Martinô : Một Mảnh Đời Kỳ Diệu
04:31 |
Martinô : Một Mảnh Đời Kỳ Diệu
Khi
nói đến vị thánh “thầy chổi” Martinô, chúng ta liền liên tưởng ngay đến
biết bao những phép lạ kỳ diệu ngài đã làm, một đời sống cầu nguyện
liên lỉ - rất nhiều lần ngây ngất đắm say trước tôn nhan Thiên Chúa, và
một “tấm lòng vàng” đầy yêu thương và nhân ái. Có ai ngờ rằng …
Thánh
Martinô xuất thân từ một hoàn cảnh vô cùng bi đát và đắng cay. Bối cảnh
của cậu bé Martinô buổi thiếu thời thật khốn khổ. Là con của một thiếu
nữ da đen đã từng bị đem bán làm nô lệ vào một nhà quý tộc người Tây Ban
Nha. Vì là một đứa con lai, cậu bé Martinô đã phải chịu lấy cảnh khốn
khổ, nghèo đói và tủi nhục: xã hội hất hủi và bố ruột ruồng bỏ. Suốt 8
năm trời ròng rã của thời ấu thơ, cậu bé Martinô phải sống vương vất
trên đại lộ Santo Spíritu dọc theo hải cảng Peruvian thuộc thành phố
Lima.
Biết
bao những đêm trường không ngủ được, cậu bé phải vật lộn với những
luồng gió lạnh tái tê thổi từ biển quyện lấy thân thể héo hom gầy guộc
của cậu. Dưới những tia nắng gay gắt cháy da ban ngày, cậu bé Martinô
phải lang thang đầu đường xó chợ, bị phỉ báng và khạc nhổ trên đường như
là “đồ chó mọi rợ”. Từng bước nhỏ trên đường đời của cậu là từng bước
gian truân bão táp, là từng hạt mưa rỉ rách nhỏ giọt trong tim. Nói tới
đây, tôi chợt nhớ đến những mảnh đời ấu thơ của các bạn trẻ đang lang
thang mọi nẻo đường góc chợ để kiếm miếng cơm qua ngày bên quê nhà, như
lời nhạc sĩ Minh Khang diễn tả trong nhạc phẩm “Đứa Bé”, Nhìn thấy ai ai
cũng đều vui bên mẹ cha, giọt lệ em rơi hoà chung với nỗi buồn bước đi
trong chiều mưa. Ôi, đắng cay và tủi nhục quá ! Có mảnh đời nào bi đát
và xót xa hơn thế nữa ?
Nhưng
cũng có lẽ những giây phút rướm lệ cho thân phận tủi nhục, đắng cay của
mình, cậu bé Martinô đã dần cảm thấu nỗi khốn cực và đau khổ của những
mảnh đời tương tự. Có lây lất nằm đường trong những đêm giá lạnh, cậu
mới dần thông cảm sâu sắc sự vất vưởng không nơi trú thân của những kẻ
ăn mày vô gia cư, và ngay cả những chú chuột lang thang ngoài đồng.
Nhưng hơn cả, đó là những giây phút trầm mình trong biển lệ nơi thập giá
Chúa Giêsu khổ nạn mà cậu bé Martinô tìm ra ý nghĩa của đời mình.
Chính
nơi đây phảng phất hương thơm ý nghĩa cuộc đời dù bao đắng cay, tủi
nhục cuồn cuộn như sóng cồn ngoài biển khơi và bao khốn khó chất chồng
cao ngất tựa thái sơn. Nhìn lên thập giá xuyên qua vòng cầu châu lệ, cậu
đã thấy được muôn vàn sắc thái long lanh của đau khổ tử nạn của Chúa
Giêsu. Đó là vòng lăng kính muôn màu huyền nhiệm của tình yêu vô bờ bến,
của lòng nhân ái không quản ngại mọi khó khăn, và của hy sinh bằng
chính huyết nhục bản thân. Đó là Chúa Giêsu Kitô trên thập hình tử nạn,
là Hình Ảnh của Thiên Chúa Yêu Thương đã chết cho nhân loại.
Qua
đó, cậu bé Martinô thấy được rằng mình thực sự mang hình ảnh của Thiên
Chúa. Đúng thế, mỗi con người đều mang lấy hình ảnh huyền nhiệm của
Thiên Chúa. Mỗi một người đều là một huyền nhiệm yêu thương cá biệt như
hạt nước trong biển tình nơi cung lòng của Thiên Chúa Chí Ái. Từ đó,
những trắc ẩn đắng cay, tủi nhục, khốn khổ của thánh Martinô đã trở
thành công cụ tình thương của Thiên Chúa nhân hậu. Qua những giai thoại
cuộc đời của thánh nhân, chúng ta thấy được biết bao những dấu chỉ của
một “tấm lòng vàng” tràn trề tình yêu thương. Có kẻ nào nghèo đói đến
với thánh nhân mà không được no đủ. Có ai “không chỗ gối đầu” đến tìm
ngài mà không được nơi trú ngụ. Có người nào gặp cảnh nan y đến nài xin
ngài mà không được cứu chữa. Có ai trong cảnh thất vọng đến nương tựa
nơi ngài lại không được ban phát một phép lạ giải thoát.
Bản
thân tôi cũng đã từng nương tựa nơi ngài để mà bây giờ ngồi đây chia sẻ
với quý vị. Con được ba má tôi kể rằng: Lúc má tôi mang thai con được 5
tháng thì bị xuất huyết. Bôn ba chạy đây đó kiếm tìm các lương y cứu
chữa, nhưng đều hoài công, má tôi chỉ nhận được câu trả lời như một điệp
khúc của bản trường ca tuyệt vọng buồn thảm rằng, “Không còn hy vọng
nữa. Bà sẽ bị xẩy thai.” Bao nhiêu năm tháng trông đợi một mụn con trai,
nhưng giờ lại bị xẩy thai. Thật đau buồn quá ! Trong tuyệt vọng, má con
đã tìm đến Đền Thánh Martinô cầu xin ngài cầu bầu cùng Thiên Chúa Nhân
Lành. Thật bất ngờ, chứng xuất huyết liền hết. Quả là một phép lạ. Vài
tháng sau, tôi được ra đời và được mang tên thánh Martinô.
Chính
qua bàn tay nhân ái của thánh Martinô, tôi cảm thấy sâu sắc hơn và rõ
ràng hơn Tình Yêu của Thiên Chúa, như qua lời ca của Vua Đa Vít năm xưa,
“Tạng phủ con, chính Ngài đã cấu tạo, dệt tấm hình hài trong dạ mẫu
thân con.” (Tv. 139:13) Và,
“Con mới là bào thai, mắt Ngài đã thấy;
mọi ngày đời được dành sẵn cho con
đều thấy ghi trong sổ sách Ngài,
trước khi ngày đầu của đời con khởi sự.”
(Tv. 139:16)
mọi ngày đời được dành sẵn cho con
đều thấy ghi trong sổ sách Ngài,
trước khi ngày đầu của đời con khởi sự.”
(Tv. 139:16)
Có
lẽ trong cuộc sống mỗi người chúng ta cũng đều thấy thấp thoáng hình
ảnh tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta cách này hay cách khác.
Riêng chỉ nói đến lúc vừa được thành hình trong bào thai, nơi chất chứa
bao ấm áp của tình mẹ, nơi biết phập phồng lắng nghe hơi thở của tình
cha, nơi khai mào một cuộc sống kỳ diệu – đó đã là một hồng ân cao vời
của huyền nhiệm tình yêu Thiên Chúa.
Cuộc
đời thánh Martinô đã cho chúng ta thấy rõ cuộc đời là một huyền nhiệm
tuyệt vời của Tình Yêu. Mỗi một người được Thiên Chúa yêu thương một
cách đặc biệt như một tặng phẩm độc nhất vô song. Hơi thở tình yêu đã
chan hòa khắp châu thân và mọi nơi quanh chúng ta, chúng ta có thực sự
hít sâu và để toàn thân xác ta căng đầy nhựa sống yêu thương chăng ? Có
căng đầy nhựa sống yêu thương, con người chúng ta mới thực sự là khí cụ
tình yêu của Thiên Chúa Chí Ái. Phải như thế, mỗi cuộc đời chúng ta sẽ
trở thành những bài ca ngợi ca Tình Yêu Thiên Chúa, như cuộc đời của
Thánh Martinô.
Lm. Martin Philip Bùi Thái Nhân op
(12.10.2007)
TIN MỪNG SỰ SỐNG
00:00 |
Phaolô Nguyễn Hải Đăng, OP.
