Chú giải và gợi ý suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật XXIII thường niên – năm A

03:26 |
BẢN VĂN
Bài đọc I (Ed 33,7-9)
7 Phần ngươi, hỡi con người, Ta đã đặt ngươi làm người canh gác cho nhà Ít-ra-en. Ngươi sẽ nghe lời từ miệng Ta phán ra, rồi thay Ta báo cho chúng biết. 8 Nếu Ta phán với kẻ gian ác rằng: “Hỡi tên gian ác, chắc chắn ngươi phải chết”, mà ngươi không chịu nói để cảnh cáo nó từ bỏ con đường xấu xa, thì chính kẻ gian ác ấy sẽ phải chết vì tội của nó, nhưng Ta sẽ đòi ngươi đền nợ máu nó. 9 Ngược lại, nếu ngươi đã báo cho kẻ gian ác phải từ bỏ con đường của nó mà trở lại, nhưng nó không trở lại, thì nó sẽ phải chết vì tội của nó; còn ngươi, ngươi sẽ cứu được mạng sống mình.
Bài đọc II (Rm 13,8-10)
8 Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; vì ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật 9 Thật thế, các điều răn như: Ngươi không được ngoại tình, không được giết người, không được trộm cắp, không được ham muốn, cũng như các điều răn khác, đều tóm lại trong lời này: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. 10 Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy.
Tin Mừng (Mt 18,15-20)
15 “Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi. Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em. 16 Còn nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân. 17 Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh. Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế.
18 “Thầy bảo thật anh em: dưới đất, anh em cầm buộc những điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy.
19 “Thầy còn bảo thật anh em: nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho. 20 Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ.”


 CHÚ GIẢI VÀ GỢI Ý SUY NIỆM

Chú giải và gợi ý suy niệm của Lm FX Vũ Phan Long, ofm: Kỷ luật của Giáo Hội và sự hiện diện của Đức Kitô

1. Ngữ cảnh
Với ch. 18 của TM Mt, chúng ta đi vào Bài Diễn từ thứ tư, đề cập đến đời sống huynh đệ trong lòng Hội Thánh, cộng đoàn Kitô hữu. Bài Diễn từ được chia thành hai phân đoạn, phân đoạn thứ nhất đề cập đến “những kẻ bé mọn” (18,1-14) và phân đoạn thứ hai liên hệ đến “người anh em phạm tội” (18,15-35). Mỗi phân đoạn kết thúc với một dụ ngôn: con chiên lạc (18,12-14), và ông vua và người đầy tớ (18,21-35).
Sau đây là bố cục chung cho cả bài Diễn từ:
I. Mối quan tâm đến những kẻ bé mọn (18,1-14):
A. Người lớn và kẻ bé mọn (cc. 1-5),
B. Đừng khinh những kẻ bé mọn (cc. 6-10),
C. Kết luận bằng Dụ ngôn: Quan tâm đến những kẻ lầm đường lạc lối (cc. 12-14)
II. Kỷ luật và Tha thứ (18,15-35):
A. Kỷ luật của Giáo Hội và sự hiện diện của Đức Kitô (cc. 15-20),
B. Tha thứ không giới hạn (cc. 21-22),
C. Kết luận bằng Dụ ngôn: Tha thứ như một sự biết ơn (cc. 23-35).
2. Bố cục
Bản văn có thể chia thành ba phần:
1) Kỷ luật của Giáo Hội (18,15-17);
2) Cầm buộc và tháo cởi (18,18);
3) Sự hiện diện của Đức Kitô (18,19-20).
3. Vài điểm chú giải
- Người anh em (15): Từ ngữ adelphos này nói về những người có liên hệ huyết thống trong mộtgia đình, nhưng cũng để gọi những người có tương quan với nhau trong mộtcộng đoàn thiêng liêng. Cũng như các “con cái Israel” thuộc về cùng một“nhà”, các môn đệ Đức Kitô, được quy tụ nhân danh Người, làm thành một “nhà thiêng liêng” (x. 1 Pr 2,5).
- phạm tội (15): TM Mt chưa bao giờ xác định rõ “phạm tội” ([h]amartanô) có nghĩa là gì. Dựa vào ngữ cảnh, một đàng độc giả liên kết động từ này với động từ “làm cớ cho sa ngã” (skandalizô; cc. 6.8-9), thì hiểu tội là một cái gì nghiêm trọng. Đàng khác, khi liên kết với truyện con chiên lạc, độc giả biết là tội có thể được tha thứ. Bản văn ở đây nói riêng đến tội của “người anh em”.
- sửa lỗi nó, một mình anh với nó (15): Đây không phải là mộtlời khuyên mới do sáng kiến của Đức Giêsu. Đọc Lêvi 19,17, chúng ta ghi nhận một quy định tương tự (“Ngươi không được để lòng ghét người anh em, nhưng phải mạnh dạn quở trách người đồng bào, như thế, ngươi sẽ khỏi mang tội vì nó”). Phái Êxêni ở Qumrân cũng có những lời dạy tương tự (Thủ bản kỷ luật 5,25 truyền: “Không ai được nói với anh em với sự giận dữ hoặc hiềm khích hoặc trịch thượng hoặc với trái tim cứng rắn hoặc tâm trí gian tà”. Xem thêm Văn kiện Đamát 9,2-8).
- chinh phục (15): Động từ kerdainô có nghĩa là “thủ đắc được, chiếm được” vật gì. Thường các bản văn Hy Lạp và Kinh Thánh không dùng cho nghĩa bóng là “chinh phục một con người”. Thế nhưng động từ này được dùng hai lần khi nói về sứ mạng của Hội Thánh sơ khai (1 Cr 9,19-22; 1 Pr 3,1).
- không nghe (17): Động từ parakouô có nghĩa là “nghe những gì không nhắm cho tai họ; nghe không đầy đủ; nghe không đúng đắn”, nên cũng có nghĩa là “không nghe; không vâng lời”.
- một người ngoại … một người thu thuế (17): Ở đây, hai hạng người được nêu ra với giọng miệt thị dưới cái nhìn thông thường, để làm biểu tượng cho những người ngoan cố, không có tinh thần phục thiện.
4. Ý nghĩa của bản văn
Đức Giêsu không coi cộng đoàn các môn đệ như mộthiệp hội các cá nhân, trong đó mỗi người có thể làm bất cứ điều gì mình muốn và chẳng có ai quan tâm đến ai cả. Người đã dạy rõ ràng đâu là cách xử sự bắt buộc đối với những ai đang bước theo Người. Bắt buộc bởi vì cần thiết để vào được Nước Trời (x. Mt 5,20; 7,21). Trong cộng đoàn các tín hữu, mọi người đều được liên kết vào các quy tắc chung này và mọi người phải cảm thấy mình có trách nhiệm về việc không được để mộtai bị hư mất. Khởi đi từ mối quan tâm huynh đệ này, là mộthình thái cốt yếu của tình yêu đối với người thân cận tùy thuộc ý muốn của Thiên Chúa, có thể là cần phải nhắc đến đòi buộc quan tâm đến mộtngười anh em lầm lạc và mời người ấy hoán cải.
Đi trước các lời dạy về cách chăm sóc mộtngười anh em có lỗi là mộtđoạn cho thấy sự quan tâm vô giới hạn của Thiên Chúa đối với mỗi mộttín hữu, cho dù nhỏ bé nhất và không đáng kể gì (18,10-14). Mỗi con người có mộtgiá trị vô song, bởi vì họ luôn luôn hiện diện trước mặt Ngài. Không mộtai bị Thiên Chúa quên lãng mộtlúc nào cả; tình yêu cũng như sự trợ giúp của Ngài không hề phai nhạt đi.
* Kỷ luật của Giáo Hội (15-17)
Vấn đề là người anh em “phạm tội” (ho adelphos hamartêsê). “Tội” là một điều có tính trầm trọng, nhưng cũng là điều có thể được tha thứ. Những người có thể lấy sáng kiến can thiệp không phải là vì họ có trách nhiệm chính thức về cách thức mà các thành viên của Hội Thánh theo mà cư xử, nhưng bởi vì họ bị trực tiếp liên lụy đến do tội của người anh em (“đối với anh; chống lại anh”, eis se). Tuy thế, “tội” mà một thành viên phạm đối với một thành viên khác không phải là vấn đề riêng tư, không can dự gì đến Hội Thánh. Có một xác tín trong Kinh Thánh, trong Do Thái giáo và Kitô giáo là mỗi một tội đều ảnh hưởng đến toàn thể Hội Thánh.
Về mối quan tâm đến người anh em, phải nói là có nhiều cấp độ; nhưng dù ở cấp độ nào, sự quan tâm này cũng phải kín đáo, kiên nhẫn và thanh thoát khỏi mọi kiểu nhìn cá nhân riêng tư. Cách tốt nhất hẳn là tránh mọi cớ vấp phạm, bằng cách dàn xếp công chuyện giữa hai người: không có người chứng, người anh em có tội không bị ngượng ngùng. Vấn đề không phải là đề cập đến những thiếu sót của kẻ khác, nhưng là liên hệ với người đã sai lầm, để “tranh thủ” người ấy. Vậy, ở đây không được nóng giận (x. Lv 19,17). Câu Lv 19,17 đi trước điều răn về tình yêu đối với người thân cận ở Lv 19,18, để nói rằng việc khuyến cáo một người anh em Israel phải là cách diễn tả tình yêu đối với người thân cận và tình liên đới bên trong lòng Dân Thiên Chúa. Cách làm này có thể đạt một kết quả tích cực: “chinh phục (ekerdêsas) được người anh em” (x. 1 Cr 9,19-22; 1 Pr 3,1). Hẳn đây là đưa người anh em về lại với Dân Thiên Chúa hay với Hội Thánh.
