về cùng một phe trong cuộc chiến pháp lý với bị can và luật sư biện hộ.
Sự can thiệp của các ủy ban nội chính vào tiến trình tố tụng cũng đặt ra sức ép, buộc các cơ quan điều tra, công tố và tòa án phải phá án, xử án nhanh. Nếu không có áp lực từ ban nội chính địa phương, rất có thể She Xianglin sẽ không phải ngồi tù suốt cả chục năm. Nhiều nhân chứng lương tâm nhìn thấy vợ She bỏ đi, thậm chí có người đã giúp vợ She bắt đầu cuộc sống mới ở nơi khác, tuy nhiên tình tiết này không được cơ quan xét xử xem là chứng cứ của vụ án. Hệ thống pháp lý giống như một chiếc băng chuyền lắp ráp sản phẩm, và áp lực từ các ủy ban nội chính là nguồn thúc chiếc băng chuyền đó phải chạy thật nhanh để đi đến phán quyết, bất kể có những dấu hiệu cho thấy bị cáo có thể là người vô tội.
Các lỗ hổng pháp lý đưa đến nhiều hệ lụy, và việc kết án, thi hành án tử hình oan là hệ lụy mà người ta không thể sửa sai hay làm lại. Ngay cả khi những khuyến nghị cải cách trên được thực hiện, các bản án oan sai vẫn là một thực tế khó tránh. Vì vậy, xóa bỏ hoàn toàn án tử hình là tiến trình cần sớm được triển khai. Trong đó, những việc cần làm ngay trước mắt là hoãn thi hành các bản án tử hình đã tuyên và ngừng áp khung hình phạt tử hình, thay bằng hình phạt chung thân.
Lược dịch và tham khảo từ bài viết Death Penalty Reforms in China: Lessons from Wrongful Convictions? của tác giả JIANG Na và Trial in China Tests Limits of Legal System Reform (New York Times, 2011).