![]() |
| Hãy trân trọng sự sống (ảnh Internet) |
Tin
Mừng Sự Sống là trung tâm sứ điệp của Đức Giêsu, được khai mở ngay buổi
bình mình của ơn cứu độ: “Này ta báo cho anh em một niềm vui lớn là
niềm vui cho toàn dân: hôm nay đã sinh ra cho anh em Vị Cứu Tinh, Ngài
là Kitô, Đức Chúa, trong thành của Đavít” (x. Lc 2,10-11). Tin mừng đó
đã được Giáo Hội đón nhận và không ngừng loan truyền cho con người thuộc
mọi thời đại và mọi nền văn hóa. Việc bảo vệ và làm thăng tiến giá trị
sự sống trước những đe dọa của nền văn hóa sự chết phải là sứ vụ tiên
quyết của mọi Kitô hữu vì qua Mầu nhiệm Nhập Thể, Ngôi Hai Thiên Chúa đã
kết hiệp chính mình với bất kỳ con người nào. Ba huấn quyền của Công
đồng Vaticanô II về giá trị thánh thiêng của sự sống vẫn khẳng định
tính thời sự và lập trường của Giáo Hội trước những thế lực đang nhằm
thao túng sự sống của chính con người trong thế giới đa diện hôm nay:
tất cả những gì chống lại sự sống như giết người, diệt chủng, phá thai,
an tử; tất cả những gì xâm phạm đến sự toàn vẹn con người cả về thể xác
và tinh thần; tất cả những gì xúc phạm đến phẩm giá con người, biến con
người trở thành ngang hàng như dụng cụ thuần túy để thu lợi. Tất cả
những hành động đó là hành vi xúc phạm nặng nề đến vinh danh của Đấng
Tạo Hóa.[1]
“Sự sống của con người là thánh thiêng,
bởi vì ngay từ nguồn gốc nó bao hàm “hành động sáng tạo của Thiên Chúa”
và mãi mãi nằm trong một mối quan hệ đặc biệt với Đấng Tạo Hóa, cứu cánh
duy nhất của nó.”[2] Như vậy đối với Kitô giáo, sự sống không còn là một ý niệm phổ quát, ngoại tại nhưng là một thực tại mang tính ngôi vị
cụ thể. Con người được tạo dựng vì chính mình và mỗi nhân vị là một
phản ánh sống động về chính Thiên Chúa, nguyên ủy sự sống. Con người
không có quyền trực tiếp can thiệp vào hành vi hủy diệt sự sống vì sự
sống là giá trị thánh thiêng phản ánh chính sự bất khả xâm phạm của Đấng
Tạo Hóa (x. St 1, 26-28).
Kinh nghiệm lịch sử cứu độ cho chúng ta
thấy rằng những biến cố Cựu Ước chính là hình ảnh tiên báo và cuối cùng
được hoàn trọn nơi chính Đức Kitô. Sứ điệp về Sự Sống đã được chuẩn bị
ngay trong Cựu Ước với biến cố Xuất Hành, trọng tâm kinh nghiệm đức tin
của dân tộc Israel. Trước mối đe dọa tàn sát tất cả hài nhi sơ sinh của
vua Pharaô và sự giải thoát đầy yêu thương của Thiên Chúa, dân Israel
nhận ra rằng: sự sống khởi phát từ chính Thiên Chúa, vì thế con người không ai có quyền định đoạt về sự sống của chính mình và của người khác.
Kinh nghiệm này lớn dần trong tương quan tín trung với Thiên Chúa. Dân
Israel nhận biết được rằng, chính Thiên Chúa là nguồn cậy trông và là
Chủ Tể sự sống vì “tất cả những vật Chúa ban đều tốt trong thời chúng;
Chúa đã đặt trong lòng chúng tổng số thời gian” (x. Gv 3,11).
Sự sống con người là một điều thiện hảo
vượt xa sự sống của bất kỳ sinh vật nào. Dù được tạo nên từ bụi đất (x.
St 2,7; 3,19; Tv 103) nhưng con người là họa ảnh biểu lộ vinh quang
Thiên Chúa, là dấu chỉ về sự hiện diện của Người (x. St 1, 26-27; Tv 8,
6). Con người được trao ban phẩm giá trổi vượt vì có sự nối kết mật
thiết giữa con người và Đấng Tạo Hóa nên mình. Chính sự nối kết này là dấu ấn thần linh thôi thúc con người vươn đến nguồn mach sự sống phát sinh chính mình là Thiên Chúa.
Kitô giáo với chủ thuyết nhân vị là một
đóng góp quan trọng cho việc thăng tiến giá trị con người. Kitô giáo đem
đến một nhãn quan hoàn toàn mới khi trình bày con người là một hữu thể
cứu cánh tại thân và mọi nhân tố ngoại tại chỉ có giá trị trong mối
tương quan với con người. Sự sống là giá trị thánh thiêng bởi nó được
gắn kết với con người như một họa ảnh của Thiên Chúa.
2. Chiều kích nhân vị - sự đóng góp của Kitô giáo
Thực tại về con người là vấn nạn của
lịch sử: con người là ai? Có rất nhiều quan niệm khác nhau về nó. Nhưng
tất cả chỉ là những ý niệm cực đoan thái quá khi tán dương con người như
một chuẩn mực tuyệt đối hay tiêu cực yếm thế khi tỏ ra hoài nghi, lo
lắng về ý nghĩa hiện hữu của con người. Giáo Hội được đón nhận mặc khải
từ chính Thiên Chúa có trách nhiệm trình bày những nền tảng chân lý đức
tin về thân phận và giá trị đích thật của con người, những yếu hèn và cả
phẩm giá bất khả xâm phạm.
Kinh thánh Kitô giáo xác định con người
được tạo dựng “theo hình ảnh Thiên Chúa” có khả năng nhận biết và yêu
mến Đấng Tạo Dựng nên mình và được Ngài đặt làm chủ mọi tạo vật trên
trái đất (St 1, 26; Kn 2, 23) để cai trị và sử dụng chúng mà ngợi khen
Thiên Chúa (Hđ 17, 3-10).[3]
- Con người là thực tại hợp nhất hồn và xác.
Xét về thể xác con người là một tổng hợp những yếu tố thuộc thế giới
vật chất. Nhờ con người những yếu tố ấy đạt đến tuyệt đỉnh và tự do nội
tại của chúng là chính Đấng Tạo Hóa (Đn 3, 57-90). Vì vậy con người
không được khinh miệt đời sống thể xác, nhưng trái lại phải tôn trọng vì
đó là công trình sáng tạo yêu thương của Thiên Chúa. Thân xác sẽ phục
sinh trong ngày sau hết để hiệp nhất trong sự sống viên mãn là chính
Thiên Chúa. Hơn nữa, niềm tin Kitô giáo khi nhìn nhận có một linh hồn
thiêng liêng, bất tử, con người không thể bị mê hoặc bởi một thứ ảo ảnh
phát sinh do những điều kiện vật lý và xã hội nhưng không ngừng được
thôi thúc tìm đến nguyên ủy sự sống là Thiên Chúa.[4]
- Con người có phẩm giá,
lý trí và tự do để kiện toàn công trình tạo dựng của Thiên Chúa. Con
người là thực thể cao quý, trổi vượt trên các loài thụ tạo khác bởi con
người được thông dự vào ánh sáng trí tuệ của Thiên Chúa. Bản chất tri
thức con người phải được kiện toàn nhờ sự hiểu biết.[5] Chính sự hiểu biết này lôi kéo một cách dịu dàng tâm trí con người tìm kiếm và yêu mến những gì là chân, thiện, mỹ.
Hơn nữa, tận đáy sâu tâm hồn con người được Thiên Chúa phú bẩm một lề
luật thánh hướng dẫn con người yếu mến và thi hành điều thiện cũng như
xa tránh việc gian tà. Tuân theo lề luật ấy chính là thể hiện phẩm giá
của con người. Lương tâm là điểm sâu kín nhất và là cung thánh nơi con
người hiện diện một mình với Thiên Chúa và tiếng nói của Người vang dội
trong thâm tâm họ. Như vậy, theo niềm tin Kitô giáo, phẩm giá con người
gắn liền với ý chí tuân phục lương tâm trong sự tự do. Con người sẽ đạt
đến phẩm giá đích thật mà Thiên Chúa phú bẩm một khi nhờ sự tự giải
thoát khỏi mọi kiềm tỏa của đam mê và hướng đến sự toàn hảo là chính
Thiên Chúa.
- Con người là hữu thể có cứu cánh tại thân.
Trước cái chết, bản năng sinh tồn dày vò con người trong đau khổ và suy
nhược bởi nỗi lo sợ bị tiêu diệt đời đời. Mầm sống vĩnh cửu nơi con
người không thể giản lược vào nguyên vật chất, nên có xu hướng chống
cưỡng lại sự chết. Nhưng Giáo Hội được Mạc Khải từ Thiên Chúa quả quyết
rằng con người được Thiên Chúa dựng nên để đạt đến cứu cánh hạnh phúc.[6]
Hơn nữa đức tin Kitô giáo còn dạy rằng chính tội lỗi gây nên sự chết
nhưng sự chết bị đánh bại dưới ánh sáng Phục Sinh của Đức Kitô. Và con
người được mời gọi thông hiệp vào sự sống vĩnh cữu của Người.