Cấp độ tiếp theo tiên liệu có nhiều người khác can thiệp vào, khi việc đối thoại riêng tư không đạt kết quả (c. 16). Họ phải thuyết phục người có lỗi về sự thiếu sót đã xảy ra. Bằng cách đó, những người này cho thấy rõ ràng là lời nhắc nhở của người đầu tiên không phải chỉ là cái nhìn riêng tư cá nhân, nhưng cũng được các anh em khác chia sẻ. Như thế, càng rõ là cả người lầm lạc cũng như người nhắc nhở đều không được phán đoán theo các tiêu chuẩn chủ quan. Cả hai đều được tháp vào cộng đoàn các tín hữu, nên cả hai đều được liên kết vào những quy tắc mà Đức Giêsu đã ban cho cộng đoàn.
Tính cách cộng đoàn của đời sống Kitô hữu này và của các quy tắc của cộng đoàn càng hiển nhiên hơn nữa ở cấp độ thứ ba (c. 17). Nếu vụ việc không thể làm sáng tỏ giữa vòng ít người, “nếu nó không nghe (parakousê) họ”, thì phải đưa ra trước Giáo Hội (ekklêsia). Đây là cộng đoàn Kitô hữu địa phương, trong tư cách không tách biệt, nhưng được tháp vào trong Hội Thánh duy nhất mà Đức Giêsu đã thiết lập trên “tảng đá” Phêrô (x. 16,18). Không phải là từng người Kitô hữu, nhưng là Hội Thánh mới có thể tuyên bố mộtphán đoán dứt điểm, nhằm nói rằng mộthành vi có phù hợp hay không với các quy tắc của Hội Thánh. Ai không nghe lời có khả năng làm sáng tỏ của Hội Thánh, thì tự đặt mình ra ngoài Hội Thánh: “hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế”. Đây không phải là lời kết án chung cuộc, nhưng theo cái nhìn của các Kitô hữu gốc Do Thái vẫn trung thành với Lề Luật, là không còn gì để làm với người ấy nữa. Quả thế, người ta không thể cho rằng mình thuộc về mộtcộng đoàn, đồng thời lại từ chối các quy tắc điều hành và đảm bảo đời sống cho cộng đoàn ấy. Ở đây vấn đề không chỉ là vi phạm mộtquy tắc, mà là từ chối chính quy tắc do người ta chống lại phán đoán của Hội Thánh. Ai nhìn nhận mình sai lỗi và thiếu sót với quy tắc, thì được cứu (x. c. 15); ai từ khước quy tắc, thì rời bỏ cộng đoàn.
* Cầm buộc và tháo cởi (18)
Rất có thể câu nói về “cầm buộc và “tháo cởi” này đã thuộc về truyền thống có trước Mt. Nếu Hội Thánh có thể công bố mộtphán đoán dứt điểm về điều gì phù hợp và điều gì không phù hợp với lối sống của mình, là vì dựa trên quyền tháo cởi và cầm buộc Đức Giêsu đã ban (c. 18); quyền này phải được thực thi phù hợp với các cơ cấu mà Người đã ban cho Hội Thánh (x. 16,18t; 10,1-42; 28,16-20). Trong quyền này có hàm chứa khả năng biết cách thuyết phục bằng các quy tắc của Đức Giêsu, phán đoán cách đáng tin cậy các trường hợp riêng lẻ và cho thấy các ranh giới của sự thuộc-về Hội Thánh.
* Sự hiện diện của Đức Kitô (19-20)
Thêm vào nguyên tắc tổng quát của c. 18, một lần nữa (palin) tác giả nói đến một nguyên tắc về cơ cấu. Lời Đức Giêsu dạy về cầu nguyện chung và về việc hội họp nhân danh Người lại nêu bật tầm quan trọng của hành động chung (cấp độ thứ hai ở trên). Ý tưởng ở đây không phải là việc cầu nguyện chung thì quan trọng hơn việc cầu nguyện cá nhân. Tác giả chỉ muốn nói đến việc những người cầu nguyện đồng ý với nhau về điều mà họ đang cầu xin. “Hai” là số người tối thiểu có thể đồng ý hay không đồng ý về một điều gì. Vậy lời đáp cho việc cầu nguyện tùy thuộc tương quan giữa các thành viên trong Hội Thánh. Những lời thỉnh cầu chỉ tập trung vào cá nhân sẽ không được chấp nhận.
Ở cuối lệnh truyền giáo, Đức Giêsu đã nói với các môn đệ: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 18,19t). Người ta sẽ không còn thấy được Người, nhưng Người sẽ hiện diện và hỗ trợ mạnh mẽ khi họ đi chu toàn lệnh Người truyền. Các môn đệ không bị bỏ mặc mộtmình, nhưng được Người để ý cùng đi với và giúp đỡ hữu hiệu. Người cũng hứa hiện diện như thế với những ai quy tụ lại nhân danh Người. Nguồn gốc và trung tâm của cuộc quy tụ là “danh Đức Giêsu”. “Danh” là chính bản thân Đức Giêsu mà các môn đệ đều quen biết; “nhân danh” có nghĩa là: vì tình yêu đối với Người, trong sự hiểu biết rõ ràng Người là ai và trong sự tuyên xưng về địa vị của Người. Đây là mộtcuộc quy tụ với ý thức sống động và tin tưởng vào ý nghĩa của Đức Giêsu và của tất cả những gì thuộc về Người, của sứ điệp và hành trình của Người. Các Kitô hữu quy tụ lại trong tinh thần này thì không bao giờ bị bỏ mặc cho chính mình, nhưng họ có Đức Giêsu ở giữa họ. Chính Người sẽ nâng đỡ sự hiệp nhất và hoạt động của họ.
+ Kết luận
Tình huynh đệ chân chính đòi hỏi các môn đệ của Đức Giêsu không được bỏ mặc mộtngười anh em đi vào cuộc phiêu lưu nguy hiểm (“phạm tội”), nhưng phải hết sức cố gắng đưa họ trở lại với đường ngay nẻo chính. Đàng khác, do tôn trọng đặc tính bó buộc và cứu độ của sứ điệp của Đức Giêsu, trong Hội Thánh, ta không được tùy nghi xử sự theo bất cứ cách nào, nhưng phải tôn trọng những giới hạn, phải tiến hành theo những cấp độ khác nhau. Dù sao, tất cả những gì cổ võ sự hiệp nhất nhân danh Đức Giêsu thì đều có thể chắc chắn là sẽ được Thiên Chúa hỗ trợ đặc biệt, và như thế sẽ góp phần vào việc kiến tạo Hội Thánh.
5. Gợi ý suy niệm
1. Như người mục tử không bỏ rơi nhưng đi tìm mộtcon chiên lạc, Thiên Chúa cũng không bỏ rơi bất cứ người nào. Trên nền tảng là cách hành động đó của Thiên Chúa, không mộtai được phép nói về mộtngười anh em: Tôi không quan tâm đến anh/chị ta! Trái lại, chúng ta buộc phải quan tâm đến người anh em chị em đi lạc. Chúng ta không được phép tránh né vì ích kỷ, lười biếng hay sợ hãi, hoặc bi quan về kết quả. Cũng không được rơi vào thái cực kia, đó là chỉ trích, trịch thượng và tự hào mình công chính.
2. Đức Giêsu tha thiết quy tụ những con người lại quanh Người để làm thành mộtcộng đoàn tín hữu và huynh đệ. Chúng ta nhớ: Đức Giêsu kêu gọi từng người để họ sống với nhau và cùng đi thi hành sứ mạng (x. Mt 4,18-25). Cách sống này ngược lại với cách mỗi người đi theo con đường của mình và không quan tâm đến đặc tính cộng đoàn của đời sống Kitô hữu (x. 18,15). Đàng khác, mộtnhóm lo lắng săn sóc mộtanh em có tội (c. 16) thì phải được quy tụ không phải nhân danh chính mình, nhưng nhân danh Đức Giêsu, để Cha Người sẵn lòng nhận các lời họ cầu xin.
3. Đức Giêsu không hề có ý đề nghị các thành viên trong cộng đoàn phải theo giám sát nhau và phân loại con người theo bậc thang giá trị luân lý. Các cách thức Người đề nghị chỉ là nhằm diễn tả đức bác ái. Chính Mt 18,14 cho ta hướng đúng để hiểu những lời khuyên này: “Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất”. Đây là bổn phận săn sóc anh em về mặt thiêng liêng. Giúp đỡ mộtngười anh em chị em đang gặp khó khăn, chìa tay ra cho mộtngười anh em chị em đang rơi vào tội lỗi, là mộtđòi hỏi của tình yêu, mộtsự trung thành với công trình của Đức Giêsu. Chúng ta chịu trách nhiệm về nhau.
4. Chúng ta đi cầu nguyện để thờ phượng Đức Giêsu hiện diện trong Lời Người và trong Thánh Thể, nhưng cũng là để gặp anh chị em để hòa với lời cầu nguyện của họ. Khi chúng ta khiêm tốn và sốt sắng hòa hợp tâm trí và giọng điệu với nhau mà cầu nguyện, chúng ta nên mộttrong Thân Mình Chúa Kitô, chúng ta làm thành Nhiệm Thể Đức Kitô.

