TÔNG THƯ CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ GỬI TẤT CẢ CÁC NGƯỜI TẬN HIẾN NHÂN DỊP NĂM ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN

17:53 |

Bản DOC - Bản PDF

 

LTS: Vào ngày lễ Đức Mẹ dâng mình trong đền thờ, Đức thánh cha Phanxicô đã gửi một tông thư nhân dịp Năm Đời sống Thánh hiến (30/11/2014 – 2/2/2016). 
Nội dung gồm ba phần chính: 

I. Ba mục tiêu của Năm đời sống thánh hiến: 
  1. Nhớ lại quá khứ với lòng biết ơn. 
  2. Sống hiện tại với lòng say mê. 
  3. Nhắm đến tương lai với niềm hy vọng.
II. Những điều Đức Thánh Cha mong đợi nơi các người tận hiến trong Năm nay: 
  1. Sống niềm vui. 
  2. Sống ngôn sứ. 
  3. Sống hiệp thông. 
  4. Ra khỏi nhà. 
  5. Lắng nghe tiếng Thánh Linh và các nhu cầu của thời đại.
III. Những chân trời của Năm đời sống thánh hiến. Đức Thánh Cha còn muốn ngỏ lời đến: 
  1. Các giáo dân liên kết với đặc sủng dòng tu. 
  2. Toàn thể Hội thánh. 
  3. Những người thánh hiến thuộc các giáo hội ngoài Công giáo. 
  4. Những tu sĩ thuộc các tôn giáo lớn. 
  5. Các giám mục.
ND = Chú thích của người dịch 
Phan Tấn Thành chuyển ngữ 
------------------

Các người nam nữ tận hiến thân mến,

Tôi viết cho anh chị em với tư cách là Người kế vị thánh Phêrô, đã được Chúa Giêsu uỷ thác nhiệm vụ củng cố anh em trong đức tin (x. Lc 22,32), và tôi cũng viết cho anh chị em như một người tận hiến giống như anh chị em.

Chúng ta hãy tạ ơn Chúa Cha, Đấng đã kêu gọi chúng ta đi theo Đức Giêsu trong việc gắn bó trọn vẹn với Tin Mừng và trong việc phục vụ Giáo hội, Đấng đã đổ xuống tâm hồn chúng ta Thánh Linh mang lại niềm vui và biến chúng ta trở thành những chứng nhân cho tình yêu và lòng thương xót của Chúa trước mặt thế giới.

Đáp lại ước nguyện của nhiều anh chị em và của Bộ Đời sống thánh hiến và các Tu đoàn tông đồ, nhân dịp kỷ niệm 50 năm Hiến chế tín lý Lumen gentium về Hội thánh đề cập đến các tu sĩ ở chương VI, cũng như Sắc lệnh Perfectae caritatis về việc canh tân đời sống tu trì, tôi đã quyết định mở ra một Năm Đời sống thánh hiến, bắt đầu vào ngày 30 tháng 11 năm nay, chúa nhật thứ I Mùa Vọng, và kết thúc vào lễ Dâng Chúa Giêsu vào đền thờ, ngày 2 tháng 2 năm 2016. 

Sau khi tham khảo Bộ Đời sống thánh hiến và các Tu đoàn tông đồ, tôi đã đề ra cho Năm nay những mục tiêu mà thánh Gioan Phaolô II đã đề ra cho Giáo hội vào lúc bắt đầu ngàn năm thứ ba, phần nào lấy lại điều đã đề cập trong tông huấn hậu thượng hội đồng Vita consecrata: “Các con không chỉ có một lịch sử huy hoàng để nhớ lại và tường thuật, mà còn có một lịch sử oai hùng cần viết lên! Hãy nhìn về tương lai, nơi mà Thánh Linh đã dự định thực hiện cùng với các con những điều trọng đại hơn nữa” (số 110).

I – Những mục tiêu của Năm Đời sống thánh hiến

1. Mục tiêu thứ nhất là nhìn về quá khứ với niềm tri ân. Mỗi Dòng của chúng ta đều đến từ một lịch sử phong phú của đặc sủng. Khởi đầu là tác động của Thiên Chúa, Đấng đã kêu gọi trong Thánh Linh một số người đi theo sát gót Đức Kitô, để chuyển dịch Tin Mừng ra một lối sống đặc thù, để đọc các dấu chỉ thời đại với cặp mắt đức tin, để đáp ứng với những nhu cầu của Giáo hội một cách sáng tạo. Thế rồi kinh nghiệm khởi đầu được tăng tiến và phát triển, lôi cuốn những phần tử sống trong những khung cảnh mới của địa lý và văn hóa, tạo ra những thể thức mới để thể hiện đặc sủng, những sáng kiến và những lối diễn tả lòng bác ái tông đồ mới mẻ, cũng tựa như hạt giống trở thành một cây lớn với nhiều cành lá xum xê. 

Trong Năm nay, mỗi gia đình đặc sủng hãy nhớ lại buổi khởi đầu của mình và những chặng phát triển trải qua lịch sử, để tạ ơn Thiên Chúa vì Ngài đã ban cho Hội thánh biết bao hồng ân để trang điểm cho Hội thánh và chuẩn bị sẵn sàng để thi hành mọi công cuộc tốt lành (x. Lumen gentium, 12).

Thuật lại lịch sử của mình là điều cần thiết để duy trì căn tính cũng như để siết chặt mối hợp nhất của gia đình và tăng thêm cho các phần tử ý thức mình thuộc về một nhà. Đây không phải là chuyện khảo cổ hoặc luyến tiếc dĩ vãng, nhưng là đi lại con đường của các thế hệ quá khứ để nắm bắt được tia sáng gợi hứng, những lý tưởng, những dự phóng, những giá trị đã thúc đẩy họ, bắt đầu từ các vị sáng lập và các cộng đoàn tiên khởi. Đó cũng là một cách để ý thức được cách thức mà tiền nhân đã sống đặc sủng, những bước đột phá, những khó khăn đã đương đầu và vượt qua. Ta cũng có thể nhận ra những sự bất nhất do tính yếu đuối của con người, thậm chí kể cả có lúc quên mất những khía cạnh cốt yếu của đặc sủng. Tất cả các khía cạnh ấy đều là những bài học, và đồng thời kêu gọi hoán cải. Thuật lại lịch sử của mình là một cách để chúc tụng Thiên Chúa và tạ ơn vì những ân huệ mà Ngài đã ban. 

Cách riêng chúng ta cảm tạ Thiên Chúa vì 50 năm tiếp theo công đồng Vaticanô II. Công đồng thật là một “luồng gió” của Thánh Linh cho toàn Giáo hội. Nhờ công đồng, đời tu sĩ đã thực hiện một bước đường canh tân phong phú, với những ánh sáng và bóng tối của nó, dù sao đó là thời điểm của ân huệ được đánh dấu bởi sự hiện diện của Thánh Linh. 

Ước chi Năm Đời sống thánh hiến cũng là một cơ hội để thú nhận sự mỏng giòn của mình, với lòng khiêm tốn cùng với lòng tín thác vào Thiên Chúa Tình yêu (1Ga 4,8), và để sống kinh nghiệm về tình thương lân tuất của Chúa, một cơ hội để thôi thúc mạnh mẽ và làm chứng vui vẻ về sự thánh thiện và sức sống đang hiện diện nơi phần lớn những kẻ được kêu gọi đi theo Đức Kitô trong đời sống thánh hiến. 

2. Ngoài ra Năm nay cũng kêu gọi chúng ra hãy sống hiện tại cách say mê. Việc ôn lại quá khứ thúc đẩy chúng ta hãy thể hiện những khía cạnh cấu tạo đời sống thánh hiến của mình, nhờ chú ý lắng nghe điều mà Thần khí nói với Hội thánh ngày hôm nay. 

Từ những buổi khai nguyên của đời đan tu cho đến những “cộng đoàn mới” thời nay, mỗi hình thức tu trì được nảy sinh do tiếng gọi của Thánh Linh hãy đi theo Đức Kitô theo như Tin Mừng đã dạy (x. Perfectae caritatis, 2). Đối với các vị sáng lập, Tin Mừng luôn là quy luật tuyệt đối, những luật lệ khác chỉ là cách thức diễn đạt Tin Mừng và dụng cụ để sống Tin Mừng cách súc tích. Lý tưởng của các ngài là Đức Kitô, gắn bó toàn thân với Người, đến nỗi có thể nói như thánh Phaolô: “Đối với tôi, sống là Đức Kitô” (Pl 1,21). Các lời khấn chỉ có ý nghĩa khi làm thể hiện tình yêu say đắm ấy. 

Câu hỏi mà chúng ta được mời hãy đặt lên trong Năm nay là: chúng ta có để cho Tin Mừng chất vấn không; Tin Mừng có phải là “sổ tuỳ thân” cho cuộc sống hằng ngày và cho những lựa chọn của mình không. Tin Mừng thật là nghiêm khắc và đòi hỏi phải sống triệt để và chân thực. Đọc Tin Mừng thì chưa đủ (mặc dù việc đọc và học luôn cần thiết), suy gẫm cũng chưa đủ (và chúng ta cần thích thú suy gẫm mỗi ngày). Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta hãy làm cho Tin Mừng hiện thực, hãy sống lời của Chúa. 

Chúng ta hãy tự hỏi: Chúa Giêsu có còn là tình yêu thứ nhất và độc nhất, như chúng ta đã quyết tâm khi tuyên khấn không? Chỉ khi nào được như vậy, thì chúng ta mới có thể và buộc phải thương yêu trong sự thật và lòng lân tuất hết mọi người mà ta gặp trên đường, bởi vì chúng ta đã học biết nơi Người tình yêu là gì và yêu như thế nào: chúng ta sẽ biết yêu bởi vì chúng ta có chính trái tìm của Người. 

Những vị sáng lập của chúng ta đã cảm thấy trong mình lòng trắc ẩn của Chúa Giêsu khi nhìn thấy đám đông như những đàn chiên lưu lạc không kẻ chăn dắt. Cũng như Chúa Giêsu động lòng trắc ẩn đã trao ban lời của mình, đã chữa lành những kẻ bệnh tật, đã phát bánh cho ăn, thì các vị sáng lập cũng đặt mình phục vụ nhân loại mà Thánh Linh đã sai họ đến, dưới những thể thức đa dạng: chuyển cầu, rao giảng Tin Mừng, huấn giáo, giáo dục, phục vụ người nghèo và người bệnh... Óc tưởng tượng của lòng bác ái không có giới hạn và luôn mở ra vô vàn con đường mới để mang sinh khí của Tin Mừng vào các nền văn hóa và các môi trường xã hội khác nhau. 

Năm Đời sống thánh hiến chất vấn chúng ta về sứ vụ đã được uỷ thác. Những công tác, cơ sở, sự hiện diện để đáp ứng điều mà Thánh Linh đã yêu cầu các vị sáng lập có còn tương xứng để theo đuổi những mục đích trong xã hội và Giáo hội thời nay nữa không? Có điều gì cần phải thay đổi không? Chúng ta còn giữ được lòng say mê với đồng loại, chúng ta có gần gũi với những người thân cận để chia sẻ những niềm vui nỗi khổ của họ, để hiểu thấu những gì họ đang cần, ngõ hầu góp phần vào việc đáp ứng các nhu cầu đó không? Thánh Gioan Phaolô II đã yêu cầu: “Lòng quảng đại và hy sinh đã thúc đẩy các vị sáng lập cũng phải thúc đẩy các con, là những người con cái tinh thần của họ, hãy duy trì các đặc sủng cách sinh động để cho chúng được phong phú và thích nghi mà không giảm bớt tính cách độc đáo, với cũng một sức mạnh mà Thánh Linh đã gợi lên, để phục vụ Giáo hội và góp phần vào việc thiết lập Nước Thiên Chúa.”[1]

Việc tưởng nhớ nguồn gốc cũng làm sáng tỏ một yếu tố khác của dự án đời sống thánh hiến. Các vị sáng lập đã bị thu hút bởi sự đoàn kết của nhóm Mười Hai chung quanh Chúa Giêsu, bởi sự hiệp thông độc đáo của cộng đoàn tiên khởi ở Giêrusalem. Khi gầy dựng nên cộng đoàn, mỗi vị sáng lập đều nhằm hoạ lại những khuôn mẫu Tin Mừng, đó là sống một trái tim và một linh hồn, vui hưởng sự hiện diện của Chúa (x. Perfectae caritatis,15).