2. Tôn trọng và yêu quý sự sống-một yêu sách tuyệt đối
Sự sống của con người từ Thiên Chúa mà
đến, đó là ân huệ, là hình ảnh và dấu ấn của Người. Thiên Chúa là Chủ Tể
duy nhất của sự sống này: con người không thể định đoạt về nó.
Chính Thiên Chúa đã nhắc lại cho ông Nôe
sau nạn Hồng Thủy: “Từ máu ngươi, là chính mạng sống ngươi. Ta sẽ đòi
trả le … với mọi người: với từng người, Ta sẽ đòi trả lẽ về mạng sống
anh em mình” (St 9,5).[7]
Bản văn Kinh Thánh đã nhấn mạnh tính cách thiêng liêng của sự sống, có
cơ sở nơi Thiên Chúa và nơi hành động sáng tạo của Người vì “con người
được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa” (St 9,6) và “chính Chúa nắm
trong tay hồn của mọi sinh linh và hơi thở của mọi xác phàm” (G 12,10).
Sự sống là giá trị thánh thiêng bất khả
xâm phạm được khắc ghi từ thưở ban đầu trong lương tâm mỗi người. Câu
hỏi: “Ngươi đã làm gì?” (St 4,10) mà Thiên Chúa chất vấn Cain sau khi
hắn ra tay giết chết chính người em mình là Aben diễn tả kinh nghiệm:
nơi đáy sâu lương tâm, mỗi con người luôn được nhắc nhở về tính bất khả
xâm phạm của sự sống bản thân và người khác, vì nó là sở hữu và ân ban
của Đấng Tạo Hóa.[8]
Khi trả lời cho câu hỏi của người thanh
niên giàu có: “Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời”, Đức Kitô đã đưa
một yêu sách tuyệt đối về giá trị sự sống: “Các ngươi đã nghe người xưa
bảo: chớ giết người; kẻ giết người thì sẽ can án. Còn Ta, Ta bảo các
ngươi: phàm ai tức giận anh em mình thì sẽ bị can án” (Mt 5, 21-22). Như
vậy, niềm tin kitô giáo không chỉ xem con người là trung tâm của công
trình tạo dựng mà còn xác định trách nhiệm tôn trọng và yêu quý sự sống
là một yêu sách tuyệt đối dành cho tất cả mọi người vì qua Mầu Nhiệm
Nhập Thể, chính Ngôi Hai Thiên Chúa đã kết hiệp chính mình với bất kỳ
con người nào.[9]
4. Đức Kitô – Lời Sự Sống
“Điều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu, điều
chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã
chiêm ngưỡng và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời Sự Sống” (x. 1 Ga
1,1).
Đức Kitô chính là Lời Sự Sống được mặc
khải cho con người ngay trung tâm sứ mệnh cứu thế của Người: “Ta đến cho
họ được sống và sống dồi dào” (x. Ga 10,10). Sự sống “mới” đã được khai
mở và con người được mời gọi thông hiệp trong chính nguồn sống viên mãn
của Ba Ngôi Thiên Chúa. Chính trong sự sống này mà mọi giây phút hiện
hữu và mọi chiều kích sinh tồn của con người trên trái đất này đều mặc
lấy một ý nghĩa vĩnh cữu vì con người được tham dự vào chính sự sống của
Thiên Chúa.
Tin Mừng về Sự Sống không phải là một
suy tư đơn thuần nhưng là một thực tại cụ thể, mang tính ngôi vị. Tin
Mừng ấy là chính Đức Kitô-Lời ban Sự Sống. “Thầy là Đường, là Sự Thật và
Sự Sống” (x. Ga 14, 60). Một lần nữa, chính Đức Giêsu đã mặc khải chính
mình với Martha, chị của Lazarô: “Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai
tin Thầy, dù kẻ ấy có chết cũng sẽ sống và bất kỳ ai sống và tin Thầy,
sẽ không chết bao giờ” (x. Ga 11, 25-26). Đức Kitô chính là nguồn mạch
sự sống và bất kỳ ai tin vào người sẽ có khả năng nhận biết chân lý toàn
vẹn về giá trị sự sống của con người. Con người chỉ có thể đạt đến sự
sống viên mãn khi biết kết hiệp nên một với căn nguyên sự sống phát sinh
chính mình. Chính chân lý kỳ diệu này đã khoác lên thân phận yếu hèn
của con người một giá trị thánh thiêng, bất khả xâm phạm.
Tin mừng về Sự Sống này đã được ghi khắc
vào tâm khảm con người ngay từ những giây phút hiện hữu đầu tiên và
chính Đức Kitô bằng “tất cả sự hiện diện và biểu lộ về chính mình qua
lời nói và việc làm, bằng dấu chỉ và phép lạ, và đặc biệt nhất, là bằng
sự chết và phục sinh vinh hiển của Người để lôi kéo chúng ta ra khỏi
chốn tối tăm tội lỗi và sự chết, và phục sinh ta cho chúng ta được sự
sống đời đời.”[10]Vì
vậy, bất kỳ sự can thiệp nào của con người nhằm thao túng sự sống đều
là hành vi chống cưỡng lại ý định tốt lành ban đầu của Thiên Chúa. Mặc
khải về Lời Sự Sống là chính Đức Kitô đã khẳng định sự linh thánh về sự
sống thể lý và thiêng liêng của con người, ngay trong hành trình trần
thế, đã nhận đầy đủ giá trị và ý nghĩa của nó: là được mời gọi vươn đến
sự sống vĩnh cửu đích thật là chính Thiên Chúa.
Bằng chính cuộc đời của mình, Đức Giêsu
cho chúng ta thấy mối liên hệ biện chứng giữa kinh nghiệm bấp bênh về
sự sống và sự khẳng định giá trị của sự sống đó. Sự sống của Đức Giêsu
được ghi dấu bằng sự bấp bênh ngay từ lúc Ngài sinh ra. Bị con người từ
chối “không còn chỗ nào trong quán cho hai ông bà” (x. Lc 2,7), bị đe
dọa bởi những thế lực thù địch đang tìm cách “giết hài nhi” (x. Mt
2,13), nhưng chính trong sự bấp bênh đó, quyền năng Thiên Chúa được tỏ
lộ cách mạnh mẽ: sự sống sinh ra đây là ơn cứu độ cho nhân loại (x. Lc
2,14).
“Giàu có như Ngài mà vì anh em, Ngài đã
nên nghèo khổ, ngõ hầu anh em nên giàu có nhờ sự khó nghèo của Ngài” (x.
Cr 8, 9). Sự nghèo khó của Đức Giêsu mà thánh Phaolô diễn tả ở đây
không chỉ là trút bỏ những đặc ân của thần tính mà còn là chia sẻ cảnh sống thấp hèn nhất, bấp bênh nhất của đời người (x. Ph 2, 6-7).[11]
Đức Giêsu không chỉ đón nhận mà còn liên lụy trong những bấp bênh của
cuộc sống con người để đến giây phút cuối cùng trên thập giá, người đã
kiện toàn và phục hồi giá trị sự sống viên mãn bởi việc Ngài tự hiến
trên thập giá, đã trở nên nguồn sống mới cho con người (x. Ga 12,32).
Khi Ngài đối diện với những thế lực chống đối muốn hủy diệt sự sống của
chính Ngài, Đức Giêsu không chút sợ hãi bởi niềm tin tưởng chắc chắn sự
sống của Ngài lệ thuộc trong tay Chúa Cha. Vì thế, trên cây thập giá,
Đức Giêsu đã thưa lớn tiếng: “Lạy cha, con xin phó thác hồn con trong
tay Cha” (x. Lc 23,46). Lời trần tình cuối cùng của Đức Giêsu mặc khải
cho con người: chính Thiên Chúa là nguyên ủy sự sống và Đức Kitô là Lời
ban Sự Sống vì qua mầu nhiệm Tử nạn và Phục sinh, giá trị sự sống của
con người được kiện toàn và trả về ý nghĩa đích thực của nó: vươn đến sự
sống sung mãn nơi Thiên Chúa.