Chú giải và gợi ý suy niệm của Lm. Inhaxiô Hồ Thông
 
Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật nầy, hòa hợp với nhau, nêu bật một chủ đề chung: yêu thương đồng loại.
Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật nầy, hòa hợp với nhau, nêu bật một chủ đề chung: yêu thương đồng loại.
Ed 33: 7-9
Tư tế Ê-dê-ki-en thi hành sứ vụ ngôn sứ của mình bên cạnh những người đồng hương bị lưu đày như ông ở Ba-by-lon (đầu thế kỷ thứ sáu trước Công Nguyên); ông cảm thấy mình chịu trách nhiệm về cách ăn nếp ở của anh em của mình.
Tv 95 (94): 1-2, 6-7, 8-9
Tác giả thánh vịnh mời gọi cộng đồng Dân Chúa hãy tôn thờ Đức Chúa là Chúa Trời cao cả và là Vị Mục Tử nhân lành (cc. 1-7a) với trọn tấm lòng yêu mến Ngài (cc. 7b-11).
Rm 13: 8-10
Thánh Phao-lô khuyên bảo các tín hữu Rô-ma thực hành tình tương thân tương ái. Bổn phận duy nhất, món nợ duy nhất mà chúng ta phải có đối với anh chị em của mình là Đức Ái.
Mt 18: 15-20
Trong Tin Mừng, thánh Mát-thêu trích dẫn những lời của Đức Giê-su mời gọi các Kitô hữu đừng để cho một người anh em nào của mình phải lạc mất mà không tìm cách sửa lỗi cho người ấy, nhiều lần nhiều cách khác nhau với thái độ tế nhị cần thiết.
BÀI ĐỌC I (Ed 33: 7-9)
Ngôn sứ Ê-dê-ki-en sống vào cuối thế kỷ thứ bảy và đầu thế kỷ thứ sáu sau Công Nguyên. Vào lúc đó, hoàn cảnh đất nước thật bi thảm. Vương quốc Giu-đa bị họa diệt vong bởi đế quốc Ba-by-lon. Vua Na-bu-cô-đô-nô-so bao vây thành đô Giê-ru-sa-lem lần thứ nhất, vào năm 598-597, tiếp đó một phần dân cư bị lưu đày, nhất là thành phần ưu tú. Ngôn sứ Ê-dê-ki-en thuộc vào số những người lưu đày đầu tiên nầy. Ông thi hành sứ vụ ngôn sứ của mình chủ yếu bên cạnh những người lưu đày cho đến khi ông qua đời, vào năm 571 trước Công Nguyên.
Ê-dê-ki-en trước khi ngôn sứ, đã là tư tế, vì thế, ông mang lấy ở nơi mình vừa tinh thần ngôn sứ vừa tinh thần tư tế. Bản văn mà chúng ta đọc vào Chúa Nhật nầy làm chứng điều nầy. Trách nhiệm ngôn sứ và trách nhiệm tư tế hợp nhất bất khả phân ly ở nơi ông. Khung cảnh là làng Tel-Avi bên bờ sông Cơ-va không xa kinh thành Ba-by-lon, ở đó vị ngôn sứ cùng với một số người đồng hương bị lưu đày. “Tel-Avi” nghĩa là “đồi lúa mì”.
Từ những biến cố, ngôn sứ Ê-dê-ki-en biết rút ra bài học. Các ngôn sứ đã kêu gọi vua, các bậc vị vọng và toàn thể dân chúng hoán cải, nhưng lời của các ngài không được lắng nghe, vì thế sự trừng phạt bất ngờ xảy đến. Nét độc đáo của sứ điệp mà ngôn sứ Ê-dê-ki-en gởi đến nhấn mạnh “trách nhiệm của mỗi cá nhân”. Đó là ‎ý nghĩa lời kêu gọi của Đức Chúa mà chúng ta đọc trong đoạn văn nầy.
1. “Hỡi con Người”:
“Hỡi con người” (dịch sát từ: “con của con người”), chữ “con người” là đặc ngữ Sê-mít, có nghĩa đơn giản là “một con người”, “một cá nhân”, như trong câu: “Hỡi con người, Ta đặt ngươi làm người canh gác cho nhà Ít-ra-en”, ở đây, danh xưng “con người” quy chiếu đến vị ngôn sứ. Đặc ngữ nầy thường xuất hiện trong các sấm ngôn của Ê-dê-ki-en với một nét nghĩa tiêu cực: “Ngươi chỉ là một phàm nhân”. Mỗi lần Thiên Chúa giao phó cho ông sứ điệp của Ngài, Ngài đặt ông vào vị thế của ông để ông khỏi phải tự cao tự đại về những thị kiến hay xuất thần mà Thiên Chúa gởi đến cho ông. Vị ngôn sứ phải xoá mình thành một loại vô danh tiểu tốt.
2. “Người canh gác cho nhà Ít-ra-en”:
Những hình ảnh: “người canh gác”, “người canh thức”, “truyền lệnh sứ”, được dùng để nói về sứ vụ ngôn sứ thì rất quen thuộc trong Cựu Ước. Ở đây, vị ngôn sứ được Thiên Chúa công bố đích danh là “người canh gác cho nhà Ít-ra-en” chứ không là người canh gác ở trên vọng đài tường thành nào đó. Ông sẽ là người canh gác ở giữa một đám dân, như bao nhiêu những phàm nhân khác, thậm chí như một người lưu đày trong số họ, không hơn không kém.
Xa hơn một chút, chính Ê-dê-ki-en gợi lên hình thức đơn giản của sứ vụ mình: “Phần ngươi hỡi con người, con cái dân ngươi bàn tán về ngươi dọc theo các bức tường và trước các cửa nhà. Chúng bảo nhau, người nọ nói với người kia: ‘Nào chúng ta đến nghe xem Đức Chúa phán thế nào!’. Chúng đến với ngươi đông như trẩy hội. Dân Ta ngồi trước mặt ngươi; chúng nghe các lời ngươi nói…” (Ed 33: 30-32). Trong những cuộc chuyện trò thân mật nầy, trong bầu khí thân quen của những cuộc giao tiếp gần gũi giữa người với người này, vị ngôn sứ có thể gởi đến cho từng người những lời cảnh báo đậm đà tình nghĩa huynh đệ.
3. Trách nhiệm cá nhân:
Đối với dân Thiên Chúa, “sống” tức là đón nhận những phúc lành của Thiên Chúa và “chết” chính là đánh mất ân huệ của Thiên Chúa, bởi vì Ngài là nguồn mạch của mọi thiện hảo đối với dân Ít-ra-en. Đây là kiểu nói quen thuộc của Cựu Ước để trình bày những huấn lệnh của Thiên Chúa trong viễn cảnh của một sự chọn lựa giữa sự sống và sự chết, hạnh phúc và bất hạnh, lời chúc phúc và lời nguyền rủa.
“Nếu Ta bảo đứa gian ác: ‘Tên gian ác kia, nhất định mi phải chết’, mà ngươi không nói để cảnh cáo nó phải từ bỏ con đường gian ác, thì chính nó, đứa gian ác ấy, sẽ chết vì tội của nó, nhưng còn máu của nó, Ta sẽ đòi ngươi”. Ngôn sứ Ê-dê-ki-en nhấn mạnh trách nhiệm của người biết huấn lệnh của Thiên Chúa và luật luân lý của Ngài, người ấy phải giúp anh em mình được hiểu biết ngọn nguồn. Vả lại, ông là vị ngôn sứ đầu tiên và vĩ đại nhấn mạnh sự thưởng phạt cá nhân: “Ai phạm tội, kẻ ấy phải chết; con không mang lấy tội của cha; cha cũng không mang lấy tội của con” (Ed 18: 20). Tuy nhiên, số phận của mỗi người không bất di bất dịch như đinh đóng cột: người công chính có thể trở thành tội nhân; kẻ tội lỗi cũng có thể hoán cải để trở thành một vị thánh. Sứ vụ của vị ngôn sứ được định vị ở nơi hành động nầy mà chính Đức Giê-su sẽ khuyên bảo các môn đệ của mình.
THÁNH VỊNH 95 (94)
Về hình thức, thánh vịnh này là một “thánh vịnh hỗn hợp” bao gồm một thánh thi (cc. 1-7a) và một sấm ngôn (cc. 7b-11). Về nội dung, thánh vịnh này thường được xếp vào loại các thánh vịnh ca ngợi vương quyền của Đức Chúa, cũng có thể liệt vào số các thánh vịnh phụng vụ ngôn sứ. Về bối cảnh, thánh vịnh có lẽ được dùng trong cuộc rước kiệu tiến về Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Đoàn rước kiệu khởi hành chẳng hạn từ Ghi-khôn nằm trong thung lũng Kít-rôn (x. 1V 1: 33), rồi tiến lên núi Xi-on (Tv 95: 1-5). Trước Nơi Cực Thánh diễn ra nghi lễ thờ lạy Thiên Chúa và cầu nguyện (Tv 95: 6-7a), rồi đoàn người rước kiệu nghe đọc và diễn giải Sách Thánh. Nghi lễ kết thúc với lời tuyên sấm của một viên chức phụng tự hay một phát ngôn viên của Lời Chúa trong Đền Thờ (Tv 95: 7b-11). Thánh vịnh này được cấu trúc như sau:
A.Mời gọi tôn thờ Đức Chúa là Chúa Trời cao cả và là Vị Mục Tử nhân lành (cc. 1-7a)
B.Mời gọi trọn một lòng trung thành với Đức Chúa (cc. 7b-11)
1-7a. Những đề tài về Đức Chúa như Đấng Cứu Độ và Đấng Sáng Tạo được đan quyện vào nhau: a.Đấng Cứu Độ (c. 1), b.Đấng Sáng Tạo (cc. 4-5), b’.Đấng Sáng Tạo (c. 6), a’.Đấng Cứu Độ (c. 7a). 1. “Tung hô Người là Núi Đá độ trì ta”: “Núi Đá” ở đây và ở câu 8 ám chỉ tảng đá mà ông Mô-sê đã đập vào theo lệnh Chúa để từ đó nước chảy ra cho dân uống (x. Xh 17: 16; Ds 20: 11). 3. “Bởi Đức Chúa là Chúa Trời cao cả (“El”)”: El là vị thần đứng đầu các thần linh của dân Ca-na-an và là tên của vị thần tối cao. “Đại Vương trổi vượt chư thần”: “Đại Vương” là tước hiệu mà các hoàng đế Cận Đông xưa xưng tụng mình (Tv 47: 3; 48: 3). 7a. “Bởi chính Người là Thiên Chúa ta thờ, còn ta là dân Người lãnh đạo, là đoàn chiên tay Người dẫn dắt”: X. Tv 79: 13; 100: 3. 7b-11. Thánh vịnh bất ngờ chuyển giọng sang lời cảnh báo về sự bất trung với Đức Chúa ở đây (x. Tv 81, trong đó cũng xảy ra một chuyển giọng như thế). 8. “Tại Mơ-ri-va…ở Ma-xa”: Theo Tv 81: 8, chính Thiên Chúa thử lòng dân tại Mơ-ri-va (x. Xh 17: 1-7). Hai địa danh này có nghĩa “gây chuyện” và “thử thách” hay “thách thức”. 11. “Chúng sẽ không được vào chốn an nghỉ của Ta”: Đặc biệt theo truyền thống đệ nhị luật, đất hứa là đất Thiên Chúa ban cho dân Ngài được nghỉ ngơi sau một cuộc hành trình dài lâu và đầy cam go (Đnl 12: 10; 25: 19; Gs 22: 4), vì thế đất này được Thiên Chúa quy chiếu là “chốn yên nghỉ của Ta”.
BÀI ĐỌC II (Rm 13: 8-10)
Chúng ta tiếp tục đọc phần luân l‎ý của thư gởi tín hữu Rô-ma. Thánh Phao-lô vừa mới nêu lên những bổn phận công dân mà người tín hữu phải phục tùng: vâng lời chính quyền dân sự, nộp thuế. Dù tất cả những nghĩa vụ nầy phải chu toàn, chúng ta vẫn phải là những kẻ mắc nợ đối với anh em đồng loại: món nợ tương thân tương ái không bao giờ trả hết được. “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; vì yêu mến người, thì chu toàn lề luật”. Thập Giới mời gọi phải tôn trọng nhân phẩm của tha nhân và của cải của họ, nhưng không đề cập cách minh nhiên bổn phận yêu thương đồng loại. Bổn phận yêu thương đồng loại được sách Lê-vi 19: 18 công bố và thánh Phao-lô cũng trích dẫn: “Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình”.
Theo Cựu Ước, anh em đồng loại trước hết những người cùng chung một chủng tộc, một quốc gia, như chữ “đồng bào” của người Việt Nam. Đức Giê-su đã mở rộng tầm mức của huấn lệnh yêu thương đến tất cả mọi thành viên của cộng đồng nhân loại, không có bất kỳ ngoại trừ nào, thậm chí phải yêu thương kẻ thù nữa. Thánh Phao-lô nêu lên không chỉ luật Mô-sê, nhưng cũng luật mới của Đức Ái Kitô giáo nữa. Ở đây, thánh nhân không đề cập đến huấn lệnh thứ nhất, huấn lệnh yêu mến Thiên Chúa, vì lời khuyên bảo của thánh nhân nhắm đến đức ái huynh đệ, vì thế huấn lệnh yêu thương đồng loại bất khả phân ly với huấn lệnh yêu mến Thiên Chúa: từ yêu mến Thiên Chúa mà yêu thương đồng loại được khơi nguồn. Nếu yêu thương đồng loại là vô giới hạn, vì mẫu gương của tình yêu Thiên Chúa đối với con người thì vô cùng. Ở đây, vị sứ đồ nhấn mạnh tình tương thân tương ái, đó là “chu toàn lề luật”.
TIN MỪNG (Mt 18: 15-20)
Trong chương 18 nầy, thánh Mát-thêu tập hợp lại những huấn lệnh của Đức Giê-su được ngỏ lời với nhóm Mười Hai, hoa trái đầu mùa của Giáo Hội Ngài. Diễn từ nầy cũng được gọi “diễn từ về Giáo Hội”.
1. Sửa lỗi anh em:
Việc sửa lỗi anh em mà Đức Giê-su mời gọi các môn đệ Ngài thực hành cho nhau được nhắm đến trong luật Mô-sê, được ghi trong sách Lê-vi: “Ngươi không được để lòng ghét người anh em, nhưng phải mạnh dạn quở trách người đồng bào, như thế, ngươi sẽ khỏi mang tội vì nó” (Lv 19: 17). Câu trích dẫn nầy đi gần sau huấn lệnh: “Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình” (Lv 19: 18). Như vậy, việc sửa lỗi cho anh em thuộc về luật đức ái.
Theo truyền thống Do thái giáo, người ta không được truy tố kẻ phạm tội mà không cảnh báo trước trong chốn riêng tư. Vào thời Đức Giê-su, các kinh sư phàn nàn là người ta không thực hiện tập tục tốt đẹp nầy. Đức Giê-su phục hồi tập tục nầy trong tinh thần yêu thương. Ngài đề nghị ba giai đoạn trong việc sửa lỗi huynh đệ:
- Sửa lỗi anh em trong chỗ riêng tư kín đáo, không ai hay biết.
- Nếu lần đầu tiên không có kết quả, tiếp tục lần thứ hai với sự hiện diện của một hay hai người khôn ngoan để kẻ sai lạc thấu tình đạt lý. Biện pháp nầy tránh cho tội nhân khỏi bị sỉ nhục ở nơi cộng đoàn.
- Nếu lần nầy cũng thất bại nữa, lúc đó mới thưa với cộng đoàn. Nếu người anh em nầy không chịu nghe cộng đoàn, chỉ lúc đó người nầy mới có thể bị loại trừ hay bị kể như một người dân ngoại hay một người thu thuế, nghĩa là một người mà người ta tránh mọi giao tiếp.
Đức Giê-su dự phòng các môn đệ của Ngài – sau họ, các cộng đoàn Kitô hữu – tránh tất cả mọi hình thức loại trừ một thành viên quá tàn nhẫn. Nhưng Ngài còn muốn hơn nữa rằng chúng ta noi gương vị mục tử nhân lành ra đi tìm kiếm con chiên lạc. Chắc chắn không phải là ngẫu nhiên khi những lời khuyên sửa lỗi anh em nầy được xếp đặt ngay liền ngay dụ ngôn “con chiên lạc” (Mt 18: 12-14). Giáo Hội phải bày tỏ sự ân cần như thế đối với người sai phạm.
2. Viễn cảnh Giáo Hội:
Đức Giê-su định vị bổn phận sửa lỗi anh em và những biện pháp kỷ luật mà cộng đoàn Kitô hữu áp dụng trong khung cảnh thiết lập Giáo Hội của Ngài. Chính như vậy mà Ngài mở rộng quyền năng cho Tông Đồ Đoàn, mà trước đây Ngài đã trao phó cho thánh Phê-rô: “Tất cả những gì dưới đất anh em cầm buộc, trên trời cũng cầm buộc như vậy; tất cả những gì dưới đất anh em tháo cởi, trên trời cũng tháo cởi” (Mt 16: 19). Và Ngài sẽ lập lại quyền năng nầy cho họ sau khi Ngài phục sinh (Ga 20: 23).
Đức Giê-su thêm vào ở đây một lời hứa khác: Ngài sẽ luôn luôn hiện diện ở giữa các tín hữu của Ngài khi họ họp nhau lại mà cầu nguyện, dù chỉ hai hay ba người đi nữa. Cha Ngài, Đấng ngự trên trời sẽ lắng nghe và đáp trả lời cầu xin của họ, bởi vì Đấng cầu bầu cho họ không ai khác ngoài “Đức Giê-su đích thân ở giữa họ”. Xem ra Đức Giê-su ám chỉ đến truyền thống kinh sư, theo đó khi hai hay ba người Ít-ra-en họp nhau lại để học hỏi Lề Luật, Thiên Chúa ở với họ. Nhưng ở đây Đức Giê-su đặt mối liên hệ của các Kitô hữu với Chúa Cha nhờ và trong lời cầu nguyện. Sự hiện diện của Thiên Chúa được đảm bảo qua sự hiện diện của Ngôi Lời làm người, gần gũi với con người hơn bao giờ hết.