Sống hiện tại cách say mê có nghĩa là trở nên “những chuyên viên hiệp thông”, những kẻ làm chứng và kiến tạo “dự án hiệp thông” là chóp đỉnh của lịch sử loài người theo ý định của Thiên Chúa.[2] Trong một xã hội xung đột, một xã hội khó chung sống giữa những nền văn hóa với nhau, một xã hội chèn ép những kẻ cô thế, một xã hội bất bình đẳng, chúng ta được kêu gọi trở nên khuôn mẫu cụ thể của cộng đoàn có khả năng sống tương quan huynh đệ, nhờ biết nhìn nhận phẩm giá của mỗi người và chia sẻ các ân huệ mà mỗi người đã lãnh được. 

Vì thế anh chị em hãy là những con người của sự hiệp thông, hãy can đảm hiện diện tại những nơi có đố kị và tranh chấp, và anh chị em hãy trở nên dấu chỉ khả tín của sự hiện diện của Thánh Linh, Đấng đổ tràn xuống các tâm hồn niềm say mê cho hết mọi người được trở nên một (x. Ga 17,21). Anh chị em hãy sống huyền nhiệm của sự gặp gỡ: “khả năng lắng nghe người khác, khả năng cùng nhau tìm ra con đường, phương pháp,”[3] hãy để cho mình được chiếu sáng bởi mối tương quan tình yêu đã xuyên qua Tam Vị (x. 1Ga 4,8) như khuôn mẫu cho mọi tương quan liên bản vị. 

3. Mục tiêu thứ ba của Năm nay là nhắm đến tương lai với niềm hy vọng. Chúng ta biết rằng đời sống thánh hiến đang gặp nhiều khó khăn dưới mọi hình thức: ơn gọi sụt giảm, các thành viên tuổi cao, nhất là tại các nước Tây phương, những vấn đề kinh tế tiếp theo cuộc khủng hoảng tài chánh trầm trọng, những thách đố của việc quốc tế hóa và toàn cầu hóa, những nguy cơ của thuyết tương đối, đời tu bị gạt ra bên lề và không được xã hội trân trọng ... Giữa những hoang mang mà chúng ta cùng chia sẻ với bao nhiều người đương thời, bừng lên niềm hy vọng của chúng ta, là hoa trái của đức tin vào Đấng làm chủ lịch sử và không ngừng lặp lại với chúng ta: “Đừng sợ .. Ta đang ở với con” (Gr 1,8). 

Niềm hy vọng nói đây không dựa trên số lượng hoặc các cơ sở, nhưng ở trên Đấng mà chúng ta đã đặt lòng tín thác (x. 2 Tm 1,12), Đấng mà “không có gì mà không thể làm được” (Lc 1,37). Đó là niềm hy vọng không lừa gạt và cho phép đời sống thánh hiến tiếp tục viết lên trang sử trong tương lai, mà chúng ta cần phải nhắm đến, với niềm xác tín rằng Thánh Linh thúc đẩy chúng ta về tương lai để tiếp tục thực hiện những điều vĩ đại cùng với chúng ta. 

Anh chị em đừng chiều theo chước cám dỗ về số lượng và hiệu quả, lại càng không nên tín thác vào sức riêng của mình. Hãy tỉnh táo lục lọi những chân trời của cuộc đời anh chị em và của thời buổi hiện tại. Cùng với đức Bênêđictô XVI, tôi xin lặp lại: “Anh chị em đừng liên minh với những ngôn sứ yếm thế dự đoán đời sống thánh hiến sẽ chấm dứt vì đã mất ý nghĩa ở thời đại này. Trái lại, anh chị em hãy mặc lấy Đức Giêsu Kitô và khoác vào binh giáp của ánh sáng – như thánh Phaolô đã khuyên nhủ - trong thái độ tỉnh thức mong chờ.”[4] Chúng ta hãy tiếp tục và luôn luôn tiến bước với niềm tín thác vào Chúa. 

Tôi muốn ngỏ lời đặc biệt với các bạn trẻ. Các bạn là hiện tại bởi vì các bạn đang sống trong Dòng, và mang lại sự đóng góp quyết định cho Dòng nhờ sự trẻ trung và quảng đại của cuộc lựa chọn của các bạn. Đồng thời các bạn cũng là tương lai bởi vì các bạn sẽ được gọi để nắm giữ vai trò điều khiển việc linh hoạt, huấn luyện, phục vụ, sứ vụ của dòng. Trong năm nay, các bạn sẽ là những người chủ động trong cuộc đối thoại với thế hệ đàn anh. Trong tình hiệp thông huynh đệ, các bạn có thể học hỏi kinh nghiệm và sự khôn ngoan của họ để trau dồi hiểu biết, và đồng thời, các bạn có thể đề nghị với họ lý tưởng của Dòng thuở ban đầu, mang lại sức năng động tươi trẻ nhờ lòng phấn khởi của các bạn, ngõ hầu thảo ra những phương hướng mới để sống Tin Mừng, và mang lại những giải đáp cân xứng cho nghĩa vụ làm chứng tá và loan báo.

Tôi rất vui mừng vì biết rằng các bạn trẻ thuộc nhiều dòng sẽ có những cơ hội gặp gỡ nhau. Ước mong những cuộc gặp gỡ này sẽ trở thành con đường thường xuyên để hiệp thông, để nâng đỡ lẫn nhau, để liên kết với nhau.

II. Những mong đợi cho Năm Đời sống thánh hiến

Tôi mong đợi điều gì cách riêng trong Năm hồng ân của Đời sống thánh hiến?

1. Tôi ước mong rằng luôn luôn thực hiện được điều mà tôi đã có lần nói: “Đâu có các tu sĩ thì có niềm vui”. Chúng ta được mời gọi cảm nghiệm và chứng tỏ rằng Thiên Chúa có khả năng lấp đầy con tim của chúng ta và làm cho chúng ta được hạnh phúc, không cần phải đi tìm hạnh phúc ở đâu khác; chứng tỏ rằng tình huynh đệ chân chính sống trong các cộng đoàn của chúng ta nuôi dưỡng niềm vui; chứng tỏ rằng sự tận hiến để phục vụ Giáo hội, các gia đình, các người trẻ, các người già, các người nghèo giúp cho chúng ta đạt được sự thành tựu bản thân và mang lại ý nghĩa trọn vẹn cho cuộc đời. 

Tôi ước mong rằng giữa chúng ta không có những khuôn mặt buồn rầu, những con người bực bội bất mãn, bởi vì “ai buồn bã đi theo Chúa thì việc đi theo Chúa đáng buồn.”[5] Cũng như bao sinh linh khác, chúng ta cũng trải nghiệm những khó khăn, những đêm tối tinh thần, những thất vọng, bệnh tật, kiệt sức do tuổi tác. Chính trong hoàn cảnh đó mà chúng ta cần phải khám phá “sự hoan hỉ hoàn hảo”, học cho biết cách nhận ra khuôn mặt Đức Kitô Đấng đã trở nên giống như chúng ta mọi đàng, và vì thế cảm nghiệm sự vui mừng vì biết rằng mình được nên giống kẻ vì yêu thương ta đã không khước từ thập giá. 

Trong một xã hội sùng thượng hiệu năng, sức khỏe, thành công, và gạt bỏ những người nghèo và loại trừ những kẻ “thất thế”, ước chi bằng đời sống của mình chúng ta chứng minh sự thật của lời Kinh thánh: “Khi tôi yếu ớt là lúc tôi mạnh” (2Cr 12,10). 

Ước gì chúng ta có thể áp dụng cho đời sống thánh hiến điều đã viết trong tông thư Evangelii gaudium, trích dẫn bài giảng của đức Bênêđictô XVI: “Giáo hội tăng gia không bởi chiêu mộ nhưng bởi thu hút” (số 14). Thật vậy, đời sống thánh hiến không tăng gia nếu chúng ta tổ chức những chiến dịch quy mô cổ vũ ơn gọi, nhưng là nếu những người trẻ gặp gỡ chúng ta cảm thấy bị thu hút vì họ nhận ra chúng ta hạnh phúc! Một cách tương tự như vậy, hiệu năng tông đồ không lệ thuộc vào hiệu năng dồi dào của các phương tiện. Phải làm sao cho chính cuộc đời của anh chị em trở thành tiếng nói, cuộc đời chiếu toả niềm vui và vẻ đẹp của việc sống Tin Mừng và của việc đi theo Đức Kitô. 

Tôi nhắc lại cho anh em chị em điều tôi đã nói với các Phong trào giáo hội vào lễ Vọng lễ Chúa Hiện xuống: “Giá trị căn bản của Giáo hội nằm ở chỗ sống Tin Mừng và làm chứng cho đức tin. Giáo hội là muối của đất, là ánh sáng của đời, Giáo hội được kêu gọi làm cho men của Vương quốc Thiên Chúa hiện diện trong xã hội, và Giáo hội thực hiện ơn gọi này tiên vàn bằng sự chứng tá, chứng tá của tình yêu huynh đệ, của tình liên đới, của sự chia sẻ” (18-5-2013).

2. Tôi ước mong rằng anh chị em sẽ “đánh thức thế giới”, bởi vì đặc trưng của đời sống thánh hiến là tính ngôn sứ. Như tôi đã nói với các bề trên tổng quyền: “tính cách triệt để không chỉ dành riêng cho các tu sĩ, nhưng là điều đòi hỏi hết mọi người. Nhưng các tu sĩ đi theo Chúa một cách đặc biệt, đó là cách thức ngôn sứ”. Đây là điều đòi hỏi ưu tiên: “những ngôn sứ chứng tá cho Đức Giêsu đã sống ở thế giới này ... Một tu sĩ không bao giờ được khước từ tính ngôn sứ” (29-11-2013). 

Ngôn sứ được Chúa ban khả năng truy tầm lịch sử mình đang sống và giải thích những biến cố, tựa hồ người lính canh ban đêm và biết được khi nào hừng đông đến (x. Is 21,11-12). Hiểu biết Thiên Chúa và hiểu biết những người anh chị em của mình. Ngôn sứ có khả năng phân định và tố giác tội ác và những bất công, bởi vì ông là con người tự do, chỉ trả lời với Thiên Chúa chứ không trả lời cho quyền bính nào hết, họ chỉ quan tâm đến lợi lộc của Thiên Chúa chứ chẳng có lợi lộc nào khác. Ngôn sứ thường đứng về phía những người nghèo và những người cô thân cô thế, bởi vì ông biết rằng chính Thiên Chúa đứng về phía họ. 

Vì thế tôi ước mong rằng không phải là anh chị em hãy nuôi dưỡng những “chỗ không tưởng”, nhưng là biết tạo ra “những chỗ khác”[6], nơi mà người ta sống cái logic của Tin Mừng về sự trao ban, tình huynh đệ, tiếp nhận sự khác biệt, yêu thương lẫn nhau. Các đan viện, cộng đoàn, trung tâm linh đạo, thị xã, trường học, bệnh viện, nhà tình thương và tất cả những nơi đã hoặc vẫn còn nảy sinh do lòng bác ái và sự sáng tạo đặc sủng, đều cần phải trở nên men cho một xã hội được gợi hứng dựa theo Tin Mừng, “đô thị cất trên núi” nói lên sự thật và sức mạnh của những lời của Chúa Giêsu. 

Đôi khi ngôn sứ cũng cảm thấy sự cám dỗ, giống như ông Elia và Giôna, muốn bỏ trốn, thoái thác tránh nhiệm, bởi vì thấy quá nặng nề, bởi vì mình đã mệt mỏi, chán nản vì không được kết quả. Nhưng ngôn sứ biết rằng mình không cô đơn. Thiên Chúa trấn an chúng ta cũng tựa như với ông Giêrêmia: “Đừng sợ, ta ở với con để che chở con” (Gr 1,8). 

