DẠY LÀM NGƯỜI Ở NHẬT BẢN
19:00 |Theo vietnamnet
Tại sao cách dạy con của người Nhật được cả thế giới ngưỡng mộ?
Đã
từng đặt chân đến 80 quốc gia khác nhau trên thế giới, vậy mà sau 20
năm sinh sống tại nước Nhật, nhà toán học người Do Thái Peter Frankl đã
phải thốt lên rằng ông ngưỡng mộ nước Nhật và cách giáo dục ở đây.
Sở
dĩ nước Nhật được cả thế giới khâm phục vì sự phát triển kinh tế thần
kỳ chỉ trong một thời gian ngắn, nhưng với những ai đã từng sống hay
nghiên cứu về Nhật Bản đều nhận ra rằng, sự khâm phục đó phải xuất phát
từ cách người Nhật giáo dục đạo đức con người.
Trẻ em Nhật được giáo dục về đạo đức không chỉ từ nhà trường mà còn bởi xã hội. Tất cả các môn học đều có nhiệm vụ giáo dục đạo đức chứ không chỉ có những môn tương tự như môn Giáo dục công dân. Học sinh từ khi học mẫu giáo đã được rèn luyện thực hành đạo đức ngay trong các hoạt động hàng ngày như cách nói cảm ơn cha mẹ, tự nguyện giúp đỡ và phục vụ các bạn xung quanh, vệ sinh trường lớp…
Khi trẻ lớn hơn bắt đầu bước vào hệ thống giáo dục phổ cập từ lớp 1 đến lớp 9, các em sẽ được học và thực hành các bài học đạo đức với một chương trình được phân ra làm 4 nhóm liên hệ từ gần đến xa, từ dễ đến khó. Nhóm 1 là liên quan đến bản thân, nhóm 2 là liên quan đến người khác, nhóm 3 liên quan đến tập thể, xã hội và nhóm 4 là liên hệ với thế giới tự nhiên. Học sinh ở các độ tuổi khác nhau sẽ học đủ cả 4 nhóm này nhưng với mức độ khác nhau. Ví dụ như với nhóm liên quan đến bản thân, học sinh lớp 1- 2 sẽ được học về “sự cần cù, chăm chỉ” thì học sinh lớp 7-9 sẽ được học về “yêu quý sự thật”.
Việc
rèn luyện đạo đức cho trẻ tại Nhật Bản sẽ diễn ra ngay trong các hoạt
động hàng ngày chứ không chỉ nằm trong sách vở. Tất cả các trường từ
thành thị đến nông thôn, (từ cấp I đến cấp III) đều bắt buộc học sinh
phải làm vệ sinh lớp học và những nơi công cộng trong trường. Việc làm
này không những tạo ra một môi trường và bầu không khí học tập tốt mà
còn giáo dục nhiều mặt như giá trị lao động, kỹ năng lao động, tinh thần
hợp tác, đoàn kết trong lao động, tinh thần trách nhiệm, tính kỷ luật …
Từ khi là học sinh tiểu học, trẻ đã được nuôi dưỡng, chăm sóc vật nuôi, cây trồng hàng ngày, quanh năm, ngay cả ngày hè nhằm gắn chặt với môn khoa học, làm quen với thiên nhiên, sinh vật quanh môi trường sống, dần dần hình thành lòng yêu sinh vật, yêu thiên nhiên, yêu quý cuộc sống.
Ngoài ra, những hoạt động trong nhà trường cũng được đặc biệt chú trọng để hoàn thiện chương trình giáo dục đạo đức cho trẻ. Trẻ bắt buộc phải tham gia vào các câu lạc bộ từ cấp II để học cách hoạt động nhóm, thông quá đó rèn cho trẻ tinh thần tập thể, thúc đẩy trẻ phát triển, khám phá bản thân và khám phá cuộc sống. Những hoạt động này còn giúp trẻ tạo được mối quan hệ gắn bó với bạn bè và thầy cô, rèn luyện được kỹ năng giao tiếp, ứng xử… Trong quá trình hoạt động sẽ phát sinh nhiều tình huống để trẻ thực hành ngay trong nhà trường, thầy cô qua đó sẽ nắm được tính cách của trẻ để kịp thời động viên hoặc uốn nắn.
Chương
trình giáo dục đạo đức của Nhật xác định đúng mục đích là rèn luyện cho
học sinh chứ không phải để lấy điểm lên lớp. Người Nhật cũng không tham
lam ôm đồm nhiều kiến thức mà chỉ chọn ra những điều cơ bản thiết thực
nhất để dạy cho con trẻ, để trẻ có được căn bản vững chắc mà phát triển
còn hơn dạy cho chúng những điều to lớn viển vông.
Hệ quả của phương pháp giáo dục toàn diện này đã được chứng minh bằng ý thức của cả một cộng đồng người Nhật và ngay cả trên văn bản. Chỉ tại Nhật người ta mới tìm thấy cuốn “Cẩm nang hành động cho toàn dân”, gồm hơn 200 điều, ghi rõ việc cần làm, việc cấm làm, nếu vi phạm sẽ bị phạt nặng. Ví dụ: "Thấy bất kỳ nơi nào vòi nước chảy không người dùng, đóng vòi ngay; gặp quạt, gặp ánh sáng điện không người dùng, phải tắt điện ngay".
Giáo
dục đạo đức ở Nhật Bản đạt hiệu quả cao vì đã kết hợp chặt chẽ giữa gia
đình, trường học và xã hội. Vì dụ đề tài "Bảo vệ môi trường sống xung
quanh" được gia đình giáo dục con em rất chi tiết, thực hành đầy đủ. Đến
trường, học sinh từ cấp 1 đến cấp 3 hằng ngày đều phải làm vệ sinh sạch
sẽ trường lớp và những nơi công cộng trong trường suốt hơn 10 năm.
Ngoài xã hội, đường xá, chợ búa luôn sạch đẹp, có nhiều thùng rác để gần
nhau, dân chúng tự phân loại rác khi bỏ vào thùng.
Được giáo dục kỹ như thế nên mỗi người Nhật có thói quen hành vi đạo đức rất tốt. Ví dụ: Anh Oshima Mituteru, 34 tuổi sang Việt Nam làm việc ở Khu phố 6, quận 3, Tp.HCM, sáng nào anh cũng đi nhặt rác quanh những con đường nơi anh làm việc. Có người hỏi "Tại sao anh làm thế?', anh trả lời với lòng chân thành: "Thay đổi nhỏ môi trường cũng đem đến cho tôi cảm giác hạnh phúc".
(Theo Trí Thức Trẻ)
| Trẻ con Nhật được dạy cảm ơn cha mẹ, thầy cô... những người đã phải lao động để mang đến cho mình một bữa ăn ngon miệng. |
Trẻ em Nhật được giáo dục về đạo đức không chỉ từ nhà trường mà còn bởi xã hội. Tất cả các môn học đều có nhiệm vụ giáo dục đạo đức chứ không chỉ có những môn tương tự như môn Giáo dục công dân. Học sinh từ khi học mẫu giáo đã được rèn luyện thực hành đạo đức ngay trong các hoạt động hàng ngày như cách nói cảm ơn cha mẹ, tự nguyện giúp đỡ và phục vụ các bạn xung quanh, vệ sinh trường lớp…
Khi trẻ lớn hơn bắt đầu bước vào hệ thống giáo dục phổ cập từ lớp 1 đến lớp 9, các em sẽ được học và thực hành các bài học đạo đức với một chương trình được phân ra làm 4 nhóm liên hệ từ gần đến xa, từ dễ đến khó. Nhóm 1 là liên quan đến bản thân, nhóm 2 là liên quan đến người khác, nhóm 3 liên quan đến tập thể, xã hội và nhóm 4 là liên hệ với thế giới tự nhiên. Học sinh ở các độ tuổi khác nhau sẽ học đủ cả 4 nhóm này nhưng với mức độ khác nhau. Ví dụ như với nhóm liên quan đến bản thân, học sinh lớp 1- 2 sẽ được học về “sự cần cù, chăm chỉ” thì học sinh lớp 7-9 sẽ được học về “yêu quý sự thật”.
Trẻ con Nhật được làm quen với môi trường và học cách chăm sóc vật nuôi từ khi còn còn học tiểu học. |
Từ khi là học sinh tiểu học, trẻ đã được nuôi dưỡng, chăm sóc vật nuôi, cây trồng hàng ngày, quanh năm, ngay cả ngày hè nhằm gắn chặt với môn khoa học, làm quen với thiên nhiên, sinh vật quanh môi trường sống, dần dần hình thành lòng yêu sinh vật, yêu thiên nhiên, yêu quý cuộc sống.
Ngoài ra, những hoạt động trong nhà trường cũng được đặc biệt chú trọng để hoàn thiện chương trình giáo dục đạo đức cho trẻ. Trẻ bắt buộc phải tham gia vào các câu lạc bộ từ cấp II để học cách hoạt động nhóm, thông quá đó rèn cho trẻ tinh thần tập thể, thúc đẩy trẻ phát triển, khám phá bản thân và khám phá cuộc sống. Những hoạt động này còn giúp trẻ tạo được mối quan hệ gắn bó với bạn bè và thầy cô, rèn luyện được kỹ năng giao tiếp, ứng xử… Trong quá trình hoạt động sẽ phát sinh nhiều tình huống để trẻ thực hành ngay trong nhà trường, thầy cô qua đó sẽ nắm được tính cách của trẻ để kịp thời động viên hoặc uốn nắn.
| Trẻ bắt buộc phải tham gia vào các câu lạc bộ từ cấp II để học cách hoạt động nhóm, thông quá đó rèn cho trẻ tinh thần tập thể. |
Hệ quả của phương pháp giáo dục toàn diện này đã được chứng minh bằng ý thức của cả một cộng đồng người Nhật và ngay cả trên văn bản. Chỉ tại Nhật người ta mới tìm thấy cuốn “Cẩm nang hành động cho toàn dân”, gồm hơn 200 điều, ghi rõ việc cần làm, việc cấm làm, nếu vi phạm sẽ bị phạt nặng. Ví dụ: "Thấy bất kỳ nơi nào vòi nước chảy không người dùng, đóng vòi ngay; gặp quạt, gặp ánh sáng điện không người dùng, phải tắt điện ngay".
Được giáo dục kỹ như thế nên mỗi người Nhật có thói quen hành vi đạo đức rất tốt. Ví dụ: Anh Oshima Mituteru, 34 tuổi sang Việt Nam làm việc ở Khu phố 6, quận 3, Tp.HCM, sáng nào anh cũng đi nhặt rác quanh những con đường nơi anh làm việc. Có người hỏi "Tại sao anh làm thế?', anh trả lời với lòng chân thành: "Thay đổi nhỏ môi trường cũng đem đến cho tôi cảm giác hạnh phúc".
(Theo Trí Thức Trẻ)
TRỜI ƠI, CHÚNG ĐÁNH DÂN LÀNH DƯƠNG NỘI DÃ MAN NHƯ LOÀI CẦM THÚ
06:36 |Xã hội gần như loạn
Trộm và cướp tràn lan
Cướp nhà cửa ruộng đất
Luôn có bóng côn an !