Nguyễn Huyền Trang
- Các bản án oan sai cho thấy nhiều lỗ hổng trong hệ thống pháp lý của Trung Quốc, từ việc dùng cực hình, bức cung nghi can, đến việc sử dụng pháp luật làm công cụ trả đũa luật sư biện hộ, đến sự thiếu độc lập và vô tư trong hoạt động xét xử giữa ba bên điều tra, công tố và tòa án. Luật Khoa tạp chí xin giới thiệu phần cuối báo cáo về cải cách tư pháp ở Trung Quốc: Những bài học từ các vụ án oan sai.
Để khắc phục những sai sót dẫn đến các vụ án oan sai, Trung Quốc cần hướng đến một giải pháp cải cách pháp lý toàn diện, thúc đẩy hệ thống tranh tụng thay thế cho hệ thống tố tụng và minh bạch hóa hoạt động điều tra, xét xử.
Cải cách toàn diện hệ thống pháp lý
Trung Quốc cần một hướng tiếp cận toàn diện để đặt dấu chấm hết cho lề lối làm việc truyền thống. Đất nước này cần cải cách toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự bởi việc đưa ra các biện pháp ngăn ngừa tình trạng kết án oan sai sẽ là bất khả nếu như cải cách hoạt động tố tụng hình sự không đi liền với cải cách toàn bộ hệ thống pháp lý.
Trước hết, cần có một sự chuyển đổi giá trị trong các cuộc cải cách pháp lý của Trung Quốc. Thay vì tập trung vào mục đích trấn áp, kiểm soát tội phạm, cải cách pháp lý ở đất nước này cần hướng đến sự cân bằng giữa mục đích duy trì trật tự xã hội và bảo vệ quyền cũng như lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan. Văn hóa trấn áp, kiểm soát tội phạm là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng mô hình tranh tụng chưa phát huy được hiệu quả trên thực tế, dù đã được đưa vào luật từ năm 1996.
Ngoài ra, như có thể thấy qua các vụ án oan sai ở Trung Quốc, một nguyên nhân khiến người vô tội phải nhận án oan là hoạt động điều tra, xét xử thường được thực hiện trên giả định có tội thay vì vô tội. Vì giả định có tội, nên lực lượng điều tra tìm mọi phương cách để thu thập chứng cứ có lợi cho hướng điều tra của mình, bất kể phương cách đó vi phạm pháp luật. Cả She Xianglin và Zhao Zouhai đều bị dùng cực hình – họ bị thẩm vấn liên tục suốt một thời gian dài, không được nghỉ ngơi, không được ăn uống đủ, thậm chí bị đánh đập, hăm dọa. Cũng vì giả định có tội, nên các thẩm phán có xu hướng “thà giết nhầm còn hơn bỏ sót”, sẵn sàng kết án người vô tội, thay vì tuyên trắng án khi vụ án xuất hiện những dấu hiệu đáng ngờ.
Có nhiều ý kiến cho rằng trở ngại lớn nhất mà Trung Quốc phải đối mặt không phải là đưa ra các điều luật mới, mà là ở việc triển khai các điều luật đó. Vì vậy, để các cải cách pháp lý phát huy hiệu quả, những động cơ khiến cơ quan điều tra, công tố và tòa án tập trung vào mục tiêu đạt được tỷ lệ phá án, xử án cao phải được loại bỏ. Thực thi công lý cần phải là mục tiêu cao nhất trong công tác điều tra, xét xử.
Bức ảnh nổi tiếng của Reuteurs: Một tử tù nữ, người Quảng Châu, gào thét trước giờ hành hình.
Bức ảnh nổi tiếng của Reuteurs: Một tử tù nữ, người Quảng Châu, gào thét trước giờ hành hình.
Xây dựng hệ thống pháp lý minh bạch, độc lập
Không chỉ giúp khôi phục niềm tin của người dân vào hệ thống pháp lý, tăng cường tính minh bạch còn là điều kiện cần để tránh tình trạng xử oan người vô tội. Ngoài ra, minh bạch hóa hoạt động điều tra, xét xử cũng cho phép giám sát toàn hệ thống pháp lý một cách hiệu quả và rộng khắp, từ đó tránh được tình trạng lạm dụng chức quyền từ phía các nhà chức trách.
Như có thể thấy, một dấu hỏi nổi bật hẳn lên trong các vụ án oan sai là những lời phản cung của bị can tại tòa. Trong vụ Zhao Zhouhai, Zhao đã nhận tội tất cả 9 lần. Nhưng sau mỗi lần kết thúc thẩm vấn, Zhao đều phản cung và cho biết đã bị tra tấn cho đến khi chịu nhận tội. Để tránh tình trạng bức cung, việc ghi hình các phiên thẩm vấn và phát lại băng hình thẩm vấn như một chứng cứ phục vụ xét xử là cần thiết.
Tiến trình minh bạch hóa cũng cần được thúc đẩy qua việc tăng cường hơn nữa vai trò của luật sư biện hộ trong thủ tục tái thẩm án tử hình. Làn sóng cải cách pháp lý năm 2010 của Trung Quốc được đánh dấu bằng sự kiện Tòa án Nhân dân Tối cao khôi phục quyền tái thẩm các bản án tử hình. Tuy nhiên, thủ tục tái thẩm vẫn còn thô sơ và nhiều thiếu sót. Các tòa tái thẩm thường được tổ chức kín, thiếu hẳn thông tin từ phía biện hộ. Vì vậy, để hạn chế nguy cơ xảy ra án oan, các luật sư cần được tham gia và thực hiện vai trò biện hộ trong các phiên tòa tái thẩm.
Mối quan hệ khăng khít của cơ quan điều tra, công tố và tòa án, và sự lệ thuộc của các cơ quan này vào ủy ban nội chính cũng là một yếu tố khác làm tăng nguy cơ xảy ra án oan sai ở Trung Quốc. Từ lâu, mối quan hệ giữa cơ quan điều tra, công tố và tòa án đã được ví như ba chân kiềng, tuần tự và phối hợp cùng nhau trong hoạt động trấn áp, kiểm soát tội phạm. Thiếu sự kiểm tra và cân bằng, các cơ quan này không thể thực hiện tốt vai trò bảo vệ công lý, và thường đứng về cùng một phe trong cuộc chiến pháp lý với bị can và luật sư biện hộ.
Sự can thiệp của các ủy ban nội chính vào tiến trình tố tụng cũng đặt ra sức ép, buộc các cơ quan điều tra, công tố và tòa án phải phá án, xử án nhanh. Nếu không có áp lực từ ban nội chính địa phương, rất có thể She Xianglin sẽ không phải ngồi tù suốt cả chục năm. Nhiều nhân chứng lương tâm nhìn thấy vợ She bỏ đi, thậm chí có người đã giúp vợ She bắt đầu cuộc sống mới ở nơi khác, tuy nhiên tình tiết này không được cơ quan xét xử xem là chứng cứ của vụ án. Hệ thống pháp lý giống như một chiếc băng chuyền lắp ráp sản phẩm, và áp lực từ các ủy ban nội chính là nguồn thúc chiếc băng chuyền đó phải chạy thật nhanh để đi đến phán quyết, bất kể có những dấu hiệu cho thấy bị cáo có thể là người vô tội.
Các lỗ hổng pháp lý đưa đến nhiều hệ lụy, và việc kết án, thi hành án tử hình oan là hệ lụy mà người ta không thể sửa sai hay làm lại. Ngay cả khi những khuyến nghị cải cách trên được thực hiện, các bản án oan sai vẫn là một thực tế khó tránh. Vì vậy, xóa bỏ hoàn toàn án tử hình là tiến trình cần sớm được triển khai. Trong đó, những việc cần làm ngay trước mắt là hoãn thi hành các bản án tử hình đã tuyên và ngừng áp khung hình phạt tử hình, thay bằng hình phạt chung thân.
Lược dịch và tham khảo từ bài viết Death Penalty Reforms in China: Lessons from Wrongful Convictions? của tác giả JIANG Na và Trial in China Tests Limits of Legal System Reform (New York Times, 2011). 
Xem thêm…