3. Các tu sĩ và những người tận hiến được mời gọi trở nên những “chuyên viên hiệp thông.” Vì thế tôi mong rằng “linh đạo hiệp thông” mà thánh Gioan Phaolô II đã chỉ ra, sẽ trở thành thực tại, và anh chị em sẽ là những người đầu tiên đón nhận “sự thách đố lớn lao ở trước mặt” trong ngàn năm mới: “làm cho Giáo hội là ngôi nhà và trường học của hiệp thông.”[7] Tôi chắc rằng trong Năm nay, anh chị em cố gắng để cho lý tưởng huynh đệ mà các vị sáng lập theo đuổi sẽ tăng trưởng ở nhiều cấp độ, tựa hồ những vòng tròn đồng tâm. 

Tiên vàn sự hiệp thông được thực hành ngay tại các cộng đoàn trong dòng. Tôi mời anh chị em hãy đọc lại điều mà tôi không ngừng lặp đi lặp lại nhiều lần rằng những lời chỉ trích, đàm tiếu, ghen tương, tị hiềm, đố kỵ không được phép cư ngụ ở trong nhà của anh chị em. Sau tiền đề ấy, con đường bác ái còn lại hầu như là vô tận, bởi vì bao gồm việc đón tiếp và quan tâm lẫn nhau, thực hành sự chia sẻ những tài nguyện vật chất và tinh thần, sửa bảo huynh đệ, tôn trọng những người yếu đuối, ... Chính “huyền nhiệm chung sống với nhau” làm cho cuộc đời trở nên một cuộc “lữ hành thánh thiện.”[8] Chúng ta cũng phải tự vấn về tương quan giữa những người thuộc về những nền văn hóa khác nhau, xét vì các cộng đoàn của chúng ta càng ngày càng trở thành quốc tế. Làm cách nào để cho mỗi người có thể biểu lộ chính mình, được đón nhận với những ân ban đặc thù, được hoàn toàn đồng trách nhiệm? 

Ngoài ra tôi ước mong tăng gia sự hiệp thông giữa các phần tử của các dòng tu. Liệu Năm Đời sống thánh hiến có thể trở nên cơ hội để mạnh dạn ra khỏi biên cương của Dòng mình, để cũng nhau thảo hoạch những dự án chung về đào tạo, loan báo Tin Mừng, hoạt động xã hội, ở cấp địa phương và hoàn vũ không? Như thế chứng tá ngôn sứ sẽ được hữu hiệu hơn. Sự hiệp thông và gặp gỡ giữa các đặc sủng và ơn gọi khác nhau là một con đường hy vọng. Không ai xây dựng tương lai một cách biệt lập, hoặc với sức lực riêng của mình, nhưng cần biết nhận ra chân lý của sự thông hiệp khiến ta mở rộng đến gặp gỡ, đối thoại, lắng nghe, giúp đỡ lẫn nhau, và như vậy giúp chúng ta phòng ngừa khỏi bệnh tự kỷ.[9]

Đồng thời đời sống thánh hiến được mời gọi hãy theo đuổi một sự hợp lực với các ơn gọi trong Giáo hội, khởi đầu từ các linh mục và giáo dân, ngõ hầu “tăng gia linh đạo hiệp thông trước tiên ở trong nội bội, rồi đến trong cộng đồng Giáo hội và đi xa hơn nữa.”[10]

4. Tôi cũng mong đợi nơi anh chị em điều mà tôi yêu cầu tất cả mọi thành phần của Giáo hội: ra khỏi chính mình và đi về những vùng ngoại ô của cuộc đời: “Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ”, đó là những lời cuối cùng của Chúa Giêsu ngỏ với các môn đệ và hôm nay vẫn còn ngỏ cho tất cả mỗi người chúng ta (x. Mc16,15). Cả một nhân loại đang chờ đợi: những người đã mất hết hy vọng, những gia đình đang gặp khó khăn, những trẻ thơ bị bỏ rơi, các bạn trẻ gặp ngõ cụt trước tương lai, những người già lão bệnh tật bị loại trừ, những người giàu của cải nhưng trống rỗng trong lòng, những người đang tìm ý nghĩa cuộc đời, khao khát đời tâm linh... 

Anh chị em đừng khép lại trong chính mình, đừng để mình bị ngột ngạt với những chuyện lẩm cẩm trong nhà, đừng bị giam hãm trong những vấn đề nội bộ. Những vấn đề này sẽ được giải quyết nếu anh chị em đi ra ngoài để giúp những người khác giải quyết những vấn đề của họ và loan báo Tin Mừng. Anh chị em sẽ tìm thấy sự sống khi ban phát sự sống, tìm thấy hy vọng khi ban phát hy vọng, tìm thấy tình thương bằng cách yêu thương. 

Tôi mong đợi nơi anh chị em những cử chỉ cụ thể của việc đón tiếp người di dân, gần gũi những người nghèo, những cử chỉ sáng tạo trong việc huấn giáo, rao giảng Tin Mừng, hướng dẫn cầu nguyện. Vì thế tôi mong ước giản lược các cơ cấu, tái sử dụng các ngôi nhà lớn để giúp vào những công tác thích ứng hơn đối với những yêu sách hiện tại của việc loan báo Tin Mừng và bác ái, thích nghi các cơ sở với những nhu cầu mới. 

5. Tôi mong đợi rằng mỗi hình thức đời sống thánh hiến hãy tự vấn về điều mà Thiên Chúa và nhân loại hiện đang đòi hỏi. 

Các đan viện và những nhóm có khuynh hướng chiêm niệm có thể gặp gỡ nhau, hoặc liên kết với nhau để trao đổi những kinh nghiệm về đời cầu nguyện, về cách thức tăng trưởng sự hiệp thông với toàn thể Giáo hội, về cách thức nâng đỡ các Kitô hữu bị bách hại, về cách thức đón tiếp và đồng hành những ai đang tìm kiếm một đời sống thiêng liêng sâu xa hơn hoặc đang cần sự nâng đỡ tinh thần hay vật chất. 

Các dòng tu chuyên lo việc bác ái, giáo dục, cổ động văn hóa cũng có thể làm như vậy, cũng như những dòng dấn thân vào việc loan báo Tin Mừng, hay thi hành những tác vụ mục vụ chuyên biệt, những tu hội đời đang hoạt động bằng sự hiện diện trong các cơ cấu xã hội. Óc tưởng tượng của Thánh Linh đã sản sinh những lối sống và những công cuộc đa dạng mà ta không thể nào phân loại và sắp xếp vào những khung đúc sẵn, Vì thế tôi không thể nào kể ra từng hình thái đặc sủng được. Tuy vậy, trong Năm nay, đừng ai tránh né việc kiểm tra nghiêm túc về sự hiện diện của mình trong Giáo hội và về cách thức đáp ứng những yêu cầu liên tục và mới mẻ đang vang lên chung quanh chúng ta, đáp ứng với tiếng kêu của người nghèo. 

Duy chỉ khi quan tâm đến những nhu cầu của thế giới và ngoan ngoãn với Thánh Linh, thì Năm đời sống thánh hiến mới biến thành kairos một thời điểm dồi dào ân lộc của Thiên Chúa, một thời điểm làm biến đổi.

III – Những chân trời của Năm đời sống Thánh hiến

1. Với bức thư này, ngoài những người tận hiến, tôi ngỏ lời với các giáo dân chia sẻ lý tưởng, tinh thần, sứ vụ với họ. Một vài dòng đã có một kinh nghiệm lâu dài về lãnh vực này, những dòng khác chỉ mới có kinh nghiệm gần đây. Thật vậy, chung quanh mỗi dòng tu cũng như chung quanh các Tu đoàn tông đồ và cả những Tu hội đời, có một gia đình rộng lớn hơn, “gia đình đặc sủng” bao gồm nhiều dòng nhận biết nhau trong cùng một đặc sủng, và nhất là những giáo dân cảm thấy mình được kêu gọi chia sẻ đặc sủng ấy trong điều kiện giáo dân của mình. 

Tôi khuyến khích các anh chị em, những giáo dân, hãy sống Năm Đời sống Thánh hiến như là một hồng ân có thể giúp cho mình ý thức hơn về ân huệ đã lãnh nhận. Anh chị em hãy cử hành Năm nay cùng với toàn thể “gia đình” để tăng trưởng và cùng nhau đáp lại những tiếng gọi của Thánh Linh trong xã hội hôm nay. Trong vài cơ hội, khi những người tận hiến thuộc những dòng khác nhau gặp gỡ nhau, thì anh chị em hãy tìm cách để cũng hiện diện như là biểu hiệu hồng ân duy nhất của Thiên Chúa, ngõ hầu biết được kinh nghiệm của những gia đình đặc sủng khác, của những nhóm giáo dân khác, và nhờ đó mà trở nên phong phú hơn và nâng đỡ lẫn nhau.

2. Năm Đời sống thánh hiến không chỉ liên quan đến những người tận hiến mà còn đến toàn thể Giáo hội. Vì thế tôi ngỏ lời với toàn dân Kitô giáo để ý thức hơn ân huệ của sự hiện diện của biết bao người tận hiến, thừa kế của những đại thánh đã làm nên lịch sử của Kitô giáo. Giáo hội sẽ ra thế nào nếu không có thánh Biển đức và thánh Basiliô, nếu không có thánh Augustinô và thánh Bênađô, nếu không có thánh Phanxicô và thánh Đa Minh, nếu không có thánh Inhaxiô Loyola và thánh Têrêsa Avila, nếu không có thánh Angela Merici và thánh Vinh-sơn Phaolô. Danh sách hầu như bất tận, cho đến thánh Gioan Bosco, chân phước Têrêsa Avila? Chân phước Phaolô VI đã nói: “nếu không có dấu chỉ cụ thể này, đức mến hun nóng toàn Giáo hội có nguy cơ sẽ nguội đi, sự nghịch lý cứu độ của Tin Mừng sẽ cùn đi, “muối” đức tin sẽ hoà tan trong một thế giới trên đường tục hóa” (Evangelica testificatio, 3).

Vì thế tôi mời gọi tất cả mọi cộng đồng Kitô hãy sống Năm nay trước hết để tạ ơn Thiên Chúa và nhớ lại những hồng ân mà chúng ta đã và còn đang nhận lãnh nhờ sự thánh thiện của những vị sáng lập và sự trung thành với đặc sủng của biết bao người tận hiến. Tôi mời gọi hết mọi người hãy kề sát những người tận hiến, để chia vui với họ, để san sẻ những khó khăn của họ, để hợp tác với họ, trong tầm mức có thể được, trong việc thực thi tác vụ và công việc của họ mà cũng là của toàn thể Giáo hội. Hãy giúp họ cảm nhận được lòng ưu ái và thiện cảm của toàn thể dân Chúa. 

Tôi chúc tụng Chúa vì sự trùng hợp may mắn giữa Năm Đời sống thánh hiến với Thượng hội đồng về gia đình. Gia đình và đời sống thánh hiến là những ơn gọi mang lại sự phong phú và ân điển cho mọi người, những không gian kiến thiết các tương quan nhân bản , những nơi loan truyền Tin Mừng. Gia đình và đời sống thánh hiến có thể giúp đỡ lẫn nhau. 

3. Với bức thư này, tôi mạo muội ngỏ lời với những người tận hiến và những phần tử của các huynh đoàn và cộng đoàn thuộc các Giáo hội ngoài công giáo. Đời đan tu là một gia sản của Giáo hội hiệp nhất, vẫn còn sinh động bên các Giáo hội chính thống và bên Giáo hội công giáo. Từ nếp sống đan tu cũng như từ những kinh nghiệm kế tiếp vào thời mà Giáo hội tây phương còn hợp nhất, nhiều dự án khác được gợi hứng giữa lòng các cộng động Giáo hội của phái Cải cách, và rồi tiếp tục sản sinh những hình thức khác của tình hiệp thông huynh đệ và phục vụ. 