Mọi người hãy đoàn kết
Cùng chung sức kề vai
Mỗi khi bị chúng cướp
Mạnh dạn đánh trả ngay
Giờ đã lòi bản chất
Khi công quỹ cạn kho
Mạnh ai người đó cướp
Ghế to cướp càng to
Nếu tôi là các anh
Sẵn sàng tôi cởi bỏ
Bộ quân phục màu xanh
Và đốt chúng thành tro
Chí ít , vì chính nghĩa
Vì ta là con người
Hãy sống vì chân lý
Để có thể cười tươi !
2014-5-1
Japan
Theo FB Quang Tran
TRỜI ƠI, CHÚNG ĐÁNH DÂN LÀNH DƯƠNG NỘI DÃ MAN NHƯ LOÀI CẦM THÚ (Teublog)
Cùng chung sức kề vai
Mỗi khi bị chúng cướp
Mạnh dạn đánh trả ngay
Giờ đã lòi bản chất
Khi công quỹ cạn kho
Mạnh ai người đó cướp
Ghế to cướp càng to
Nếu tôi là các anhSẵn sàng tôi cởi bỏ
Bộ quân phục màu xanh
Và đốt chúng thành tro
Chí ít , vì chính nghĩa
Vì ta là con người
Hãy sống vì chân lý
Để có thể cười tươi !
2014-5-1
Japan
Theo FB Quang Tran
TRỜI ƠI, CHÚNG ĐÁNH DÂN LÀNH DƯƠNG NỘI DÃ MAN NHƯ LOÀI CẦM THÚ (Teublog)
CÔNG AN CƯỚP ĐẤT ĐÁNH NGƯỜI TÀN BẠO Ở DƯƠNG NỘI 25/04/2014
06:05 |
Côn đồ đeo băng đỏ đàn áp bà con Dương Nội (ảnh: internet)
Xin mời quý vị xem video sau đây của Gió Lang Thang được TMSS đăng lại cùng với lời bài hát và video bài hát anh là ai của Việt Khang
Lời bài hát: ANH LÀ AI - VIỆT KHANG
Xin hỏi anh là ai?
Sao bắt tôi tôi làm điều gì sai?
Xin hỏi anh là ai?
Sao đánh tôi chẳng một chút nương tay?
Xin hỏi anh là ai?
Không cho tôi xuống đường để tỏ bày
Tình yêu quê hương này, dân tộc này đã quá nhiều đắng cay!
Xin hỏi anh ở đâu?
Ngăn bước tôi chống giặc Tàu ngoại xâm
Xin hỏi anh ở đâu?
Sao mắng tôi bằng giọng nói dân tôi?
Dân tộc anh ở đâu?
Sao đang tâm làm tay sai cho Tàu?
Để ngàn sau ghi dấu
Bàn tay nào nhuộm đầy máu đồng bào
Tôi không thể ngồi yên
Khi nước Việt Nam đang ngã nghiêng
Dân tộc tôi sắp phải đắm chìm
Một ngàn năm hay triền miên tăm tối
Tôi không thể ngồi yên
Để đời sau cháu con tôi làm người
Cội nguồn ở đâu?
Khi thế giới nay đã không còn Việt Nam
Thông Ðiệp Sự Sống Con Người (Humanae Vitae) Phần 2
05:00 |
Thông Ðiệp Sự Sống Con Người (Humanae Vitae)
của Ðức Thánh Cha Phaolô VI
25 Tháng 7 Năm 1968
(Tiếp theo)
II. Các Nguyên Tắc Giáo Lý
Một ý thức trọn vẹn về con người
7. Cũng như tất cả các vấn đề liên quan đến đời sống con người, vấn đề sinh sản cần được ý thức và quan niệm không phải dưới một vài khía cạnh riêng biệt - như khía cạnh sinh lý, dân số và xã hội mà - phải lưu tâm toàn thể con người, đến ơn gọi thiên nhiên cũng như siêu nhiên, trần tục cũng như muôn đời của họ. Ngoài ra vì nhận thấy có nhiều người có khuynh hướng tìm cách chứng minh hợp pháp hóa các phương pháp nhân tạo để kiểm soát việc sinh sản bằng cách căn cứ vào các nhu cầu của tình yêu trong hôn nhân, và "trách vụ trở thành cha mẹ" của đôi vợ chồng, nên Ta sẽ minh xác quan niệm chính thống về hai thực tại quan trọng của đời sống trên đây. Lẽ tất nhiên trong lãnh vực này, Ta căn cứ trên những điều Công đồng Vatican II đã trình bày và quyết định trong Hiến chế mục vụ "Vui Mừng Và Hy Vọng" (Gaudium et Spes).
Tình yêu trong hôn nhân
8. Bản chất thực tiễn và sự cao quí của Tình yêu trong Hôn nhân được biểu lộ hoàn toàn khi người ta nhìn qua Nguồn gốc tối thượng của nó là Thiên Chúa Tình yêu (Ga 4,8), "là Cha toàn năng, nguồn mạch của mọi tình cha con, trên trời cũng như dưới đất" (Ep 3,15).
Chính vì thế nên hôn nhân không phải kết quả của ngẫu nhiên hay của các lực lượng tự nhiên, vô ý thức tạo thành. Trái lại, đó là một tổ chức khôn ngoan do Ðấng Tạo Hóa vì tình thương đã thực hiện nơi nhân loại. Ðôi vợ chồng cống hiến chính bản thân mình cho nhau, hòa đồng bản thể của đôi bên lại để hoàn thiện hóa cá nhân mình hầu cộng tác với Thiên Chúa trong việc lưu truyền sự sống và dưỡng dục các đời sống mới.
Hơn thế nữa, đối với những người đã chịu Phép Rửa tội. Hôn nhân còn mang sắc thái cao quý của Bí tích ơn nghĩa thánh, lý do vì hôn nhân tượng trưng sự kết hợp giữa Chúa Kitô và Giáo hội.
Các đặc tính của tình yêu trong hôn nhân
9. Ðược ý thức như thế, Hôn nhân sẽ bật nổi sáng chói với những đặc tính, những đòi hỏi đặc biệt của tình yêu hôn phối. Do đó chúng ta cần phải có một ý niệm xác thực về vấn đề này.
Trước tiên đó là một thứ tình yêu hoàn toàn nhân nghĩa là vừa hữu hình, và vừa siêu hình. Ðây không phải chỉ là một việc di chuyển tình cảm và bản năng từ người này sang người kia, mà đó chính là một hành vi của lý trí và tự do, một hành vi cần được bảo vệ và gia tăng qua những vui buồn của đời sống thường nhật, để đôi vợ chồng trở nên một tâm hồn, tinh thần và cùng nhau đạt tới đỉnh hoàn thiện của nhân loại.
Ngoài ra đây còn là một thứ tình yêu trọn vẹn nghĩa là một hình thức đặc biệt của tình bạn cá nhân, nhờ đó hai vợ chồng cùng nhau chân thành yêu mến, chia sẻ mọi sự, không dấu diếm, không tính toán ích kỷ. Một người phối ngẫu yêu bạn mình không phải vì những cái bạn đã cho mình, mà chính vì bạn với niềm hân hoan vui sướng được lấy chính bản thân mình phong phú hóa cho bạn.
Ðây cũng là một thứ tình yêu chung thủy và dành riêng cho một người cho đến lúc chết, và đó chính là cảm nghĩ của đôi vợ chồng ngày hai người tự ý, tự nguyện hiến trọn thân mình cho nhau khi nói lên lời giao ước hôn nhân. Lòng chung thủy ấy tuy đôi khi khó thực hiện, song ai cũng công nhận là có thể giữ được, và lòng chung thủy ấy là một thái độ cao quí, đáng trọng. Kinh nghiệm hôn nhân qua bao thế kỷ, với những cử chỉ đáng phục của muôn vạn người chồng trong các thế hệ chứng tỏ rằng lòng chung thủy không những hợp với bản chất của hôn nhân mà còn là nguồn hạnh phúc sâu xa bền vững.
Cuối cùng đây là một tình yêu phong phú không hề tiêu hao trong việc truyền thông giữa hai vợ chồng, trái lại đủ sức tiếp tục bằng việc tạo những đời sống mới. "Hôn phối và tình yêu trong hôn nhân, tự bản chất nó, được hướng về việc sinh sản và nuôi dưỡng con cái. Trên thực tế, con cái là ân huệ tối thượng của hôn nhân và mưu ích rất nhiều cho chính cha mẹ chúng" (Công đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ "Vui Mừng Và Hy Vọng" - Gaudium et Spes, số 50).
Trách nhiệm trở thành cha mẹ
10. Vì lý do trên tình yêu trong hôn nhân đòi hỏi đôi vợ chồng phải ý thức sứ mạng "trách nhiệm trở thành cha mẹ" của mình, một trách nhiệm mà người hiện đại thường xuyên nhắc tới và hết thảy chúng ta cần phải thấu hiểu ý nghĩa xác thực của nó, trách nhiệm ấy cần được cân nhắc, thảo luận dưới nhiều khía cạnh khác biệt nhưng liên hệ với nhau.
Xét về phương diện sinh lý học, nhận "trách nhiệm trở thành cha mẹ" tức là thấu hiểu và tôn trọng các tiến trình hoạt động của sinh lý: trí thức giúp ta khám phá ra khả năng sinh sản, định luật luân lý nằm ngay trong bản chất con người (Summa Theologiae, I-II, q. 94, art. 2).
Xét về phương diện các khuynh hướng của bản năng về tình dục, trách nhiệm trở thành cha mẹ có nghĩa là phải dùng lý trí và lòng cương quyết để điều khiển chúng.
Xét về phương diện các điều kiện thể lý, kinh tế, tâm lý và xã hội, trách nhiệm trở thành cha mẹ có nghĩa là: biết cân nhắc suy nghĩ để rồi sẵn sàng làm cho gia đình mình tăng thêm nhân số, hoặc để rồi căn cứ vào những lý do xác đáng, và trong tinh thần tôn trọng lề luật luân lý quyết định tạm ngưng việc sinh sản trong một thời gian ngắn hay vô hạn định.
Ðặc biệt nhất là trách nhiệm trở thành cha mẹ bao hành sự tôn trọng trật tự luân lý do Thiên Chúa ấn định bằng cách biểu lộ một lương tâm ngay chính thẳng thắn. Vì thế việc đảm nhận trách nhiệm trở thành cha mẹ đòi hỏi đôi vợ chồng phải chu toàn nhiệm vụ đối với Thiên Chúa, với chính mình, với gia đình, xã hội trong tinh thần tôn trọng bậc thang chính thống của các giá trị. Chính vì thế nên trong lãnh vực lưu truyền sự sống, họ không có quyền tự do hành động theo sở thích, tự ý lựa chọn những phương pháp cho là chính đáng, trái lại, phải hướng hành động mình theo đúng thánh ý tạo dựng của Thiên Chúa, thánh ý đó được biểu hiện bằng chính bản chất và các hành vi của hôn nhân cũng như bằng các lời giáo huấn liên tục của Giáo hội (Hiến chế mục vụ "Vui Mừng Và Hy Vọng" - Gaudium et Spes, số 50 và 51).