Kitô giáo xác định có sự sống đời đời
sau khi con người kết thúc cuộc sống trần thế. Sự sống viên mãn ở đây
không phải là thực thể mơ hồ, một sự phóng tưởng nhị nguyên tách biệt
giữa thế giới hữu hình và vô hình nhưng được biểu hiện cụ thể nơi chính
Đức Kitô là sự sống viên mãn-“Ai tin vào Ta sẽ được sự sống đời đời” (Ga
11,2 6). Chính Đức Kitô là Đấng từ trời xuống để ai tin vào Người sẽ có ánh sáng ban sự sống
(Ga 8,12). Bất cứ ai tin và kết hiệp nên một với Người sẽ có sự sống
đời đời vì chính bởi Ngài mà người ấy hiểu được những lời mạc khải và
thông ban sự sống sung mãn cho cuộc đời mình,[12]
đó là “Lời ban sự sống đời đời” mà thánh Phêrô đã tuyên tín: “Lạy Thầy,
chúng con sẽ đi theo ai? Thầy có những lời đem đến sự sống đời đời. Và
chúng con tin và nhận biết rằng Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga
6, 68-69). Nhận biết Thiên Chúa và Con của Ngài là tiếp nhận mầu nhiệm
hiệp thông tình yêu của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần vào đời
sống của ta và ngay trong hiện tại đã hướng mở về cuộc sống mai hậu. Vì
vậy, chân lý sự sống theo Kitô giáo, không chỉ gắn liền với nguồn cội
phát sinh là Thiên Chúa mà còn nối kết vào cùng đích, vào vận mệnh của
nó là được hiệp thông với Thiên Chúa, qua trung gian duy nhất là Đức
Kitô. Rõ ràng, Kitô giáo chính là nền tảng siêu hình vững chắc có thể
củng cố tính hướng đích của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở cả hai chiều
kích: nguyên ủy sự sống là chính Thiên Chúa và cứu cánh kiện toàn là
chính Đức Kitô.
5. Tin Mừng Sự Sống Kitô giáo-một giá trị phổ quát
Nếu con người tự bản chất vốn yêu sự
sống và vì sự sống là một điều thiện hảo, thì tình yêu này còn tìm thấy
một động lực, một sức mạnh, một mức độ sâu rộng trong những chiều kích
thần linh của thiện hảo này. Theo viễn ảnh ấy, tình yêu đối với sự sống
không chỉ giới hạn vào một không gian tương quan mang tính cá biệt nhưng
tình yêu Kitô giáo mời gọi con người mở rộng tình yêu ấy trong mọi
chiều kích để sự sống thật sự là nơi chốn gặp gỡ Thiên Chúa và tha nhân.
Sự sống mà Chúa Giêsu trao ban cho ta không làm giảm giá trị cuộc sống
ta trong thời gian, nhưng đón nhận giá trị ấy và dẫn đưa nó tới vận mệnh
cánh chung: Ta là sự sống lại và là sự sống, ai sống và tin Ta sẽ không
chết bao giờ (x. Ga 11, 25-26).[13]
Giới luật “ngươi chớ giết kẻ vô tội,
người ngay lành” (Xh 23, 7) được ghi khắc trong giao ước Sinai đã khẳng
định tính bất khả xâm phạm của sự sống trong Cựu Ước nhưng chưa đạt đến
độ tinh tế và phổ quát của tình yêu. Vì vậy, chính Đức Giêsu đã đẩy Tin
Mừng Sự Sống của Cựu Ước-bảo vệ và quan tâm đến những người có cuộc sống
yếu kém và bị đe dọa: ngoại kiều, bà góa, kẻ mồ côi, người nghèo khổ,
cả đến sự sống trước khi được sinh ra (x. Xh 21; 22) - đến một một chiều
kích phổ quát: không chỉ giới hạn ở trách nhiệm trên cùng một dân tộc
nhưng hướng đến người ngoại quốc, khách ngoại kiều và cả những kẻ thù.
Người ngoài sẽ không còn là người ngoài nữa khi con người nhận thấy mình
có trách nhiệm trên sự sống của người khác như dụ ngôn về Người Samari nhân hậu.
Kẻ thù không còn là kẻ thù nữa đối với những ai quyết tâm yêu thương họ
(Mt 5, 38-40; Lc 6, 27-35). “Còn Ta, Ta bảo các con: Hãy mến yêu thù
địch và cầu nguyện cho những kẻ bắt bớ các con, ngõ hầu các con trở nên
những người con của Cha trên trời, vì Người cho mặt trời mọc lên trên kẻ
dữ người lành, và làm mưa trên người ngay kẻ ác” (Mt 5, 44-45). Như
vậy, tình yêu Kitô giáo đòi buộc một thái độ tôn trọng và yêu thương tất
cả mọi người và mọi sự sống. Vì mỗi người đều là phản ánh chính sự sống
của Thiên Chúa và đều được mời gọi thông dự vào sự sống viên mãn mai
hậu “vinh quang của Thiên Chúa là con người sống nhưng sự sống của con
người là chiêm ngưỡng Thiên Chúa.”[14]
Kết luận
Tin Mừng Sự Sống, trung tâm sứ điệp rao
giảng của Đức Kitô phải được trình bày như một thành trì vững chắc nhằm
bảo vệ và thăng tiến sự sống con người từ những giây phút đầu tiên cho
đến khi từ giã cuộc đời. Sự sống con người tự bản chất là thánh thiêng
bởi vì ngay từ nguồn gốc đã bao hàm “hành động sáng tạo của Thiên Chúa”
và mãi mãi nằm trong mối quan hệ đặc biệt với Đấng Tạo Hóa, cứu cánh duy
nhất của nó. Duy chỉ Thiên Chúa là Chủ Tể Sự Sống ngay từ giây phút
khởi đầu cho đến khi kết thúc: không ai trong bất kỳ trường hợp nào có
thể đòi cho mình quyền trực tiếp hủy diệt một con người vô tội. [15]
Nền tảng giáo lý này cần được thấm nhuần không chỉ trong lương tâm của
mỗi con người mà còn được triển nở trong những giá trị văn hóa vốn ẩn
chứa những điều thiện hảo.
(TSTH số 49)
[1] Hiến chế mục vụ Vui mừng và hy vọng, số 27.
[2] Thánh Bộ Giáo lý Đức tin, Huấn thị Ơn ban sự sống (22-2-1987), nhập đề, số 5.
[3] “Hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay,” trong Thánh Công Đồng chung Va-ti-ca-nô II (Đà Lạt: Phân khoa Thần học Giáo hoàng Học viện thánh PIÔ X, 1972), tr.743.
[4] “Hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay,” trong Thánh Công Đồng chung Va-ti-ca-nô II (Đà Lạt: Phân khoa Thần học Giáo hoàng Học viện thánh PIÔ X, 1972), tr. 746.
[5]
Đó là thứ hiểu biết của người sáng suốt, không phải chì hiểu biết chân
lý mà con thưởng thức ý nghĩa thâm sâu của chân lý dù chân lý đó là
những nhận xét về thiên nhiên, về bản tính con nười hay về thế giới vô
hình. Người học thức chưa chắc đã có thứ hiểu biết này, trái lại, kẻ vô
học, mù chữ rất có thể lại được hứ hiểu biết đó.
[6] “Hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay,” trong Thánh Công Đồng chung Va-ti-ca-nô II (Đà Lạt: Phân khoa Thần học Giáo hoàng Học viện thánh PIÔ X, 1972), tr.749.
[7] ĐGH Gioan Phaolô II, Thông điệp Tin Mừng về sự sống, số 39, tr. 134.
[8] ĐGH Gioan Phaolô II, Thông điệp Tin Mừng về sự sống, số 39, tr. 136.
[9] Hiến chế Mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay, vui mừng và hy vọng, số 22.
[10] Hiến chế Tín lý về mặc khải của Thiên Chúa Ngôi Lời Thiên Chúa, số 4.
[11] ĐGH Gioan Phaolô II, Thông điệp Tin Mừng về sự sống, số 33, tr. 124.
[12] Jean Paul II, Humanae Vitae, Evangelium Vitae, Donum Vitae, bản dich Việt ngữ Gia đìnnh trong trái tim và ngôn sứ (Hà Nội: Tôn Giáo,2006), tr.132.
[13] Jean Paul II, Humanae Vitae, Evangelium Vitae, Donum Vitae, bản dịch Việt ngữ Gia đìnnh trong trái tim và ngôn sứ (Hà Nội: Tôn Giáo,2006), tr. 134.
[14] Irênê, Chống lạc giáo IV, 20,7.
[15] Thánh Bộ Giáo Lý đức tin, Huấn thị Ơn ban sự sống (22-2-1987), số 5.
10. Trao tặng tấm lòng
04:27 |
10. Trao tặng tấm lòng
Tin Mừng Lc 21, 1-4
Ngước
mắt lên nhìn, Đức Giêsu thấy những người giàu đang bỏ tiền dâng cúng
của họ vào thùng tiền. Người cũng thấy một bà goá túng thiếu kia bỏ vào
đó hai đồng tiền kẽm. Người liền nói: "Thầy bảo thật anh em: bà goá
nghèo này đã bỏ vào nhiều hơn ai hết. Quả vậy, tất cả những người kia
đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ, mà bỏ vào dâng cúng; còn bà này, thì
rút từ cái túng thiếu của mình, mà bỏ vào đó tất cả những gì bà có để
nuôi sống mình."