Bộ các hội dòng tận hiến và tu đoàn tông đồ đã phác thảo chương trình gặp gỡ giữa các phần tử thuộc đời sống thánh hiến và huynh đệ thuộc về các giáo hội khác nhau. Tôi hết lòng khuyến khích những cuộc gặp gỡ này, ngõ hầu tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, sự quý trọng và hợp tác hỗ tương, nhờ vậy sự đại kết của đời sống thánh hiến sẽ giúp cho con đường hợp nhất giữa tất cả các Giáo hội. 

4. Chúng tôi không thể quên rằng hiện tượng tu trì cũng hiện hữu trong tất cả các tôn giáo lớn. Không thiếu những kinh nghiệm đối thoại liên tôn về đời đan tu giữa Giáo hội công giáo và một vài truyền thống tôn giáo lớn. Tôi cầu chúc cho Năm đời sống thánh hiến trở thành cơ hội để lượng định con đường đã đi, để gây ý thức nơi các người tận hiến về lãnh vực này, để tự vấn về những bước kế tiếp phải làm ngõ hầu tăng thêm sự hiểu biết lẫn nhau sâu xa hơn, và hợp tác trong khá nhiều môi trường chung nhằm phục vụ đời sống nhân loại. 

Việc đồng hành luôn vẫn là giúp nhau trở nên phong phú hơn và mở ra những đường hướng mới cho việc gặp gỡ giữa các dân tộc và văn hoá trong giai đoạn này đang gặp nhiều chướng ngại. 

5. Sau cùng tôi ngỏ lời cách riêng với những anh em trong hàng giám mục. Mong sao cho Năm nay là cơ hội thuận tiện để tiếp đón thân mật và hân hoan đời sống thánh hiến như là một nguồn vốn liếng tinh thần góp phần vào thiện ích của toàn thể Hội thánh (x. Lumen gentium, 43) chứ không chỉ riêng gì của các dòng tu. “Đời sống thánh hiến là hồng ân cho Giáo hội, phát sinh trong Giáo hội, tăng trưởng trong Giáo hội, và hoàn toàn hướng về Giáo hội.”[11] Vì thế, xét như là hồng ân cho Giáo hội, đời sống thánh hiến không phải là một thực thể lẻ loi, nhưng thuộc về bản chất của Giáo hội, nằm trong tâm điểm của Giáo hội như là yếu tố quyết định của sứ mạng Giáo hội, xét vì nó diễn tả bản chất thâm sâu của ơn gọi Kitô giáo, và nỗi khắc khoải của Giáo hội Hôn thê mong được kết hiệp với Hôn phu duy nhất; vì thế đời sống thánh hiến “chắc chắn thuộc về sự sống và sự thánh thiện của Giáo hội” (Lumen gentium, 44).

Trong bối cảnh này, tôi mời gọi anh em, những mục tử của các giáo hội địa phương, hãy ân cần cổ động trong cộng đồng của anh em, các đặc sủng khác nhau, dù cũ hay mới, bằng cách nâng đỡ, linh hoạt, giúp đỡ trong việc phân định, âu yếm gần gũi họ trong những hoàn cảnh đau đớn và yếu đuối mà một vài người tận hiến có thể gặp phải, và nhất là bằng cách dạy dỗ để soi sáng cho dân Chúa biết giá trị của đời sống thánh hiến nhờ vậy làm nổi bật vẻ đẹp và sự thánh thiện của Giáo hội. 

Tôi ký thác Năm đời sống thánh hiến cho Đức Maria, Trinh nữ của lắng nghe và chiêm niệm, môn sinh tiên khởi của người Con yêu dấu của mình. Chúng ta hãy nhìn ngắm Người, là nữ tử quý mến của Chúa Cha và được trang điểm bởi mọi hồng ân, như mẫu gương tuyệt vời của việc đi theo Chúa Kitô trên đường yêu mến Thiên Chúa và phục vụ tha nhân. 

Hợp với anh chị em trong tâm tình biết ơn vì những ơn huệ dồi dào của ân sủng và ánh sáng mà Chúa thương ban, tôi đồng hành với anh chị em với phép lành Toà thánh. 

Vaticanô, ngày 21 tháng 11 năm 2014, 
lễ Đức Mẹ dâng mình vào đền thờ.
Phanxicô
 
---------------

[1] Tông thư Los caminos del Evangelio, gửi các tu sĩ nam nữ Mỹ châu Latinh nhân dịp 500 năm truyền giảng Tin Mừng tại thế giới mới (29/6/1990), 26. 
[2] Bộ Dòng tu và Tu hội đời, Các tu sĩ và sự thăng tiến con người (12/8/1980), 24. 
[3] Diễn từ cho các giám đốc và sinh viên của các học viện giáo hoàng và lưu xá tại Rôma (12/5/2014). 
[4] Bài giảng lễ Dâng Chúa Giêsu vào đền thờ (2/2/2013). 
[5] Nhại câu ngạn ngữ: “một ông thánh buồn là ông thánh đáng buồn (un saint triste est un triste saint). Đi theo Chúa mà buồn thì chuyện đi theo Chúa thật là buồn [ND]. 
[6] Một lối chơi chữ: utopia (không tưởng) gốc Hy lạp có nghĩa là “nơi không có”, được đổi thánh “nơi mới”, nghĩa là nơi được điều khiển bởi lôgic của Tin mừng, chứ không theo lối tính toán của người đời [ND]. 
[7] Tông thư Novo millennio ineunte (6/1/2001), 43. 
[8] Tông huấn Evangelii gaudium (24/11/2013), 87. 
[9] Tự kỷ (auto-referenziale): chỉ nghĩ tới mình [ND]. 
[10] Gioan Phaolô II, Vita consecrata (25/3/1996), 51. 
[11] Giám mục J. M. Bergoglio, Phát biểu tại Thượng hội đồng về đời sống thánh hiến, (13/10/1994).
Xem thêm…

Bạch thược cùng Xích thược

17:19 |

Bạch thược cùng Xích thược



Công hiệu khác nhau


Bạch thược và xích thược dùng chữa bệnh Can, tính vị tương tự

 Thược Dược  Hoa Trắng

  • Nhưng xích thược công dụng thiên về tả, tán. Lấy hoạt huyết, lương huyết, tán ứ, chỉ thống làm chủ kiêm thanh tiết can hỏa.


  • Mà bạch thược công dụng thiên về bổ, thu – Lấy dưỡng huyết, liễm âm, hoãn cấp, chỉ thống làm chủ, kiêm bình can tức dương 
  • Cho nên huyết hư, can vượng, can cấp gây đau, dùng ngay Bạch thược. Huyết nhiệt, can hỏa, ứ trệ đông thống nên dùng ngay Xích thược.



Chủ trị khác nhau




Bạch thược chủ huyết hư, can vượng, huyễn vựng


Xích thược chủ huyết nhiệt, nục, tiện, huyễn các chứng xuất huyết


Bạch thược chua, đắng, tân, hàn, dưỡng huyết liễm âm, bình can, ức dương, nên dùng cho huyết lúc can vượng dẫn đến chóng mặt, choáng váng, nhức đầu, tai ù

  • "Y thuần tích nghĩa" Dưỡng huyết thống thắng thang ( sinh địa hoàng, bạch thược dược, toan táo nhân, tang diệp, câu kỷ tử, hắc chi ma, ngũ vị tử. bá tử nhân, cúc hoa, đương quy, đại táo), trị huyết hư, đầu thống - Tự biết là đầu ngực không hư mắt mờ mà hoa.
  • "Trong đinh thông tục thương hàn luận" Linh giác câu đằng thang (linh dương giác, tang diệp, xuyên bối mẫu, sinh địa, câu đằng, cúc hoa, phục thần, truật bạch thược dược) trị huyết hư can vượng, động phong sinh bệnh giản). Sản hậu kinh phong, triêu xúc, kinh quyết, lưỡi đỏ, mạch huyền xác.

Xích thược đắng, hơi hàn, thanh nhiệt, lương huyết chỉ huyết, nên dùng cho các chứng : huyết nhiệt vọng hành, sinh ra thổ huyết, nục huyết, tiện huyết, nhiều chứng xuất huyết khác.

  • Như "Bị cấp thiên kim yếu phương" Tê giác địa hoàng thang (tê giác, sinh địa hoàng, thược dược, mẫu đơn bì) trị nhiệt vào doanh huyết, tâm bào do đó sinh cao nhiệt, thần hôn, thổ huyết, nục huyết, tiện huyết, phát ban, phát chẩn, lưỡi chất hồng, mạch tế xác.

Bạch thược chủ âm huyết hư, nguyệt kinh không đều


Xích thược chủ huyết ứ, kinh không đều


  • Bạch thược dưỡng huyết, liễm âm, dùng chữa âm huyết khuy hư, kinh nguyệt không đều, kinh hành, phúc thống, băng lậu hạ huyết
  • Như "Cục phương” Tứ vật thang (đương quy, xuyên khung, bạch thược, thục địa) trị Xung Nhâm hư tổn, huyết hư, huyết đối, kinh nguyệt không đều, bụng đau, băng trung, lậu hạ.
  • "Thâm thị giao hàm” Gia vị tiêu giao tán (bạch truật, phục thần, cam thảo, bạch thược, sài hồ, chi tử, mẫu đơn bì) trị huyết hư can vượng, mục ám bất minh, đầu mục sáp thống, đến phụ nhân kinh nguyệt không đều. Sinh thược hoạt huyết điều kinh, cho nên chu tư huyết nhiệt hoặc huyết trê, sinh ra kinh không đều, thống kinh, kinh bế.
  • Như “Y tông kim giám" Đào hồng tứ vật thang (đương quy, sinh thược, sinh địa, xuyên khung, đào nhân, hồng hoa) trị phụ nữ kinh nguyệt không đều, nhảy kinh, kinh tiềm phúc thống hoặc kinh hành không thoải mái, có huyết cục, sắc huyết đen.

Bạch thược chủ can cấp, hung hiếp, phúc thống


Xích thược chủ huyết ứ đông thống


Bạch thược nhu can hòa tỳ, hoãn cấp, chỉ thống thích ứng dùng can tỷ bất hòa, khí trệ hoãn cấp dẫn đến hung phiền mãn thống, hiếp cân thích thống, tả lỵ phúc thống

  • Như "Kim quỹ yếu lược" Đương quy thược dược tán (đương quy, thược dược, phục linh, bạch truật, trạch tả, xuyên khung - Trị nhâm thần trong bụng đau nhức.
  • "Thương hàn luận” Tứ nghịch tán (trích cam thảo, trích chỉ thực, sài hồ, thược dược) gần đây hay dùng cho chứng cấp can viêm mạn tính, hiếp, cân, quản phúc đau nhức.
  • Như "Thanh tế tổng lục" Xích thược dược tán (sao xích thược dược, hạnh nhân, sao cát cánh) trị trong nồn mửa, đau.
  • "Y lâm cải thác” Cách hạ trục ứ thang (đào nhân, mẫu đơn bì, xích thược, ô dược, huyền hồ, đương quy, xuyên khung, ngũ linh chi, hồng hoa, chỉ xác, hương phụ) trị chứng cách hạ, ứ huyết hình thầnh tích khối, chỗ đau không di chuyển, nằm thời bụng trụy xuống.

Bạch thược chủ trị tay chân co quắp


Xích thược hoãn cấp, chỉ thống, dùng chữa chứng chân tay co quắp, đau nhức


  • Như "Thương hàn luận" Thược dược cam thảo thang (bạch thược dược, trích cam thảo, trị thoái cước co quắp - Hiện nay thường dùng nhiều chữa loại kinh loạn đau nhức.
  • Xích thược thanh nhiệt, lương huyết, tán ứ, thích ứng chữa chứng can hỏa gây nên mắt đỏ đau sưng huyết tịch, huyết lâm.
  • Như chữa mắt đỏ sưng, đau thường phối hợp cúc hoa, cốc tinh thảo, thạch quyết minh, đương quy
  • Như chữa huyết lâm dùng với rễ cỏ tranh, xa tiền tử (lược), tảo liên thảo, hoàng bá.

Xem thêm…

Nhất định bạn phải đọc bài này dù kết hôn hay chưa!