 
 Chú giải theo Fiches Dominicales: CÓ TRÁCH NHIỆM VỚI NHAU
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Giáo Hội, một cộng đoàn huynh đệ.
Sau lần thứ nhất loan báo cuộc khổ nạn, Đức Giêsu cùng các môn đệ rời miền “Cêsarée Phiìipphê” đi lên Giêrusalem. Sau cuộc biến hình trên núi, giờ đây Ngài tới Capharnaum, tại đó, theo Matthêô Ngài đã loan báo diễn từ thứ tư trong Phúc âm Matthêu “diễn từ về đời sống Giáo Hội”. Những hướng dẫn, giúp cho cộng đoàn mà Ngài sáng lập phản ảnh được hình ảnh của “Cha trên trời”.
J. Potin báo trước: “Trong chương 13 này, Matthêu đã tập họp lại những lời nói khác nhau của Đức Giêsu về đề tài cộng đoàn. Rất nhiều lời đã được Đức Giêsu nói với các môn đệ trong tình thân mật, nhất là trong những tháng ngày Ngài bỏ Galilê để chuẩn bị lên Giêrusalem. Đức Giêsu chuẩn bị cho các môn đệ sống trong một bầu khí yêu thương huynh đệ, khi phải xa lìa Ngài sau cuộc khổ nạn. Bất kể tương lai có ra sao, tinh thần quan tâm tới những kẻ bé nhỏ, yếu ớt tinh thần tha thứ lẫn cho nhau này phải tràn ngập cộng đoàn. Bốn mươi năm sau, lúc Matthêô viết Phúc âm, những lời mời gọi của Đức Giêsu vẫn còn hiện thực. Cộng đoàn mà Ngài nhắn nhủ gồm các Kitô hữu gốc Do Thái lẫn gốc dân ngoại, thuộc nhiều tầng lớp xã hội khác nhau. Đời sống cộng đoàn giữa anh chị em đôi lúc có khó khăn. Tới những lời Đức Giêsu nói với nhóm các môn đệ vẫn còn là thực tế. Chính vì thế, tác giả Phúc âm đã gom chúng vào trong một diễn từ, quảng diễn một chút cho phù hợp với Giáo Hội “của ông”, nghĩa là cộng đoàn của ông. Trước tiên, Đức Giêsu miêu tả cộng đoàn các môn đệ của Ngài như một cộng đoàn đặc biệt quan tâm tới những kẻ “bé nhỏ” tin vào Chúa, những Kitô hữu mà đức tin còn rất mỏng manh (18,1-10) và lo lắng cho những “con chiên lạc, người Kitô hữu tránh xa cộng đoàn và liều mình hư mất (18,12-14). Ngài trình bày một cộng đoàn sống động thực hành sự nâng đỡ và tha thứ lẫn cho nhau. Đó là thái độ phải có đối với một người “anh em” đã “phạm tội”.. Đó là thái độ phải có khi anh chị em bất hoà, xung khắc.
2. …Thực hành sự tương trợ và tha thứ lẫn cho nhau
Sửa đổi anh em: một việc làm có tính chất Tin Mừng. Chỉ có sự âu yếm của Người Mục Tử tốt lành mới làm ta hiểu được hết chiều sâu của đoạn Phúc âm nói về người “anh em” đã “phạm tội” này. Bản văn không nói về tính chất của tội, nhưng lời Đức Giêsu cho thấy đó là một xúc phạm đến Thiên Chúa và xúc phạm đến một người anh em, đó cũng là một việc liên quan đến Giáo Hội, cộng đoàn Kitô hữu. Qua những luật lệ và các thực hành ít nhiều phịu ảnh hưởng của Do Thái giáo, việc xoá lỗi anh em vừa giúp duy trì sự hài hoà trong Giáo Hội vốn bị đe doạ vì lỗi của một thành viên trong cộng đoàn, vừa giúp che chở tội nhân khỏi những biện pháp khắc nghiệt, vội vã. Vì thế tác giả Phúc âm nhấn mạnh trên yếu tố xem ra nền tảng nhất đối với Ngài: đòi hỏi của Phúc âm về việc nâng đỡ, lòng thương xót và sự tha thứ lẫn cho nhau. Chính tinh thần ấy đã làm phát sinh ra những cuộc vận động tiệm tiến nhiều đợt nhằm chinh phục người anh em lầm lạc mà nếp sống làm tổn tưởng sự duy nhất và chứng tá của toàn thể cộng đoàn Kitô hữu. Mục đích không phải để hoà giải với một anh em như trong Luca 17,3, nhưng là để “chinh phục”người anh em này, để đưa người ấy về với Chúa, đồng thời cũng về với cộng đoàn mà anh đã xa lìa vì tội lỗi. Sửa lỗi anh em: một cuộc vận động tiệm tiến. Bước 1, nói chuyện riêng, kín đáo giữa một người anh em với một người anh em mà anh có quyền mong đợi sự giúp đỡ ngược lại trong trường hợp chính anh ta lầm lỗi. Đó không phải là hạ nhục người tội lỗi, nhưng là giúp anh nhận ra lầm lỗi. Bước 2: nếu bước 1 không đem lại kết quả mong đợi sẽ đến bước 2: gặp gỡ có 2 hoặc 3 chứng nhân, theo đề nghị của sách Đệ Nhị luật 19, 1 như đã từng dược thực hành, dưới sự chứng giám của Phaolô, trong cộng đoàn tín hữu tại Côrintô (2Cr 13,l). Sự hiện diện của các chứng nhân báo đảm cho tính khách quan, đồng thời đưa vào đó 1 yếu tố cộng đoàn, dù luôn luôn kín đáo. Bước 3: nếu vẫn không có kết quả, ta còn một phương thế cuối cùng: đưa ra trước Giáo Hội: “trình bày sự việc trước cộng đoàn Giáo Hội”. Nếu tội nhân từ chối nghe Giáo Hội, thì, theo như bài Phúc âm, “ta hãy coi họ như người ngoại và người thu thuế”. Một công thức dứt khoát không phải là một khinh miệt hoặc kết án: Đức Giêsu đã trở nên “bạn bè với những người thu thuế kia mà. Công thức ấy chỉ tuyên bố rằng người tội lỗi tự loại trừ mình ra khỏi cộng đoàn và Giáo Hội chỉ chứng nhận sự tách lìa này và sẵn sàng đón nhận lại người mà một ngày nào đó, hy vọng thế, sẽ được ơn thánh thay đổi, giải phóng sửa lỗi anh em: một cuộc vận động từ đầu đến cuối đều nhờ lời cầu nguyện của cộng đoàn. Lời cầu nguyện theo dõi và yểm trợ tiến trình này từ đầu đến cuối. Lời cầu nguyện vẫn tiếp tục cả khi tội nhân đã lìa xa Giáo Hội, van nài cho người anh em lầm lạc được ơn hối cải. Đó là một lời cầu nguyện có sức nặng của sự hiện diện của Đấng đã hứa: “Khi có 2, 3 người tụ họp lại nhân danh Ta, Ta ở giữa họ”? C. Tassin bình luận: “Vì chính danh thánh Đức Giêsu đã qui tụ các tín hữu lại, nếu họ thực sự tụ họp lại chỉ để hành động nhân danh Ngài trong những vấn đề khó, họ chắc chắn họ sẽ có sự hiện diện chủ động và hiệu quả của Ngài. Vậy một coi sự thực hành việc “sửa lỗi anh em” là một bổn phận của các cộng đoàn tín hữu Ngài nhấn mạnh đến bầu khí cầu nguyện và ý chí hành động “nhân danh” Đức Kitô. Chính Đức Kitô sẽ nối kết mọi người đã tham dư cuộc vận động này”.
BÀI ĐỌC THÊM:
1) Việc sửa lỗi anh em (Mgr. L. Daloz, Le Règne des cieux s’est approché, DDB )
Đoạn Phúc âm này đưa ra một tiến trình hoà giải một trường hợp tế nhị trong đời sống các cộng đoàn: “Phải lành gì khi anh em ngươi phạm tội”. Câu trả lời không dễ Đức Giêsu nói gì? Hãy đi tìm nó và trách móc! Đó không phải là cách hành động. Ta thường cho rằng đó là việc cá nhân của người đó “vấn đề của nó” và rằng nó có tự do! Can thiệp, tìm gặp và trách móc, chẳng phải là tôi đã pha mình vào những việc không có liên hệ đến tôi, xen vào đời tư cá nhân; không kín đáo, không khoan nhượng, và liều mình gây gổ với anh ta sao? Ngay trong mối tương quan giữa tín hữu với nhau, ta vẫn thường hành xử như người đời quen làm trong xã hội. Ta không muốn pha mình vào công việc của người khác, ta né tránh. Dĩ nhiên trước khi can thiệp ta phải kiểm chứng xem có nên trách móc không, làm cách nào cho có kết quả. Hơn nữa xã hội ta đang sống khác với xã hội thời Đức Giêsu. Ta ít cảm thấy liên đới hơn. Tự do cá nhân là một cuộc chinh phục tương đối mới, và tuyên ngôn Nhân quyền là một hiến chương phần lớn dựa trên những tự do cá nhân này. Ta không muốn phá huỷ nó vì người khác và ta cũng không muốn người khác can thiệp vào đời sống, tư cách của ta. Ta khó chịu khi có ai đến cho ta một bài học luân lý! Còn nữa, thường thường điều mà ta không muốn nói trước mặt người khác, ta lại ít tế nhị khi nói sau lưng họ…
Đức Giêsu đã nêu lên thái độ phải giữ trong cộng đoàn môn đệ của Ngài. Ta không thể rập khuôn cách làm của ta theo những gì diên ra chung quanh. Cảm thấy có liên hệ đến những hành vi của anh em, đó là chuyện bình thường. Chính vì thế mà Đức Giêsu nói: Nếu anh em ngươi phạm tội… Anh em ngươi, đâu phải là người xa lạ, ngươi không thể nói rằng tội lỗi của nó không liên hệ gì tới ngươi. Vì sự sống của anh em ngươi, sự sống vĩnh cửu của anh ta, liên đới ngươi lắm chứ. Khi yêu ai, ta đâu dửng dưng để mặc người ấy lún sâu vào sự dữ. Ta sẽ tìm dịp cảnh tỉnh, giúp đỡ không làm anh ta phật lòng, không la mắng anh. Lỗi khuyên dạy của Đức Giêsu giả thiết ta phải có mối liên lạc huynh đệ. Phải chăng đó là vấn đề cần đặt ra cho đời sống cộng đoàn chúng ta? Có tình thân rồi, ta có thể nói với nhau nhiều chuyện, giúp đỡ nhau nhiều việc. Trách móc không có nghĩa là nói nặng lời, hung hăng, dữ tợn. Trái lại lời khuyên của Đức Giêsu kêu gọi ta hành động với sự tế nhị: “Nếu anh em ngươi phạm tội, hãy đi gặp và trách móc nó giữa hai người với nhau. Sự kín đáo của cuộc vận động tránh đưa tội lỗi ra công khai. Điều này hoàn toàn phù hợp với một mối liên lạc cá nhân, huynh đệ. Và Đức Giêsu nhấn mạnh đến mục đích của cuộc vận động: đó là cứu lấy anh em, chinh phục anh em, để nó đừng hư mất: nếu nó nghe ngươi, ngươi đã lợi được một người anh em. Đó không phải là lời nói gắt gỏng, của thói phê bình chỉ trích, hay đối nghịch. Đó không phải là từ ngữ hạ nhục, là sự dò xét chế tài của kẻ bề trên. Ai tiến hành cuộc vận động ấy cũng phải sẵn sàng đón nhận sự trách móc ngược lại.
2) Mô hình của mọi cuộc hoà giải trong Giáo Hội.
Trong chương 18 mà ta quen gọi là “diễn từ về cộng đoàn các môn đệ”, là sự miêu tả một tiến trình hoà giải trong Giáo Hội tạo nên, một cách nào đó, mô hình căn bản cho mọi hoà giải trong Giáo Hội. Đó là một tiến trình bao gồm cả gặp gỡ của cá nhân lẫn vận động của cộng đoàn. “Nếu anh em ngươi phạm tội, hãy đến nói với nó…” (Mt 18,15). Một cuộc hoà giải thực sự luôn luôn đòi có một tiếp xúc cá nhân bằng cách nào đó. Giáo Hội luôn ý thức về tầm quan trọng của tiếp xúc này. Chính vì thế, ở mọi thời, dù phép cáo giải có mặc hình thức nào đi nữa, vẫn luôn luôn dành chỗ cho một đối thoại cá nhân. Một đối thoại như thế thường rất khó khăn – Chính Đức Giêsu đã có kinh nghiệm đau đớn về điều đó – nhưng không phải vì thế bỏ cuộc: “nếu nó không nghe ngươi, hãy nhờ 1 hoặc 2 ngươi khác đi với ngươi… nếu nó từ chối nghe họ, hãy đưa ra cộng đoàn Giáo Hội…” (Mt 18,16-18). Hãy ghi nhận sự tiệm tiến của những phương thế được sử dụng để thoát ra khỏi tình trạng gãy dỗ: đó là phối hợp những cố gắng để nối lại đối thoại, nói lên sự thực và tìm lại được sự hiệp thông. Chính nhờ cộng đoàn mà quyết định được thi hành, trước mặt cộng đoàn mà sự hoà giải phải được ký kết. Trong trường hợp sự hoà giải thất bại, Phúc âm nói tiếp: nếu nó từ chối nghe Giáo hội, hãy coi nó như người ngoại hoặc như người thu thuế…. Rất nhiều nhà bình luận đã chú giải lời nói như kết án, loại trừ này: nhưng ta có thể hiểu một cách hoàn toàn khác hẳn, dưới ánh sáng của Phúc âm: vào thời Đức Giêsu, từ ngữ “ngoại đạo” chỉ những người, tuy theo một đạo (thời đó ai mà không có đạo?) nhưng vẫn chưa quay trở về với Thiên Chúa Hằng Sống và Chân thật còn về “những người thu thuế vào thời chiếm đóng của đế quốc La-mã, họ khép mình trong một hệ thống bất công. Tuy nhiên, trong Phúc âm ta thấy Đức Giêsu, dù người Do Thái đạo đức lấy làm vấp phạm, vẫn ăn uống với những người thu thuế, dưới ánh sáng của thái độ của Đức Giêsu, đối xử ai như “kẻ ngoại đạo và người thu thuế là một lời mời gọi hãy có thái độ đồng hành với những người, mà vì lý do nào đó, vẫn chưa có đức tin hoặc đóng kín trong sự bất công và không thể tự mình thoát ra. Họ chưa đón nhận được Tin Mừng của một Thiên Chúa “không muốn kẻ tội lỗi phải chết, nhưng muốn nó ăn năn ám hối và được sông (Ez 18, 23). Chính trong bối cảnh cầu nguyện cộng đoàn mà sự hoà giải có thể được thực hiện. Điểm cốt yếu trong cuộc vận động không gì khác hơn là ơn tha thứ của Thiên Chúa. Ở đây ta gặp lại lời tuyên bố long trọng: “Thật, Ta bảo thật các người, điều gì các con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc và điều gì các còn cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở (Mt 18,18). Lời nói đó được sử dụng để nói lên uy quyền của Phêrô là đầu Giáo Hội (Mt 15,19). Nhưng Đức Giêsu nói thêm: “… Ta lại bảo các ngươi: nếu hai người dưới đất hiệp ý với nhau” và xin sự gì, Cha Ta trên trời sẽ ban cho họ (Mt 18,19-20). Đây không đơn thuần là một giải quyết giữa anh em loài người, nhưng là cùng nhau đến trước tình yêu Thiên Chúa, chỉ mình Ngài có quyền Trong một bối cảnh như thế, người thi hành tác vụ hoà giải phải cư xử không phải như chủ nhân của sự tha thứ nhưng phải như tôi tớ của sự tha thứ của Thiên Chúa mà chính đương sự là kẻ đầu tiên được thụ hưởng. Trong lịch sử, mô hình Phúc âm này có lẽ đã được ứng dụng nhiều cách khác nhau mà chúng ta đã phần nào được thừa kế.