Suy niệm
Ngày
xưa, cha ông chúng ta vẫn nói rằng : của ít lòng nhiều. Đó là một nét
đẹp, một nét “văn hoá” của dân tộc khi mà người ta không chỉ xem xét quà
tặng bằng “mắt thịt”, bằng một sự đánh giá theo giá cả tiền bạc, nhưng
biết đi sâu vào cõi lòng để nhận ra sự quí báu của một món quà bình
thường. Nét đẹp văn hoá ấy làm cho mối tương quan trong cuộc sống con
người không còn phải là một bài toán cân đong đo đếm, không phải là tinh
thần tính toán hơn thiệt, dựa vào giá trị kinh tế của quà tặng, nhưng
là tình thân thật sự của con người với nhau.
Chỉ
ở mức độ con người và con người có “văn hoá”, người ta mới có thể nhìn
thấy nét đẹp của tình người. Tình người cao quí hơn ngàn lần tiền bạc vì
chỉ có tình người mới đáp ứng nhu cầu yêu thương sâu xa trong bản chất
người, chỉ có tình người mới có thể làm cho người ta thực sự hạnh phúc.
Trong khi đó tiền bạc, của cải chỉ là một phương tiện được trao ban để
con người cùng nhau xây dựng tình người.
Trong
xã hội Việt Nam hôm nay, người ta ít sống được giá trị văn hoá truyền
thống ấy. Con người thực dụng của thời đại này muốn “đo lường” tất cả,
đo lường cả tình người và phẩm giá con người bằng thước đo tiền bạc.
Người ta không chấp nhận một kẻ đi ăn cưới với số tiền bỏ vào phong bì
quá ít; người ta không còn thấy hạnh phúc khi nhận được món quà nho nhỏ
nhưng diễn tả mối quan tâm sâu sắc, thân tình của người trao tặng; người
ta không có đủ tấm lòng để đón nhận được một tấm lòng khác đang muốn
trao tặng. Và như thế, cuộc sống của xã hội bộc lộ như một bộ máy thẳng
tay vứt vào soọt rác những người nghèo, dù đó là những người chân thật,
những người biết rung động vì tình người.
Tinh
thần thực dụng biến con người thành sinh vật kinh tế và tưởng rằng con
người chỉ cần thoả mãn những nhu cầu vật chất của mình mà thôi. Tinh
thần thực dụng không tìm thấy niềm vui vì được gặp gỡ, niềm hạnh phúc vì
được sống trong tình yêu thương, sự hân hoan vì được liên đới, hiệp
thông, chia sẻ cuộc đời với nhau một cách sâu xa.
Chúa
Giêsu nhắc lại cho chúng ta sự cao quí của tấm lòng và Ngài cho thấy
Thiên Chúa nhìn đến tận đáy sâu tâm hồn con người. Thiên Chúa trân trọng
tấm lòng con người chứ không phải chỉ biết “cân đong đo đến” công phúc
con người bằng cán cân thực dụng :
“Người
liền nói : ‘Thầy bảo thật anh em : bà goá nghèo này đã bỏ vào nhiều hơn
ai hết. Quả vậy, tất cả những người kia đều rút từ tiền dư bạc thừa của
họ mà bỏ vào dâng cúng; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình
mà bỏ vào đó tất cả những gì bà có để sống’” (Lc 21, 3-4)
Nước
Thiên Chúa không loại bỏ những người nghèo khổ như xã hội thực dụng và
Thiên Chúa có “đủ” tấm lòng để có thể nhận ra và trân trọng tấm lòng của
những người nghèo khổ. Con người đến với Thiên Chúa không thể cậy dựa
vào vốn liếng tiền bạc hoặc ngay cả công đức của mình. Ngược lại con
người cần chân thành nhận ra “cái nghèo” của bản thân, cái nghèo kiếp
nhân sinh. Chỉ khi đó, người ta mới có thể “rút ra từ cái túng thiếu của
mình” một chút lòng thành, một niềm tin tưởng cậy trông để dâng lên
Thiên Chúa. Con người cũng được mời gọi nên giống bà hoá nghèo, dám trao
tặng “tất cả những gì bà có để sống”. Chỉ khi đó, đời sống đức tin mới thực sự là một cuộc gặp gỡ, hiệp thông của tấm lòng với tấm lòng.
Cũng
thế, thánh Martin không đến với người nghèo khổ bằng một túi tiền to
hoặc bằng một khả năng siêu đẳng. Martin đến với người nghèo, trước
tiên, như một người nghèo, nhưng là một người nghèo có tấm lòng. Với tấm
lòng yêu thương bác ái, Martin thanh thản để cho đi những gì mình có
được, để cống hiến dù chỉ một chút công sức mà mình có thể làm được. Qua
những trợ giúp vật chất, Martin luôn trao tặng chính tấm lòng vàng của
mình cho những người nghèo khổ, chứ không phải là sự ban bố vung vãi
quyền năng dư thừa. Chính từ thái độ “trao tặng tấm lòng” như thế, Thiên
Chúa trân trọng, yêu thương, đón nhận và làm cho công việc của Martin
trở nên hiệu quả theo ý của Ngài.
Với
tấm lòng, ngay cả khi thấy mình không còn chút gì để trao tặng, Martin
luôn có thể tìm ra một điều gì đó, một chút gì đó để trao tặng và đó là
sự trao tặng tất cả những gì mình có. Một lần đi ngang qua khám đường
Lima, thấy một đám tù nhân lao động vất vả, và họ có vẻ vừa đói vừa
khát. Martin nhìn lại túi tiền của mình và thấy không còn một thứ gì.
Suy nghĩ một lúc, sực nhớ ra mình còn cái nón, Martin liền bán cái nón
lấy một số tiền ít ỏi gíup cho họ.
Cái
nón của Martin có thể ví được như hai đồng tiền kẽm của bà góa trong
Tin Mừng, cái nón được “lấy ra từ sự túng thiếu”, cái nón của tấm lòng
dám trao tặng.
Lm Giuse Nguyễn Trọng Viễn OP
(Những trang tin mừng mở ra trên cuộc đời thánh Martinô)
(Những trang tin mừng mở ra trên cuộc đời thánh Martinô)
Thông điệp Tin Mừng về Sự Sống - KẾT LUẬN
00:00 |![]() |
| St John Paul II |
KẾT LUẬN
102. Vào cuối Thông điệp này, tự nhiên chúng ta hướng nhìn về Chúa Giêsu, về “Hài Nhi đã sinh ra cho chúng ta” (x. Is 9,5) để chiêm ngắm nơi Ngài “Sự Sống đã tỏ hiện” (1Ga 1,7). Trong mầu nhiệm Giáng Sinh này, đã hoàn thành sự gặp gỡ của Thiên Chúa với loài người, và bắt đầu nẻo đường của con Thiên Chúa trên trái đất, nẻo đường đạt tới tột đỉnh trong việc Ngài hiến dâng mạng sống trên thập giá: qua cái chết của mình, Ngài sẽ thắng sự chết và trở nên nguyên lý sự sống mới cho toàn thể nhân loại.
Để tiếp nhận “Sự Sống”, nhân danh mọi người và vì ích lợi của mọi người, có Đức Maria, người mẹ đồng trinh: như vậy Mẹ đã có những liên lạc bản thân rất khắng khít với Tin Mừng về sự sống. Sự ưng thuận của Đức Maria vào dịp Truyền Tin, và việc làm mẹ của ngài là ở tận nguồn mạch của mầu nhiệm sự sống mà Chúa Ki tô đã đến ban cho loài người (x. Ga 10,10). Qua việc Đức Mẹ đón tiếp, qua việc Đức Mẹ lo lắng cho sự sống của Ngôi Lời Nhập Thể, án chết dứt khoát và đời đời đã được miễn trừ cho sự sống của con người.
Vì thế, “như Giáo Hội, mà Mẹ là hình ảnh, Đức Maria là mẹ của tất cả mọi người tái sinh vào sự sống. Đức Mẹ thực là mẹ của Sự Sống làm cho mọi người được sống, và khi sinh ra Sự Sống, Mẹ đã tái sinh cách nào đó tất cả mọi người sẽ sống bằng Sự Sống ấy” (138).
Khi chiêm ngắm việc làm mẹ của Đức maria, Giáo Hội cũng đã được khám phá ra ý nghĩa việc làm mẹ của mình và cung cách mà Giáo Hội được mời gọi để diễn tả việc ấy. đồng thời, kinh nghiệm làm mẹ của Giáo Hội mở ra một viễn ảnh sâu xa nhất để hiểu kinh nghiệm của Đức Maria, như mẫu gương khôn ví của việc tiếp nhận sự sống và của lòng ân cần đối với sự sống.
“Một điềm vĩ đại xuất hiện trên trời: một Người Nữ mặc áo mặt trời” (Kh 12,1)
Việc làm mẹ của Đức Maria và của Giáo Hội.