16:33 |
Vợ tôi và tôi đã không đụng chạm gì về thể xác kể từ khi ý định ly hôn của tôi được thể hiện một cách rõ ràng.
Vì vậy, khi tôi bế cô ấy vào ngày đầu tiên, cả hai chúng tôi tỏ ra khá lóng ngóng, vụng về.


“Đêm hôm đó khi trở về nhà, trong lúc vợ tôi dọn bữa ăn tối, tôi nắm lấy tay cô ấy và nói rằng, tôi có việc cần phải nói với cô ấy. Cô ấy ngồi xuống, lặng lẽ ăn. Một lần nữa tôi nhìn thấy nỗi đau trong đôi mắt cô ấy.
Đột nhiên, tôi không biết phải làm thế nào để bắt đầu câu chuyện. Nhưng tôi phải nói cho cô ấy biết những gì tôi đã suy nghĩ. Tôi muốn ly hôn. Tôi nêu vấn đề ra một cách bình tĩnh. Dường như cô ấy không bị khó chịu với những lời tôi nói, thay vào đó chỉ nhẹ nhàng hỏi, tại sao?
Tôi tránh trả lời câu hỏi của cô ấy. Điều này đã làm cô ấy giận dữ. Cô ấy ném đôi đũa đi và hét vào mặt tôi, anh không phải là một người đàn ông! Đêm đó, chúng tôi đã không nói chuyện với nhau. Cô ấy thổn thức. Tôi biết cô ấy muốn tìm hiểu những gì đã xảy ra đối với cuộc hôn nhân của chúng tôi. Nhưng tôi khó có thể cho cô ấy một câu trả lời dễ chịu gì, cô ấy đã để Jane đánh cắp mất trái tim tôi. Tôi không còn yêu cô ấy nữa. Tôi chỉ thương hại cô ấy!
Nhất định bạn phải đọc bài này dù kết hôn hay chưa!
Thực sự cảm thấy tội lỗi, tôi thảo lá đơn ly hôn ghi rõ cô ấy sẽ sở hữu căn nhà, chiếc xe hơi và 30% cổ phần của công ty tôi. Cô ấy liếc nhìn nó và sau đó xé nó ra từng mảnh nhỏ. Người phụ nữ đã trải qua hơn chục năm cuộc đời mình với tôi đột nhiên đã trở thành một người xa lạ. Tôi cảm thấy tiếc cho cô ấy vì đã đánh mất thời gian thời gian, nguồn lực và sức lực, nhưng tôi không thể rút lại những lời đã nói – tôi đã quá yêu Jane. Cuối cùng cô ấy òa khóc trước mặt tôi, và đó là những gì tôi mong đợi xảy ra. Đối với tôi, tiếng khóc của cô ấy sẽ là cách để giải tỏa nỗi đau. Ý tưởng về việc ly hôn đã dằn vặt tôi suốt nhiều tuần qua giờ dường như chắc chắn và rõ ràng hơn.
Ngày hôm sau, tôi trở về nhà rất muộn và thấy cô ấy đang cắm cúi viết tại bàn làm việc. Tôi không ăn bữa tối mà đi ngủ luôn và ngủ thiếp đi rất nhanh bởi vì tôi đã mệt mỏi sau một ngày bận rộn với Jane. Khi tỉnh giấc, cô ấy vẫn ngồi viết ở bàn. Tôi không quan tâm vì vậy tôi trở mình và ngủ tiếp.
Buổi sáng dậy, vợ tôi bắt đầu trình bày điều kiện ly hôn: Cô ấy không muốn bất cứ thứ gì từ tôi, nhưng cần tôi thông báo một tháng trước khi ly hôn. Cô ấy yêu cầu rằng trong một tháng đó, cả hai chúng tôi phải cố gắng để sống một cuộc sống bình thường nhất có thể. Lý do cô ấy đưa ra khá đơn giản: con trai của chúng tôi sẽ có kỳ thi của mình trong một tháng tới và cô ấy không muốn làm nó phân tâm với cuộc hôn nhân tan vỡ của chúng tôi.
Nhất định bạn phải đọc bài này dù kết hôn hay chưa!
Tôi có thể chấp nhận được điều kiện này. Nhưng cô ấy còn yêu cầu nhiều hơn thế, cô ấy yêu cầu tôi nhớ lại cách mà tôi đã đưa cô ấy vào ra phòng cô dâu trong ngày cưới của chúng tôi. Cô yêu cầu mỗi ngày trong thời gian một tháng tới tôi phải đưa cô ấy ra khỏi phòng ngủ của chúng tôi tới cửa trước vào buổi sáng. Tôi nghĩ rằng cô ấy bị điên rồi. Chỉ để giúp cho những ngày cuối cùng của chúng tôi cùng nhau là chấp nhận được tôi đành chấp thuận yêu cầu kỳ quặc của cô ấy.
Tôi đã nói với Jane về điều kiện ly hôn của vợ tôi. Cô ấy cười to và cho rằng đó là một yêu cầu ngu xuẩn. Bất kể vợ tội có mánh khóe gì, cô ấy vẫn phải đối mặt với việc ly hôn, Jane nói một cách khinh bỉ.
Vợ tôi và tôi đã không đụng chạm gì về thể xác kể từ khi ý định ly hôn của tôi được thể hiện một cách rõ ràng. Vì vậy, khi tôi bế cô ấy vào ngày đầu tiên, cả hai chúng tôi tỏ ra khá lóng ngóng, vụng về. Con trai tôi vỗ tay và theo sau chúng tôi: Cha đang bế mẹ trên tay của mình. Lời nói đó của con trai mang lại cho tôi một cảm giác đau đớn.
Từ phòng ngủ đến phòng khách, sau đó đến cửa, tôi đã bước đi trên mười mét với cô ấy trên tay. Cô ấy nhắm mắt và nói nhẹ nhàng, đừng nói với con trai của chúng ta về việc ly hôn. Tôi gật đầu và cảm thấy có chút gì đó đổ vỡ. Tôi đặt cô ấy xuống ở cửa ra vào. Cô ấy đứng đó chờ xe buýt để đi làm. Tôi lái xe một mình đến văn phòng.
Vào ngày thứ hai, cả hai chúng tôi đã hành động dễ dàng hơn. Cô ấy dựa vào ngực tôi. Tôi có thể ngửi được mùi hương từ áo khoác của cô ấy. Tôi nhận ra rằng tôi đã không nhìn người phụ nữ này một cách cẩn thận trong một thời gian dài. Tôi nhận ra cô ấy không còn trẻ nữa. Có những nếp nhăn trên khuôn mặt của cô, mái tóc cô đã ngả màu xám! Cuộc hôn nhân của chúng tôi đã lấy đi nhiều thứ của cô ấy. Trong một phút, tôi tự hỏi tôi đã làm được những gì cho cô ấy.
Vào ngày thứ tư, khi tôi nâng cô ấy lên, tôi cảm thấy một cảm giác thân mật trở về. Đây là người phụ nữ đã có mười năm chung sống với tôi. Vào ngày thứ năm và thứ sáu, tôi nhận ra rằng cảm giác của sự thân mật của chúng tôi đã tiếp tục tăng lên. Tôi đã không nói với Jane về việc này. Việc bế vợ tôi đã trở nên dễ dàng hơn khi thời gian một tháng dần trôi qua. Có lẽ mỗi ngày đều luyện tập như vậy đã làm tôi trở nên khỏe hơn.
Một buổi sáng, cô ấy đã lựa chọn kỹ càng những đồ để mặc. Cô đã thử một vài bộ nhưng không thể tìm được một bộ nào phù hợp. Cuối cùng, cô ấy thở dài, tất cả quần áo của mình đã trở nên rộng hơn. Tôi đột nhiên nhận ra rằng cô đã quá gầy, đó là lý do tại sao tôi bế cô ấy đã dễ dàng hơn.
Đột nhiên điều đó như một cú đánh vào tôi… cô ấy đã phải chôn giấu nhiều đau đớn và nỗi cay đắng trong tim. Một cách vô thức, tôi đưa tay ra và chạm vào đầu cô ấy.
Lúc này con trai chúng tôi chạy đến và nói, Cha à, đến giờ bế mẹ ra rồi. Đối với thằng bé, việc thấy cha mình bế mẹ mình trên tay đã trở thành một phần thiết yếu trong cuộc sống của nó. Vợ tôi ra hiệu cho con trai của chúng tôi lại gần và ôm nó thật chặt. Tôi quay mặt đi vì sợ rằng tôi có thể thay đổi quyết định của tôi ở phút cuối cùng này. Sau đó tôi bế cô ấy trong vòng tay, bước từ phòng ngủ, ngang qua phòng khách, và đi qua hành lang. Cô ấy vòng tay qua cổ tôi một cách nhẹ nhàng và tự nhiên. Tôi ôm cô ấy thật chặt, giống như vào ngày cưới của chúng tôi.
Điều làm tôi buồn là cô ấy còn nhẹ hơn nhiều so với tôi tưởng. Vào ngày cuối cùng, khi ôm cô ấy trong vòng tay của tôi, tôi lại khó có thể cất được bước chân. Con trai chúng tôi đã đi đến trường.
Tôi ôm cô ấy thật chặt và nói rằng, anh đã không nhận thấy rằng cuộc sống của chúng ta đã thiếu đi sự thân mật. Tôi lái xe đến văn phòng …. nhảy ra khỏi xe thật nhanh mà không cần khóa cả cửa xe. Tôi sợ bất cứ sự chậm trễ nào của mình sẽ khiến tôi đổi quyết định của mình… Tôi bước lên mấy bậc thang. Jane mở cửa và tôi đã nói với cô ấy, Xin lỗi Jane, anh không muốn ly dị nữa.
Cô ấy nhìn tôi, ngạc nhiên, và sau đó sờ trán tôi. Anh có bị sốt không? Cô ấy nói. Tôi gỡ tay cô ấy ra. Xin lỗi, Jane, tôi nói, anh sẽ không ly dị. Cuộc sống hôn nhân của anh có lẽ đã tẻ nhạt vì cô ấy và anh không đánh giá cao những chi tiết của cuộc sống chung, chứ không phải vì bọn anh đã không còn yêu nhau nữa.
Giờ đây anh nhận ra rằng vì rằng anh đã bế cô ấy vào trong nhà vào ngày cưới, anh sẽ bế cô ấy như vậy cho đến khi cái chết chia lìa anh và cô ấy. Jane dường như choàng tỉnh. Cô ta cho tôi một cái tát như trời giáng rồi đóng sầm cửa lại và bật khóc. Tôi xuống cầu thang và lái xe đi.
Tại tiệm hoa bên đường, tôi mua một bó hoa cho vợ tôi. Cô bán hàng hỏi tôi cần ghi những gì trên thiệp. Tôi mỉm cười và viết “anh sẽ bế em ra khỏi phòng vào mỗi sáng cho đến khi cái chết chia lìa đôi ta”.
Tối hôm đó, tôi về đến nhà, với hoa trên tay, và nụ cười nở trên môi, tôi chạy lên cầu thang, chỉ để thấy vợ tôi nằm trên giường – cô ấy đã ra đi. Vợ tôi đã chiến đấu với căn bệnh UNG THƯ trong nhiều tháng qua và tôi đã quá bận rộn với Jane để có thể nhận ra điều đó.
Cô ấy biết rằng mình sẽ chết và cô ấy muốn ngăn tôi khỏi bất kỳ phản ứng gì tiêu cực từ con trai của chúng tôi, trong trường hợp chúng tôi sẽ ly hôn với nhau – Ít nhất, trong con mắt của con trai của chúng tôi – Tôi là một người chồng đầy tình yêu thương…
Các chi tiết nhỏ trong cuộc sống của bạn thực sự là quan trọng trong một mối quan hệ. Nó không phải là biệt thự, xe hơi, tài sản, hay tiền trong ngân hàng. Những thứ đó tạo ra một môi trường thuận lợi hơn cho hạnh phúc, nhưng bản thân chúng không thể đem lại hạnh phúc cho chúng ta.
Vì vậy, hãy dành thời gian để trở thành bạn thân của người bạn đời của bạn và làm cho nhau những việc nhỏ để có xây dựng được sự thân mật. Hãy có một cuộc hôn nhân thực sự hạnh phúc!
Nếu bạn không chia sẻ bài này, chẳng có điều gì xảy ra với bạn.
Nếu bạn chia sẻ, bạn có thể sẽ cứu vãn được một cuộc hôn nhân nào đó. Nhiều người gặp thất bại trong cuộc sống là những người không nhận ra họ đã đến gần với thành công thế nào khi họ quyết định bỏ cuộc.
Hãy nhớ rằng tình yêu là những thứ quý báu nhất trong tất cả các kho báu. Nếu không có nó bạn sẽ chẳng có gì, và nếu có nó bạn có tất cả mọi thứ. Tình yêu không bao giờ mất đi, ngay cả khi xương cốt của một người mình yêu đã trở thành tro bụi. Cũng giống như mùi thơm của gỗ đàn hương không bao giờ mất đi, ngay cả khi nó đã bị nghiền nát, tương tự như vậy nền tảng của tình yêu là linh hồn, nó không thể phá hủy và tồn tại mãi mãi. Vẻ đẹp có thể mất đi, nhưng tình yêu thì không bao giờ.
TMSS sưu tầm
Xem thêm…