Xem thêm…

VINH QUANG CHÚA

03:44 |
VINH QUANG CHÚA
Chúng ta “TẠ ƠN CHÚA” vì người đã tặng ban cho Giáo hội và ban cho thế giới này Thánh Martinô, một vị thánh da đen nhưng lại có “tấm lòng vàng” mà hôm nay chúng ta qui tụ nơi đây cầu nguyện với Ngài và noi gương các nhân đức của Ngài.
Và giờ đây chúng ta cùng xin ơn Chúa Thánh Thần xuống ơn cho chúng ta để trong giờ cầu nguyện này được ơn lành phần hồn và phần xác.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Luca : 

Khi ấy, Đức Giê-su lên núi cầu nguyện đem theo các ông Phê-rô, Gio-an và Gia-cô-bê. Đang lúc Người cầu nguyện, dung mạo Người bỗng đổi khác, y phục Người trở nên trắng tinh chói loà. Và kìa, có hai nhân vật đàm đạo với Người, đó là ông Mô-sê và ông Ê-li-a. Hai vị hiện ra, rạng ngời vinh hiển, và nói về cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giê-ru-sa-lem. Còn ông Phê-rô và đồng bạn thì ngủ mê mệt, nhưng khi tỉnh hẳn, các ông nhìn thấy vinh quang của Đức Giê-su, và hai nhân vật đứng bên Người. Đang lúc hai vị này từ biệt Đức Giê-su, ông Phê-rô thưa với Người rằng : "Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay ! Chúng con xin dựng ba cái lều, một cho Thầy, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a." Ông không biết mình đang nói gì. Ông còn đang nói, thì bỗng có một đám mây bao phủ các ông. Khi thấy mình vào trong đám mây, các ông hoảng sợ. Và từ đám mây có tiếng phán rằng : "Đây là Con Ta, người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người !" Tiếng phán vừa dứt, thì chỉ còn thấy một mình Đức Giê-su. Còn các môn đệ thì nín thinh, và trong những ngày ấy, các ông không kể lại cho ai biết gì cả về những điều mình đã thấy.

Suy niệm
 
Kính thưa cộng đoàn, bài Tin mừng chúng ta vừa nghe, thuật lại việc Chúa Giêsu biến hình, khi biến hình khuôn mặt của Người sáng láng. Khuôn mặt sáng láng là dấu chỉ sự thánh thiện và tinh tuyền.
Nhờ ánh sáng Chúa biến hình hôm nay, ba môn đệ cũng phóng tầm nhìn rất xa, xa tới tận bản tính Thiên Chúa. Chính vì thế, các ông đã xác định được hướng sống và tìm được nền tảng của niềm hi vọng cho cuộc đời. Trong ánh sáng kỳ diệu đó, Đức Giêsu đã mạc khải tất cả sự thật về Người.  Sứ mệnh Người hiện rõ từng nét. Chúng ta tìm về ánh sáng đó để cùng các môn đệ ngất ngây chiêm ngưỡng dung nhan tuyệt vời của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa và là Đấng cứu độ muôn dân.
Có thể nói mỗi người chúng ta nhận diện nhau qua khuôn mặt. Mỗi khi gặp gỡ nhau, nhìn khuôn mặt chúng ta biết họ đang ở trong tâm trạng nào. Nếu chúng ta có dịp ngồi quan sát người qua lại trên hè phố. Chúng ta sẽ nhận ra nơi mỗi khuôn mặt một sự biểu lộ khác nhau. Có những khuôn mặt vui tươi, đơn sơ và thánh thiện. Có những khuôn mặt đau buồn, hớt hả lo lắng và bồn chồn. Có những khuôn mặt sầu não, lạnh lùng và sắt đá. Trông mặt mà bắt hình dong. Nhìn họ chúng ta hiểu được chút tâm sự của họ.
Thánh Martin đã nhận ra khuôn mặt của Chúa trong những con người nghèo khổ, bệnh tật mà ngài vẫn thường giúp đỡ. Vì thánh nhân hiểu ra một điều đó là ai cho người bé mọn này dù chỉ một chén nước lã thôi là trao ban cho Chúa.
Hơn nữa, thánh Martin đã phóng tầm nhìn ra xa, đó đến với ai cô đơn, lẻ loi, buồn chán thất vọng để những con người đó tìm lại được niềm hy vọng sống cho cuộc đời của mình.
Chúa ơi, Chúa đã làm bao việc vĩ đại qua con người da đen hèn mọn, để chúng con được thấy vinh quang của Chúa. Xin cho chúng con biết sống yêu thương, tha thứ và quảng đại với hết mọi người, hầu làm cho danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến.
Kính thưa cộng đoàn, dẫu phải chu toàn những giờ kinh, những công việc trong nhà dòng, nhưng không vì thế mà thánh nhân bỏ quên các bạn nghèo khổ, bệnh tật của ngài : với người nghèo túng, ngài luôn quan tâm cấp dưỡng, tạo cho họ công ăn việc làm, và chính ngài cũng nỗ lực làm việc để có tiền giúp đỡ họ ; với người bệnh tật, ngài tự tay chăm sóc; và đối với người bị kỳ thị, bỏ rơi, ngài trân trọng, yêu thương và đón nhận họ.

Lời cầu
Lạy Chúa, Chúa đã vinh quang cho các môn đệ được thấy – nhờ lời chuyển cầu của thánh Martin, xin cho ban cho chúng con một tâm hồn trong sạch để chúng con cũng đượ nhìn thấy vinh quang Chúa. Chúng con cầu xin Chúa.
Lạy Chúa, ngày nay biết bao gia đình tan vỡ vì không thiếu cảm thông, chia sẻ với nhau – nhờ lời chuyển cầu của thánh Martin, xin mỗi người trong đình chúng con cũng cảm thông, tha thứ và san sẻ với nhau những khó khăn để gia đình chúng con được bình an, hạnh phúc. Chúng con cầu xin Chúa.
Lạy Chúa, Chúa đã dạy chúng con nghe lời Con Chúa – nhờ lời chuyển cầu của thánh Martin, xin cho chúng con biết nhận ra tiếng Chúa mời gọi, để chúng con cũng biết quảng đại giúp đỡ những người nghèo khổ, bệnh tật. Chúng con cầu xin Chúa.

Lời nguyện kết thúc :
Lạy Chúa, Chúa đã ban cho thánh Martinô có đời sống bác ái khiêm nhu phục vụ các anh chị em nghèo khổ. Xin cho chúng con mỗi khi chiêm ngắm các nhân đức của người, chúng con cũng biết noi gương người quảng đại thi ân cho những anh chị em kém may mắn hơn, hầu làm cho Nước Cha hiển trị ngay ở thế gian này. Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen.
Xem thêm…

Con thứ 3 thì không có quyền làm người!?

00:22 |

 TMSS: Con thứ 3 trở lên thì không có quyền làm người và là người sao!? Thật bất nhân khi không cho trẻ em quyền làm người!

-----------

Các linh mục Công giáo phản đối UBND huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An “phạt hành chính sinh con thứ ba trở lên” và “không cho trẻ em khai sinh”

VRNs (01.09.2014) – Ngày 25/8/2014 vừa qua, 8 Linh mục Công giáo thuộc Hạt Nhân Hoà, Giáo phận Vinh, đại diện cho gần 18.000 giáo dân trong Hạt ký văn bản phản đối nhà cầm quyền huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An về việc “phạt hành chính sinh con thứ ba trở lên” và “không cho trẻ em khai sinh”.
Nhiều gia đình cư trú trong huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An khi sinh con thứ ba trở lên bị nhà cầm quyền phân biệt đối xử, bị ép đóng tiền phạt lên đến 1.500.000 đồng, thậm chí từ chối cấp Giấy khai sinh cho con em của họ, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền con người và đặc biệt là Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em năm 1989 của Liên Hiệp quốc mà Việt Nam tham gia ký kết.
Các Linh mục đã nhiều lần nhắc nhở cán bộ địa phương về hành vi này nhưng các cán bộ vẫn ngoan cố cho rằng làm đúng pháp luật.
8 Linh mục đã ký tên phản đối là:
1. Nguyễn Đình Thăng, Chính xứ Mỹ Yên
2. Nguyễn Xuân Phương, Chính xứ Nhân Hoà
3. Trần Minh Hồng, Chính xứ Xuân Kiều
4. Hoàng Đức Nhân, Chính xứ La Nham
5. Nguyễn Ngọc Nam, Chính xứ Xuân Mỹ
6. Đặng Hữu Nam, Chính xứ Bình Thuận
7. Nguyễn Văn Hà, Chính xứ Mẫu Lâm
8. Đặng Đình Sỹ, Phụ trách Đền Thánh Antôn, Trại Gáo


140901-GP Vinh 2

 Theo chuacuuthe

Xem thêm…

Thêm một nhà báo Mỹ bị ISIS chặt đầu

16:03 |
TMSS: Tôn giáo đã bị lợi dụng và con người trở thành nạn nhân cho những kẻ cơ hội. Xin hãy cầu nguyện cho các chiến bình nhóm  nhà nước hồi giáo biết quay đầu và đừng để xảy ra những cái chết không đáng có như thế này. 
-----------
 Thêm một nhà báo Mỹ bị ISIS chặt đầu

Quân khủng bố "Nhà nước Hồi giáo" ISIS vừa sát hại thêm một nhà báo Hoa Kỳ thứ nhì, và phổ biến đoạn phim vidéo chiếu cảnh này lúc trưa thứ ba, 2 tháng 9, 2014.
Trong đoạn phim, trước khi bị giết bằng cách cắt đầu, nhà báo Mỹ Steven Sotloff phải phát biểu rằng ông "trả giá cho sự can thiệp của Mỹ."
Tên đao phủ bịt mặt trong phim nói bọn chúng sẽ tiếp tục chặt cổ dân Mỹ nếu hỏa tiễn của Mỹ còn dập xuống bọn chúng.
Hôm thứ năm Tổng thống Obama nói Hoa Kỳ chưa có chiến lược đối với quân ISIS tại Syria, và ông đã chỉ thị các viên chức quốc phòng chuẩn bị sẵn một số chiến lược để chọn lựa.
Cách đây mấy ngày bà mẹ của Steven Sotloff nói trong một đoạn video phổ biến trên truyền hình, xin lãnh tụ Baghdadi của quân ISIS tha mạng cho Sotloff vì ông là người làm báo vô tội, chỉ đến Trung Đông để tường trình sự thống khổ của người Hồi giáo dưới ách độc tài.
Steven Sotloff 31 tuổi, tốt nghiệp ngành báo chí tại Florida, mất tích tháng 8 năm ngoái khi đang làm việc tại Syria. Gia đình và chính phủ Mỹ đã âm thầm tìm cách cho ông được phóng thích trong năm qua, nhưng không thành công.