103. Tương quan giữa mầu nhiệm Giáo Hội và mầu nhiệm Đức Maria, rõ ràng xuất hiện trong “điềm vĩ đại” được diễn tả trong sách Khải Huyền: “Một điềm vĩ đại hiện ra trên trời: một Người Nữ mặc áo mặt trời, chân đứng trên mặt trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao” (Kh 12,1). Giáo Hội nhìn ra trong điều này một hình ảnh của mầu nhiệm riêng mình: được dìm ngập trong lịch sử, Giáo Hội là “mầm giống và khởi đầu” Nước Thiên Chúa (139). Giáo Hội trông thấy sự thực hiện đầy đủ và kiểu mẫu mầu nhiệm này nơi Đức Maria. Chính Mẹ là Người Nữ hiển vinh, nơi Mẹ ý định của Thiên Chúa đã được chu toàn với sự hoàn hảo lớn nhất.
“Người Nữ mặc áo mặt trời đang mang thai” như sách Khải Huyền nhấn mạnh (Kh 12,2). Giáo Hội hoàn toàn ý thức mình đang mang Chúa Cứu Thế, là Chúa Kitô và mình được gọi trao Chúa Kitô cho thế giới, để tái sinh loài người vào chính sự sống của Thiên Chúa. Nhưng Giáo Hội không thể quên rằng sứ mệnh của mình đã trở nên có thể thi hành được nhờ việc Đức Maria làm mẹ, Mẹ đã cưu mang và sinh ra cho thế giới Đấng là “Thiên Chúa sinh bởi Thiên Chúa”, “Thiên Chúa thật sinh bởi Thiên Chúa thật”, Đức Maria đích thật là Mẹ của Thiên Chúa, là Theothokos: trong sứ mệnh làm mẹ của Đức maria, ơn gọi làm mẹ mà Thiên Chúa ghi khắc trong từng người nữ đã được cực kỳ nâng cao. Như thế, Đức Maria xuất hiện như mẫu gương cho Giáo Hội, được gọi làm “Eva mới”, mẹ của các tín hữu, mẹ của “những người sống” (x. St 3,20).
Việc làm mẹ thiêng liêng của Giáo Hội – Giáo Hội cũng ý thức rõ điều này – chỉ được thực hiện trong những đau đớn “chuyển dạ sinh con” (Kh 12,2), tức là sự căng thẳng liên miên với những thế lực của sự dữ hằng tiếp xúc xâm nhập vào thế giới và ghi dấu vào trái tim con người, trong khi chống cự lại Chúa Kitô: “Điều ở nơi Ngài là sự sống, và sự sống là ánh sáng soi cho nhân loại, và ánh sáng chiếu rạng trong tối tăm, và tối tăm đã không năm được ánh sáng” (Ga 1,4-5).
Như Giáo Hội, Đức Maria đã phải sống tình làm mẹ dưới dấu chỉ của đau đớn: “Hài Nhi này… phải là dấu chỉ của vấp phạm và chống đối, còn Bà, một mũi gương sẽ đâm thâu vào lòng Bà, hầu bộc lộ tâm tư nhiều cõi lòng” (Lc 2,34-35). Trong những lời Simêon nói với Đức Maria ngay từ bình minh cuộc đời Chúa Cứu Thế, ta thấy được trình bày cách tổng hợp sự từ chối Chúa Giêsu và Đức Maria cùng với Ngài, sự từ chối lên tới tột đỉnh trên núi Canvê. “Đứng gần thập giá Chúa Giêsu” (Ga 9,25), Đức Maria tham gia vào việc tự hiến của Chúa Con: Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu lên Chúa Cha, trao hiến Người đi, và dứt khoát sinh Người ra cho ta. Tiếng “xin vâng” ngày Truyền Tin được trọn vẹn chín muối trong ngày của Thập giá, khi đến giờ để Đức Maria đón nhận và sinh hạ, như con mình, tất cả mọi người đã trở nên môn đệ và mang nơi mình tình yêu cứu thế của Chúa Con: “Chúa Giêsu thấy Mẹ và gần Mẹ có môn đệ yêu quý, Ngài thưa với mẹ: “ Hỡi bà, này là con của Bà” (Ga 19,26).
“Dừng lại trước người nữ, con rồng rình nuốt người con của bà khi sinh ra” (Kh 12,4)
Sự sống bị đe doạ bởi thế lực sự ác.
104. Trong sách Khải Huyền, “dấu chỉ vĩ đại” về “người nữ” (Kh 12,1) kèm theo ngay “một dấu chỉ khác xuất hiện trên trời: một con rồng màu đỏ lửa to lớn” (Kh 12,3), ám chỉ satan, một kẻ mang sức mạnh ám hại và đồng thời là một sức mạnh của sự dữ đang hoạt động trong lịch sử và ngăn cản sứ mệnh của Giáo hội.
Ở đây nữa, Đức Maria vẫn còn soi sáng cho cộng đoàn tín hữu: sự thù địch của các thế lực sự dữ, quả là một sự chống đối ngấm ngầm, trước khi đụng tới môn đệ của Chúa Giêsu đã quay qua chống lại Mẹ Chúa. Để cứu lấy sự sống của Con Mình trước những kẻ sợ Chúa như một mối ngăm đe nguy hiểm, Đức Maria đã phải trốn sang Ai Cập cùng với Thánh Giuse và Hài nhi Giêsu (x. Mt 2,13-15).
Như vậy, Đức Maria giúp Giáo Hội ý thức rằng sự sống luôn luôn ở giữa một cuộc chiến đấu rất lớn giữa sự thiện và sự ác, giữa ánh sáng và bóng tối. Con rồng muốn nuốt chửng “hài nhi vừa sinh” (Kh 12,4) là hình ảnh Chúa Kitô , mà Đức Maria sinh ra trong “thời viên mãn” (Gl 4,4) và Giáo Hội hằng phải trao ban cho con người ở những thời kỳ khác nhau của lịch sử. Nhưng hài nhi này cũng là như hình ảnh của từng người, từng em bé, đặc biệt của từng tạo vật yếu ớt và bị đe doạ, bởi vì – như Công Đồng nhắc nhở chúng ta – “qua Mầu nhiệm Nhập Thể, con Thiên Chúa đã kết hiệp một cách nào đó với mọi người” (140). Chính trong “xác thể” của từng người mà Chúa Kitô tiếp tục tự mặc khải và đi vào mối hiệp thông với chúng ta, đến mức độ mà vứt bỏ sự sống của con người dưới hình thức khác nhau cũng chính là vứt bỏ Chúa Kitô . Đó là chân lý cảm kích và đồng thời thúc bách mà Chúa Kitô tỏ lộ cho chúng ta và Giáo Hội không hề mệt mỏi nói lại: “Ai đón tiếp một bé thơ như em này vì danh Thầy, là đón tiếp Thầy” (Mt 18,5); “Thật, Ta bảo thật các con, những gì các con đã làm cho một người trong các anh em hèn mọn nhất của Ta, là các con đã làm cho chính mình Ta” (Mt 25,40).
“Chết chóc không còn nữa” (Kh 21,4)
Ánh rạng ngời của sự Phục Sinh.
105. Việc loan báo của sứ thần cho Đức Maria nằm trong những lời trấn an này: “Xin đừng sợ, thưa Đức Maria”, và “Không có gì là không thể được đối với Thiên Chúa” (Lc 1,30-37). Thật vậy, trọn cuộc đời của Đức Trinh Mẫu Maria được bao bọc bằng niềm tin chắc chắn rằng Thiên Chúa ở gần bên Ngài và đi cùng với Ngài bằng việc quan phòng nhân hậu với Chúa. Với Giáo Hội cũng thế, giáo Hội tìm được nơi “ẩn náu” (Kh 12,6) trong sa mạc, nơi thử thách, nhưng cũng là nơi biểu lộ tình yêu thương của Thiên Chúa đối với dân Ngài (x. Osê 2,16). Đức maria là lời sống động của niềm an ủi cho Giáo Hội trong cuộc chiến chống lại sự chết. Khi Mẹ tỏ ra cho ta thấy Con của Mẹ, Mẹ bảo đảm với ta rằng nơi Ngài các thế lực sự chết đã thua bại: “Tử sinh song đấu lạ kỳ, Chủ Tể sự sống đã chết; nay đang sống, Ngài hiển trị” (141).
Chiên Con bị sát tế đang sống trong khi mang dấu tích cuộc Khổ nạn trong ánh huy hoàng Phục sinh. Chỉ mình Ngài chủ trì mọi biến cố của lịch sử. Ngài đập tan “các ấn tín” của nó (Kh 5,1-10) và, trong thời gian và bên kia thời gian, Ngài công bố quyền lực sự sống trên sự chết. Trong “thành Giêrusalem mới” tức là trong thế giới mới mà lịch sử con người đang vươn tới, “chết chóc sẽ không còn nữa; khóc than, rên xiết và khổ đau sẽ không còn nữa, vì thế giớ cũ đã qua đi” (Kh 21,4).
Và trong khi chúng ta là dân của Thiên Chúa đang lữ hành, dân của sự sống và dân vì sự sống, trong niềm cậy trông, chúng ta đang tiến bước về “một trời mới và một đất mới” (kh 21,1), chúng ta hướng nhìn về Đấng, đối với ta, là “dấu chỉ của lòng cậy trông vững chắc và của niềm an ủi” (142).