Một số câu hỏi về tự chủ đại họcTư tưởng của ĐH Princeton: “In the service of all nations”

15:45 |


Nguyễn Tiến Dũng


Hôm thứ bẩy 29/11/2014 vừa qua ở Paris có diễn ra một “Table Ronde” (thảo luận bàn tròn) về vấn đến tự chủ đại học do AVSE (Hội chuyên gia người Việt tại Pháp) tổ chức, và tôi có được mời vào panel. Vì thời gian hạn chế và có nhiều người muốn nói nên hôm đó chỉ nói được ít, và nói bằng tiếng Pháp vì nhiều người đến dự là người Pháp. Tôi viết nhanh lại đây một vài suy nghĩ và hiểu biết của mình về vấn đề này cho những ai quan tâm. (Các quan điểm trong bài này là của cá nhân, không đại diện cho tổ chức nào).
 
Tư tưởng của ĐH Princeton: “In the service of all nations”
 
1) “Tự chủ đại học” nghĩa là gì?

Nếu hiểu từ “đại học” theo nghĩa “university”, thì bản thân trong định nghĩa của nó đã có tính chất tự chủ. Gốc của từ universitas có nghĩa là tổ chức hiệp hội tự quản, ví dụ như hiệp hội của các thương nhân. Tuyên bố “Magna Charta Universitatum” của EAU (Liên hiệp các đại học châu Âu, xem: http://www.magna-charta.org/library/userfiles/file/mc_english.pdf) về đại học trang đầu có câu:
“The university is an autonomous institution at the heart of societies… ”

Tự chủ tức là tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về những vấn đề gì đó. Càng tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về nhiều thứ thì tức là độ tự chủ càng cao.

Đi vào cụ thể hơn thì những người khác nhau (kể cả các hiệu trưởng đại học) hiểu cụm từ “tự chủ đại học” theo nghĩa không hoàn toàn giống nhau. Theo một báo cáo của EAU, tự chủ đại học bao gồm sự tự chủ trong 4 lĩnh vực sau, chia nhỏ hơn nữa thành rất nhiều mục khác nhau:

- Tự chủ về nội dung khoa học (academic autonomy), hay còn có thể gọi là tự chủ về học thuật.

- Tự chủ về quản lý tài chính (financial autonomy), hay còn có thể gọi là tự chủ về vật chất.

- Tự chủ về tổ chức (organisational autonomy), trong đó có tự chủ về ban lãnh đạo.

- Tự chủ về cán bộ và nhân viên (staffing automony)

Mức độ tự chủ của đại học ở các nơi trên thế giới khá là khác nhau, có nơi tự chủ hơn về mặt này, có nơi lại tự chủ hơn về mặt khác. Nhưng nhìn chung, hệ thống đại học của Anh và Mỹ được coi là có độ tự chủ vào loại cao nhất thế giới.

2) Vì sao đại học cần có tự chủ?

Như Luc Weber (chủ tịch hiệp hội quốc tế các trường đại học, và nguyên hiệu trưởng ĐH Geneva) đã có nói (xem: http://www.euniam.aau.dk/fileadmin/user_upload/Luc_Weber.pdf), tự chủ đại học là một điều kiện cần, nhưng chưa đủ, để đại học (theo nghĩa university) có thể thực hiện được xứ mệnh của nó đối với toàn xã hội. Đại học có 3 xứ mệnh chính, đó là:

- Nghiên cứu (tìm ra các kiến thức, hiểu biết mới)

- Giảng dạy (truyền đạt lại các hiểu biết)

- Phản biện xã hội (phân tích các vấn đề của xã hôi một cách khoa học)

Trong lịch sử, các thế lực lớn (chính trị, tôn giáo, tư bản, v.v.) hay có xu hướng muốn “can thiệp thô bạo” vào các đại học, và mỗi khi các đại học bị can thiệp như vậy, mất tự chủ, thì thoái hóa, đi theo hướng giả khoa khọc hay trở thành công cụ phục vụ những kẻ nắm quyền thay vì phục vụ cho toàn xã hội.

Một số ví dụ của thoái hóa đại học trong thế kỷ 20 do sự can thiệp từ các thế lực bên ngoài: Đức Phát Xít đốt sách và biến đại học thành công cụ truyên truyền cho chủ nghĩa phát xít; Liên Xô tiêu diệt các giáo sư di truyền học, kinh tế học v.v. vì các khoa học đó “đi ngược lại chủa nghĩa Mac-Lenin”, Mao tống các giảng viên đại học đi “cải tạo lao động” trong thời kỳ cách mạng văn hóa ở Trung Quốc. Ở Việt Nam, như một nhà khoa học có uy tín lớn có nói, “chưa có khoa học xã hội”. Lý do tất nhiên là do chưa có tự chủ về tư tưởng, nên các khoa học xã hội và nhân văn bị phát triển một cách méo mó, thiếu tính khoa học.

Ngay ở những nơi mà các đại học đã có độ tự chủ cao, vẫn luôn luôn có nguy cơ bị các thế lực bên ngoài lợi dụng hoặc tấn công. Một báo cáo của Simone Sandry (http://fqppu.org/assets/files/publications/cahiers/cahiers_fqppu_6.pdf) về tự do học thuật ở Quebec năm 2001 có chứa nhiều vi dụ về vấn đề này. Một trong các ví dụ như sau: vào năm 1996, khi giáo sư Lacey ở Anh công bố phát hiện của ông về bênh bò điên có thể lây sang người, ông đã bị các doanh nghiệp nuôi hay chế biến thịt bò và cả bộ nông nghiệp tấn công thóa mạ kịch liệt, đến mức ông phải từ chức. Về sau thì người ta phải công nhận răng Lacey đúng, sau hàng chục trường hợp người chết vì ăn thịt bò điên. Hay một ví dụ khác: hãng thuốc Novartis “thông đồng” với ĐH California Berkeley để nhằm chiếm kiềm quyển soát các khám phá về biotech ở đó với mục đích vị lợi nhận. (Đại học Berkeley là đại học công nhưng lại bị công ty tư lợi dụng). Việc các công ty tư đầu tư vào nghiên cứu ở đại học công là chuyện bình thường, nhưng lạm dụng chuyện đầu tư để biến các nghiên cứu mà phần lớn vẫn dựa vào tiền công thành tài sản tư là vấn đề khác.

Trong thời đại toàn cầu hóa, có sự cạnh tranh ở tầm quốc tế giữa các đại học trong việc thu hút sinh viên, giảng viên, đề tài nghiên cứu, v.v. Để có thể cạnh tranh được ở tầm quốc tế, các đại học càng cần có sự tự chủ để có thể nhanh chống thực hiện các sáng kiến, đổi mới chính mình nhằm tăng chất lượng, trở nên hấp dẫn hơn, và có ích hơn cho xã hội.

3) Làm sao để đảm bảo đại học có tự chủ?

Các nước trên thế giới có các đạo luật nhằm đảm bảo quyền tự chủ của các đại học. Thậm chí, trong hiến pháp của một số nước (trong đó có Phần Lan, và cả Việt Nam Cộng Hòa trước đây) có cả một điều khoản trong hiến pháp ghi là đại học là tự chủ. Những đạo luật như vậy đảm bảo cho đại học được độc lập, không bị chính quyền can thiệp một cách tùy tiện.

Để đại học có được sự độc lập tự chủ đích thực, thì ngoài các văn bản pháp luật (đặc biệt đảm bảo về tự chủ học thuật), còn cần những yếu tố khác như:

- Được đầu tư thích đáng từ phía nhà nước và xã hội, có sự ổn định và đảm bảo về tài chính

- Có cơ chế và bộ máy quản lý minh bạch, hiệu quả để đảm nhiệm được trách nhiệm tự điều hành

- Có đội ngũ giáo sư đủ mạnh để đảm bảo khả năng tự chủ về học thuật.

Ở những nơi đã có truyền thống lâu đời, thì các điều kiện trên “hiển nhiên” đã được thỏa mãn và sự tự chủ của đại học là đương nhiên. Nhưng ở một số nơi khác, việc xây dựng lên các đại học tự chủ có thể là cả một quá trình dài, khi mà về mặt học thuật hay về mặt quản lý cũng đều chưa đủ khả năng để mà tự chủ thực sự, hay là có tự chủ nhưng cũng không đạt được sự ưu tú.

Đặc biệt là, chính quyền và xã hội có trách nhiệm đảm bảo nguồn tài chính cho đại học (mà không can thiệp vào công việc của đại học) thì đại học mới có thể tồn tại. Vì sao chính phủ và xã hội (gồm có cả các công ty, các tổ chức phi chính phủ, các hội cựu sinh viên, v.v.) lại có trách nhiệm đầu tư vào đại học? Đó là bới kế ước giữa đại học (hiểu là non-for-profit university) với xã hội. Các hoạt động của các đại học trong lịch sử từ trước đến nay đem lại lợi ích dương rất lớn cho toàn xã hội. (Lấy một ví dụ đơn giản: chỉ tính riêng lợi ích kinh tế của phát minh ra laser đã bù lại được toàn bộ tiền đầu tư vào nghiên cứu ở đại học từ trước đến nay), và như vậy có thể nói rằng, về phía mình thì đại học đã thực hiện được kế ước. Xã hội cũng có trách nhiệm thực hiện kế ước đó.

4) Tự chủ đại học ở Pháp ra sao?

So với các nước khác ở châu Âu thì mức độ tự chủ đại học ở Pháp được đánh giá vào loại trung bình. Tự chủ về học thuật luôn khá cao. Về tài chính thì cho đến gần đây mức độ tự chủ không cao, và phần lớn nguồn thu (đến 90%) là do nhà nước cấp, các nguồn thu khác tương đối khiêm tốn, và mức học phí cũng rất thấp.
Từ năm 2007 Quốc Hội Pháp thông qua luật LRU (Libertés et Réponsabilités des Universités), hay còn được biết đến với tên gọi “luật tự chủ đại học” hay “luật Pecresse” (vì là do bộ trưởng GD lúc đó là bà Pecresse đưa ra), nhằm tăng tự chủ của các đại học, đặc biệt là về mặt tài chính. Ví dụ như các khoản tiền lương và tiền thưởng của giáo sư nếu trước kia là do Bộ trả thì ngày nay do các trường tự trả, trường tự do hơn trong việc tuyển người. Ngoài ra có các qui định thay đổi về việc tuyển việc và các việc khác, ví dụ mỗi hội đồng tuyển việc bây giờ phải có ít nhất 1/2 số người là từ bên ngoài trường (nhằm giảm thiểu các trò “chim chuột” tuyển “con em cháu cha”). Cùng với bộ luật LRU là việc chuyển một phần lớn các khoản đầu tư nghiên cứu cho đại học theo kiểu thường xuyên sang kiểu theo “dự án ưu tú” (IDEX, LABEX, ANR projects, v.v.) nhằm bắt các nhà khoa học phải hăng hái cạnh tranh với nhau hơn.