Việc tôn trọng bản chất và cứu cánh của hành vi vợ chồng
11. Những hành vi của đôi vợ chồng dùng để kết hợp với nhau trong tình thân mật trong sạch hầu tạo thành và lưu truyền đời sống con người, là những "hành vi cao quí và chính đáng" (Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, số 49). Ðó là những hành vi hợp pháp, ngay cả trong trường hợp hai vợ chồng có thể đoán trước được là chúng sẽ không có hiệu năng sinh sản, vì những lý do ngoài ý muốn của mình: những hành vi ấy vẫn còn mục đích biểu lộ và làm cho sự liên kết của đôi vợ chồng thêm bền chặt. Trong thực tế, kinh nghiệm cho ta thấy: không phải mỗi hành vi, mỗi giao kết của hôn nhân đều tạo ra được một mầm sống mới. Thiên Chúa khôn ngoan vô cùng đã thu xếp và thiết lập những định luật, những chu kỳ tự nhiên của mầm sống: Chính những chu kỳ ấy có sức giảm bớt số sinh. Tuy nhiên Giáo hội vẫn nhắc nhở loài người phải tuân hành các định luật tự nhiên và các lời giáo huấn của Giáo hội luôn luôn xác định rằng: Hành vi Hôn nhân phải hướng về việc lưu truyền đời sống (Thông điệp Casti Connubial của Ðức Piô XI).
Hai khía cạnh bất khả phân ly: Giao hợp và Sinh sản
12. Nền giáo huấn của giáo quyền căn cứ trên nguyên tắc này: Thiên Chúa đã quyết định liên kết (và con người không ai có quyền tự ý hủy bỏ) hai sự việc của Hôn nhân giao hợp và sinh sản.
Quả vậy, tự bản tính sâu xa của nó, hành vi hôn nhân liên kết chặt chẽ hai vợ chồng, giúp họ tạo thành những đời sống mới theo đúng những định luật cố hữu nằm ngay trong bản thể con người đàn ông và đàn bà. Chỉ khi nào bảo vệ nổi hai hình thức cốt yếu căn bản là giao hợp và sinh sản, hành vi hôn nhân mới giữ được trọn vẹn ý nghĩa của một thứ tình yêu chân thành giữa hai tạo vật và đạt được mục đích sứ mạng cao cả của loài người là trở thành cha mẹ. Ta thiết nghĩ rằng, những con người của thời đại này đủ điều kiện để nhận thấy rằng nguyên tắc căn bản trên đây vừa hợp lý vừa xứng nhân bản.
Trung thành với ý định của Thiên Chúa
13. Ðúng thế, người ta có thể ghi nhận rằng: bắt người phối ngẫu của mình phải chấp nhận một hành vi hôn nhân ngược với điều kiện thuận lợi, hoặc ý muốn của họ là một cử chỉ không xứng đáng với một thứ tình yêu chân thành và do đó, đi ngược hẳn lại với trật tự luân lý cần phải có trong mối liên quan giữa đôi vợ chồng. Ngoài ra, chỉ cần suy nghĩ kỹ, ta sẽ nhận thấy khi một hành vi hôn nhân giữa hai người phối ngẫu phá hoại khả năng lưu truyền đời sống, một khả năng mà Chúa tạo thành, đã liên kết hẳn với hành vi hôn nhân theo những định luật riêng, thì hành vi ấy trái ngược với ý định cấu tạo của hôn nhân cũng như với ý muốn của Ðấng tạo thành đời sống. Vì thế, nếu người ta sử dụng quyền năng của Thiên Chúa ban để phá hủy - dù chỉ phá hủy một phần - ý nghĩa và cứu cánh của nó, thì người ta quả đã đi ngược lại bản tính mối tương quan sâu xa giữa người đàn ông và đàn bà, và đồng thời chống lại chương trình và ý muốn của Thiên Chúa. Trái lại, nếu chúng ta sử dụng quyền năng của tình yêu hôn nhân trong tinh thần tôn trọng các định luật diễn biến của mầm sống, thì mặc nhiên chúng ta công nhận rằng mình không nắm quyền "sinh sát" đối với nguồn mạch của đời sống con người, mà ngược lại, chúng ta đã giúp thực hiện các ý định của Chúa tạo thành. Nếu con người không có toàn quyền, một thứ quyền vô hạn đối với thân xác của mình, thì lẽ tất nhiên, họ cũng không có quyền hạn vô song đối với các khả năng tạo thành mầm sống (hiểu theo đúng nghĩa của chúng), vì các khả năng ấy có mục đích cố hữu là sinh ra sự sống, sự sống do chính Thiên Chúa là nguyên lý. Ðức Gioan XXIII đã có dịp nhắc nhở điều này trong Thông điệp Mater et Magistra: "Ðời sống con người là siêu việt: ngay từ nguyên thủy đời sống ấy đã trực tiếp mang dấu ấn bàn tay sáng tạo của Thiên Chúa".
Những phương tiện bất hợp pháp dùng để điều hòa sinh sản
14. Căn cứ vào những điểm cốt yếu trong quan niệm của Công giáo cũng như của con người về vấn đề hôn nhân, Ta thấy cần phải tuyên bố một lần nữa là: không thể nào chấp nhận - lý do vì việc đó bất hợp pháp - việc điều hòa sinh sản bằng cách trực tiếp ngăn chặn sự diễn biến đã khởi sự một mầm sống, và nhất là việc cố ý phá thai dù với lý do y tế cũng vậy (Catechismus Romanus Concilii Tridentini. Thông điệp Casti Connubii của Ðức Piô XI, Gaudium et Spes của Công đồng Vatican II).
Ngoài ra, như giáo quyền đã nhiều lần tuyên bố, chúng ta không thể chấp nhận việc trực tiếp vô hiệu hóa khả năng sinh sản nơi người đàn ông hay đàn bà, dù là vĩnh viễn hay chỉ tạm thời trong một thời gian (Thông điệp Casti Connubii).
Chúng ta cũng không có quyền chấp nhận bất cứ một hành vi nào có mục đích hay dùng làm phương tiện để ngăn chặn việc sinh sản, hoặc trước khi hoặc đang khi làm hành vi hôn nhân, hoặc làm trở ngại việc diễn tiếp tự nhiên của hành vi ấy (Catechismus Romanus Concilii Tridentini, Thông điệp Casti Connubii, Mater et Magistra).
Chúng ta cũng không có quyền bào chữa cho những hành vi hôn nhân được cố tình vô hiệu quả, vì lẽ để tránh một tác hại nào đó hoặc với lý do các hành vi ấy đã là thành phần của những hành vi vốn có hiệu năng, xẩy ra trước hay sau, và vì thế cũng có giá trị như nhau. Trong thực tế, phải công nhận rằng: thỉnh thoảng người ta có quyền chấp nhận một tai hại nhỏ để tránh một tai hại lớn hoặc để thực hiện một việc tốt đẹp. (Diễn văn của Piô XII tại Hội nghị quốc gia các luật gia Công giáo Ý ngày 6/12/1953), nhưng không bao giờ ta được phép làm một việc ác để đạt tới một sự thiện (Rm 3,8) nghĩa là được phép tùy ý làm một việc tự bản tính nó vốn xấu hoặc một việc bất xứng với nhân cách, dầu là với mục đích bảo vệ hay tạo ra điều tốt cho cá nhân, gia đình hay xã hội. Chính vì lý do đó, ta không thể quan niệm rằng: một hành vi hôn nhân vốn dĩ xấu, vì được cố tình làm thành vô hiệu năng, lại có thể trở thành một hành vi tốt, dầu nó có phong phú hơn cho cả một cuộc đời của đôi bạn.
Tính chất hợp pháp của những phương tiện y khoa, y dược
15. Trái lại, Giáo hội không hề coi là trái phép việc sử dụng những phương tiện y khoa, y dược xét ra thực cần thiết để chữa các chứng bệnh của cơ thể, mặc dầu người ta đoán trước rằng việc sử dụng ấy sẽ cản trở sinh sản, miễn là việc cản trở ấy không phải do chính đương sự trực tiếp ưng muốn (Diễn văn của Ðức Piô XII đọc trước Hội nghị quốc gia các Bác sĩ chuyên môn về thận, ngày 8/10/1953).
Tính chất hợp pháp của việc lợi dụng các thời kỳ không đậu thai
16. Như Ta trình bày trong đoạn 3 trên đây, hiện nay người ta chống đối lại lời giáo huấn của Giáo hội về nền luân lý hôn nhân, chủ trương rằng con người có quyền dùng tri thức của mình để quản trị và điều khiển các năng lực nằm trong thiên nhiên vô tri để mưu ích cho toàn thể nhân loại. Người ta đặt câu hỏi: nếu có thể, trong một vài trường hợp, sử dụng phương pháp nhân tạo để kiểm soát việc sinh sản hầu đem lại hòa đồng êm ấm cho gia đình và giúp cho việc giáo dục con cái (đã sinh ra rồi) được dễ dàng tốt đẹp hơn, thì tại sao lại không sử dụng?
Ta cần phải trả lời một cách minh xác rằng: Giáo hội sẵn sàng chấp nhận, tán thưởng việc dùng tri thức trong một lãnh vực, mọi công tác Thiên Chúa cùng hoạt động với tạo vật tri thức, như Giáo hội khẳng định rằng: trong trường hợp này, phải tôn trọng nền trật tự được Thiên Chúa thiết lập.
Vì thế, nếu có những hoàn cảnh, những lý do thể lý, tâm lý, hoặc ngoại cảnh đòi hỏi vợ chồng phải hạn chế bớt việc sinh con, thì trong trường hợp đó, Giáo hội cho biết có thể căn cứ vào các chu kỳ tự nhiên, cố hữu của cơ năng sinh sản để làm hành vi hôn nhân trong những thời gian không đậu thai, và chỉ có phương pháp điều tiết sinh sản ấy mới không đi ngược lại những nguyên tắc luân lý căn bản mà Ta vừa nhắc nhở trên đây.
Giáo hội không mâu thuẫn khi chủ trương rằng: người ta được áp dụng phương pháp các thời gian không đậu thai, đồng thời lên án việc sử dụng những phương pháp trực tiếp gây trở ngại cho việc sinh sản, dù với những lý do có vẻ đứng đắn, lương thiện. Quả vậy, hai sự việc trên đây hoàn toàn khác biệt nhau; trong trường hợp thứ nhất, đôi bạn sử dụng một cách hợp pháp những dữ kiện tự nhiên, còn trong trường hợp thứ hai, họ cản trở một diễn biến của thiên nhiên. Tuy trong cả hai trường hợp, hai người phối ngẫu đều tích cực, đồng ý với nhau tìm cách tránh không cho có con vì những lý do thoả đáng, nhưng đặc biệt trong trường hợp trước, hai người tự kiềm chế, không sử dụng quyền hạn của hôn phối trong những thời gian có thể đậu thai vì những nguyên do hợp lý, và sử dụng quyền hạn đó trong thời gian không thể có con để biểu lộ tình thương nhau và bảo vệ lòng chung thuỷ với nhau. Trong hành động này, hai người đã chứng tỏ một tình yêu hoàn toàn và thực sự lương thiện.