Lạy Mẹ Maria,
Bình Minh của thế giới mới,
Là mẹ của chúng sinh,
Chúng con xin trao phó cho Mẹ
Vụ án về sự sống.
Lạy mẹ, xin nhìn đến
Vô số những trẻ thơ
Bị ngăn cản không được sinh ra đời,
Những người nghèo
Mà cuộc sống trở nên khó khăn,
Những người bị sát hại
Vì bạo lực bất nhân,
Những người già, người bệnh bị giết
Do sự lãnh đạm thờ ơ
Hay do lòng thương giả dối.
Xin Mẹ hãy làm cho
Những kẻ tin vào Con của Mẹ
Biết loan báo cho người thời nay
Tin Mừng về sự sống
Với lòng kiên quyết và tình yêu thương
Xin Mẹ cầu Chúa ban cho họ
Được ơn đón nhận Tin mừng về sự sống
Như một hồng ân luôn luôn mới mẻ,
Được niềm vui tôn dương Tin Mừng ấy
Với lòng tri ân trong cả cuộc đời,
Và được can đảm làm chứng
cho Tin Mừng ấy
với sự kiên trì chủ động,
để cùng những người thiện chí
xây dựng nền văn minh của chân lý và tình yêu
hầu ca ngợi và tôn vinh Thiên Chúa,
Đấng Tạo Thành hằng yêu thương sự sống.
Ban hành tại Rôma, gần Đền thờ Thánh Phêrô
Ngày lễ Truyền Tin 25.3.1995
Năm thứ 17 triều Giáo hoàng của tôi
GIOAN PHAOLÔ II
Xem tiếp bản tiếng Anh, Pháp, Ý.
Quảng Ninh: Xây chợ, ép vợ bỏ chồng, mẹ từ con
19:48 |
TMSS: Sự vô lương tâm đến tàn nhẫn. Đánh cắp, cướp đi kế mưu sinh của người khác cũng chính là cướp đi phương tiện bảo vệ cuộc sống và mạng sống của họ. Một cách nào đó chính là tước đi quyền sống đúng với phẩm giá con người. Hãy trả lại sự sống cho người dân hỡi những nhà cầm quyền
HÀNG NGÀN DÂN OAN CÁC TỈNH BIỂU TÌNH TẠI HÀ NỘI
15:56 |HÀNG NGÀN DÂN OAN CÁC TỈNH BIỂU TÌNH TẠI HÀ NỘI
Theo Teublog
09h00: Sáng 1/7/2014 hàng ngàn dân oan Văn Giang, Dương Nội và dân oan
khắp tỉnh thành trong cả nước kéo đến 35 Ngô Quyền, Lý Thái Tổ để biểu
tình.
Sao ông Nguyễn Phú Trọng không ra đây mà tiếp xúc với dân nhỉ?!!!
Hình ảnh trực tiếp từ hiện trường:

Tin và ảnh: FB Lo De VN
Cụ bà ốm yếu bị con dâu để nằm ngoài ngõ
05:24 |TMSS: Bài học hôm nay chị dạy cho con chị, sau này con chị sẽ trả bài cho chị. Tôi ước mong chị thay đổi và con chị cũng thay đổi để con cháu chị không đi vào vết xe đổ của chị.
Thuốc Vờ
04:51 |
Thuốc Vờ
Bác sĩ Nguyễn
Ý Đức
Những viên “thuốc” không có dược liệu chính xác (hoạt
chất) , “vô thưởng vô phạt” được gọi là “Thuốc Vờ”, “Giả
Duợc”, “Thuốc Trơ”, tiếng Anh, tiếng Pháp gọi là “PLACEBO”.
Trong ngôn ngữ La Tinh, PLACEBO có nghĩa là “Tôi
sẽ hài lòng”.
Thánh Kinh có lời cầu xin “Placebo Domino: in
regione vivorum- I will please our Lord in the country of the
living”-Tôi sẽ làm hài lòng Chúa.
Về Placebo
Placebo là một hiện tượng khá phức tạp, được
nghiên cứu từ nhiều thế kỷ với nhiều tranh luận, bất đồng ý kiến về
sự lợi hại và nguyên lý tác động.
Vào hạ bán thế kỷ 18, từ ngữ Placebo xâm nhập
ngành y dược. Năm 1787, tự điển Quincy định nghĩa placebo như một
phương thức có mục đích làm vui lòng người bệnh hơn là điều trị.
Từ điển y học định nghĩa placebo là bất cứ chất
xoàng xĩnh, vô dụng nào đó có hình dạng dược phẩm được trao cho bệnh
nhân với giới thiệu là có tác dụng chữa bệnh.
Theo nhiều tác giả, placebo lúc đầu là để chỉ một
chất hoặc một phương thức “trơ” (inert), được dùng trong thử nghiệm
hoặc trong y khoa học để kiểm chứng công hiệu của một loại dược phẩm
hoặc để làm dịu một bệnh.
Khi thử nghiệm, một nhóm người được cho dùng dược
phẩm thực, nhóm thứ hai nhận viên tương tự nhưng không có hoạt chất.
Nếu nhóm dùng thuốc có kết quả tốt hơn so với nhóm
kia thì thuốc có tác dụng trị bệnh. Người tham gia chương trình đều
không biết mình dùng chất gì. Đôi khi chính người điều khiển thử
nghiệm cũng không biết.
Thuốc “trơ”được dùng cho những người luôn luôn
than phiền đau ốm (bệnh tưởng -hypochondria), luôn luôn đòi hỏi
thuốc mà bác sĩ không tìm ra nguyên nhân, triệu chứng.
Hiện nay, hiệu quả placebo được hiểu rộng rãi hơn
và bao gồm tất cả các phương thức được áp
dụng để trị bệnh mặc dù từ bản chất chúng không có tác động nào.
Đây có thể là một viên đường, một cục kẹo, một dung dịch nước pha
muối, đường, một bữa ăn đặc biệt hoặc một phẫu thuật “cuội”.
Nghiên cứu về
placebo
Đã có nhiều nghiên cứu về hiệu quả của thuốc trơ.
Năm 1955, bác sĩ chuyên khoa tê mê Henry K.
Beecher tại Đại học Harvard, Boston đã phân tích 26 nghiên cứu về
thuốc trơ và thấy 35% trong số 1,082 bệnh nhân bị đau nhức, buồn rầu,
đau bụng cho hay là họ thỏa mãn với loại thuốc vô thưởng vô phạt này.
Ông đã công bố kết quả trên Tạp san của Hội Y Học Hoa Kỳ dưới tiêu
đề “The Powerful Placebo”, được nhiều người tham khảo, nhắc nhở.
Năm 1960, một nghiên cứu khác cho hay khi bệnh
nhân uống một chất được nói là có tác dụng kích thích thì huyết áp
của họ lên cao, nhịp tim nhanh. Trái lại khi nói là thuốc ngủ thì có
phản ứng ngược lại.
Trên báo The New York Times Magazine ngày 9 tháng
1 năm 2000, tác giả Margaret Talbot đã kể lại kết quả nhiều quan sát
về thuốc trơ, trong đó có trường hợp một số bệnh nhân bị viêm ruột
già dùng thuốc vờ và 52% bệnh nhân cho biết họ cảm thấy khá hơn.
Hai khoa học gia Asbjorn Hrobjartsson và Peter C.
Gotzsche phân tích 114 nghiên cứu từ năm 1946 tới 1998 với ba nhóm
người có 40 loại bệnh khác nhau: nhóm 1 chữa bằng thuốc đặc nhiệm
cho bệnh, nhóm 2 chữa với chất trơ, nhóm 3 không thuốc không giả
dược. Kết quả là nhóm 3 có người cũng lành bệnh như nhóm thứ 2.
Một số nghiên cứu cho hay, người bị nhức đầu, đau
lưng, viêm khớp, trầm cảm nói có thể thuyên giảm khi dùng giả dược.
Hoặc placebo cũng có thể làm hạ cao huyết áp, nhiệt độ trên da, nhịp
tim, cholesterol trong máu.
Ngày 4 tháng 1, 2008, nghiên cứu do bác sĩ John
Hickner cho hay 45% bác sĩ tại ba bệnh viện ở Chicago đều cho bệnh
nhân dùng giả dược và 95% các bác sĩ cho biết là bệnh nhân thấy dấu
hiệu bệnh giảm rất nhiều.
Placebo tác động ra sao?
Nguyên lý chính xác của hiệu quả placebo chưa được
biết rõ. Một số giả thuyết cho rằng placebo có tác động sinh hóa và
tâm lý.
Decartes (1596 A.D.-1650 A.D.) có nói “I think,
there for, I am”- nghĩ sao, là vậy.
Đức Phật Thích Ca (560B.C-480B.C.) cũng nói: “You
are what you think, having become what you though”. Tất cả đểu từ
tâm trí mà ra.