Khi bộ luật LRU và các biện pháp đi kèm (LABEX, IDEX, v.v.) mới đưa ra, thì được nhiều hiệu trưởng đồng tình, nhưng cũng có những hiệu trưởng phản đối, và đặc biệt là bị rất nhiều các công đoàn và hội sinh viên phản đối. Những người phản đối đưa ra những mối lo ngại như:

- Luật này là một cách “rũ bỏ trách nhiệm” của chính phủ đối với đại học về tài chính. Trên thực tế, có một lượng lớn các trường rơi vào khủng hoảng tài chính, vì tiền bộ rót cho không đủ chi tiêu, dẫn đến việc cắt giảm các thứ như là cắt giảm tiền thưởng (tiền lương cơ bản thi không giảm được vì được qui định theo luật), cắt giảm biên chế (không tuyển giáo sư mới thay thế người về hưu), cắt giảm các suất giáo sư mời, v.v.

- Luật này làm giảm tính độc lập của các giáo sư, trao quyền tập trung quá nhiều vào các hiệu trưởng, nhưng lại bóp nghẹt sự tự chủ ở các cấp thấp hơn (như ở các khoa, các đơn vị nghiên cứu thuộc trường), khiến cho tương lai “ở phía dưới” trở nên rất mù mờ khó xác định.

- Một trong những múc đích của tự chủ đại học là nhằm giảm quan liêu, nhưng thực tế ở đại học Pháp là độ quan liêu còn tăng lên.

- Chính quyền không tăng đáng kể tiền đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (hiện tại Pháp đang bị thua nhiều nước về đầu tư cho khoa học và có nguy cơ thụt hậu), mà chỉ làm cho việc đấu đá để nhận tiền đầu tư căng thẳng lên, các nhà khoa học mất quá nhiều thời gian vào việc viết các dự án, làm giấy tờ hành chính, v.v. và như vậy chỉ còn ít thời gian để thực sự làm khoa học. Ttự chủ hay không thì lương giáo sư ở Pháp so với các ngành khác càng ngày càng trở nên kém hấp dẫn. Tự chủ nhưng không có đầu tư tương xứng thì vẫn không thay đổi tình trạng xuống cấp đó.

v.v.

Bộ luật LRU được chí phủ của tổng thống Sarkozy coi là một trong những thành công của thời ông ta nhằm tăng sức cạnh tranh của các đại học Pháp. Nhiều người cho rằng, tuy có nhiều vấn đề cần được chỉnh lý, nhưng dù sao nó cũng là một bước tích cực trong việc cải tổ đại học. Nhưng không phải ai cũng đồng tình, và luật LRU vẫn đang tiếp tục bị chỉ trích mạnh, với các bài báo (ngay trên các báo phổ biến như là Le Monde) gọi nó là “tự chủ hình thức”, “ảo ảnh”, v.v.

Kể cả sau khi đã có luật LRU thì không có nghĩa là các đại học ở Pháp hoàn toàn tự chủ về học thuật. Ngay trong năm 2014 lại xuất hiện chỉ thị từ phía bộ giáo dục ép các trường phải gộp các chương trình Master vào thành chung 1 bằng Master, ví dụ như là không còn có “Master nghiên cứu toán học” hay “Master giảng dạy toán học” mà từ sang năm chỉ còn thành chung 1 bằng, gây khó khăn cho các trường trong việc tạo các chương trình thích hợp cho định hướng nghề nghiệp của sinh viên.

Khác với các trường Anh-Mỹ, các trường Pháp có nguồn thu nhập từ bên ngoài chính phủ rất thấp. Sau luật LRU, các trường có lập các “Foundation” nhằm thu hút thêm đầu tư từ bên ngoài, lòng hảo tâm của các cựu sinh viên, v.v., nhưng chắc phải hàng thập kỷ nữa truyền thống quyên tiền phi chính phủ cho đại học mới có thể hình thành rõ nét ở Pháp.

Về mặt lý thuyết, với luật LRU thì các trường ĐH công được tự do hơn trong việc trả lương (không thể trả thấp hơn mức qui định của nhà nước, nhưng có thể trả phụ cấp hay thưởng thêm vào tùy ý cho lương cao lên để cạnh tranh với thế giới), nhưng trên thực tế thì hầu như chưa nơi nào (trừ một vào nơi hiếm hoi đã có được tài trợ từ bên ngoài từ trước) làm được chuyện đó.

5) Triển vọng tự chủ đại học ở Việt Nam ra sao?

Theo tôi hiểu thì bắt đầu có các văn bản về tự chủ đại học ở Việt nam, và có 4 trường ĐH công lớn được thí điểm tự chủ.

Con đường đi đến tự chủ đại học ở Việt Nam còn rất dài, với nhiều chông gai và nhiều vướng mắc cơ bản cần giải quyết, đạc biệt là hai vấn đề sau:

- Sự can thiệp của đảng, ban khoa giáo TW, v.v. dẫn đến không có tự chủ về học thuật và về lãnh đạo đại học. Những người có trình độ và tâm huyết thực sự đã rất ít, lại còn không được dùng thực sự.

- Vấn nạn tham nhũng và thiếu trung thực (ngay các lãnh đạo ĐH cũng có thể là bằng rởm), thiếu minh bạch không có cách nào giải quyết đơn giản. Đại học tự chủ nhưng bản thân những người lãnh đạo nó thiếu tư cách, thiếu trung thực có khi còn đem lại các hậu quả to hơn so với không có tự chủ.

Trong điều kiện hết sức khó khăn như vậy, tất nhiên vẫn có những bước có thể thực hiện được nhằm tăng tự chủ và hiệu quả công việc của giảng viên và nghiên cứu viên ở đại học. Việc thành lập NAFOSTED cáp tiền phụ cấp trực tiếp cho những người làm khoa học là một ví dụ theo chiều hướng tích cực.
Xem thêm…

GIẢI PHÁP KỲ LẠ

15:12 |
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.  Lc 10,21-24

21 Được Thánh Thần tác động, Đức Giê-su hớn hở vui mừng nói : “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.

22 “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết người Con là ai, trừ Chúa Cha, cũng như không ai biết Chúa Cha là ai, trừ người Con, và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.”


23 Rồi Đức Giê-su quay lại với các môn đệ và bảo riêng : “Phúc thay mắt nào được thấy điều anh em thấy ! 24 Quả vậy, Thầy bảo cho anh em biết : nhiều ngôn sứ và nhiều vua chúa đã muốn thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, muốn nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe.”

Suy niệm: Giải pháp kỳ lạ (Đặng Không Sơn)

Thử nghĩ, gia đình đang tan nát. Mọi người khốn khổ vì chẳng có việc làm và chẳng có miếng ăn. Ai cũng bệnh tật dầm dề không tiền mua thuốc. Bố mẹ vợ chồng con cái giận dữ thù hận nhau, một thằng con đã đau đớn giận dữ bèn hút chích và nay nhiễm HIV. Khi đó, trong tan nát đó, Vị Cứu Tinh xuất hiện. Hai bàn tay trắng. Giải pháp của ngài chỉ là...dám sống một hành trình tâm linh !

Thử nghĩ, cả một xã hội cũng đang xuống dốc đến tận cùng. Đao đức, văn hóa, tư tưởng, chính trị, kinh tế, giáo dục...nơi nào cũng chỉ còn thấy gian tham, tàn bạo, dối trá, lừa mị, vô luân, hời hợt. Ông anh đế quốc trên đầu giuơng cao móng vuốt. Những phường tay sai đè đầu bóp họng dân đen tranh nhau vơ vét. Vị Cứu Tinh xuất hiện. Đấng Messia xuất hiện. Ai cũng đợi chờ. Tia hy vọng lóe lên. "Ngài đến, lòng chúng nhân reo hò vui mừng". Nhưng không. Lão ta là một tay gầy gò dúm dó, chẳng một tấc sắt trong tay. Giải pháp lão đưa ra chỉ là dám sống một... hành trình tâm linh.

Những tay Zelốt bạo động, quá khích, như ông Giuđa, như ông 'Simon Nhiệt Thành', làm môn đệ ngài, để chờ đợi và đòi hỏi ngài phát động một biến động quân sự hay chính trị. Đúng lý thôi. Toàn dân đều mong ước như thế. Phải đánh vỡ đầu, phải đập nứt sọ những quân gian ác, để "cho ngươi dầm chân trong máu, bầy chó của ngươi đưa lưỡi liếm thây thù" ! 

Thực ra, chính ngài cũng đã từng bị 'cám dỗ' đưa ra những giải pháp nhanh, gọn, đông, kết quả cấp xì tốc như thế. Làm ra cơm bánh và tiền bạc thật nhiều. Cầm lấy khẩu súng kêu gọi mọi người đứng lên phất cờ khởi nghĩa. Trở thành vị minh quân thần thánh cha già dân tộc thiêng liêng mầu nhiệm đời đời lãnh đạo nhân dân muôn năm trường trị thống nhất giang hồ !

Không. Hôm nay, đầy 'hoan lạc trong Thánh Linh", Ngài cất tiếng ngợi khen chúc tụng Cha Trời là Tình Yêu Vô Tận đã tỏ lộ những điều sâu kín diệu huyền cho những kẻ đơn thành bé mọn. Và chính Ngài cũng chỉ là một người đơn thành bé mọn. Quê hương của ngài, anh em nhân loại của ngài chỉ được 'cứu rỗi' từ những con người đơn thành bé mọn. Càng đơn thành bé mọn, thì càng tràn ngập Lượng Cả Yêu Thương vốn chứa chan trong khắp cùng trời đất.

Đó là giải pháp kỳ lạ của ngài. Những người "còn sót lại", những người mà tâm hồn đơn giản, thành tâm, bé mọn lại là niềm hy vọng mới cho cả một xã hội đang rùng rùng kéo nhau lăn xuống hố, kể cả những kẻ rất nhiệt thành muốn giải quyết mọi sự bằng mưu mô và bạo lực ! Những kẻ đó cũng đang cùng đám bạo quyền kéo mọi người xuống hố ! xuống hố cả nút ! Oán thù đâu có thể dẹp được oán thù !

Trở thành một con người đơn thành, chân chất, bé mọn mà đón nhận Lượng Cả Yêu Thương. Trở thành một CON NGƯỜI dám gắn bó với 'thiêng liêng' và kính trọng sự thiêng liêng nơi tất cả mọi CON NGƯỜI ! Đó là giải pháp. Và đó cũng là Tin Mừng ! Tin Mừng nghĩa là mọi nguòi đều được Yêu Thương, và có quyền dám yêu thương nguời khác.

Chao ôi, làm sao kiên nhẫn đủ, chịu đựng đủ, tin tưởng đủ, trung kiên đủ, đơn thành và bé mọn đủ, trở thành con người yêu thuơng nhân hậu đủ, trở thành con người sống tâm linh đủ, giữa muôn ngàn nóng bỏng quay quắt đến tức tối đớn đau ! Bằng không, như anh Giuđa thông minh và mưu lược, ta sẽ lôi lão Messia 'ảo tưởng' này, lôi cả giải pháp điên khùng kỳ dị của lão Messia khùng điên này, đem đóng đinh thật chặt vào thập giá !
Xem thêm…

Sống với tỉ số thiền

06:51 |
 Nguyễn Văn Tuấn
Sáng nay có người gửi tôi một bài viết mà đọc một vài dòng đầu tôi mới biết là của mình! Bài này viết cho báo Tết cũng đã 2 hay 3 năm rồi, và vì website bị đánh sập nên tôi mất luôn. Lúc đó tôi đọc được một cuốn sách cực kì hay có tựa đề là "Born to be good" của Dacher Keltner, một nhà tâm lí học. Sách có đề cập đến khái niệm "Zen ratio" rất thú vị, và cuốn sách làm tôi thức gần nửa chuyến bay Los Angeles về Sydney. Về đến nhà, vội vàng viết lại bài này. Nay bắt gặp những suy nghĩ đầu năm của mình lúc đó thấy cũng có lí và còn tính thời sự nên mới post lại ở đây.
Sự học lúc nào cũng làm cho chúng ta khiêm tốn hơn. Khi mới tốt nghiệp tú tài II (bây giờ là trung học phổ thông), tôi nghĩ mình đã thấu hiểu kim cổ, nhưng khi lên đại học chỉ qua vài bài giảng tôi mới thấy mình chẳng biết gì sâu sắc cả. Khi tốt nghiệp đại học, tôi nghĩ mình đã là một người có hiểu biết hay “trí thức”, nhưng thầy tôi bảo tốt nghiệp đại học chỉ mới đánh dấu một giai đoạn “trưởng thành”. Đến khi vào học tiến sĩ tôi hăm hở sẽ chinh phục và giải quyết vấn đề của thế giới, nhưng sau bốn năm rèn luyện và tốt nghiệp, tôi càng thấy mình rối rắm, nếu không muốn nói là mụ mị hơn! Thế mới nghiệm ra một chân lí rằng bể học rất mênh mông, càng học càng thấy mình chưa đến bờ bến. Nhưng cái lợi ích rất hay của việc học hành (và giáo dục nói chung) không phải chỉ là trang bị kiến thức mới, mà là làm cho chúng ta nhận thức ra những thiếu sót và yếu kém của mình.