Buôn Thần Bán Thánh!?

02:23 |
TS. Nguyễn Xuân Diện:"Về vấn đề lễ hội, có 2 lễ hội do tỉnh dựng lên, bịa đặt hoàn toàn là Lễ hội Phát ấn đền Trần ở Nam Định và Lễ hội Phát lương Đền Trần Thương ở tỉnh Hà Nam. Cả hai lễ hội này đều là lừa bịp và xuyên tạc lịch sử, đã được nhiều nhà khoa học, nhiều nhà quản lý lên tiếng cảnh báo. Hai lễ hội này đều diễn ra vào đêm 14 rạng sáng Rằm Tháng Giêng âm lịch hàng năm. 

Thiết tha đề nghị các ông Nguyễn Thiện Nhân (GS.TS, Chủ tịch UB TƯ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam), Trần Đại Quang (Giáo sư, Tiến sĩ, Bộ trưởng Bộ Công An) không nên đến lễ hội phát ấn đền Trần (Nam Định) vào đêm 14 rạng ngày Rằm để thực hiện nghi lễ đóng ấn.

Cũng đề nghị Bà Nguyễn Thị Doan, Giáo sư, Tiến sĩ, Phó chủ tịch nước không đến phát lương ở đền Trần Thương (Hà Nam) vào đêm 14 rạng sáng Rằm Tháng Giêng. 

Chúng tôi nghĩ rằng các vị đều là những nhà trí thức, đều là Giáo sư, Tiến sĩ không nên cổ xúy cho các lễ hội có nhiều dàn dựng khuất tất để thổi phồng tầm vóc nhằm trục lợi của hai tỉnh Hà Nam và Nam Định. "
Xem thêm…