Những hậu quả nghiêm trọng của việc áp dụng các phương pháp nhân tạo để điều hòa sinh sản
17. Những người thiện tâm thiện chí sẽ có dịp nhận chân giá trị của nền Giáo lý Giáo hội trong lãnh vực này, nếu họ chịu bình tâm suy nghĩ về những hậu quả tai hại của việc áp dụng các phương pháp nhân tạo để điều hòa sinh sản.
Trước tiên, họ cần lưu tâm đến hiện tượng nguy hiểm của sự bất trung trong hôn nhân cũng như đến việc luân lý trở thành sa đọa trong trường hợp các phương pháp trên được đem áp dụng. Không cần nhiều kinh nghiệm ta cũng thấy được rằng con người vốn yếu đuối và tất cả, nhất là giới thanh niên, thường dễ đi ngược lại nền luân lý, nếu không luôn luôn có người kèm bên khuyên bảo và nếu bây giờ ta còn giúp cho họ có dịp để vi phạm các lề luật luân lý thì thật hết chỗ nói! Một nguy cơ khác rất có thể xảy ra là nếu để con người tự do áp dụng những phương pháp ngừa sinh sản, dần dần có thể họ sẽ hết kính trọng người phụ nữ, mà khi đã coi thường sự thăng bằng về tâm lý và thể lý của người đàn bà, cuối cùng họ sẽ coi đó là dụng cụ thỏa mãn dục tính một cách ích kỷ, chứ không coi đó là người bạn đường đáng mến, đáng trọng nữa.
Chúng ta cũng cần nghĩ rằng, nếu chấp nhận việc tự do hạn chế sinh sản, rất nhiều chính quyền vốn dĩ đặt nhẹ các yêu sách của luân lý, sẽ triệt để lợi dụng khai thác ngay. Nếu các đôi vợ chồng được phép hạn chế sinh sản vì lý do gia đình, thì lấy cớ gì cấm đoán các chính quyền áp dụng chủ trương ấy để giải quyết các vấn đề của tập thể? Lúc đó, ai sẽ có quyền cấm đoán một chính phủ không những tán thưởng mà hơn thế nữa còn ép buộc dân chúng phải áp dụng những phương pháp ngừa thai mà họ cho là hiệu nghiệm hơn cả? Và thế là muốn tránh né những khó khăn của cá nhân, gia đình hay xã hội trong việc tuân giữ luật Chúa, cuối cùng người ta đã hoàn toàn dành cho các chính quyền được tự do thao túng một lãnh vực thân mật, cá nhân riêng biệt nhất của đôi vợ chồng.
Vậy nếu ta không muốn để loài người được quyền độc đoán quyết định về sứ mạng lưu truyền đời sống thì ta bó buộc phải chấp nhận một ranh giới nhất định ngăn cấm không cho ai vượt qua: Con người không có toàn quyền đối với thân xác cũng như các cơ năng của thân xác mình. Không ai dù với tư cách cá nhân, dù với tư cách chính quyền, được phép hủy bỏ ranh giới trên, là những ranh giới được ấn định bằng lòng tôn trọng đối với toàn bộ cơ thể và cơ năng con người theo đúng những nguyên lý trình bày trên đây và theo đúng "nguyên tắc toàn bộ" mà đấng Tiền nhiệm của Ta Ðức Piô XII đã nói (trong bài diễn văn đọc ngày 8/10/1953).
Giáo hội là bảo đảm cho những giá trị của con người
18. Ta biết trước lời giáo huấn này khó được sự tán thành của con người, vì hiện nay số người chống đối lại chủ trương của Giáo hội rất nhiều, và họ biết dùng những phương pháp tối tân để khuếch đại sự tuyên truyền của họ. Thực sự Giáo hội không ngạc nhiên khi thấy mình trở thành một "dấu hiệu chống đối" (Lc 2,34) giống Ðấng đã thiết lập mình. Nhưng Giáo hội vẫn luôn luôn khiêm tốn, vừa cương quyết tuyên bố tất cả nền luân lý - luân lý tự nhiên cũng như của Phúc âm. Giáo hội không phải là người tạo ra nền luân lý, vì thế Giáo hội không thể làm trọng tài, mà chỉ là người canh giữ, giải thích lề luật ấy. Giáo hội không có quyền tuyên bố một điều là hợp pháp khi nó bất hợp pháp, lý do vì ngược hẳn với lợi ích thực sự của con người.
Giáo hội biết rõ rằng: Khi đứng lên bảo vệ toàn bộ nền giáo lý hôn nhân, Giáo hội đồng thời cũng thiết lập một nền văn minh thực sự nhân bản. Giáo hội khuyến cáo loài người không nên chối bỏ trách nhiệm của mình và hoàn toàn phó thác cho các phương diện kỹ thuật; chính nhờ đó Giáo hội bảo đảm nổi phẩm giá của các đôi vợ chồng. Giáo hội luôn luôn trung thành với nền giáo huấn và gương sáng của Chúa Cứu Thế và luôn luôn chứng tỏ mình là người bạn chân thành và vô vị kỷ của nhân loại, vì Giáo hội muốn giúp đỡ họ, ngay từ trên con đường trần gian này, để "tham dự như con cái vào đời sống của Thiên Chúa là Chúa hằng sống và là Cha của mọi người" (Thông điệp Populorum Progressio).
“Tôi dám nói không liều là năm 2016 Bộ Giáo dục sẽ không trình ra được bộ SGK nào có thể coi là Mới”
00:54 |Theo boxitvn
(Trao đổi nhân đề án cải cách sách giáo khoa của BGD)
Hoàng Hưng – Phạm Toàn
HH: Vừa
qua, Bộ GD đưa ra trước Quốc hội dự toán cho việc soạn lại SGK, nhưng
chưa thấy đề cập hoặc đề cập không rõ về tinh thần chủ đạo của SGK mới
sẽ ra mắt xã hội vào năm 2016. Anh có suy nghĩ gì về việc ấy?
PT: Muốn
ra sách vào năm 2016 thì ít nhất hằng chục năm trước đã phải có ý tưởng
chủ đạo về bộ sách và ý tưởng phải được triển khai, thử nghiệm từ đó
đến nay rồi chứ. Một kinh nghiệm từ bản thân: nhóm Cánh Buồm soạn bộ SGK
Tiểu học của mình từ năm 2009, nhưng ý tưởng chủ đạo của nó thì tôi đã
đề xướng từ lâu. Thí dụ về môn Văn. Tôi chủ trương Dạy Văn không phải để
học sinh “tán” về bài văn theo lời dạy của thầy, viết bài theo “văn
mẫu”. Học văn là tạo năng lực nghệ thuật, lấy Văn làm vật liệu nghiên
cứu, vì Văn là vật liệu nghệ thuật nhẹ nhàng nhất, dễ tiếp cận nhất.
Ngay từ 1986, tức hơn 20 năm trước, nhờ báo Văn Nghệ do nhà văn Nguyên
Ngọc làm TBT, tôi đã công bố tuyên ngôn ấy ở bài “Sao lại học văn”, bài
này đến năm 2000 được in vào quyển sách “Công nghệ dạy Văn” (Đại học
xuất bản). Tư tưởng này được tôi áp dụng vào thực tế dạy học, rồi đưa
vào việc biên soạn cuốn sách dạy Văn đầu tiên của chương trình Thực
nghiệm của Hồ Ngọc Đại. Từ đó về sau, nó được liên tục “nâng cấp”. Mới
đây, Trung tâm viết sách của Hồ Ngọc Đại đã lấy lại bộ sách Văn ấy, thay
đổi chút ít, biến thành sách mới, có đề nghị tôi ký tên nhưng tôi từ
chối, vì tôi đã có những ý tưởng tiến xa hơn và đưa vào sách Cánh Buồm.
Tóm
lại, muốn có SGK kiểu mới, tác giả phải chuẩn bị từ khâu đề xướng chủ
thuyết, giải thích chủ thuyết, và làm thử. Cả 3 yếu tố ấy đều không thấy
có ở bộ phận soạn SGK của Bộ Giáo dục.
Chỉ thấy
năm 2011 ông ĐNT nói lên tinh thần SGK mới sẽ là “tiếp cận năng lực”,
nhưng chẳng ai hiểu nó là như thế nào. Rồi bây giờ, trả lời chất vấn báo
chí, ông ấy lại nói: “tiếp cận theo năng lực”, tức là suốt mấy năm được
thêm 1 chữ “theo”.
Bởi thế, tôi dám nói không
liều là: năm 2016 BGD sẽ chẳng có gì trình ra xã hội, hoặc vẫn chỉ trình
ra những cái cũ. Xem cách chuẩn bị trận đánh là biết trận đánh sẽ diễn
ra thế nào.
HH: Từ ví dụ môn Văn, anh có thể nói về tư tưởng chủ đạo phương pháp học nói chung theo chủ thuyết Cánh Buồm?
PT:
Tư tưởng chủ đạo là làm cho trẻ biết tự học, trẻ biết tự học thì biết
tự giáo dục. Nhưng không phải cứ kêu gọi “em phải tự học nhé!” là xong.
Ai chả muốn con mình học giỏi, biết tự học, nhưng vấn đề là phải làm cho
trẻ tự học được. Tức là phải tìm được những thao tác học cho trẻ thực
hiện. Đó là những thao tác làm việc chắt lọc nhất của các nhà bác học
tiêu biểu, của các nghệ sĩ lớn, của các nhà hoạt động xã hội trong sáng
nhất. Tức là vẫn “học tập noi theo tấm gương” đấy, nhưng không phải theo
kiểu hô khẩu hiệu xuông, mà làm lại cách làm việc như tấm gương đã làm.
Nhà ngôn ngữ tìm ra cách ghi âm tiếng nói thế nào, nhà văn làm ra tác
phẩm từ cảm xúc, từ chất liệu sống ra sao, người hoạt động xã hội sống
với cộng đồng, yêu thương, giải quyết tranh chấp trong cộng đồng thế
nào. Tất cả sẽ thể hiện ở thao tác. Các “tấm gương” thì đầy cả, nhưng đó
sẽ thành những vị thánh nhân vô tích sự nếu người đi sau không học họ
bằng cách làm lại những thao tác khi họ làm việc
HH:Vậy
theo anh, cái gì là cái phải thay đổi căn bản trong việc soạn SGK? Có
những ý kiến từ Sài Gòn, cho rằng chỉ cần trở lại như SGK của Sài Gòn
trước năm 1975 là ổn. Liệu có ổn không? Hay là phải thay đổi triệt để tư
duy, quan niệm về SGK. SGK không phải nội dung những kiến thức được
truyền thụ, mà là một lược đồ thao tác của thầy-trò trên lớp và sau lớp
học?