Phản ứng về việc nhóm Nhà Nước Hồi Giáo chặt đầu nhà báo Mỹ Sotloff 

Nhóm cực đoan Nhà Nước Hồi Giáo hôm thứ Ba vừa công bố một video cho thấy việc chặt đầu con tin thứ hai của Mỹ, nhà báo Steven Sotloff.
Ảnh ký giả Steven Sotloff trích từ video
 Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ Jen Psaki hôm thứ Ba nói các giới chức đang kiểm tra tính xác thực của video trên. Nếu xác thực, bà Psaki nói, “chúng tôi thấy kinh tởm”.
Các hình ảnh được đưa ra sau việc công bố video vụ chặt đầu khủng khiếp nhà báo tự do Mỹ Jim Foley vào tháng trước.
Trong video mới nhất, kẻ giết người nói với Tổng thống Barack Obama rằng cái chết của ông Sotloff là để trả đũa cho các vụ không kích của Hoa Kỳ chống lại các phần tử chủ chiến.
Chiến binh này nói “khi phi đạn của ông tiếp tục giáng xuống trên người của chúng tôi, con dao của chúng tôi sẽ tiếp tục chặt đầu người của ông”.
Anh ta còn đe dọa lấy mạng của con tin người Anh David Cawthorne Haines.
Thủ tướng Anh David Cameron gọi vụ giết ông Sotloff là “kinh tởm và đáng khinh bỉ”.
Nhà Nước Hồi Giáo đã chặt đầu một nhà báo Mỹ khác vào tháng rồi, ông James Foley và cũng đăng tải vụ giết người tàn bạo lên internet.
Phát ngôn viên của gia đình ông Sotloff nói đã biết về đoạn video và rất đau buồn.
Sau vụ giết ông Foley, mẹ của ông Steven Sotloff, bà Shirley đã trực tiếp kêu gọi thủ lĩnh của Nhà Nước Hồi Giáo Abu Bakr al-Baghdadi phóng thích con bà. Bà nói ông Sotloff không nên bị trả giá cho các chính sách của Hoa Kỳ ở Iraq.
Hoa Kỳ đã hợp tác với chính quyền Iraq thực hiện các cuộc không kích chống lại Nhà Nước Hồi Giáo kể từ đầu tháng 8.
Ông Sotloff đã bị bắt tại Syria vào tháng 8 năm 2013, khoảng một năm sau khi ông Foley bị bắt làm con tin.
Ông Sotloff làm việc cho các tạp chí Time và Foreign Policy.
Phát ngôn viên của Ngũ Giác Đài, chuẩn đô đốc John Kirby hôm thứ Ba cho biết Hoa Kỳ sẽ tiếp tục thực hiên các cuộc không kích để dập tắt khả năng của nhóm Nhà Nước Hồi Giáo đe dọa con người và cở sở vật chất của Hoa Kỳ, hoặc hỗ trợ viện trợ nhân đạo hơn nữa cho những người bị nhóm cực đoan bức hại.
Tổ chức Ân xá Quốc tế hôm thứ Ba nói họ có bằng chứng các phần tử chủ chiến Hồi giáo đang thực hiện một chiến dịch có hệ thống trong việc thanh trừng sắc tộc ở miền Bắc Iraq, thực hiện các tội ác chiến tranh, bao gồm giết người hàng loạt và bắt cóc.

 

Xem thêm…

Thứ Tư sau Chúa nhật XXII Thường Niên

08:19 |
Thứ Tư sau Chúa nhật XXII Thường Niên


 Bài đọc xem tại đây:  KTCMN
Tung hô Tin Mừng    Lc 4,18
 Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúa sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha. Ha-lê-lui-a.
 

 Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
               Lc 4,38-44

38 Khi ấy, Đức Giê-su rời khỏi hội đường, đi vào nhà ông Si-môn. Bấy giờ, bà mẹ vợ ông Si-môn đang bị sốt nặng. Họ xin Người chữa bà. 39 Đức Giê-su cúi xuống gần bà, ra lệnh cho cơn sốt, và cơn sốt biến mất : tức khắc bà trỗi dậy phục vụ các ngài.
40 Lúc mặt trời lặn, tất cả những ai có người đau yếu mắc đủ thứ bệnh hoạn tật nguyền, đều đưa tới Người. Người đặt tay trên từng bệnh nhân và chữa họ. 41 Quỷ cũng xuất khỏi nhiều người, và la lên rằng : “Ông là Con Thiên Chúa !” Người quát mắng, không cho phép chúng nói, vì chúng biết Người là Đấng Ki-tô.
42 Sáng ngày, Người đi ra một nơi hoang vắng. Đám đông tìm Người, đến tận nơi Người đã đến, và muốn giữ Người lại, kẻo Người bỏ họ mà đi. 43 Nhưng Người nói với họ : “Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa, vì tôi được sai đi cốt để làm việc đó.” 44 Và Người rao giảng trong các hội đường miền Giu-đê.

 Suy niệm: ĐẾN VỚI CHÚA…*

Tại một ngôi làng nhỏ ở thôn quê nước Pháp, hàng ngày cứ vào khoảng 11 giờ trưa, người ta thấy một lão nông bước vào nhà thờ. Ông chỉ ngồi thinh lặng nhìn lên Chúa. Cha xứ thấy lạ nên mới hỏi tại sao ông làm việc này. Ông trả lời: Con đến chỉ để ngồi nhìn Chúa là con cảm thấy vui rồi.
Tin mừng cho thấy các môn đệ đã mang những ưu sầu của họ đến với Đức Giê-su, vì họ nhận ra Người có thể giải thoát và chữa lành. Ông Si-môn đã đến với Đức Giê-su, đưa Người đến với mẹ vợ của mình và lập tức bà được chữa lành.
Chúng ta có để cho Đức Giê-su là Đấng chữa lành đến với bản thân, gia đình và cộng đoàn của mình không? Ta có tin tưởng quyền năng Chúa sẽ cứu chữa mình lành bệnh không? Hãy xác tín vào tình yêu của Chúa, tình yêu có sức biến đổi và chữa lành. Hãy phó thác cuộc đời chúng ta trong bàn tay quan phòng đầy yêu thương của Thiên Chúa.
Lạy Chúa Giê-su, xin cho chúng con biết kín múc nơi Chúa nguồn ân sủng và sức mạnh, để chúng con được chữa lành và có thêm nguồn sức mạnh để phục vụ tha nhân. 
------------
* Suy niệm lấy từ CNC
Xem thêm…

Các nhà lãnh đạo Giáo hội tại Trung Ðông lên án Nhà nước Hồi giáo phạm tội ác "chống lại nhân loại"

08:12 |
Các nhà lãnh đạo Giáo hội tại Trung Ðông
lên án Nhà nước Hồi giáo
phạm tội ác "chống lại nhân loại"
 
Một vụ thảm sát do nhóm nhà nước hồi giáo thực hiện
Các nhà lãnh đạo Giáo hội tại Trung Ðông lên án Nhà nước Hồi giáo phạm tội ác "chống lại nhân loại".
Iraq (WHÐ 01-09-2014) - Các vị Thượng phụ và các nhà lãnh đạo Giáo hội của các Giáo hội nghi lễ Ðông phương đã một lần nữa lên án điều mà các ngài gọi là "tội ác chống lại nhân loại" của các chiến binh Nhà nước Hồi giáo (trước đây là ISIS) tại Iraq và Syria. Trong cuộc gặp gỡ bên ngoài Thủ đô Beirut của Liban, các ngài lên án cuộc đàn áp và giết hại các Kitô hữu, người Yazidi và các dân tộc thiểu số khác, và nói rằng chiến dịch khủng bố của quân jihad đang đe doạ sự có mặt liên tục của các Kitô hữu trong khu vực này.
Các ngài cảm ơn những người đã cung cấp viện trợ nhân đạo cho những người bị trục xuất, và kêu gọi cộng đồng quốc tế ngăn chặn "hành động tội ác" của Nhà nước Hồi giáo cũng như thúc giục các tổ chức Hồi giáo mạnh mẽ lên án nhóm Hồi giáo cực đoan.
Ðây là tuyên bố mới nhất trong một chuỗi hành động của các nhà lãnh đạo Giáo hội thuộc các nghi lễ cổ xưa nhất của Giáo hội Công giáo có nguồn gốc ở Trung Ðông khoảng hai ngàn năm trước.
Tuần trước, Ðức Thượng phụ Bechara Rai (nghi lễ Maronite) của Liban đã đến thăm những người tị nạn của cộng đồng Kitô giáo và người Yazidi tại Erbil, trong khu vực của người Kurd. Cùng với các Ðức Thượng phụ Louis Sako (nghi lễ Canđê), ngài đã lên tiếng yêu cầu chấm dứt cuộc sát hại các thường dân vô tội.
Trước đó trong tháng Tám, các vị Thượng phụ Ðông phương đã đưa ra một tuyên bố nói rằng "Các Kitô hữu ở các nước Trung Ðông đang bị đàn áp dã man, bị các nhóm cực đoan takfiri trục xuất khỏi nhà cửa và quê hương của họ mà cộng đồng quốc tế hoàn toàn im lặng".
Tuyên bố nêu rõ: "Chúng tôi kêu gọi Liên đoàn Ả Rập, Tổ chức Hội nghị Hồi giáo, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và Tòa án Hình sự Quốc tế phải có hành động ứng cứu nhanh chóng, hiệu quả và ngay tức khắc".
Các vị Thượng phụ kêu gọi Liên Hiệp Quốc phải hành động kiên quyết "để bảo đảm cho người dân được trở về vùng đất của họ bằng mọi cách và trong thời gian sớm nhất".
(Vatican Radio)
 Minh Ðức
Xem thêm…