LÒNG TIN

03:41 |
LÒNG TIN

1. Lời Chúa (Lc 17,5-10)
Các Tông Đồ thưa với Chúa Giê-su rằng : "Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con." Chúa  đáp : "Nếu anh em có  lòng tin lớn bằng hạt cải, thì  dù anh em có bảo cây dâu này : ' Hãy bật rễ  lên, xuống dưới biển kia mà  mọc', nó cũng sẽ vâng lời anh em.
2. Suy niệm
Bài Tin mừng chúng ta vừa nghe, các môn đệ đã xin Chúa “thêm lòng tin cho chúng con”. Chúa đáp : “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải”. Nếu chúng ta nhận ra đức tin của mình, đức tin chỉ bằng hạt cải thôi, chúng ta có thể làm được mọi sự. Điều quan trọng là mỗi người phải biết tin tưởng và phó thác Thiên Chúa. Lòng tin nhỏ bé bao nhiêu, đó không thành vấn đề ; khi nào có lòng tin đích thực, thì những điều đặc biệt có thể xảy ra và thật sự xảy ra. Thư Do thái cho chúng ta biết : “Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy”1Vì  thế :
Ơn cứu độ đã đến cho ta như  một hy vọng. Hy vọng mà thấy được thì đâu còn gì là hy vọng nữa ! Nhưng thực ta hy vọng điều ta không thấy thì ta kiên nhẫn đợi trông”(Rm 8,24-25).
Có  thể nói được rằng, làm sao chúng ta có thể đo lường đức tin theo cách nào đó? Đưc Giêsu muốn chúng ta vững tin nơi Ngài và bước đi trong hành trình đời mình với sự xác tín rằng, trong Thần Khí của Ngài, Ngài vẫn luôn đồng hành với ta.
Cũng như các tông đồ ngày xưa, chúng ta hãy xin Chúa thêm sức mạnh nội tâm cho chúng ta hôm nay.
Kính thưa cộng đoàn, một cách nào đó thánh Martin cũng đã tin tưởng và phó thác mọi sự trong tay Thiên Chúa, ngài đã làm mọi việc chỉ vì mến Chúa và yêu người, ngài  đã dùng khả năng Chúa ban mà giúp đỡ bao người nghèo khổ, bệnh tật.
Thánh Martin biết chấp nhận thân phận của mình, để rồi từ đó vượt thắng trên tất cả để sống và đem niềm vui, hạnh phúc nước trời cho những con người bần cùng, đói rách, khốn khổ, nghèo nàn khắp nơi ngài đặt chân đến.
Một cách nào đó, thánh Martin đã nhìn thấy được hình ảnh Đức Giêsu hấp hối nơi những con người dở sống dở chết trong xã hội. Ngài đã cảm nhận được nỗi đau quằn quại nơi những con người bệnh hoạn, tật nguyền. Ngài cảm nhận được sự tê tái, giá buốt của Con Người nơi những con người nghèo đói, rách nát của xã hội. Ngài cảm nhận được nỗi cô đơn, tủi nhục nơi những con người cùng đinh của xã hội. Và thánh Martino đã nhận ra con người Giêsu đang vật vã đớn đau nơi những con người yếu đuối không thể bám víu vào ai được. 

Lời cầu
Chúa là ánh sáng muôn dân và là Thầy dạy dạy sự thánh thiện, – nhờ lời chuyển cầu của thánh Martin, xin ban cho chúng con gắn bó với đức tin chân chính, và giúp chúng con loan báo Danh Chúa đến tận cùng thế giới.
Chúa đã truyền cho các môn đệ Chúa nhiệt thành tuân giữ luật bác ái, – nhờ lời chuyển cầu của thánh Martin, xin giúp chúng con biết đem hạnh phúc đến cho mọi người.
Chúa là viên đá bị thợ xây loại bỏ, nhưng đã trở thành nền tảng của Hội thánh, – nhờ lời chuyển cầu của thánh Martin, xin cho chúng con cũng trở thành những viên đá sống động để xây dựng Hội thánh ở trần gian.
Xem thêm…

Chương X GIÁ TRỊ CỦA HÔN NHÂN ĐƠN NHẤT VÀ BẤT KHẢ PHÂN LY DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA CÁC CHƯƠNG ĐẦU SÁCH SÁNG THẾ

22:54 |
Chương X

GIÁ TRỊ CỦA HÔN NHÂN ĐƠN NHẤT VÀ BẤT KHẢ PHÂN LY
DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA CÁC CHƯƠNG ĐẦU SÁCH SÁNG THẾ


1. Chúng ta nhớ rằng Đức Kitô, khi bị chất vấn về sự đơn nhất và bất khả phân ly của hôn nhân, đã quy chiếu về điều vốn có «từ thuở ban đầu». Người đã trích dẫn những lời ghi trong những chương đầu của sách Sáng thế. Bởi thế trong bài suy tư hôm nay chúng ta thử đào sâu ý nghĩa đặc biệt của những lời này và những chương này.