PT: SKG phải thể hiện
hoạt động học, hành động học, thao tác học. Đầu tiên là làm cho học trò
thích học, muốn học, yêu việc học. Vào lớp đã phải đặt vấn đề cho trẻ
phải giải quyết. Ngay từ giờ học đầu tiên môn tiếng Việt lớp Một đã phải
như thế. Cô giáo và học sinh trao đổi, nói tiếng Việt, nhưng khi cô
giáo nêu vấn đề: Tên em là gì? Em có viết được tên em không? đó
chính là nêu đúng vấn đề cho trẻ em nghĩ cách giải quyết. Trẻ em vào lớp
Một thì trình độ nói năng tiếng Việt của các em đều thành thạo, nên vấn
đề chính là các em phải học cách ghi tiếng Việt để đọc được tiếng Việt.
Nhưng không phải lối dạy: A Bê Xê dắt dê đi học… hay cải tiến những năm 1980 kiểu “con gà gáy ra chữ O”
(thế những chữ khác thì nhờ những con gì “gáy” ra đây?). Những cách áp
đặt để học sinh “nhớ mặt chữ” như vậy thật vớ vẩn! Phải cho trẻ học
nhũng nguyên tắc ghi tiếng Việt. Nguyên tắc đó nằm trong ba thao tác. Thí dụ: cô giáo cho trò nói câu “Bà ơi cháu yêu bà lắm”, đó là thao tác một: phát âm. Học sinh tập phát âm cả một câu nói như thế..Tiếp đó là thao tác phân tích ngữ âm. Cô dạy các em phát âm và vỗ tay tạo từng tiếng rời, hệt như sự tồn tại của tiếng Việt là những tiếng đơn lập. Sau đó là thao tác ghi lại
(rồi đọc lại để kiểm tra việc ghi của mình). Ngay từ ban đầu, chưa học
chữ vội, các em lấy hạt nhãn, hạt ngô sắp xếp thành câu, mỗi tiếng là
một hạt. Đó là viết chính tả sau khi đã phân tích câu thành đơn vị
tiếng. Dù “viết” bằng hạt ngô hạt nhãn, song vẫn phải “viết” từ trái
sang phải, không “viết” xít nhau, cũng không “viết” xa nhau quá. Đó
chính là bài học viết chính tả đầu tiên ngay từ tiết thứ nhất của chương
trình học Tiếng Việt lớp Một.
HH:Hiện
có những ý kiến khác nhau về quan hệ giữa việc soạn chương trình và
soạn SGK: Phải có chương trình khung trước? Hay là soạn song song sách
giáo khoa và chương trình khung?
PT: Ý
kiến xây dựng chương trình khung thì giáo sư Nguyễn Văn Hãn đã nói đi
nói lại đến chục năm nay rồi. Từ đó tới nay, tôi vẫn chờ các ý kiến bàn
về cái khung đó và cụ thể hóa dần cái khung đó trong từng địa hạt riêng
trước khi có cái khung chung. Mong muốn thì thế, nhưng thực thi quả là
khó đấy, có khi còn khó không thua chuyện chuột tìm cách đeo chuông vào
cổ mèo! Khó có tổ chức nào (Cục, Vụ, Viện, Khoa, Trường), cá nhân nào,
hoặc nhóm nào đủ sức ngay một lần đề ra nổi một cái KHUNG vừa đủ cao và
xa về viễn kiến, vừa đủ gần gũi, giản dị, sát cách thực thi trong cuộc
đời thực. Tôi cho rằng, cách làm có tính thiết thực hơn cả vào lúc này
là hãy cứđể các nhóm biên soạn tự đề xuất (a) mục tiêu đào tạo, (b) nội
dung chương trình, và (c) sách giáo khoa tức là con đường đi và cách
thức tiến hành để đạt mục tiêu đào tạo. Tôi muốn nhấn mạnh điều này: mục
tiêu đào tạo, nội dung đào tạo và cách thức đào tạo phải gắn bó với
nhau trong cái chuyện đang bàn về chương trình và sách giáo khoa. Ai đề
ra mục tiêu đào tạo thế nào thì phải đề ra tiếp nội dung và cách thức
thực hiện tương ứng. Rồi đến lúc những gợi ý lẻ tẻ sẽ vừa đủ để cùng
nhau hoàn tất thành bộ KHUNG ít ra cũng đẹp như bộ mục tiêu và chương
trình khung đương thời của Giáo dục California chẳng hạn. Xã hội nói
chung như thế nào thì tôi chưa biết, nhưng tôi không tin là một mình Bộ
GD lại có thể ôm toàn bộ việc soạn ra cả chương trình khung và sách giáo
khoa như những lần làm sách trước đây.
HH: Lại
còn chuyện này nữa, như GS Toán Ngô Bảo Châu khẳng định: SGK các môn tự
nhiên của ta không khác mấy các nước, nhưng SGK các môn xã hội-nhân văn
thì khác xa. Vậy trọng tâm cải cách lần này phải dồn cho SGK các môn
XH-NV? Được biết Cánh Buồm chỉ soạn sách cấp Tiểu học về tiếng Việt,
Văn, Lối sống, Sử. Tức là quan niệm giống như GS Châu? Trong phạm vi
này, nội dung chương trình dạy học của CB đã có những điểm khác với
chương trình của BGD?
PT: Cuộc
cải cách (hoặc thay sách) năm 1955 chuyển từ chương trình 9 năm sang
chương trình 10 năm “hồi xưa” cũng chủ yếu là dịch sách Toán và khoa học
tự nhiên của Liên Xô. Ban Tu thư hồi đó ngồi chưa kín ngôi nhà số 6 Lê
Thánh Tông ở Hà Nội, và tiếng Nga khi đó là “mốt”. Ông Nguyễn Kỳ, sau
làm thứ trưởng, giới thiệu sách Khoa học mới cho bậc Tiểu học rất thích
thú cách học của Liên Xô theo lối kể chuyện con dơi đi dự “hội nghị loài
vật” đã tham gia cả vào panel Chuột vì có nghiệp vụ gậm nhấm và tham gia panel Dơi vì có phương tiện hoạt động là đôi cánh bay. Cuộc sống tinh thần thời đó còn quá đơn giản, đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ, bởi vì trăng Liên Xô tròn hơn trăng nước Mỹ… Nhà thơ trẻ U90 Việt Phương khai báo như thế, tôi không bịa đâu đấy. Ngay môn Toán cũng không chú ý lắm đến nội dung thực sự là
quan hệ của số hoặc lô gich của lập luận, mà chỉ cần lò gạch của tư
nhân sản xuất a viên, lò của tổ đổi công sản xuất b viên, với b nhiều
hơn a bao nhiêu viên, hỏi lối làm ăn nào tiến bộ hơn, thế là đủ “tính tư
tưởng toán học” rồi mà. Tôi biết một chuyện vui thế này do một giáo sư
Vật lý kể cho nghe.Năm 1961, khi anh còn trẻ măng, qua Liên Xô làm
nghiên cứu sinh bậc Phó tiến sĩ, anh đã có bài báo rất quan trọng về Resonance Scattering … nhờ
đó được các thầy “đặt hàng” giải quyết những vấn đề phức tạp… Anh cũng
đã được chuẩn bị kết nạp Đảng và sẽ được học tiếp bậc tiến sĩ… Thế rồi
sang năm 1962 đã nổ ra vụ Liên Xô định đưa tên lửa vào Cuba, sau rồi lại
quay lui kéo tên lửa về nước. “Bên nhà” yêu cầu sinh viên và nghiên cứu
sinh phản đối. Anh bạn nghiên cứu sinh rồi sau này sẽ thành giáo sư Vật
lý kia đã không phản đối thì chớ, lại buột mồm “nói nhịu” rằng Không rút thì đánh nhau à!? Và
thế là anh được bảo vệ Phó tiến sĩ sớm và về nước thẳng! Việc đào tạo
chuyên gia được quyết định đơn giản như thế đấy! Khoa học tự nhiên mà
thế, thì nội dung và cách học các môn khoa học xã hội và nhân văn sẽ còn
“tiên tiến” ở “hàng đầu” đến đâu! Một sự tiên tiến chỉ có ông Bút Tre
định nghĩa nổi: hàng đầu thì tiến đi đâu? Hàng đầu là tiến lên đầu chứ sao!?
HH: Xin
nhắc lại câu hỏi: nhóm Cánh Buồm chỉ soạn sách cấp Tiểu học về tiếng
Việt, Văn, Lối sống, Sử. Anh có thể nói rõ hơn vì sao nhóm chọn cách làm
đó?
PT: Nhóm Cánh Buồm sức
mỏng lực cạn nên rất cần phải có ý thức về cách làm ăn của mình, đó là
trình ra những sản phẩm cụ thể để làm những “thí dụ” cho xã hội thảo
luận. Chúng tôi gọi nôm là làm mẫu. Có mấy điều trình ra như sau.
Một là, phải xác định nền GD mình đang xây lại phải là nền giáo dục hiện đại. Tính hiện đại không nằm ở những thiết bị đắt tiền hoặc những mục tiêu xa lạ, mà nằm trong cách học của người học. Đã là học sinh hiện đại thì phải biết tự học, coi tự học-tự giáo dục như một phẩm tính cốt lõi của đời học trò. Chỉ có một mục tiêu đơn giản vậy thôi.
Hai là, nhà
sư phạm của nền GD hiện đại phải tìm ra được những thao tác tự học để
huấn luyện học sinh ngay từ tiết học đầu tiên của lớp học đầu tiên.Phải
dồn sức nghiên cứu để bậc tiểu học thành bậc EM BIẾT CÁCH HỌC. Như vậy,
nội dung của khái niệm phương phápsẽ không còn là “nghệ thuật” dạy học của từng cá nhân nhà giáo, mà thành phương pháp tổ chức cách học của con em. Các cuốn sách giáo khoa Cánh Buồm cố gắng thể hiện tinh thần đó. Các sinh hoạt sư phạm Cánh Buồm và trang canhbuom.edu.vncố gắng làm sáng rõ thêm tinh thần đó.
Ba là, nhóm Cánh Buồm xác định lại mục tiêu của từng môn học cho tương thích với yêu cầu tự học-tự giáo dục, với yêu cầu xây dựng bậc tiểu học thành bậc học phương pháp học.
HH: Thú
vị đấy! Là nói cái điều thứ ba vừa rồi ấy. Có nghĩa là cách tổ chức
việc học các bộ môn của nhóm Cánh Buồm sẽ khác với “sách của Bộ”. Có
khác không?
PT: Khác chứ! Vẫn đề sách Văn đấy, nhưng đó là sách dung vật liệu văn thơ để giáo dục năng lực nghệ thuật nói chung cho học sinh. Vẫn đề sách Tiếng Việt đấy,
nhưng là giáo dục khoa học về ngôn ngữ với tiếng Việt là vật liệu, để
học sinh giỏi tiếng Việt nhờ có ý thức ngôn ngữ học. Sách của Bộ nhập
hai môn học này thành môn Ngữ Văn, đến lớp 5 vẫn học cách chữa
lỗi chính tả, suốt 5 năm học cứ ngày ngày tập đọc rồi giảng vài ba từ,
rồi đủ thứ quy tắc để ghi nhớ, một cách học theo sách soạn từ thời Trần
Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Phạm Huy Lục và Đỗ Thận của Nha Học chính
Đông Pháp…
Điều rất khác của nhóm Cánh Buồm là
không soạn sách gọi bằng Đạo đức, hoặc Luân lý, hoặc Công dân Giáo dục.