THỨ BA sau chúa nhật XXII Thường Niên

08:05 |
THỨ BA 02.09 - Tuần XXII Thường Niên
1Cr 2,10b-16; Lc 4,31-37

 Bài đọc xem tại đây: KTCMN

 Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
 
31 Khi ấy, Đức Giê-su xuống Ca-phác-na-um, một thành miền Ga-li-lê, và ngày sa-bát, Người giảng dạy dân chúng. 32 Họ sửng sốt về cách Người giảng dạy, vì lời của Người có uy quyền.
33 Trong hội đường, có một người bị quỷ thần ô uế nhập, la to lên rằng : 34 “Ông Giê-su Na-da-rét, chuyện chúng tôi can gì đến ông, mà ông đến tiêu diệt chúng tôi ? Tôi biết ông là ai rồi : ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa !” 35 Nhưng Đức Giê-su quát mắng nó : “Câm đi, hãy xuất khỏi người này !” Quỷ vật người ấy ngã xuống giữa hội đường, rồi xuất khỏi anh ta, nhưng không làm hại gì anh. 36 Mọi người rất đỗi kinh ngạc và nói với nhau : “Lời ấy là thế nào ? Ông ấy lấy uy quyền và thế lực mà ra lệnh cho các thần ô uế, và chúng phải xuất !” 37 Và tiếng đồn về Người lan ra khắp nơi trong vùng.
 
Suy niệm: LỜI BIẾN ĐỔI*

Phát biểu trong lễ tốt nghiệp của các học sinh lớp 12 Trường trung học Wellesley ở bang Massachusetts (Mỹ) vào tháng 6/2012, giáo viên tiếng Anh David McCullough Jr. đã gây sốc khi nói thẳng với các học sinh rằng: “Các em chẳng có gì đặc biệt.” Lời nói này đã gây nên một làn sóng lớn trong dư luận xã hội với những nhận định khen chê trái chiều.
Câu nói của David McCullough Jr. thật đúng với tinh thần của bài Tin mừng. Quả thật, “chúng ta chẳng có gì đặc biệt” vì có gì mà không nhận lãnh từ Thiên Chúa? Và, nếu “chúng ta có gì đặc biệt” đi nữa thì cũng là nhờ cậy vào quyền năng và tình thương của Người.
Đức Giê-su có uy quyền trong lời giảng dạy. Uy quyền không do thế gian, nhưng phát xuất từ Thiên Chúa. Lời uy quyền của Đức Giê-su là lời có sức biến đổi và chữa lành. Lời có sức giải thoát qua việc chữa lành bệnh tật. Lời mang tính cứu độ qua việc công bố ơn tha tội của Thiên Chúa.
Vậy chúng ta hãy để cho Lời Chúa thấm nhập và biến đổi đời mình. Hãy đáp lại lời Chúa bằng tất cả niềm tin yêu và vâng phục. Được thế thì “đời chúng ta sẽ thật đặc biệt”!
Lạy Chúa, Lời Chúa có sức chữa lành và giải thoát chúng con khỏi ách nô lệ tội lỗi và mọi nỗi ưu phiền. Xin Lời của ngài luôn là đèn soi dẫn bước đường chúng con.
--------------
* suy niệm lấy từ CNC
Xem thêm…

Những gáo nước lạnh cho ý thức

08:00 |

TMSS: Quả đúng như vị nhạc sĩ nhận định: Cần rất nhiều gáo nước lạnh để thức tỉnh nhiều người, trong đó có cả chúng ta, những người tưởng như đàng hoàng nhưng đôi khi rất vô cảm!

-------

Những gáo nước lạnh cho ý thức

 Nhạc sĩ Tuấn Khanh

Trong một nghiên cứu được công bố vào ngày 28 tháng 8, tổ chức ALS, tức nơi đang sở hữu trò chơi thách thức dội nước đá (Ice Bucket Challenge, tạm gọi IBC) cho biết họ lấy làm tiếc rằng có đến 73% số tiền gọi là tham gia trò chơi này để quyên góp từ thiện, đã hoàn toàn sai mục đích. Đã có quá nhiều người dùng trò IBC này để đánh bóng tên tuổi cũng mình, làm trò ruồi và cười vui ngớ ngẩn trên nghĩa cử của người tạo ra trò chơi này cho mục đích nhân đạo.
Cũng như mọi điều mới lạ ập đến từ thế giới bên ngoài, trong vài tháng nay, Việt Nam đã mau chóng bắt chước với những trò trình diễn IBC trên truyền hình cũng như trên các trang mạng xã hội, với mục đích tạo sự kiện cho chính bản thân mình hơn là một giá trị nhân văn. Tiền thu được của các cuộc IBC chỉ thường dùng vào các cuộc ăn nhậu hay giải trí – thay vì góp vào việc trợ giúp các bệnh nhân đang đau đớn.
Vì sao lại dội nước đá? Cơn lạnh buốt ập đến cùng sự tê dại, nhắc cho bạn biết rằng những bệnh nhân đang mắc chứng suy giảm thần kinh cơ hoạt (Amyotrophic Lateral Sclerosis) đã trãi qua những cảm giác như thế nào, ít nhất là vậy. Nó không giống với những lời thách thức ẽo ợt và trình diễn bản thân, sau đó là những thùng, tô nước đá để kết thúc cho vở kịch ngắn Việt Nam tệ hại mà chúng vẫn hay thấy trên youtube hiện nay.
Cũng cần nói thêm, ALS cũng chưa hề nhận được đồng nào từ Việt Nam, cho các màn biểu diễn rầm rộ gần đây.
Nhưng ngoài các câu chuyện tự làm rõ bản thân đó, mà chúng ta vẫn thấy hiện nay, ý nghĩa của trò chơi có bản quyền IBC như đang gợi ý rằng, có lẽ Việt Nam cũng nên tạo ra một kiểu trò chơi thách thức như vậy, đại loại như CWC (Cold Water Challenge), nhằm đánh thức bản thân mình, đánh thức một giá trị sống tử tế.
CWC, tạm diễn giải theo tiếng Việt, là trò “tạt một gáo nước lạnh”. Có rất nhiều loại người, có rất nhiều sự kiện mà người Việt vẫn chứng kiến hàng ngày chung quanh mình, đang thật sự cần một trò chơi tự tạt một gáo nước lạnh vào mặt, để nhận ra mình đang làm gì, và điều gì đang diễn ra trên đất nước này. Việc tự tạt một gáo nước lạnh vào mặt mình, hay thách thức nhau cùng làm, có lẽ sẽ là một động thái nhắc nhở cần thiết trong một xã hội đang quá ù lì, con người phô diễn với nhau nhiều hơn là thật lòng, những điều dối trá thì được che đậy bằng nguỵ ngôn tầm thường đến mức, ở mỗi quán cà phê vỉa hè, cùng mở tờ báo sáng ra đọc, ai ai cũng dễ dàng nghe thấy chung quanh tiếng phản ứng bật lên bất kỳ.
Chẳng hạn như trong sự việc tự xử mình thắng kiện của Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau với khiếu nại của bà Nguyễn Ánh Minh về việc bà bị xử oan, bị giam 562 ngày, tán gia bại sản. Cũng cần ai đó trong ngành luật thách thức những người chịu trách nhiệm của vụ án này tại Cà Mau, hãy tạt một gáo nước lạnh để nhận rõ vị trí và giá trị của mình trong xã hội, giữa tiếng than van của dân chúng.
Hay chuyện về ông Phùng Văn Cung bị Toà án Nhân dân Gia Lai – Kon Tum xử tù về tội lường gạt, 30 năm sau mới giải oan được thì ông đã chết. Trong quá trình xét xử, con của ông Cung là bà Phùng Thị Kim Oanh quỳ lạy trước cổng toà án để xin hai chữ công tâm, sau đó cũng bị tù vì tội “hành hung nhân viên toà án”. Cả một gia đình đã có người chết, nghèo đói, sụp đổ vì oan khiên này. Những người tham gia xét xử vụ án chắc cũng cần tham gia trò chơi tạt nước lạnh vào mặt mình để biết rằng số phận con người là ý thức hàng đầu phải có, khi nắm trong tay quyền lực.
Trong trường hợp ông Bùi Thắng, ở Tân Phú, TP.HCM thì có lẽ khác. Có lẽ ông cần thách thức công an viên ở phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, TP.HCM tự tạt một gáo nước lạnh vào mặt, về việc con của ông tố cáo vô cớ bị bị công an phường này chận giữa đường, đánh đập trọng thương, sau đó đòi phải nộp 20 triệu đồng mới được chuộc ra. Hoặc chị Lý Nguyễn Minh Nhị, ở quận 3, TP.HCM, cũng nên thách thức nhóm cảnh sát giao thông chốt Hàng Xanh tự tạt gáo nước lạnh vào mặt, khi chị nghe thấy họ trả lời “Đây là việc của chị, không phải cùa chúng tôi”, khi chị lên tiếng cầu cứu giữa đêm khuya. May ra, những gáo nước lạnh có thể giúp họ nhận ra sợi dây liên kết của con người với đời sống văn minh là đâu. May ra, một gáo nước lạnh có thể cứu vãn được một điều gì đó. May ra!
Chúng ta đang thật sự cần những gáo nước lạnh cho đời sống hừng hực nóng đầy tính duy lợi này. Những nhà trí thức nguỵ quân tử, những quan chức vội tuyên bố rồi quên, những tập thể chỉ biết vỗ tay và bấm nút cho những đề án cưỡng bức túi tiền người dân… Những gáo nước lạnh cần thiết để tạo nên cú sốc, nhắc về lòng tự trọng và nhân cách mà mỗi người cần phải có.

—————————–
* Toà Cà Mau tự xét xử mình thắng kiện
* Quỳ lạy xin hai chữ công tâm, án oan 30 năm
* Chuyện công an đánh người vô cớ, đòi tiền chuộc
Xem thêm…

Copyright ©THT - Được biên soạn và sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau - Ghi rõ nguồn:quatangsusong.blogspot.com/ - Khi phát hành thông tin trên trang này
Gx Đaminh | Namkna | Trung Tâm Học Vấn Đaminh | Kho tài liệu hay |