Người ta thấy được ý nghĩa của sự hợp nhất nguyên thủy của con người (nhất là dưới ánh sáng của đoạn sách St 2,23) - là loài đã được Chúa tạo dựng có nam có nữ - nhờ việc hiểu biết con người trong toàn thể gia sản hữu thể được phú ban, nghĩa là trong tất cả sự phong phú của mầu nhiệm tạo dựng vốn nằm ở nền tảng của nhân học thần học. Để tìm hiểu con người, để nhận biết căn tính của con người, kẻ «cô đơn» từ thuở ban đầu, ta cần phải đi qua lưỡng thể tính (dualità), tìm hiểu về sự «hiệp thông».

Ta hãy nhớ lại đoạn sách St 2,23 : «Bấy giờ con người nói : “Này đây, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi ! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút ra từ đàn ông”». Đoạn văn này cho ta thấy rằng để hiểu con người cần phải đi qua giới tính (nam và nữ). Người nam và người nữ như là hai «hiện thân» của cùng một nỗi đơn độc siêu hình, đơn độc trước Thiên Chúa và trước thế giới. Đó như là hai cách thức của «thân xác» và đồng thời cũng là hai cách thức làm người bổ túc cho nhau, như là hai chiều kích tương hỗ của sự tự biết mình và tự xác định mình và, đồng thời như là hai cách thế hỗ tương để ý thức về ý nghĩa của thân xác. Như đoạn St 2,23 đã cho thấy, theo một nghĩa nào đó, người nữ nhận ra chính mình khi đứng trước người nam, còn người nam được khẳng định mình nhờ người nữ. Chính chức năng của giới tính, vốn là «yếu tố làm nên nhân vị» (chứ không chỉ là «thuộc tính của nhân vị») theo một nghĩa nào đó, cho thấy con người sâu thẳm là dường nào, làm người với tất cả nỗi đơn độc tinh thần của mình, với một ngôi vị tính độc nhất vô song, được cấu thành nhờ thân xác là «nam» hay là «nữ». Sự hiện diện của yếu tố người nữ bên cạnh người nam, và cùng với người nam, có ý nghĩa là làm cho con người nên phong phú trong toàn thể viễn tượng lịch sử của mình, gồm cả trong đó là lịch sử cứu độ. Toàn bộ giáo huấn về sự hợp nhất này tự nguyên thủy vốn đã được diễn tả trong St 2,23.

2. Sự hợp nhất St 2,24 nói tới («cả hai sẽ nên một xương một thịt») hẳn là được diễn tả và thực hiện qua hành vi vợ chồng. Công thức kinh thánh hết sức cô đọng và đơn giản ấy cho thấy giới tính của con người (nam và nữ) như là đặc tính giúp họ, khi «nên một xương một thịt», đặt toàn thể nhân tính của mình dưới sự chúc lành sinh sôi nảy nở. Tuy nhiên, toàn thể ngữ cảnh của công thức ngắn ngủi này không cho phép chúng ta dừng lại ở bề mặt của giới tính con người, không cho phép chúng ta nói về thân xác và giới tính ở bên ngoài chiều kích đầy đủ của con người, bên ngoài «sự hiệp thông các ngôi vị», nhưng buộc chúng ta phải nhận biết chính sự viên mãn và chiều sâu của sự kết hợp này, điều mà người đàn ông và người đàn bà phải thực hiện dưới ánh sáng của mạc khải thân xác.