Chúng tôi cũng không soạn sách “mới” gọi bằng “Kỹ năng sống” đang thịnh
hành. Ký năng sống thì ai cũng cần, nhưng còn phải có cái nguyên lý gì
đó cao hơn của con người hiện đại chi phối những kỹ năng ấy. Chúng tôi
soạn sách Lối sống theo những gợi ý nghiên cứu từ Trung tâm Công
nghệ Giáo dục của Hồ Ngọc Đại. Nhưng chúng tôi không dừng lại ở “lối
sống” của anh nhà quê ra tỉnh, cách gõ cửa, cách cám ơn, cách xin lỗi,
cách hôn gió … Cần một nguyên lý chung chi phối lối sống, và đó phải là
nguyên lý gì? Cái nguyên lý khiến môn Lối sống giống mà không
giống với môn Đạo đức, càng không phải môn Công dân giáo dục. Cái nguyên
lýkhiến cho môn Lối sống thành bao trùm hơn, thực chất hơn và liên quan
đến phẩm chất căn bản nhất, cần được sống thực để được thấm sâu từ nền
tảng GD là cấp cơ sở.Cái nguyên lý chung nhất cần phải có giữa ông Tổng
thư ký LHQ với một em học sinh lớpMột VN.Đó là nguyên lý sống đồng thuận.
Năng lực sống đồng thuận thể hiện ở ba nội dung chính:
1./ Cùng lao động. Ai, ở cượng vị nào làm việc của mình, mỗi người đều làm tốt việc của mình.
2./Cùng chia sẻ những giá trị tinh thần, không kỳ thị nhau (kỳ thị tôn giáo, giới tính, lứa tuổi…).
3./
Học cách tháo ngòi xung đột, không để dẫn đến bạo lực. Học được cách
tháo ngòi xung đột từ chỗ tranh nhau một trái banh lúc ra chơi ở sân
trường thì sau này sẽ không có cảnh chính quyền đem hằng ngàn cảnh sát
đến đánh dân, và đẩy dân đến chỗ phải chế bom mìn giết người của chính
quyền.
Nguyên lý đồng thuận trong lối sống đó
là lòng nhân đạo từ trong trứng, không phải nhân đạo theo nghĩa của tôn
giáo. Đó cũng là lối sống thực hiện hằng ngày ngay từlớp 1, sống trên
lớp, trong ga đình, rồi ra xã hội.
HH: Còn môn Lịch sử?
PT: Với chương trình và sách Lịch sử, nhóm CB đang soạn và dạy thử sách Lịch sử ở bậc Tiểu học, dự
kiến dạy từ lớp 3 đén lớp 5. Chỗ khác nhau cần nói nhất của chúng tôi
về môn học này là như sau. Xưa nay, các sách Lịch sử đều chỉ có sử liệu.
Không có sách nào chỉ ra cách học của học sinh. Bây giờ sách Lịch sử của Cánh Buồm soạn sẵn thành bốn mục tức là bốn việc làm của học sinh. Đó là:
(Việc 1) Tiếp nhận sử liệu (thái độ còn có thể dửng dưng);
(Việc 2) Nhập thân vào sử liệu (qua kịch, qua tranh biện, để biến cái Sử-liệu-tự-nó thành cái Sử-liệu-cho-ta;
(Việc
3) Tự rút ra bài học lịch sử (đây là vài thí dụ ở lớp Bốn và Năm: “Em
đi đền thờ Hai Bà Trưng, em khấn điều gì đó, em hãy ghi lại”; “Em đi
ngang gò Đống Đa, em nói một điều gì đó với Sầm Nghi Đống, hãy ghi lại”;
“Em đi ngang sông Hồng, hãy tưởngtượng như bài em vừa hát – xác quân
chàng Tôn sập cầu trôi đầy sông – em viết mấy lời gửi Tôn Sĩ Nghị hoặc
Lê Chiêu Thống…” ;
(Việc 4) Góc sưu tầm của em
(thí dụ tranh làng Hồ vẽ hai Bà Trưng, tượng chùa Bộc cho là tạc Vua
Quang Trung, những văn bản Lịch sử tham khảo các loại khác…).
HH: Ta
cùng trở về cái quyết định đầu tiên của việc cải cách chương trình,
SGK. Từ lâu, các chuyên gia GD, các trí thứctầm cỡ đều nói đến sự lúng
túng về mục tiêu GD của VN. Bây giờ, Nghị quyết của cấp lãnh đạo tối cao
đã tuyên bố về MTGD rồi. Nhưng thú thật, đọc lên ù cả tai, vì nó là cả
một đoạn văn dài bao gồm rất nhiều câu, nhiều ý, nhiều vế, đủ hết không
thiếu gì cả nhưng lại… thiếu một cái tinh thần cốt lõi có thể diễn đạt
trong một câu đơn giản. Bộ SGK Tiểu học Cánh Buồm có nêu được một cách
gọn gàng mục tiêu GD mà nhóm chủ trương?
PT: Có
chứ. Năm 2009 chúng tôi đã có văn bản trình lên cấp có trách nhiệm cao
về MTGD mà CB đề xướng. Con người “nên người” theo quan niệm của chúng
tôi là “con người tự chủ, có trách nhiệm, và có tâm hồn phong phú”.
Đó là câu trả lời rất đơn giản trả lời một cách khái quát và thực chất
cho câu hỏi: “Học để làm gì?” Xét cho cùng, học là để xây dựng được sự
cân bằng bền vững giữa cá nhân, “cái tôi” và môi trường khách quan bên
ngoài “cái tôi”, trước nhất là cộng đồng xã hội. Các em phải trở thành
con người không lệ thuộc vào các áp lực bên ngoài để bảo vệ cái riêng
biệt của mình vì đó chính là lý do tồn tại của mỗi con người; nhưng tự
nguyện tự giác sống trong những mối quan hệ phức tạp giữa người và
người, và có tâm hồn phong phú tức là biết vui với cái vui của người
khác, chia sẻ nỗi buồn nỗi đau của người khác, đó là điều kiện để đi đến
sự hoà hợp riêng–chung, niềm hy vọng ngàn đời của biết bao ông hiền!
HH: Để
kết thúc buổi trao đổi này, xin trở lại một thông tin khiến công luận
phản ứng với đề án SGK mới của BGD. Đó là con số dự toán, từ 70.000 tỷ
đồng, rút xuống 34.000 tỷ cho cả dự án, rồi cuối cùng được giải thích là
khoảng 5.000 tỷ cho riêng việc soạn SGK. Giả dụ nhóm CB được BGD ưu ái
giao “thầu” soạn bộ SGK về mấy môn tiếng Việt, Văn, Lối sống, Sử cấp
Tiểu học, thì nhóm sẽ xin ngân sách bao nhiêu?
PT: Chúng
tôi không quan tâm chuyện tiền nong, đó không nên là mối quan tâm hàng
đầu của chuyên gia Giáo dục.Nhà giáo chân chính hãy chiến đấu cho một
nhà trường (chí ít là bậc tiểu học đã) BA KHÔNG: KHÔNG HỘ KHẨU, KHÔNG
HỌC PHÍ, KHÔNG BẮT NẠT. Hai cái “không” đầu thì dễ hiểu. Nếu còn dùng hộ
khẩu và học phí để làm khổ trẻ em thì đó là tội ác không biện bạch
được. Cái “không” thứ ba, không bắt nạt có nội dung: không thi cử, không
cho điểm, không dọa xếp hạng, không dọa đuổi học, không làm khổ phụ
huynh vì những khen chế chì chiết – cần có một nhà trường (chí ít là bậc
tiểu học) học sinh thành công ngay từ tiết học đầu tiên ở trường.Sách
giáo khoa Cánh Buồm và chương trìnhkhung của Cánh Buồm trao cho giáo
viên kỹ thuật tổ chức sự thành công của con em ngay từ tiết thứ nhất
cuộc đời học đường. Cứ thử dùng sách của chúng tôi đi, và chư vị sẽ học
được cách làm chương trình và sách vừa mới, vừa đẹp, vừa không tốn tiền.
HH: Lại nói chuyện tiền … Thế trương mục Tài Chính của nhóm CB ra sao?
PT: Trong
mấy năm qua, chúng tôi được bạn bè, thân hữu trong nước, và một số trí
thức người Việt ở nước ngoài, giúp CB có được bốn năm trăm triệu đồng.
Với số tiền ấy chúng tôi đã in được bộ SGK đầu tiên và bộ hướng dẫn sử
dụng, đang tiếp tục hoàn thiện để tái bản bộ sách, cố gắng hoàn tất
trong năm 2014 và đầu năm 2015. Tôi rất cảm động khi giáo sư Hoàng Tụy
bảo tôi cử một em đến gặp, giáo sư trao cho em một phong bì, nói “đem về
mua mực in”… Bà Nguyễn Thị Bình thì gọi tôi đến, “… chị in sách, trừ 20
phần trăm thuế, còn mấy chục triệu, gửi em cho nhóm…”. Vợ nhà thơ Hoàng
Hưng (anh biết ai chứ?) cho nhóm hẳn năm chục triệu. Vợ chồng con út
tướng Trần Độ mang 55 triệu tiền bán Hồi Kýcho nhóm CB. Anh An Kiều, con
trai thứ sáu họa sĩ Nam Sơn, người cùng Tardieu mở trường Mỹ thuật Đông
Dương, nhẹ nhàng rút túi cho chúng tôi năm chục triệu. Các nhà văn nhà
thơ Giáng Vân, Phạm Lưu Vũ, nhiều bạn khác nữa, cũng tỏ tình mến mộ công
việc của chúng tôi theo cách “cụ thể” như vậy… Nhuận bút dịch sách
Piaget, Hoàng Hưng và Nguyễn Xuân Khánh đều không nhận mà trao hết cho
Nhóm Cánh Buồm… Quỹ của nhóm bây giờ vẫn hòm hòm chừng hơn ba trăm
triệu, tiêu ít nhưng có chết đâu?Mà sản phẩm trình ra xã hội vẫn “chơi
được” đấy chứ? Những ai tiêu tỉ nọ tỉ kia hãy vượt chúng tôi đi!
H.H. – P.T.
LỤC TỰ KHÍ CÔNG
00:00 |
LỤC TỰ KHÍ CÔNG: MỘT MÔN CÔNG PHU ĐƠN GIẢN DỄ THỰC HÀNH NHƯNG CÓ HIỆU QUẢ PHI THƯỜNG TRONG VIỆC PHÒNG NGỪA VÀ TRỊ BỆNH BẢO VỆ SỨC KHỎE
Institut für Traditionalle Chinesiche Medizin
VIỆN NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG Y-HỌC CỔ TRUYỀN TRUNG-HOA
Thay cho lời nói đầu:
VIỆN NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG Y-HỌC CỔ TRUYỀN TRUNG-HOA
Thay cho lời nói đầu:
I“…126 hơi thở, thời khắc đặng có bao nhiêu, so với thời gian đằng đẵng của một đời người. 126 hơi thở, thời gian chỉ để di dời năm bảy bước chân ngoảnh đầu qua lại mấy lần đã hết, thế mà công năng thần diệu vô cùng, trong thì đẩy lui bá bệnh, ngoài thì hóa hợp với thiên nhiên, tâm tư thảnh thơi như trăng thanh gió thoảng, thân thể vững bền như núi như sông.