Thế nhưng trong thực tế, ít ai nhận ra yếu kém của mình. Ngược lại, người có học thường tự đánh giá mình quá cao. Họ thường tự xem mình là trung tâm của thế giới, là tài giỏi hơn mọi người chung quanh. Vì quá bận tâm với cái tôi, đến những sở thích, mong muốn cá nhân, và có khi tự huyễn hoặc mình, họ trở thành những người vị kỉ, thậm chí narcissistic. Nhưng cuộc sống là một hàm số khổng lồ mà trong đó mọi cá nhân phải phụ thuộc vào nhau và với nhau để tồn tại, nên tự huyễn hoặc mình quan trọng hơn người khác là một điều rất hoang tưởng. Theo tôi, vấn đề không phải là ai quan trọng hơn ai, nhưng là mình có thể đóng góp gì cho xã hội, có thể đem lại phúc lợi gì cho cộng đồng để cuộc cuộc sống có ý nghĩa hơn và chất lượng sống cao hơn.

Tôi muốn đề nghị rằng ý nghĩa của cuộc sống và chất lượng sống qua lăng kính của tỉ số thiền hay còn gọi là "Zen ratio". Thiền là một ý tưởng chủ đạo trong giáo huấn của Khổng Tử, đề cập đến những lòng nhân đạo và điều tốt lành làm nền tảng của những mối liên hệ giữa các cá nhân trong xã hội. Theo Khổng Tử, người thiền là người không chỉ muốn thiết lập chí khí cho riêng mình, nhưng cũng thiết lập chí khí cho người khác. Hiểu theo nguyên lí này, người thiền là người mang phúc lợi cho người khác và không làm điều gì gây tổn hại đến người khác. Từ đó, tỉ số thiền có thể định nghĩa là tỉ số của những phúc lợi trên những tác động tiêu cực trong mỗi việc làm của chúng ta. Tử số của tỉ số thiền là những việc làm đem lại tác động tích cực, và mẫu số là những tác động không tích cực, thậm chí tác hại đến người khác.

Có thể xem tỉ số thiền như là một tiêu chí để chúng ta quyết định hành động mỗi ngày. Câu hỏi “tôi có nên viết bài báo này hay không” có thể trả lời bằng tác động tích cực và tiêu cực của bài báo. Tác động tích cực có thể là những lời khuyên cho các bạn đọc sống tử tế hơn, nhưng tác động tiêu cực có thể là bài báo sẽ làm cho một số bạn đọc không hài lòng, thậm chí tức giận. Nhưng bất cứ việc làm nào cũng có hai mặt: tích cực và tiêu cực, nên không khi nào chúng ta có thể đạt tỉ số thiền bằng 0. Nhưng nếu tỉ số thiền của bài báo trên 10 thì tôi nghĩ việc làm của tôi có ý nghĩa. Nhiều nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng mỗi tuần một cá nhân làm được 5 việc với tỉ số thiền trên 10 thì người đó sẽ là một người hạnh phúc và cuộc sống có ý nghĩa hơn.

Cuộc sống có ý nghĩa không hẳn là nhờ vào tiền. Một nghiên cứu ở Mĩ cho thấy 74% sinh viên cho biết động cơ chính để theo học đại học là vì lí do kinh tế. Nhưng tiền bạc có thật sự làm cho chúng ta hạnh phúc thì vẫn là một câu hỏi khó có câu trả lời. Đối với người nghèo thì câu trả lời là “có”, vì vật chất giúp họ vượt qua khỏi hoàn cảnh khốn khó. Đối với người trung lưu hay giàu có, thì câu trả lời là “không”, vì những gì họ quan tâm là tình trạng bất an, bệnh tật, và có khi cái chết. Những nghiên cứu này cho thấy một cách nhất quán rằng tiền bạc và địa vị không phải là yếu tố làm cho chúng ta hạnh phúc; chính những mối liên hệ tình cảm lành mạnh giữa người với người và sức khỏe mới là yếu tố định hình tính hạnh phúc. Nói cách khác, chính tỉ số thiền là yếu tố xác định chúng ta hạnh phúc hay không hạnh phúc.

Tỉ số thiền không chỉ là một tiêu chí cho hành động mà còn là thái độ và hành vi. Trong tiếng Anh, cũng như tiếng Việt, có nhiều từ để mô tả cảm xúc tiêu cực hơn là từ tích cực. Điều này có thể hiểu được, bởi vì những xúc cảm tiêu cực là bản chất tự nhiên của con người và là một “đơn vị” trong cuộc sống hàng ngày. Một nụ cười, một biểu hiện thông cảm qua ánh mắt, hay một cử động thân mật, v.v. cũng có thể gây tác động tích cực và làm gia tăng tỉ số thiền.

Trong cuộc sống đa chiều có những mối liên hệ chằng chịt và phức tạp, không có cá nhân nào làm nên tất cả. Mỗi chúng ta đều phải phụ thuộc vào người khác để tồn tại. Trong khoa học, mỗi nhà khoa học phải đứng trên vai của người đi trước để có được sự nghiệp ngày hôm nay. Thật là ngây thơ nếu tự huyễn hoặc mình là quan trọng nhất, vì đó là yếu tố dẫn đến sự thất bại. Để thành công trong cuộc sống, tôi nghĩ nên sử dụng tỉ số thiền như là một kim chỉ nam hay một tiêu chí. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có một câu nói đơn giản nhưng nói lên tất cả triết lí của tỉ số thiền. Trả lời Khánh Ly về ý nghĩa của cuộc sống, Trịnh Công Sơn nói “Sống giữa đời sống cũng cần có một tấm lòng”. Đó là tấm lòng tử tế với nhau. Tôi diễn giải câu đó như là một tối ưu hóa tỉ số thiền để làm cho cuộc sống có chất lượng cao hơn.
Xem thêm…

Thứ Ba sau Chúa nhật I Mùa Vọng

06:25 |


Bài đọc xem tại đây: KTCMN

Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.
Is 11,1-10 
 
1 Ngày ấy, từ gốc tổ Gie-sê, sẽ đâm ra một nhánh nhỏ,
từ cội rễ ấy, sẽ mọc lên một mầm non.
2 Thần khí Đức Chúa sẽ ngự trên vị này :
thần khí khôn ngoan và minh mẫn,
thần khí mưu lược và dũng mãnh,
thần khí hiểu biết và kính sợ Đức Chúa.
3 Lòng kính sợ Đức Chúa làm cho Người hứng thú,
Người sẽ không xét xử theo dáng vẻ bên ngoài,
cũng không phán quyết theo lời kẻ khác nói,
4 nhưng xét xử công minh cho người thấp cổ bé miệng,
và phán quyết vô tư bênh kẻ nghèo trong xứ sở.
Lời Người nói là cây roi đánh vào xứ sở,
hơi miệng thở ra giết chết kẻ gian tà.
5 Đai thắt ngang lưng là đức công chính,
giải buộc bên sườn là đức tín thành.
6 Bấy giờ sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ.
Bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau,
một cậu bé sẽ chăn dắt chúng.
7 Bò cái kết thân cùng gấu cái,
con của chúng nằm chung một chỗ,
sư tử cũng ăn rơm như bò.
8 Bé thơ còn đang bú giỡn chơi bên hang rắn lục,
trẻ thơ vừa cai sữa thọc tay vào ổ rắn hổ mang.
9 Sẽ không còn ai tác hại và tàn phá
trên khắp núi thánh của Ta,
vì sự hiểu biết Đức Chúa sẽ tràn ngập đất này,
cũng như nước lấp đầy lòng biển.
10 Đến ngày đó, cội rễ Gie-sê sẽ đứng lên làm cờ hiệu cho các dân.
Các dân tộc sẽ tìm kiếm Người,
và nơi Người ngự sẽ rực rỡ vinh quang.

Đáp ca Tv 71,1-2.7-8.12-13.17 (Đ. x. c.7)

Đ. Triều đại Người, đua nở hoa công lý,
và thái bình thịnh trị đến muôn đời.

1 Tâu Thượng Đế, xin ban quyền bính Ngài cho vị Tân Vương,
trao công lý Ngài vào tay Thái Tử,
2 để Tân Vương xét xử dân Ngài theo công lý,
và bênh vực quyền lợi kẻ nghèo hèn.

Đ. Triều đại Người, đua nở hoa công lý,
và thái bình thịnh trị đến muôn đời.

7 Triều đại Người, đua nở hoa công lý
và thái bình thịnh trị
tới ngày nao tuế nguyệt chẳng còn.
8 Người làm bá chủ từ biển này qua biển nọ,
từ Sông Cả đến tận cùng cõi đất.

Đ. Triều đại Người, đua nở hoa công lý,
và thái bình thịnh trị đến muôn đời.

12 Người giải thoát bần dân kêu khổ
và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương,
13 chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo.
Mạng sống dân nghèo, Người ra tay tế độ.

Đ. Triều đại Người, đua nở hoa công lý,
và thái bình thịnh trị đến muôn đời.

17 Danh thơm Người sẽ trường tồn vạn kỷ,
nức tiếng gần xa dưới ánh mặt trời.
Ước gì mọi sắc tộc trần gian, nhờ Người được chúc lành,
và muôn dân thiên hạ ngợi khen Người có phúc.

Đ. Triều đại Người, đua nở hoa công lý,
và thái bình thịnh trị đến muôn đời.


Tung hô Tin Mừng

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Kìa Chúa chúng ta ngự đến uy quyền, sẽ chiếu toả ánh quang cho tôi tớ Người rạng ngời đôi mắt. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.  Lc 10,21-24

21 Được Thánh Thần tác động, Đức Giê-su hớn hở vui mừng nói : “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.

22 “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết người Con là ai, trừ Chúa Cha, cũng như không ai biết Chúa Cha là ai, trừ người Con, và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.”

23 Rồi Đức Giê-su quay lại với các môn đệ và bảo riêng : “Phúc thay mắt nào được thấy điều anh em thấy ! 24 Quả vậy, Thầy bảo cho anh em biết : nhiều ngôn sứ và nhiều vua chúa đã muốn thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, muốn nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe.”

Suy niệm

Mùa vọng, mùa của cậy trông. Đức cậy trông của Kitô giáo không phải là trông cậy một điều gì đó không thực nhưng là luôn hy vọng điều có thực sẽ được xảy đến trong tương lai; điều được bảo đảm bởi Thiên Chúa là Đấng luôn trung tín và  thủy chung. Nơi Người, con người và vạn vật trở lại tình trạng hài hòa ban đầu. Nơi chỉ có sự bình an và yêu thương.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con sống tâm tình mùa vọng ấy bằng chính cuộc đời yêu thương. Xin cho đời sống yêu thương trở thành lời chứng cho đức cậy trông của chúng con và cả và nhân loại! Amen.
Xem thêm…

Copyright ©THT - Được biên soạn và sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau - Ghi rõ nguồn:quatangsusong.blogspot.com/ - Khi phát hành thông tin trên trang này
Gx Đaminh | Namkna | Trung Tâm Học Vấn Đaminh | Kho tài liệu hay |