Bởi thế, trước hết lối diễn tả hướng đến một viễn cảnh, như sau đây: «người đàn ông ... sẽ gắn bó với vợ mình» cách thân mật đến mức «cả hai nên một xương một thịt», luôn khiến ta quay về với điều mà bản văn kinh thánh trước đây nói về sự kết hợp trong nhân tính, liên kết người đàn bà với người đàn ông trong chính mầu nhiệm sáng tạo. Những lời của đoạn St 2,23 mà chúng ta vừa phân tích đã giải thích ý niệm này một cách đặc biệt. Khi kết hợp với nhau qua hành vi vợ chồng mật thiết đến độ trở nên “một xương một thịt”, có thể nói rằng người đàn ông và người đàn bà tái khám phá, mỗi lần mỗi cách khác nhau, mầu nhiệm sáng tạo. Như thế, họ trở về hợp nhất trong nhân tính («xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi»), và điều đó khiến họ nhận ra nhau và, như lần đầu đầu tiên, họ gọi tên nhau. Điều này nói lên rằng, theo một nghĩa nào đó, họ sống trở lại giá trị trinh nguyên thuở ban đầu của con người, vốn xuất hiện từ mầu nhiệm sự đơn độc của con người đứng trước Thiên Chúa và giữa lòng thế giới. Sự kiện họ trở nên “một xương một thịt” là sợi dây liên kết bền chặt mà Đấng Tạo Hóa đã thiết lập, nhờ đó họ khám phá ra nhân tính riêng của mình, cả trong sự thống nhất nguyên thủy của nhân tính ấy lẫn trong tình trạng nhị phân nhưng hấp dẫn nhau cách kỳ diệu. Thế nhưng, giới tính còn là điều gì hơn nữa chứ không chỉ là mãnh lực bí nhiệm của xác thân con người hoạt động gần như theo bản năng. Trên bình diện con người và trong mối quan hệ giữa các nhân vị, giới tính biểu hiện một nỗ lực của con người luôn muốn vượt qua cách mới mẻ cái giới hạn của sự đơn độc vốn được ghi dấu trong thân xác con người và xác định ý nghĩa ban đầu của nó. Ngay trong sự vượt qua ấy luôn bao hàm sự đảm nhận cách nào đó nỗi cô đơn của thân xác của cái “tự ngã” thứ hai như là của mình.

3. Điều đó gắn liền với sự chọn lựa. Chính công thức trong đoạn St 2,24 cho thấy không những con người (nam và nữ) đã được tạo dựng để hợp nhất, mà còn cho thấy rằng chính sự hợp nhất này (nhờ đó họ trở nên một xác thịt) ngay tự ban đầu có một đặc tính là họ gắn kết với nhau bởi chọn lựa. Quả thật chúng ta đọc thấy: «người đàn ông lìa bỏ cha mẹ mà gắn bó với vợ mình». Con người về mặt “tự nhiên” thuộc về cha mẹ mình qua đường truyền sinh, nhưng lại «gắn bó» với vợ (hay với chồng) mình bởi sự chọn lựa. Đoạn văn St 2,24 xác định đặc tính đó của dây liên kết vợ chồng khi nói tới người đàn ông và người đàn bà đầu tiên, thế nhưng cũng đồng thời ám chỉ đến viễn cảnh toàn thể tương lai loài người trên trái đất này. Bởi thế, vào thời của Người, Đức Kitô sẽ qui chiếu tới bản văn này, bản văn cũng có tính thời sự không kém vào thời đại của Người. Được tác tạo nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, xét vì họ tạo nên một sự hiệp thông ngã vị đích thực, người nam và người nữ đầu tiên phải là khởi đầu và là mẫu mực cho tất cả mọi người đàn ông và đàn bà thuộc mọi thời đại kết hợp với nhau thân mật nên «một xương một thịt». Thân xác con người nhờ giới tính nam và nữ như thế, ngay từ thuở ban đầu đã giúp cả hai người (như «trợ tá tương xứng» của nhau) khám phá lại chính bản thân trong sự hiệp thông ngã vị, và cũng thân xác ấy, cách riêng trở thành yếu tố cấu thành cho sự gắn bó của họ, khi họ trở nên vợ chồng. Nhưng điều ấy có được thực hiện là nhờ họ đã chọn lựa nhau. Chính sự chọn lựa tự do đó mới tạo lập nên khế ước hôn nhân giữa hai con người [1], mà nay chỉ trên nền tảng ấy đã trở nên “một xác thịt”.