Thế mà người đời nay cứ say mê tửu sắc, hoang phí thời gian vào chuyện hưởng lạc của đời thường, chỉ có 126 hơi thở cũng không chịu bỏ công ra mà dụng tập, để cho Âm – Dương rối loạn, khí lực của châu thân hư hao cạn kiệt, bệnh tật nảy sinh thống khổ vô cùng. Các con dấn thân vào y nghiệp mang danh làm bậc Từ-mẫu của thiên hạ, nên lấy Y-đức làm trọng mà muốn lấy Y-đức làm trọng thì việc đầu tiên là khuyên nhủ người người nhắc nhở con bệnh cố gắng rèn luyện dưỡng sinh, bồi bổ chính khí, đó là căn cơ cho việc bảo vệ sức khỏe. Được vậy mới thực trọn tình người Mẹ, chứ để người ta tìm đến khi đã nhuốm bệnh, lúc đó mới trổ tài ra toa, thảo phương, rồi công rồi phạt, rồi bồi bổ, rồi cố sáp…Chỉ cần một sai
lầm nhỏ trong Vọng, Văn, Vấn, Thiết một tý sơ suất trong Quân-thần-tá-sứ, Chánh-Phản, Vi-Tà… thì có khác chi là hành nghề bá đạo trong Y-thuật
Thế mà người đời nay cứ say mê tửu sắc, hoang phí thời gian vào chuyện hưởng lạc của đời thường, chỉ có 126 hơi thở cũng không chịu bỏ công ra mà dụng tập, để cho Âm – Dương rối loạn, khí lực của châu thân hư hao cạn kiệt, bệnh tật nảy sinh thống khổ vô cùng. Các con dấn thân vào y nghiệp mang danh làm bậc Từ-mẫu của thiên hạ, nên lấy Y-đức làm trọng mà muốn lấy Y-đức làm trọng thì việc đầu tiên là khuyên nhủ người người nhắc nhở con bệnh cố gắng rèn luyện dưỡng sinh, bồi bổ chính khí, đó là căn cơ cho việc bảo vệ sức khỏe. Được vậy mới thực trọn tình người Mẹ, chứ để người ta tìm đến khi đã nhuốm bệnh, lúc đó mới trổ tài ra toa, thảo phương, rồi công rồi phạt, rồi bồi bổ, rồi cố sáp…Chỉ cần một sai
lầm nhỏ trong Vọng, Văn, Vấn, Thiết một tý sơ suất trong Quân-thần-tá-sứ, Chánh-Phản, Vi-Tà… thì có khác chi là hành nghề bá đạo trong Y-thuật
Nếu như quần sinh chưa tin tưởng vào diệu pháp nơi việc luyện tập
lục tự khí công, bởi do công pháp quá đơn giản, thời gian dụng pháp
ngắn ngủi mà hiệu năng thần hóa đến khó tin thì đó là cái lỗi của Y-sư chưa đủ Y-đức cảm hóa người khác vậy. Lúc ấy phải tàng trữ lấy Chân nguyên, thâu nhiếp lấy tinh lực từ việc luyện tập Lục tự quyết mà cứu trị cho người ta, ngoài việc bồi dưỡng Y-lực, còn phải tích lấy Y-đức, củng cố Danh phận, từ đó lấy thân phận của Danh-y độ trí cho quần sinh hiểu rằng : Tự mình rèn luyện dưỡng sinh, nâng cao chính khí cho cơ thể, tất thì Vinh - Vệ cường tráng, Tạng- Phủ điều hòa, ngoài thì chẳng sợ tà khí hung hiểm, trong thì không lo nội thương quấy nhiễu.
Lúc gặp chuyện bất thường, Nội khí bấy lâu đã được tu dưỡng tự động điều tiết, cân bằng thì bệnh tật còn có cơ hội nào mà hoạnh phát đó mới là pháp bảo mệnh thượng thừa nhất …”
(trích Tổ huấn của Thanh Long Y phái)
CHƯƠNG 1
XUẤT XỨ CỦA LỤC TỰ KHÍ CÔNG
Sách
Nội kinh, một cuốn sách như là kim chỉ nam cho toàn bộ nền Y-lý cổ
truyền Đông phương,và cũng là nền tảng cơ sở cho mọi lý luận về nguyên
tắc chẩn bệnh và trị bệnh cuả y học cổ truyền có viết : “Người đời
thượng cổ, biết phép dưỡng sinh, thuận theo qui luật Âm-Dương của bốn
mùa biết tu thân dưỡng thần, ăn uống có chừng mực, làm lụng nghỉ ngơi có
kỷ luật, không vô cớ hao tổn tinh lực, cho nên thân thể họ cường tráng,
tinh thần họ phấn chấn sống mãi đến trọn tuổi trời cho..” Phép dưỡng
sinh mà sách Nội kinh đề cập tới, theo quan niệm của người xưa là thuận
theo trời đất, năm tháng 4 mùa dựa vào âm dương mà hô hấp tinh khí của
vũ trụ bồi bổ nội khí của thân thể, tu dưỡng tinh thần, hòa hợp với
thiên nhiên. Đó không những là cơ sở mấu chốt của các môn Nội công, Khí
công, rèn luyện dưỡng sinh theo phong cách Á-đông hiện nay, mà còn là
một cơ sở lý luận mang tính khoa học, có sức thuyết phục rất cao trong
việc bảo vệ sức khỏe con người.Trong công cuộc giao lưu văn hóa giữa
Đông và Tây, một xu thế phát triển văn minh của thế kỷ 21, thì những cơ
sở lý luận cũa Y-học cổ truyền Á-đông đóng một vai trò cực kỳ quan
trọng, nó không những đã thuyết phục, mà còn được Y-học hiện đại thừa
nhận như một môn Y-học thực nghiệm, tồn tại song song với các bộ môn
Y-khoa hiện đại khác. Đặc biệt trong việc rèn luyện sức khỏe, phòng
chống bệnh tật, đẩy lui những căn bệnh hiểm nghèo, thì những phương pháp
của Y-học cổ truyền Á-đông lại được xem trọng hơn, bởi vì ngoài vấn đề
đạt được hiệu quả cao, những phương pháp ấy lại được thực hiện đơn giản,
chi phí thấp, và dễ dàng phổ cập trong đại chúng. Bởi vì vậy chúng ta
chẳng lấy gì làm ngạc nhiên, trong những năm gần đây ở phương Tây nhan
nhản khắp nơi có các Trung tâm Y-tế, trường học, phòng mạch, bệnh
viện…nghiên cứu và quảng bá các phương pháp trị bệnh như: Châm cứu
(Akupunktur), Bấm huyệt(Akupressur), Yoga, Khí-công (Qi-gong), thuốc Bắc
(Chinesiche Kräuter Medizin) Vệ- đà (Ayurveda ), Thái-cực-quyền
(Tai-tshi) v..v.. Và những phương pháp đó đã được các cơ sở Bảo hiểm
Y-tế thanh toán lệ phí điều trị.
Điểm khác biệt giữa Y-lý Á-đông (TCM) với y-học hiện đại (Schulmedizin) trong vấn đề sức khỏe của con người là Y-lý Á đông lấy việc nâng cao sức đề kháng của cơ thể (Chính khí), điều hòa các chức năng nội tạng (cân bằng Âm –Dương) trên cơ sở đó, tác động, tăng cường khả năng tự hồi phục của cơ thể, lấy việc Phòng bệnh làm vấn đền tiên quyết, chữa bệnh chỉ là thụ động, thứ yếu. Và trong việc trị bệnh cũng lấy Nội khí làm chủ, để điều hòa Khí-Huyết, đào thải tận góc rể- mầm móng bệnh tật, chứ không phải chỉ dập tắt triệu chứng như Tây-y.
Đại danh Y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác có viết. “ Thánh nhân trị khi chưa có bệnh, không để bệnh phát ra rồi mới chữa, trị khi chưa có loạn, không để loạn rồi mới dẹp, phàm sau khi có bệnh rồi mới dùng thuốc , loạn đã thành mới dẹp, cũng ví như khát mới bắt đầu đào giếng, khi chiến đấu mới bắt đầu đúc binh khí thì chẵng muộn lắm ru…….Ngũ vị là Chua, Đắng, Ngọt ,Cay, Mặn. Lục-dục là sự ham muốn của Mắt,Tai, Mũi, Lưỡi, Thân thể, Ý nghĩ. Thất tình là bảy loại tình chí của con người đó là Mừng, Giận, Lo ,Nghĩ, Buồn, Sợ, Khủng khiếp. Trong thì làm thương tổn nội tạng, ngoài thì hại 9 khiếu (Miệng, 2 mắt, 2 tai, 2 lỗ mũi, tiền âm, hậu môn ) do đó mà sinh ra bệnh tật, cho nên Thái Thượng Lão Tổ dùng phương pháp luyện khí để chữa bệnh ở Tạng-phủ, phép lấy dùng cách thở ra để tiết khí độc ra ngoài, dùng cách thở vào để thu lấy tinh khí của trời đất bù vào, có thể sau một ngày đã thấy hiệu nghiệm nhỏ, sau một tuần đã thấy hiệu nghiệm lớn, sau một năm mọi bệnh tật đều hết, tuổi thọ tăng lên rất nhiều…(Quyển thượng-Vệ sinh yếu quyết-Hải Thượng Lãn Ông Y Tâm lĩnh)
Theo quan niệm của y lý cổ truyền, con người là một Vũ trụ thu nhỏ, bởi vậy vạn vật trong vũ trụ đều có khả năng hoạt hóa ảnh hưởng đến dòng sinh lực tồn tại của con người, và ngược lại dòng sinh hóa của con người cũng có thể thăng hoa để hóa nhập vào cội nguồn của thiên nhiên. Dựa vào nguyên lý đó các bậc Chân nhân, Đạo sĩ, các Danh y thời xưa ngoài việc dùng cây cỏ, chim muông, và các vật thể hữu hình khác như đá, cuội, khoáng vật…để lấy những tinh chất đã hấp thụ Khí hóa khác nhau của thiên nhiên, sử dụng như những vị thuốc làm tăng cường nội khí, điều hòa những rối loạn bệnh lý trong cơ thể con người, thì họ còn biết sử dụng những năng lượng siêu nhiên, những vật chất vô hình để phục vụ cho việc bảo vệ sức khỏe và kéo dài tuổi thọ. Những năng lượng thiên nhiên thường được tận dụng nhất của người xưa là Trường sinh học của thuật Phong thủy, thủy nhiệt của các nguồn suối, ánh sáng có màu trong Quang đạo dẫn, đặc biệt dùng kỹ thuật Âm thanh để trị bệnh đã đạt đến trình độ tinh xảo vô cùng, ví dụ như dùng chấn động của tiếng hét nội lực để đã thông kinh mạch trong môn Sư tử hống của Thiếu lâm, dùng Âm thanh của nhạc cụ như chiêng, trống, mõ ..hoặc âm điệu của giọng nói để dẫn dắt con người vào những trạng thái tâm lý nhất định nhằm mục đích dẫn dụ, khai mở, thức tỉnh, khơi động những trung tâm năng lượng tiềm ẩn trong con người phục vụ cho vấn đề chẩn bệnh cũng như trị bệnh. Trong đó Lục Tự Khí Công là một phương pháp đặc thù đã vận dụng những chấn động vi tế của Âm thanh kết hợp với hô hấp để tạo nên một phương pháp trị bệnh dưỡng sinh thần diệu.