Tương tự như vậy, khi tiếp nhận một phương thức
trị liệu nào đó, bệnh nhân đều ở trong tâm trạng “mong
đợi”(expectation) và hy vọng có một mầu nhiệm giúp họ hết bệnh. Sự
trông đợi này có thể thay đổi hành vi của họ, đồng thời cũng có thể
tạo ra vài thay đổi sinh hóa học trong cơ thể, giúp giảm triệu chứng
bệnh. Và bệnh nhân hài lòng, tương tự như niềm tin “cầu được, ước
thấy”.
Theo Robert DeLap, Giám đốc Nghiên cứu của Cơ quan
Thực Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA): “Sự mong chờ là yếu tố rất mạnh.
Càng đặt nhiều tin tưởng vào một trị liệu thì càng thấy trị liệu có
vẻ hữu hiệu hơn”.
Sự tin tưởng, hy vọng ở thuốc vờ có thể khích lệ
bệnh nhân thay đổi nếp sống, chịu khó chăm sóc sức khỏe, vận động
đều đặn, giữ gìn trong sự ăn uống.
Niềm hy vọng khỏi cũng thay đổi sự cảm nhận với
bệnh. Họ sẽ diễn tả tình trạng bệnh nhẹ hơn. Nói chung, họ sẽ có
nhiều ý nghĩ tích cực và ít ý nghĩ tiêu cực.
Tiêu cực khiến người quá ám ảnh, tập trung vào dấu
hiệu khó khăn của mình. Trong khi đó, sự tích cực sẽ tạo ra động lực
muốn thay đổi, đưa tới thay đổi sinh hóa trong cơ thể, như là tăng
chất giảm đau endorphins, tăng khả năng bảo vệ của hệ miễn dịch,
giảm chất gây căng corticosteroid. Endorphins mang tín hiệu thần
kinh, lưu hành trong máu, tới cơ quan nội tiết, hệ miễn dịch. Các cơ
quan này lại sản xuất ra một số hóa chất có tác dụng giảm dấu hiệu
bệnh.
Theo nhiều tác giả, phản ứng của người bệnh với
thuốc trơ cũng có thể là một phản xạ có điều kiện, được huấn
luyện, theo thói quen. Trước đây, được cho uống loại thuốc thật
thì thấy hết bệnh. Bây giờ cứ thấy có thuốc giống như vậy là đã cảm
thấy nhẹ bớt. Phản ứng này tương tự như con chó trong thử nghiệm của
khoa học gia người Nga Pavlov: khi cho ăn kèm theo tiếng chuông reo,
miệng chó tiết ra nước miếng. Lâu ngày, chỉ nghe tiếng chuông là
nước miếng con chó đã tiết ra, dù không có thức ăn.
Tâm lý gia Irving Kirsch, Đại học Connecticut, cho
rằng placebo là do “tin tưởng” ở sự điều trị hoặc cảm giác dễ chịu
chủ quan khi dùng một chất nào đó.
Giáo sư Michael Jospe nhận thấy rằng khi dán một
băng keo có một hình ảnh vui vui lên vết thương của em bé, thì em bé
cảm thấy ít đau hơn, dù hình này không có tác dụng trị liệu nào.
Kỹ thuật chụp hình ảnh X-quang não cho thấy sự suy
nghĩ và sự tin tưởng không những ảnh hưởng tới tâm trạng mà còn tạo
ra sự thay đổi sinh hóa trong não bộ.
Theo nhà nghiên cứu Arthur Shapiro,
placebo có mục đích làm bệnh nhân yên tâm
nhiều hơn là trị bệnh vì:
-Bệnh có thể đột nhiên hết sau khi lên cao điểm,
đúng vào lúc dùng giả dược
-Bệnh tăng giảm bất thường, dùng placebo đúng vào
lúc bệnh thuyên giảm
-Bệnh khá hơn nhờ khả năng tự chữa qua hệ miễn
dịch.
Một bằng chứng là bệnh cảm cúm nhiều khi không cần
thuốc men mà chỉ cần nghỉ ngơi mươi ngày cũng hết. Trong bệnh ban đỏ
lupus, có nhiều thời kỳ bệnh thuyên giảm dù có dùng thuốc hay không.
Có nhiều người, chỉ mới gặp bác sĩ gia đình thân
quen đã cảm thấy dễ chịu, vì họ tin tưởng ở vị lương y này. Chỉ với
một cử chỉ vỗ về thân thiện, một lời nói an ủi của bác sĩ đôi khi
cũng làm bệnh khá hơn vì làm giảm lo âu, khó khăn của người bệnh.
Phẫu thuật “vờ”
Ngoài thuốc vờ, còn có phẫu thuật trị liệu vờ
(Sham surgery).
Cách đây hơn 40 năm, bác sĩ chuyên khoa tim
Leonard Cobb tại Seattle thực hiện thử nghiệm rạch lồng ngực, nối
hai động mạch để tăng máu tới tim. Kết quả là 90% bệnh nhân cho hay
bớt đau ngực.Trong khi đó, một số bệnh nhân chỉ được rạch ngực mà
không nối động mạch cũng cảm thấy bớt bệnh.
Áp dụng thực tế
Một câu hỏi được nêu ra là nếu placebo hữu hiệu
thì tại sao các bác sĩ không áp dụng trong trị liệu. Và khi nào bác
sĩ có thể cho rằng placebo là phương thức trị liệu tốt cho bệnh nhân?
Thực tế ra, ngày nay, vô tình hoặc hữu ý, nhiều
bác sĩ cũng dùng placebo để trị bệnh. Chẳng hạn, họ cho bệnh nhân bị
cảm cúm uống kháng sinh, dù họ biết là kháng sinh không có tác dụng
tiêu diệt virus. Có phải vì trong lời thề Hippocrates có ghi thầy
thuốc “sẽ áp dụng tất cả kiến thức hiện có vào phương thức trị liệu
tốt nhất đối với bệnh nhân”.
Một triết gia Pháp viết “Nghệ thuật trị bệnh là
làm vui lòng bệnh nhân để thiên nhiên chữa dứt bệnh”. Nhận xét này
có liên hệ gì tới placebo không? Liệu có hợp lý khi y giới cho bệnh
nhân một loại thuốc biết chắc là không công hiệu.
Hiệu quả thuốc vờ thay đổi theo một vài hoàn cảnh:
-Thường thường, viên thuốc vờ lớn công hiệu hơn
viên cùng loại nhưng nhỏ; viên mầu hồng mầu đỏ mạnh hơn viên mầu
xanh; uống hai ba viên một lúc có hiệu quả hơn là uống một viên.
-Thuốc chích hữu hiệu hơn thuốc uống.
-Thái độ của bệnh nhân: lòng tin tưởng, sự tự
nguyện và hy vọng có kết quả tốt khiến cho hiệu năng placebo cao hơn.
-Tương quan bác sĩ-bệnh nhân: tin tưởng ở thầy thì
bệnh nhân mau khỏi (phúc chủ lộc thầy), bác sĩ cho thuốc thì tốt hơn
là do người thường cho.
Ý kiến khác biệt
Hiệu quả placebo cũng nhận nhiều phản bác.
-Sử gia tôn giáo Lawrence Sullivan, Harvard
Divinity School, có ý kiến rằng placebo là thùng rác độc hại mà
không ai muốn nhận. Ngay cả các “lang băm” cũng cảm thấy bị nhục mạ
khi có người nói “tài ba” trị bệnh của họ là do hiệu quả của thuốc
vờ.
-Kết quả nghiên cứu của Asbjorn Hrobjartsson và
Peter C. Gotzsche, Đan Mạch, công bố trên The New England Journal of
Medicine tháng 5 năm 2001 cho hay có rất ít bằng chứng là placebo có
tác dụng trị bênh. Đi xa hơn, giáo sư Hrobjartsson còn kết luận rằng
hiệu quả placebo được công bố đều có một nhầm lẫn nào đó trong
phương thức nghiên cứu vì số người được thử nghiệm quá ít và nhiều
khi bệnh nhân trả lời cho vui lòng nhà nghiên cứu.
-Có thắc mắc rằng hiệu quả placebo liệu còn tồn
tại nếu liều lượng thuốc vờ tăng hoặc giảm, nếu dùng trong thời gian
lâu ngày hoặc nếu nói cho người bệnh biết là họ đang dùng thuốc vờ.
Kết luận
Do đó, nhiều nhà chuyên môn không đồng ý việc bác
sĩ dùng thuốc vờ để trị bệnh. Theo họ, làm như vậy là lừa dối bệnh
nhân, chẳng khác chi ta khuyến khích người trồng nho cho rượu giả
vào chai, nhà báo tường thuật nhẹ hơn về một vấn đề thời sự quan
trọng.
Hội Y Học Hoa Kỳ (AMA) khuyến cáo là các bác sĩ
chỉ cho dùng giả dược khi bệnh nhân biết và đồng ý, chứ không nên
dùng để xoa dịu bệnh nhân.