4. Điều đó tương ứng với cấu trúc của sự đơn độc của con người, cụ thể là tương ứng với hai con người cô đơn. Chọn lựa, như là một biểu lộ sự tự khẳng định mình, đặt nền tảng trên cấu trúc ấy, nghĩa là trên cơ sở của sự tự ý thức về mình. Chỉ trên cơ sở của cấu trúc riêng của con người, con người là «thân xác» và nhờ đó cũng là người nam và là người nữ. Khi cả hai người kết hợp với nhau cách thân mật đến mức trở nên «một xương một thịt», hôn phối ấy giả thiết họ đã có một ý thức trưởng thành về thân xác. Thật vậy, hôn phối tự nó bao hàm một ý thức đặc thù về ý nghĩa của thân xác nơi việc các ngôi vị (con người) hiến thân cho nhau. Theo nghĩa này, câu St 2,24 còn mở ra viễn cảnh rộng lớn hơn. Thật vậy, đoạn văn ấy cho thấy rằng mỗi khi người đàn ông với người đàn bà kết hợp vợ chồng với nhau, chính ý thức nguyên thủy ấy về ý nghĩa hợp hôn (unitivo) của thân xác với nam tính và nữ tính của nó lại được khám phá. Như thế, bản văn kinh thánh cũng đồng thời cho thấy rằng trong mỗi kết hợp vợ chồng như thế, mầu nhiệm tạo dựng, theo cách nào đó, được thực hiện cách mới mẻ trong toàn bộ chiều sâu nguyên thủy và sức sống của nó. Người phụ nữ «được rút ra tự người nam» là «thịt bởi thịt người nam» và sau đó trở thành “vợ” và nhờ mẫu tính của mình trở thành “mẹ” của chúng sinh (x. St 3,20), vì mẫu tính của người nữ cũng có nguồn gốc nơi người nam. Truyền sinh bắt nguồn từ tạo dựng, và cứ mỗi lần như thế, theo nghĩa nào đó, mầu nhiệm tạo dựng lại được hiển lộ.

5. Một suy tư đặc biệt: «nhận thức và sinh sản» sẽ được dành cho đề tài này. Trong đó chúng ta còn cần phải tham khảo những yếu tố khác nữa của bản văn kinh thánh. Cho tới nay chúng ta đã phân tích ý nghĩa sự hợp nhất vợ chồng nguyên thủy và thấy rằng một cách nào đó (trong ý định) «tự ban đầu» sự kết hợp nên một giữa người đàn ông và người đàn bà như thế, là điều vốn gắn kết với mầu nhiệm tạo dựng, là một dấn thân (cam kết) đi vào viễn tượng toàn thể tương lai về sau.

 [1] «Cộng đoàn với đời sống chung thân mật và tình yêu vợ chồng được Tạo Hóa thiết lập và ban những định luật riêng; cộng đoàn ấy được xây dựng do khế ước hôn nhân, nghĩa là dựa trên sự ưng thuận cá nhân không thể rút lại» (GS 48). Đây là một định nghĩa của hôn nhân đáng lưu ý: a) cốt yếu là một đời sống chung và với một tình yêu đặc biệt; b) tùy theo Luật Chúa là Đấng sáng tạo hôn nhân; c) bắt đầu từ khi hai người, nam và nữ, công khai tuyên bố lời ưng thuận. Đối tượng của sự ưng thuận ấy là chính con người, hai con người tự hiến cho nhau và đón nhận nhau. Hai người, chứ không phải chỉ là quyền trên thân xác mà thôi (như, theo Giáo Luật cũ 1917 khoản 1081 đoạn 2, Thông điệp Casti Connubi của đức Piô XI đã xác nhận : x. AAS 22 (1930), 541 ; Dz 3701 / 2225). Hai người sẽ nên một về mọi phương diện (tâm-sinh lí, xã hội, đạo đức) Kết quả là một tổ chức vững chắc không phải tự ý riêng nhưng theo ý định của Thiên Chúa . Tổ chức này có nhiều mục đích (x. GS 50b) và mưu ích không những cho đôi bên mà còn cho gia đình và xã hội nữa.

Xem thêm…

Copyright ©THT - Được biên soạn và sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau - Ghi rõ nguồn:quatangsusong.blogspot.com/ - Khi phát hành thông tin trên trang này
Gx Đaminh | Namkna | Trung Tâm Học Vấn Đaminh | Kho tài liệu hay |