Lục Tự Khí Công tạm dịch là môn công phu luyện khí theo 6 chữ, còn gọi là Lục Tự Quyết (Khẩu quyết 6 chữ). Tương truyền do Thái Thượng Lão Tổ một Đạo nhân tu Tiên thời thượng cổ Trung hoa sáng lập.
Lục-tự-khí-công của Thái thượng lão tổ ban đầu gồm có 7 chữ, 1 chữ thở vào và 6 chữ thở ra, do trong trường hợp luyện tập nào cũng chỉ sử dụng một chữ thở vào là chữ: “Hấp“ còn kỹ thuật luyện tập thay đổi là phụ thuộc vào sự tiết Tự của 6 chữ thở ra cho nên vẫn gọi là Lục-tự-khí-công.
Sáu chữ thở ra được phân biệt theo tính chất trường độ của hơi thở, và được phân loại như sau:
1- Chữ HA là hà hơi ra
2- Chữ HƯ là thở phào ra
3- Chữ XU là thở ngắn
4- Chữ HU là thổi ra từ từ
5- Chữ XUY là thở dài ra
6- Chữ HY là thở rền rả điều hòa
Lục
tự khí công đang lưu hành hiện nay là do Đạo trưởng Xích-Tùng-Tử tu
luyện phép trường sinh ở núi Hoa-sơn nghiên cứu, ứng dụng và truyền bá
cho đời sau. Lấy 6 chữ của Thái Thượng làm cơ sở , Xích Tùng-Tử không
những chỉ dựa vào tính chất trường độ của từng tự quyết, mà còn phân
biệt Âm sắc, động thái của từng Chữ ứng với các khí hoá ngũ hành của
Vũ trụ, và qui nạp vào tính chất hành khí của từng kinh mạch, huyệt vị
hoặc từng tạng phủ trong cơ thể. Mỗi Tự quyết đặc trưng cho một hình
thái năng lượng khác nhau, có sức chấn động, tương tác khác nhau, nhưng
lại có tính thâu nhiếp, tàng trữ, hỗ trợ, phát tán hoặc khống chế lẫn
nhau như trong một thể thống nhất mà triết học Á đông gọi là Tương-Sinh
(Cái này tạo ra cái kia) hoặc là Tương-Khắc (Cái này khống chế cái
kia).Thông qua việc rèn luyện, ứng dụng Lục tự quyết vào việc phòng bệnh
và trị bệnh, Đạo trưởng Xích-Tùng Tử đã lập nên một Y-phái đặc biệt,
và đúc kết những tinh hoa kinh nghiệm vào cuốn : “Lục Tự Bệnh Lý Kỳ
Thư“ (Thanh-Long Y phái ở Huế có giữ một cuốn viết tay bằng bằng chữ
Nôm), Sách có những lý luận vi diệu về triệu chứng lâm sàng cũng như
cách phòng, chống bệnh tật, được các Danh y ngày xưa xem như cẩm nang
hành nghề. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, Lục-tự-quyết không có gì
thay đổi về căn bản kỹ thuật, chỉ về việc trào lưu phát triển , Lục tự
quyết có nhiều lúc chìm lắng trong dân gian, ẩn tích vào thâm sơn cùng
cốc cùng với các đạo sĩ của Đạo giáo, nhường lại cho những trào lưu
dưỡng sinh rầm rộ khác, như dịch cân kinh, Bát đoạn cẩm của Thiếu lâm
tự, Thái cực quyền của Võ đang, Ngũ hành hình ý quyền, Ngũ linh quyền,
Thập nhị khí công, Du-già( Yoga) hoặc các môn khí công Nội gia của các
Võ phái lừng danh khác.
Sở dĩ Lục tự quyết không phát đại quang dương ồn ào náo nhiệt như các môn dưỡng sinh khác là vì Lục tự quyết chỉ đơn thuần là một môn dưỡng sinh, không có các động tác oai phong, uy dũng, bay bướm như võ học, và mục đích rèn luyện cũng không phải để đạt đến những khả năng siêu phàm, mặt khác những lý luận trong Lục tự quyết cũng không phải là những lý luận triết học thâm sâu có sức quyến rũ, lý giải về nhân sinh quan và thế giới quan như các môn Dưỡng sinh khác, mà luyện tập chỉ để Nâng cao chính khí-Điều hòa cơ thể-Phòng chống bệnh tật- kéo dài tuổi thọ .Chính vì vậy mà Lục Tự Quyết trong một khoảng thời gian dài của lịch sử chỉ được tồn tại và coi trọng trong các Gia-Y như một phương pháp đặc biệt để nâng cao Y-Lực trong nghề. Trong thời đương đại, bởi nhịp điệu cuộc sống quá hối hả, ráo riết, thời gian sử dụng quá nhiều cho những nhu cầu của đời sống hiện đại ,vì vậy người ta chỉ muốn tìm đến những gì đơn giản, tiện lợi và dễ thực hiện nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả cao. Lục tự khí công đáp ứng được những nhu cầu đó,cho nên đã được tìm tòi nghiên cứu và dần dần được phổ biến rộng rãi như một phương pháp phòng bệnh ưu việt.
Hết chương I
Chữ: SUY (xu) : http://espanol.video.yahoo.com/watch/4764544/12720832
Chữ: Ke http://espanol.video.yahoo.com/watch/4764571/12720860
Chữ: HU : http://espanol.video.yahoo.com/watch/4766033/12724577
Chữ
: SI: http://espanol.video.yahoo.com/watch/4766054/12724602
Chữ: Chui: http://espanol.video.yahoo.com/watch/4766068/12724628
6/ Chư: XI: http://espanol.video.yahoo.com/watch/4766079/12724678
Làm thế nào để tạo thói quen đọc sách ở trẻ em?
00:00 |Theo goldmund
TMSS: Muốn cho con người có được một nhãn quan tốt cần biết yêu mến và đọc sách! Một trong những cách đó là dạy cho trẻ em biết đọc sách để sau này các em có thể phân định được đúng sai và có được chọn lựa đúng đắn cho mình. Đó là cách bảo vệ sự sống và tâm hồn trẻ thơ, tâm hồn người. Người lớn hãy hướng các em tới những sách hướng thiện!
Quân Khuê
Cần phải nói ngay rằng, tạo dựng thói quen đọc sách cho người
lớn mới khó, chứ tạo dựng thói quen đọc sách cho trẻ em là một việc quá đơn giản.
Người lớn vốn bảo thủ, hay nói cách khác là những tờ giấy đã bê bết màu, giờ muốn
tô cho thành màu khác cũng khó. Trong khi đó trẻ em, tuyệt nhiên là những tờ giấy
trắng, tô màu nào sẽ ra màu ấy. Chính vì vậy, nếu phụ huynh quan tâm đến việc
xây dựng thói quen đọc sách cho con, thì bản thân sự quan tâm ấy đã là tiền đề
mang ý nghĩa quyết định. Bởi nếu phụ
huynh quan tâm, thì rất có thể phụ huynh ấy đã làm những việc như sau.
1.
Tạo ra một môi trường phù hợp: Vì sao trẻ con
nào cũng mê chơi iPad hay smartphone? Dĩ nhiên, trong đó có những trò chơi hấp
dẫn, nhưng tiên quyết chẳng phải vì các bậc phụ huynh tạo điều kiện cho con em
mình tiếp xúc những món đồ chơi công nghệ cao ấy sao? Nếu không dí iPad cho chúng mua lấy sự yên
thân thì chúng lấy iPad đâu ra mà chơi? Vậy thì, với sách, hãy cũng tạo điều kiện
cho con em mình như thế. Hoặc hơn thế. Hãy đưa con đi nhà sách. Hãy mua sách
cho con. Hãy tặng sách cho con nhân sinh nhật hay những ngày lễ. Hãy xếp sách
quanh giường con. Hãy quy định nếu con muốn chơi iPad hay xem tivi thì phải xin
phép bố mẹ, nhưng nếu con muốn đọc sách lúc nào thì tuỳ ý. Miễn là đầy đủ ánh
sáng.
2.
Dành thời gian đọc sách cho con: Rất nhiều ông bố
bà mẹ biết rằng nếu đọc sách mỗi tối cho con từ khi con còn rất nhỏ là tốt,
nhưng cũng chính những ông bố bà mẹ ấy thường xuyên than bận. Có thật thế
không? Người viết bài này quen biết một vị tổng giám đốc của một tập đoàn đa quốc
gia lớn và có thể đoan chắc rằng phần lớn chúng ta sẽ chẳng thể nào bận rộn bằng
ông. Nhưng ông, trừ khi đi công tác xa, tối nào cũng đưa hai cô công chúa xinh
xắn của mình vào giấc ngủ bằng cách đọc sách cho con. Bận rộn, thật ra chỉ là
cái cớ. Chúng ta bao giờ cũng có thời gian cho những việc ta thật sự muốn làm.
Mười phút mỗi tối đọc truyện cho con không bao giờ là quá nhiều so với cuộc đời
dài dặc. Rồi chẳng mấy chốc con lớn lên thành thiếu niên thiếu nữ, khi ấy ta có
muốn đọc truyện cho con chúng cũng chẳng nghe.
3.
Tự mình đọc
sách: Rất khó đòi hỏi con phải chăm đọc sách khi bản thân bố mẹ nhìn sách như
những kẻ xa lạ. Hoặc thậm chí trong nhà không có cuốn sách nào mà nhìn.
4.
Chọn sách cho con (và cùng con chọn sách): Chưa
bao giờ sách lại phong phú, đa dạng và đẹp như bây giờ. Bạn sẽ dễ dàng tìm được
sách cho mọi lứa tuổi. Cho con cùng đi nhà sách là một ý tưởng hay, và cũng
không nên quá “độc tài” với con. Nếu thằng nhóc nhà bạn khăng khăng đòi một cuốn
truyện tranh siêu nhân mà bạn không ưa, hãy chiều nó. Điều quan trọng là có một câu chuyện trong cuốn sách đó đã hấp
dẫn cậu bé. Với trẻ con, được đắm chìm vào trong những thế giới tưởng tượng
quan trọng hơn nhiều so với các bài học luân lý.
5.
Cuối cùng, xây dựng thói quen là một quá trình,
do vậy hãy kiên nhẫn. Những điều ở trên cần được làm thường xuyên. Một cơn cao
hứng của bố mẹ chỉ có thể dẫn đến một cơn cao hứng tương tự ở con, chứ không thể nào hình thành một thói quen được!


